1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả can thiệp của dược sĩ lâm sàng trong việc sử dụng kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

7 166 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 311,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tình hình sử dụng KS, đánh giá tính hợp lý và hiệu quả can thiệp của DSLS trong việc sử dụng KS trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh).

Trang 1

HIỆU QUẢ CAN THIỆP CỦA DƯỢC SĨ LÂM SÀNG TRONG VIỆC

SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIÊU HÓA, GAN MẬT TỤY TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Đỗ Bích Ngọc * , Đặng Nguyễn Đoan Trang *,**

TÓM TẮT

Mở đầu: Vấn đề sử dụng kháng sinh (KS) hợp lý đang là một thách thức lớn của toàn thế giới đặc biệt

là trong phẫu thuật Sử dụng KS không hợp lý trong phẫu thuật có thể đưa đến việc tăng nguy cơ gặp tác dụng phụ, tăng độc tính, tăng nguy cơ đề kháng KS và tăng chi phí điều trị Theo ASHP, các dược sĩ lâm sàng (DSLS) có vai trò nổi bật trong các chương trình quản lý KS Do đó, việc đánh giá hiệu quả can thiệp của DSLS trong việc sử dụng KS trong phẫu thuật rất cần thiết trên thực hành lâm sàng

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng KS, đánh giá tính hợp lý và hiệu quả can thiệp của DSLS trong

việc sử dụng KS trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố

Hồ Chí Minh (TP Hồ Chí Minh)

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có so sánh trước – sau

được thực hiện trên 300 hồ sơ bệnh án (HSBA) được chỉ định phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy tại khoa Ngoại tiêu hóa và Ngoại gan mật tụy Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh trong 2 khoảng thời gian: trước can thiệp (01-03/2016) và sau can thiệp (01-03/2018) với 150 HSBA mỗi nhóm Tính hợp lý của việc sử dụng KS được xác định dựa trên Hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam (2015), Hiệp hội Bệnh nhiễm khuẩn Hoa Kỳ (IDSA) (2010 và 2014), The Sanford Guide To Antimicrobial Therapy (2016) và các phác đồ sử dụng kháng sinh dự phòng (KSDP) tại các khoa ngoại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Kết quả: Sau khi có sự can thiệp của DSLS, có sự gia tăng có ý nghĩa thống kê tỷ lệ hợp lý chung

về sử dụng KS trong phẫu thuật (KSDP tăng từ 13% lên 74%, p < 0,05, kháng sinh điều trị (KSĐT) tăng từ 25,3% lên 50%, p < 0,05); giảm thời gian sử dụng KS (KSDP từ 2 (1 ; 5) ngày xuống còn 1 (1;1) ngày (p < 0,05); KSĐT từ 5 (3;7) ngày xuống còn 3 (0;5) ngày (p < 0,05)); rút ngắn thời gian nằm viện sau phẫu thuật của BN từ 7 (5 ; 9) ngày xuống 6 (4; 8) ngày (p < 0,05) Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy chỉ có thời gian phẫu thuật (OR = 3,047; 95% CI = 1,001 - 1,038; p = 0,037)

và sự can thiệp của DSLS (OR = 1,019 ; 95% CI = 0,745 - 5,941; p < 0,001) là có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tính hợp lý trong sử dụng KSDP

Kết luận: Chương trình can thiệp trên việc sử dụng KS trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy với sự

tham gia của DSLS đã làm tăng tỷ lệ sử dụng KS hợp lý Cần tiếp tục duy trì hoạt động can thiệp của

DSLS để tối ưu hiệu quả điều trị lâm sàng

Từ khóa: kháng sinh, can thiệp của dược sĩ lâm sàng, phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy

ABSTRACT

IMPACT OF CLINICAL PHARMACY INTERVENTION ON ANTIBIOTIC USE IN

GASTROINTESTINAL AND HEPATOBILIARY SURGERY

* Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

** Khoa Dược, Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: PGS TS Đặng Nguyễn Đoan Trang ĐT: 0909907976 Email: trang.dnd@ump.edu.vn

Trang 2

AT UNIVERSITY MEDICAL CENTER HOCHIMINH CITY

Do Bich Ngoc, Dang Nguyen Doan Trang

* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol 23 - No 2- 2019: 178 – 184

