Phát hiện và điều trị sớm sỏi niệu quản 1/3 dưới đóng vai trò quan trọng trong giảm biến chứng và gánh nặng bệnh tật. Bài viết mô tả đặc điểm hình thái, thành phần hóa học và đánh giá kết quả sớm điều trị tán sỏi niệu quản 1/3 dưới qua nội soi bằng LASER tại bệnh viện đại học Y Dược Cần Thơ.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, THÀNH PHẦN HÓA HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SỚM ĐIỀU TRỊ TÁN SỎI NIỆU QUẢN 1/3 DƯỚI QUA NỘI SOI BẰNG NĂNG
LƯỢNG LASER TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
Kim Thanh Lộc, Đàm Văn Cương
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: phát hiện và điều trị sớm sỏi niệu quản 1/3 dưới đóng vai trò quan trọng trong giảm biến chứng và gánh nặng bệnh tật
Mục tiêu: mô tả đặc điểm hình thái, thành phần hóa học và đánh giá kết quả sớm điều trị
tán sỏi niệu quản 1/3 dưới qua nội soi bằng LASER tại bệnh viện đại học Y Dược Cần Thơ
Phương pháp: nghiên cứu tiến cứu can thiệp không nhóm chứng trên 49 bệnh nhân, thu
thập số liệu được tiến hành từ 4/2015 đến 06/2016 qua khai thác tiền sử bệnh, thăm khám lâm sàng và thực hiện thủ thuật tán sỏi nội soi ngược dòng bằng LASER, bằng bộ câu hỏi
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Kết quả: về đặc điểm hình thái, sỏi màu vàng chiếm 47,9%; 29,2% màu nâu và 22,9%
trắng ngà 62,5% sỏi có hình dạng xù xì và 64,6% sỏi có kích thước từ 6-10mm Thành phần hóa học, thành phần oxalat - cao nhất chiếm 76,5% và 64,7% sỏi có 3 thành phần gồm tổ hợp UA+Ca 2+ +C 2 O 4 2- và Ca 2+ +PO 4 3- +C 2 O 4 2- Kết quả điều trị: 98% thành công Trong
đó, 83,3% đạt kết quả tốt, thận không ứ nước tăng sau điều trị từ 0-93,7%
Kết luận: can thiệp tán sỏi niệu quản bằng phương pháp LASER đạt hiệu quả và
an toàn
Từ khóa: hình thái, thành phần hóa học, sỏi niệu quản, LASER
SUMMARY
MORPHOMETRIC FEATURE, CHEMICAL COMPOSITION AND EARLY OUTCOME EVALUATION OF LASER LITHOTRIPSY IN 1/3 LOW PART OF URETER THROUGH ENDOSCOPY IN THE HOSPITAL OF CAN THO UNIVERSITY OF MEDICINE -
PHARMACY
Kim Thanh Loc, Dam Van Cuong
Background:Detecting and treating early ureteric calculi 1/3 below play important role
to decrease complications and the burden of disease
Objective: Description of morphological characteristics, chemical composition and to
evaluate the early outcome of treatment for ureteral stones 1/3 below by ureteroscopic with LASER in Can Tho university hospital of medicine and pharmacy
Methods:A prospective intervention study with non-comparison on 49 cases was
condcuted from April 2015 to June 2016 Data collection method was exploiting medical history, physical examination and implemented Ureteroscopic-LASER lithotripsy with questionnaire SPSS 18.0 software was used analysis
Results: the results of morphology were 47.9% yellow stones, 29.2% brown and 22.9%