Introduction: Rational use of antibiotics is a great challenge worldwide, especially in surgery

Irrational use of antibiotics in surgery results in the increased risk of adverse drug reactions, toxicity, antibiotic resistance and cost of treatment ASHP believes that pharmacists have a responsibility to take prominent roles in antimicrobial stewardship programs Assessment of effectiveness of clinical pharmacy intervention on prophylactic and therapeutic antibiotic use in surgery is very necessary in clinical practice

Objectives: To investigate the use of antibiotics, to assess appropriateness and effectiveness of clinical

pharmacy intervention on antibiotic use in gastrointestinal and hepatobiliary surgery at University Medical Center HCMC

Materials and methods: A before and after cross – sectional study was conducted on 300 medical

records of patients ungergoing gastrointestinal and hepatobiliary operations at University Medical Center HCMC in 2 periods of time: before intervention (01-03/2016) and after intervention (01-03/2018) with 150 medical records each group The appropriateness of antibiotic usage was assessed using guidelines from the Vietnam’s Ministry of Health (2015), Infectious Diseases Society of America (IDSA) (2010 and 2014), The Sanford Guide to Antimicrobial Therapy (2016) and guidelines from Surgery Departments of University Medical Center HCMC

Results: After clinical pharmacy intervention, the proportion of antibiotics appropriately used

increased significantly (from 13% to 74%, p < 0.05 for antibiotic prophylaxis and from 25.3% to 50%,

p < 0.05 for post surgery antibiotics) Duration of antibiotic therapy reduced from 2 (1;5) days to 1 (1;1) day for prophylactic antibiotics (p < 0.05) and from 5 (3;7) days to 3 (0;5) days for therapeutic antibiotics (p < 0.05) Length of hospital stayed after surgery reduced from 7 (5;9) days to 6 (4;8) days (p < 0.05) Logistic regeression analysis showed that only duration of operation (OR = 3.047 ; 95%

CI = 1.001 – 1.038; p = 0.037) and clinical pharmacy intervention (OR = 1.019 ; 95% CI = 0.745 – 5.941;

p < 0.001) were significantly associated with rational use of antibiotics

Conclusion: The antibiotic intervention program in gastrointestinal and hepatobiliary operations with

pharmacist participation increased total compliance rate of antibiotics Clinical pharmacy intervention should be sustained to optimize treatment outcomes

Key words: antibiotics, clinical pharmacy interventions, gastrointestinal and hepatobiliary surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề sử dụng kháng sinh hợp lý đang là

một thách thức lớn của toàn thế giới khi hiện

tượng đề kháng kháng sinh ngày càng phổ

biến và mang tính chất toàn cầu Một trong

những nguyên nhân chủ yếu đưa đến tình

trạng đề kháng kháng sinh tăng nhanh như

hiện nay là việc sử dụng kháng sinh không

hợp lý trong phẫu thuật Lạm dụng kháng

sinh trong phẫu thuật có thể đưa đến việc tăng

nguy cơ gặp tác dụng phụ, tăng độc tính, tăng

nguy cơ đề kháng KS và tăng chi phí điều trị(7) Theo thống kê tại châu Âu và Bắc Mỹ, có 74,2 – 86% các bác sĩ phẫu thuật sử dụng kháng sinh dự phòng và không sử dụng sau 24 giờ(16) Tại Việt Nam, có trên 96,7% bệnh nhân phẫu thuật được chỉ định kháng sinh trung bình từ 6-7 ngày sau phẫu thuật, các hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng và điều trị nhiễm khuẩn sau phẫu thuật ít được tuân thủ tại các

cơ sở điều trị(9) Do đó, sự kiểm soát việc sử dụng kháng sinh trong phẫu thuật là rất cần thiết Theo Hội Dược sĩ của Hệ thống Y tế Hoa