ivory; 62.5% shaggy shape and 6-10mm sizes with 64.6% Chemical composition: highest oxalate with 76.5%, 64.7% three component stones including UA+Ca 2+ +C 2 O 4 2- and Ca 2+ +PO 4 3- +C 2 O 4 2- Treatment result: 98% successful cases among 83.3% good result, non- hydronephrosis increasing after treatment from 0% to 93.7%
Conclusion: The intervention of Ureteroscopic-LASER lithotripsy was an effective and
Trang 2Keywords: morphology, chemical composition, ureteric calculi, LASER
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi tiết niệu chiếm 30 - 35% bệnh lý thận tiết niệu, trong đó sỏi niệu quản 25 – 30% [10] Sỏi niệu quản khi gây tắc đường niệu là sỏi gây ảnh hưởng lớn nhất đến thận hơn bất cứ loại sỏi nào ở đường tiết niệu, nhanh chóng gây giãn thận, suy thận Việt Nam là vùng địa dư có tần suất sỏi niệu quản cao trong dân số [1] Tại Cần Thơ, theo Đàm Văn Cương (2011) [4] qua nghiên cứu 6640 bệnh nhân được điều trị tại Khoa Ngoại Niệu Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, trong đó bệnh lý sỏi niệu quản gặp nhiều nhất 3221/5968 (53,97%), sỏi niệu quản 47,1% Nếu phát hiện sớm và điều trị sớm đúng phương pháp thường đem lại hiệu quả tốt, bảo tồn được chức năng thận, tránh các biến chứng nguy hiểm Hiện nay cùng với sự phát triển của các dụng cụ nội soi, các phương pháp điều trị sỏi ít xâm lấn ngày càng được áp dụng rộng rãi như phẫu thuật nội soi sau phúc mạc lấy sỏi, tán sỏi qua da hoặc nội soi ngược dòng lấy sỏi niệu quản sử dụng máy tán sỏi xung hơi, song siêu âm, đặc biệt là tán sỏi bằng LASER Nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp trên, nghiên cứu tiến hành với 2 mục tiêu:
- Mô tả đặc điểm hình thái, thành phần hóa học của sỏi niệu quản 1/3 dưới điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ
- Đánh giá kết quả sớm điều trị tán sỏi niệu quản 1/3 dưới qua nội soi bằng năng lượng LASER tại Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán sỏi niệu quản 1/3 dưới được
điều trị bằng phương pháp tán sỏi qua nội soi bằng năng lượng LASER tại Bệnh Viện Đại học Y-Dược Cần Thơ, từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu can thiệp không có nhóm chứng
Cỡ mẫu: 2
1 / 2 2
1
d
Với α=0,05; p=97,22% [2] và d=0,05
Cỡ mẫu thực tế là 49 bệnh nhân
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện
Phương pháp thu thập số liệu: khai thác tiền sử bệnh, thăm khám lâm sàng và thực hiện
thủ thuật tán sỏi nội soi ngược dòng bằng LASER bằng bộ câu hỏi soạn sẵn
Phân tích số liệu: phần mềm SPSS 18.0
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trên 49 trường hợp, 75,4% tuổi từ 31 – 60 chiếm, nữ chiếm 55,1%; Trên 56,3% sỏi tập trung ở niệu quản trái, 2 bên chiếm 6,2%
3.1 Đặc điểm hình thái và thành phần hóa học
Trang 3Nhận xét: sỏi có màu vàng chiếm 47,9%
Bảng 1 Đặc điểm hình dạng và kích thước của sỏi (n=48)