Trang 3

Kỳ (ASHP), các dược sĩ có vai trò nổi bật trong

các chương trình quản lý kháng sinh và góp

phần vào các chương trình phòng ngừa và

kiểm soát nhiễm khuẩn của hệ thống y tế(1) Sự

can thiệp của DSLS làm giảm 0,68-1,36 triệu

USD chi phí điều trị và giảm 867 ngày điều trị

cho bệnh nhân phẫu thuật(12) Tại Việt Nam,

việc đánh giá hoạt động Dược lâm sàng vẫn

còn hạn chế, chưa có nhiều dữ liệu về hiệu

quả của việc can thiệp của DSLS trong việc sử

dụng kháng sinh trong phẫu thuật Đề tài

được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả sự

can thiệp của DSLS lên việc sử dụng kháng

sinh trong phẫu thuật, từ đó đề xuất những

định hướng phát triển hoạt động Dược lâm

sàng tại bệnh viện

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật tại các

khoa Ngoại Tiêu hóa và Ngoại Gan mật tụy

Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

trong 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 (01 - 03/2016) và

giai đoạn 2 (01 - 03/2018)

Thiết kế nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang, so sánh 2 giai đoạn (giai

đoạn 1: chưa có sự can thiệp của dược sĩ lâm

sàng, giai đoạn 2: có sự can thiệp của dược sĩ

lâm sàng

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Công thức ước lượng cỡ mẫu:

p1, p2 tỷ lệ ước tính của 2 nhóm, chọn p1=

0,524 và p2= 0,221 (Theo kết quả nghiên cứu

của Nguyễn Thị Anh Thư được thực hiện tại

bệnh viện Chợ Rẫy năm 2015 về quản lý sử

dụng kháng sinh, tỷ lệ sử dụng kháng sinh

không hợp lý là 52,4%, và sau khi có sự can

thiệp của chương trình tỷ lệ không hợp lý

giảm còn 22,1%(10))

zα/2 = 1,96 với α = 0,05; độ tin cậy 95%

zβ = 0,84 với β = 0,2; power = 0,8

Trong công thức trên, cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập là 38 hồ sơ bệnh án (HSBA) mỗi nhóm Trên thực tế, chúng tôi thu thập được 150 HSBA mỗi nhóm thỏa điều kiện chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên

Tiêu chí đánh giá tính hợp lý trong sử dụng KSDP và KSĐT trên bệnh nhân phẫu thuật

Tính hợp lý của việc chỉ định KSDP được đánh giá bằng các tiêu chí sau:

- Loại KSDP hợp lý

- Liều KSDP hợp lý

- Thời điểm sử dụng KSDP hợp lý

- Thời gian sử dụng KSDP hợp lý Việc đánh giá tính hợp lý được dựa trên: (1) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y

tế (2015)(4); (2) Các hướng dẫn sử dụng KSDP tại các Khoa Ngoại Bệnh viện Đại học Y Dược

TP Hồ Chí Minh (3) Việc chỉ định KSDP được xem là hợp lý nếu tuân thủ ít nhất một trong các hướng dẫn trên

Tính hợp lý của việc chỉ định KSĐT được đánh giá bằng các tiêu chí sau:

- Loại KSĐT hợp lý

- Liều KSĐT hợp lý Việc đánh giá tính hợp lý được dựa trên: (1) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y

tế (2015)(4); (2) Các hướng dẫn sử dụng kháng sinh của IDSA 2010 và 2014(14,15); (3) Hướng dẫn của The Sanford Guide To Antimicrobial Therapy 2016(6) Việc chỉ định KSĐT được xem hợp lý nếu tuân thủ ít nhất một trong các hướng dẫn trên

Xử lý thống kê

Tất cả các phép kiểm thống kê được xử lý bằng phần mềm SPSS 24.0 Các kết quả được

xem là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Trang 4

KẾT QUẢ

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu và đặc điểm phẫu thuật được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu và đặc điểm phẫu thuật

(N 1 = 150)

Sau can thiệp

Tuổi (năm)

Giới

(n, %)

0,064

BMI

(kg/m2) (n, %)

0,379

Hút thuốc lá

(n, %)

0,156

Tăng huyết áp

(n, %)

0,044

Đái tháo đường

(n, %)

0,044

Loại PT

(n, %)

0,141

Phương pháp PT

(n, %)

0,002

Thời gian PT (phút)

TB: trung bình, PT : phẫu thuật, BMI: chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index), TV : trung vị, TPV : khoảng tứ phân vị

Tình hình sử dụng kháng sinh trên bệnh

nhân phẫu thuật

Bảng 2: Sự phân bố mẫu nghiên cứu theo chỉ định

kháng sinh

Chỉ định

kháng sinh

Trước can thiệp

N 1 = 150

Sau can thiệp

N 2 = 150

p

Không dùng (n, %) 1 (0,7) 42 (28,0)