Hình dạng
Kìch thước
Nhận xét: 62,5% sỏi có hình dạng xù xì; sỏi nhỏ nhất 3mm, lớn nhất 16mm, trung bình 8,9±2 mm; 64,6% sỏi có kìch thước từ 6-10mm
Bảng 2 Tỷ lệ thành phần hóa học cao nhất có trong sỏi (n=34)
Thành phần cao
nhất
Tổ hợp thành phần
UA+Ca 2++C2O42- 16 47,1
Ca 2++PO43- +C2O42- 6 17,6 UA+Ca2++PO43-+C2O42- 4 11,8
Nhận xét: thành phần oxalat- cao nhất chiếm 76,5% và 64,7% sỏi có 3 thành phần
Bảng 3 Thành phần hóa học và đậm độ
Oxalate (C2O42-) 7 (26,9) 17 (65,4) 2 (7,7) 26 (76,5)
0,350
Canxi (Ca 2+) 1 (16,7) 5 (83,3) 0 (0) 6 (17,6)
Acid uric (UA) 0 (0) 1 (50,0) 1 (50,0) 2 (5,9)
Biểu đồ 1: Màu sắc
Trang 4Tổng 8 (23,5) 23 (67,6) 3 (8,8) 34 (100)
Nhận xét: sỏi Oxalate có đậm độ bằng chiếm 65,4%; canxi chiếm 83,3%
3.2 Đánh giá kết quả sớm điều trị
Bảng 4 Kết quả tán sỏi
Nhận xét: 98% trường hợp tác sỏi thành công
Bảng 5 So sánh độ ứ nước trước và sau tán sỏi 1 tháng (n=48)
Nhận xét: không ứ nước trước tán chiếm 0%, sau tán chiếm 93,7%
Biểu đồ 2 Nhóm tán sỏi thành công Nhận xét: có 83,3% trường hợp trong nhóm tán sỏi thành công thuộc kết quả tốt
IV BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm hình thái và thành phần hóa học
Nghiên cứu của chúng tôi, có 23 trường hợp bệnh nhân có sỏi niệu quản màu vàng chiếm tỷ lệ cao nhất là 47,9%, thấp nhất là sỏi màu trắng ngà có 11 trường hợp chiếm 22,9% (biểu đồ 3.1) Khi tiến hành nghiên cứu đặc điểm hình thái của sỏi về màu sắc, hình dạng và đậm độ của sỏi so với xương, chúng tôi tím thấy rất ít tác giả nghiên cứu về những vấn đề trên Đối với trường hợp của màu sắc sỏi, chúng tôi tìm thấy được tài liệu của tác giả Hoàng Văn Công cho biết sỏi có màu vàng chiếm tỷ lệ cao nhất 88,88%, nâu chiếm 8,33% và đen chiếm 2,7% [3] Đàm Văn Cương 2002 [4] màu vàng chiếm 52%.Trong nghiên cứu của chúng tôi có điểm tương đồng với tác giả Hoàng Văn Công và Đàm Văn Cương là màu vàng
là màu đặc trưng của sỏi chiếm tỷ lệ cao nhất nhưng tỷ lệ % thì chúng tôi có tỷ lệ màu vàng cao hơn Đàm Văn Cương nhưng thấp hơn Hoàng Văn Công, có thể do sự phân chia màu sắc của các tác giả với chúng tôi có sự khác nhau
Trang 5Sỏi niệu quản có hình dạng xù xí có 30/48 trường hợp chiếm tỷ lệ cao nhất 62,5%, sỏi
có hình dạng nhẵn có 13/48 bệnh nhân chiếm 27,1%, sỏi nhiều gai có 5/48 trường hợp chiếm 10,4%, Đối với trường hợp hình dạng của sỏi, chúng tôi cũng cho ra kết quả tương
tự như tác giả Nguyễn Huy Hoàng [6], sỏi xù xì chiếm tỷ lệ cao nhất 53,5%, 46,5% còn lại thuộc về sỏi có hình dạng nhẵn Sỏi có tỷ lệ xù xì, của tác giả Nguyễn Huy Hoàng thấp hơn chúng tôi có thể là do sự sắp xếp nhóm sỏi của tác giả, tác giả chỉ chia thành 2 nhóm xù xì
và nhẵn Trong khi chúng tôi phân chia đến 3 nhóm: nhẵn, xù xì, nhiều gai
Theo tác giả Đỗ Ngọc Thể kìch thước trung bình của sỏi 11,54,2mm [9] Theo tác giả Đàm Văn Cương (2011) trên phim chụp KUB đều thấy sỏi 100%, sỏi NQ bên phải có 55,7%, sỏi NQ bên trái có 44,3%; kìch thước sỏi trung bình 9mm [5] Nguyễn Tấn Phong (2009) sỏi xù xì có 60,4% nhẵn có 39,6% [8] Qua bảng so sánh trên ta thấy, nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác có kìch thước sỏi trung bình gần bằng nhau
Nghiên cứu của chúng tôi ở (bảng 3.14) cho thấy sỏi oxalat chiếm cao nhất chiếm 76,5%, canxi chiếm 17,6% và acid uric chiếm 5,9% tương đồng với tác giả Lê Xuân Trường (2007) [11] Trong đó sỏi acid uric là sỏi không cản quang có điểm phù hợp trong nghiên cứu của chúng tôi có 2 trường hợp chụp KUB sỏi không cản quang Kết quả cho thấy thành phần oxalate, canxi, acid uric là 3 thành phần chính tạo nên sỏi Sỏi oxalate là chiếm tỷ lệ cao nhất phù hợp với tài liệu [28] Nghiên cứu của chúng tôi có sự tương đồng với tác giả Đàm Văn Cương (2002) [4] Kết quả (biểu đồ 3.4) và (bảng 3.15) cho thấy không có sỏi 1 thành phần, đa số là sỏi từ 2 thành phần trở lên, trong đó sỏi có 3 thành phần chiếm cao nhất 64,7% phù hợp với tài liệu [11]
Nghiên cứu chưa ghi nhận thành phần sỏi có liên quan đến đậm độ của sỏi với p=0,350 Tuy nhiên, kết quả cho thấy, sỏi oxalate, canxi chủ yếu có đậm độ bằng xương, tỷ
lệ tương ứng là 65,4% và 83,3% Sỏi Acid uric đậm độ không cao (0%)
4.2 Đánh giá kết quả sớm điều trị
Trong nghiên cứu của chúng tôi, kết quả tán sỏi thành công có 48/49 TH chiếm 98%, có một trường hợp chuyển mổ mở lý do miệng niệu quản máy soi không lên được Trong nhóm thành công 83,3% kết quả tốt và 16,7% kết quả trung bình Theo tác giả Vũ Nguyễn Khải Ca (2012) thành công 97,22% có 2 trường hợp chuyển mổ mở do sỏi chạy lên thận và thủng NQ [2] Tác giả Yon Cui (2014) [12], chiếm 93,5%, tác giả Đỗ Ngọc Thể chiếm 95,8% [10] Chúng ta nhận thấy kết quả thành công của chúng tôi tương đương với những các tác giả Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tán sỏi như: mẫu nghiên cứu, kìch thước sỏi, giới tính,
độ đậm, tính chất sỏi và kinh nghiệm của phẫu thuật viên theo từng thời kỳ
Nhìn chung tán sỏi NQ 1/3 dưới qua nội soi bằng LASER là phương pháp an toàn, dễ thực hiện, cho tỷ lệ thành công cao Kết quả của chúng tôi tương đồng với các tác giả về nhóm thành công tốt và trung bính đều chiếm 100%, Không có kết quả xấu, kết quả tôt và trung bính cũng có sự tương đồng với các tác giả
Tất cả 48 bệnh nhân đều được chúng tôi siêu âm kiểm tra mức độ ứ nước của thận Theo Nguyễn Mễ cho rằng sự nguy hiểm của bế tắc niệu quản là bản chất im lặng của nó,
bế tắc kéo dài không gây triệu chứng làm cho bệnh nhân đến khám ở giai đoạn muộn, ở giai đoạn này thí đài bể thận và niệu quản giãn nở dẫn đến thận ứ nước dần dần mất chức năng [7] Nghiên cứu của chúng tôi ở so sánh mức độ ứ nước của thận trước và sau khi tán sỏi
như sau: trước khi tán sỏi có kết quả thận không ứ nước chiếm 0%, thận ứ nước độ 1 chiếm