<

0,001

KSDP (n, %) 66 (44,0) 28 (18,7)

KSĐT (n, %) 39 (26,0) 48 (32,0)

KSDP + KSĐT (n, %) 44 (29,3) 32 (21,3)

Tình hình sử dụng KSDP

Phần lớn bệnh nhân (BN) trong nghiên

cứu được chỉ định KSDP (99,1% so với 57,3%),

trong đó BN được chỉ định 1 KSDP ở trước can

thiệp cao hơn (67,6% so với 44,8%) và được chỉ

định 2 KSDP chiếm tỷ lệ thấp hơn (31,5% so

với 12,5%) nhóm sau can thiệp Ceftazidim

được sử dụng nhiều nhất (58,7%) ở nhóm trước can thiệp, sau can thiệp cefazolin được

sử dụng nhiều nhất (57,1%) với tỷ lệ liều hợp

lý cao (93,2%); metronidazol đứng thứ 2 (24,5% so với 22,1%)

Đa số các KSDP được chỉ định ở liều phù hợp hoặc thấp hơn liều khuyến cáo, trong đó 100% ampicillin/sulbactam được chỉ định ở mức liều thấp hơn ½ so với khuyến cáo (1,5g

so với 3g)

Đa số các trường hợp phẫu thuật trong mẫu nghiên cứu đều được chỉ định KSDP trong vòng

60 phút trước lúc rạch da (80% so với 96,6%)

Tỷ lệ BN sử dụng KSDP trong vòng 24 giờ sau phẫu thuật tăng có ý nghĩa ở nhóm sau can thiệp (24,5% so với 67,2%)

Tình hình sử dụng KSĐT

Trang 5

Phần lớn BN được chỉ định phối hợp 2 loại

KSĐT (44,6% so với 43,6%), trong đó phối hợp

giữa nhóm β-lactam và metronidazol được sử

dụng nhiều nhất Ceftazidim là KSĐT được sử

dụng nhiều nhất (42,5%) với 88,5% tỷ lệ liều

thấp hơn khuyến cáo ở nhóm trước can thiệp,

metronidazol là KSĐT được sử dụng nhiều

nhất (19,9%) với 82,9% tỷ lệ liều hợp lý ở

nhóm sau can thiệp

Đa số các KSĐT được chỉ định ở liều phù hợp

hoặc thấp hơn liều khuyến cáo, ngoại trừ

meropenem, cefoperazon/sulbactam, levofloxacin,

amoxicillin/ clavulanat được chỉ định liều cao hơn

khuyến cáo

Tỷ lệ thực hiện kháng sinh đồ ở nhóm sau

can thiệp cao hơn 1,9 lần khác biệt có ý nghĩa

với p < 0,05 Trong đó, ceftazidim, ceftriaxon là

2 KS có tỷ lệ đề kháng cao nhất (63,6%);

meropenem, cefoperazon/sulbactam vẫn còn

nhạy cảm với nhiều chủng vi khuẩn (87,5%)

Tính hợp lý trong chỉ định kháng sinh trên

bệnh nhân phẫu thuật

Tính hợp lý trong chỉ định KSDP

Tính hợp lý trong chỉ định KSDP trong

mẫu nghiên cứu được trình bày ở bảng 3

Trong quá trình nghiên cứu, ở nhóm trước

can thiệp chỉ có 1 trường hợp PT sạch không

sử dụng KSDP, sau khi có sự can thiệp của

DSLS tỷ lệ này tăng lên 97,6% Đa số các

trường hợp đánh giá sử dụng KSDP không

hợp lý ở nhóm trước can thiệp là do lựa chọn

loại kháng sinh không theo khuyến cáo và thời

gian sử dụng KSDP kéo dài (58,7% KSDP được

lựa chọn là ceftazidim và thời gian sử dụng

kéo dài 2 (1;5) ngày) Sau khi có sự can thiệp tỷ

lệ sử dụng ceftazidim đã giảm xuống đáng kể

chỉ còn 2,6% và được thay thế bằng cefazolin

(57,1%), thời gian sử dụng KSDP trung bình

đã giảm xuống còn 1 ngày

Bảng 3: Tính hợp lý trong chỉ định KSDP

can thiệp

Sau can

Không dùng KSDP (PT

không có yếu tố nguy cơ) 1 (2,4) 41 (97,6)