Trang 6sỏi, tỷ lệ không còn ứ nước tăng từ 0 BN lên 45 BN chiếm 91,8% Và chỉ còn 3 BN còn tình trạng ứ nước ở thận Nhìn chung tất cả BN đều giảm độ ứ nước ở thận sau khi tán sỏi,
do nghiên cưu của chúng tôi đa số là ứ nước độ 1 và 2 nên tỷ lệ không còn ứ nước chiếm rất cao 93,7%, chỉ còn 3 trường hợp ứ nước độ 1 và độ 2 không còn trường hợp nào trường hợp nào trướng nước độ 3 Theo tác giả Nguyễn Huy Hoàng sau khi tán không còn ứ nước chiếm 71,9% [6]
V KẾT LUẬN
Đặc điểm hình thái: sỏi màu vàng chiếm 47,9%; 29,2% màu nâu và 22,9% trắng ngà
62,5% sỏi có hình dạng xù xì và 64,6% sỏi có kìch thước từ 6-10mm
Thành phần hóa học: thành phần oxalat- cao nhất chiếm 76,5% và 64,7% sỏi có 3 thành phần gồm tổ hợp UA+Ca 2++C2O42- và Ca 2++PO43- +C2O42-
Kết quả điều trị: 98% thành công; trong đó: 83,3% đạt kết quả tốt, thận không ứ nước
tăng sau điều trị từ 0 đến 93,7%
Tài liệu tham khảo
1 Trần Quán Anh (2007), Thăm khám niệu động học, Bệnh học tiết niệu, NXB Y học
2 Vũ Nguyễn Khải Ca (2012), " Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương
pháp tán sỏi Holmium Laser tại Bệnh viện Việt Đức " Y học thực hành, 6(825),
3 Hoàng Văn Công (2011), "Bước đầu đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng nội
soi niệu quản ngược dòng tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam- Cu Ba Đồng Hới", Hội nghị khoa học kỹ thuật lần XII, trang 442-431
4 Đàm Văn Cương (2002), "Nghiên cứu điều trị sỏi niệu quản 1/3 dưới bằng phương pháp nội soi niệu quản" luận án tiến sĩ y khoa
5 Đàm Văn Cương (2011), "Kết quả 10 năm tán sỏi niệu quản dưới bằng phương pháp
xung hơi qua 865 ca " Y học thực hành, 769+770, 55–60
6 Nguyễn Huy Hoàng (2013), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, kết quả sớm nội soi tán sỏi niệu quản bằng LASER HOLMIUM tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức", Luận Văn Bác sĩ nội trú, Đại Học Y Dược Thái Nguyên
7 Nguyễn Mễ (2007), Sỏi niệu quản, Bệnh học tiết niệu, Nhà xuất bản Y học, 244-248
8 Nguyễn Tấn Phong (2014), "Đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản bằng phương pháp tán sỏi ngược dòng với nguồn tán Holmium LASER tại bệnh viện Quân Y
121" Tạp chí quân sự, 1, 1-8
9 Đỗ ngọc Thể, Trần Đức, Trần Các (2010), "Kết quả nội soi niệu quản sỏi xung hơi
điều trị sỏi niệu quản tại BV TWQĐ 108, Tạp Chí Y học Việt Nam 2, 31-36
10 Đỗ ngọc Thể, Trần Đức, Trần Các (2012), "Đánh giá kết quả nội soi niệu quản bằng LASER Holmium: YAG trên 107 bệnh nhân sỏi niệu quản", Y học TPHCM 16(3)
11 Lê Xuân Trường (2007), Nhận xét về kết quả định tính thành phần của sỏi thận, Tạp chí Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 11, Phụ bản số 1, tr.304-308
12 Yon Cui (2014), “Comparison of ESWL and Ureteroscopic Holmium laser
Lithotripsy in Management of Ureteral Stones", PLOS ONE, 9 (2), 1-7