(n 1 = 42, n 2 = 42) Loại KSDP (n 1 = 107, n 2 =

55) 39 (36,4) 38 (69,1) < 0,001 Liều dùng (n 1 = 38, n 2 =

Thời điểm sử dụng (n 1 =

107, n 2 = 55) 86 (80,4) 53 (96,4) 0,006 Thời gian sử dụng (n 1 =

107, n 2 = 52) 42 (39,3) 44 (84,6) < 0,001

n 1 , n 2 : cỡ mẫu cho các giai đoạn trước/sau can thiệp; n 1

và n 2 của các yếu tố phân tích khác nhau dựa trên dữ liệu thực tế thu thập được Chỉ xét tính hợp lý về liều dùng khi lựa chọn loại KSDP hợp lý

Tính hợp lý trong chỉ định KSĐT

Tính hợp lý trong chỉ định KSĐT trong mẫu nghiên cứu được trình bày ở bảng 4

Bảng 4: Tính hợp lý trong chỉ định KSĐT

Loại KSĐT (n 1 = 83, n 2 = 93) 73 (88,0) 78 (83,9) 0,439 Liều dùng

(n 1 = 73, n 2 = 78) 21 (28,8) 47 (60,3) < 0,001

n1, n2: cỡ mẫu cho các giai đoạn trước/sau can thiệp; n1 và n2 của các yếu tố phân tích khác nhau dựa trên dữ liệu thực tế thu thập được Chỉ xét tính hợp lý về liều dùng khi lựa chọn loại KSĐT hợp lý

Các nhóm kháng sinh thường sử dụng không phù hợp theo nghiên cứu này là cefoperazon/sulbactam trong nhiễm khuẩn ổ bụng, fosfomycin, secnidazol không nằm trong khuyến cáo Đa số các trường hợp đánh giá sử dụng KSĐT không hợp lý ở nhóm trước can thiệp là do lựa chọn liều kháng sinh không hợp lý, thường sử dụng mức liều thấp hơn so với khuyến cáo (100% ceftazidim được sử dụng với mức liều thấp hơn khuyến cáo trong nhiễm khuẩn ổ bụng), chỉ có một tỷ lệ nhỏ KSĐT được sử dụng mức liều cao hơn khuyến cáo như meropenem (8%), levofloxacin (40%), amoxicillin/clavulanic acid (8,5%)

Hiệu quả can thiệp của DSLS trong chỉ định kháng sinh trên bệnh nhân phẫu thuật

Hiệu quả can thiệp trong chỉ định KSDP

Trang 6

Sau khi có sự can thiệp của DSLS, có sự tăng

có ý nghĩa tỷ lệ hợp lý chung về sử dụng KSDP

(13% so với 74%) và giảm trung vị thời gian sử

dụng KSDP từ 2 (1;5) ngày xuống còn 1 (1;1)

ngày, sự khác biệt này có ý nghĩa với p < 0,05

Hiệu quả can thiệp trong chỉ định KSĐT

Sau khi có sự can thiệp của DSLS có sự tăng

có ý nghĩa tỷ lệ hợp lý chung về sử dụng KSĐT

(25,3% so với 50%), giảm trung vị thời gian sử

dụng KSĐT từ 5 (3;7) ngày xuống còn 3 (0; 5)

ngày, giảm trung vị thời gian nằm viện sau phẫu

thuật từ 7 (5;9) ngày xuống 6 (4;8) ngày, sự khác

biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa với p < 0,05

Các yếu tố liên quan đến tính hợp lý sử dụng

kháng sinh

Kết quả phân tích hồi quy logistic chưa

cho thấy mối liên quan của các yếu tố tuổi,

số bệnh mạn tính mắc kèm, loại bệnh mắc

kèm, phương pháp phẫu thuật, thời gian

phẫu thuật đến tính hợp lý chung của KSĐT

giữa 2 nhóm trước và sau can thiệp, chỉ có

thời gian phẫu thuật (OR = 3,047 ; 95%

CI=1,001 - 1,038; p = 0,037) và sự can thiệp của

DSLS (OR = 1,019 ; 95% CI = 0,745 - 5,941;

p<0,001) là hai yếu tố có liên quan có ý nghĩa

thống kê đến tính hợp lý trong sử dụng KSDP

Kết quả này gợi ý sự khác biệt về tính hợp lý

chung là do hiệu quả của công tác dược lâm

sàng của bệnh viện

BÀN LUẬN

Cefazolin là KSDP được khuyến cáo sử

dụng đơn trị hoặc phối hợp với metronidazol

phổ biến trong các hướng dẫn sử dụng KSDP

trong phẫu thuật tiêu hóa, gan mật của Bộ Y tế

2015(4) và Bệnh viện ĐH Y Dược TP Hồ Chí

Minh (3) Tuy nhiên ở nhóm trước can thiệp, tất

cả bệnh nhân đều không được chỉ định

cefazolin, tỷ lệ sử dụng metronidazol (24,5%)

cũng chỉ đứng thứ 2 sau ceftazidim (58,1%)

Sau khi có sự can thiệp của DSLS, tỷ lệ sử

dụng ceftazidim giảm xuống còn 2,6% Phần

lớn các trường hợp chỉ định ceftazidim dự

phòng phẫu thuật được thay thế bằng

cefazolin và cefazolin là KSDP chiếm tỷ lệ cao nhất trong tất cả các KSDP được sử dụng (57,1%), tỷ lệ sử dụng metronidazol đứng thứ

2 (22,1%) Kết quả này vừa phù hợp với khuyến cáo của bệnh viện vừa cải thiện hiệu quả kinh tế

KSĐT chủ yếu được sử dụng là các cephalosporin thế hệ 3 (ceftazidim, cefoperazon/

imipenem/cilastatin), metronidazol, cefazolin và ampicillin/sulbactam Các lựa chọn này phù hợp với các hướng dẫn IDSA(14,15), The Sandford Guide(6), Bộ Y tế 2015(4) Theo các hướng dẫn về

sử dụng kháng sinh và báo cáo trên toàn quốc về tình hình sử dụng kháng sinh và đề kháng kháng sinh, độ nhạy của nhóm cephalosporin giảm dần theo thời gian (2000 – 2001 tỷ lệ đề kháng của ceftzidim khoảng 25%, 2009 – 2010 tăng lên lên đến 42%)(8) Do đó, sau khi có sự can thiệp của DSLS, tỷ lệ sử dụng ceftazidim đã giảm xuống đáng kể từ 42,5% xuống còn 10,7%

Trong mẫu nghiên cứu, tỷ lệ sử dụng KSDP hợp lý chung ở nhóm trước can thiệp chỉ là 13%, thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng Ngọc (27,5%)(5) và Mohamoud (25%)(11) Sau khi có sự can thiệp của DSLS, tỷ lệ hợp lý đã tăng cao đáng kể (74%) và sự khác biệt

có ý nghĩa với p < 0,001 Tỷ lệ hợp lý chung cao hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Hồng Ngọc (63,8%)(5) và Mohamoud (25%)(11) Tỷ

lệ hợp lý chung này cũng cao hơn kết quả nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư (2009) tại 9 bệnh viện tỉnh và trung ương(8) và Phạm Thị Kim Huệ (2017) tại bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh (13) Đây là một tín hiệu khả quan trong việc cải thiện tình hình sử dụng kháng sinh trong ngoại khoa, giảm được một lượng lớn kháng sinh được sử dụng không cần thiết

Trong mẫu nghiên cứu, sau khi có sự can thiệp của DSLS tỷ lệ sử dụng KSĐT hợp lý là 50%, tăng gấp 2 lần so với nhóm trước can thiệp,

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,001) Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả

Trang 7

Thammasart Thái Lan (75%)(2) và nghiên cứu của

Lê Thị Anh Thư (78,9%)(10)

Sự can thiệp của DSLS làm giảm số ngày sử

dụng kháng sinh dự phòng và điều trị ở nhóm

sau can thiệp xuống còn 1 (1;5) ngày và 3 (0;5)

ngày so nhóm trước can thiệp là 2 (1; 5) và 5 (3;7)

ngày (p < 0,05), qua đó giảm được việc sử dụng

kháng sinh kéo dài không cần thiết, góp phần

giảm đề kháng kháng sinh, giới hạn các vi khuẩn

kháng kháng sinh và giảm chi phí điều trị

Sự can thiệp của DSLS cũng làm giảm thời

gian nằm viện sau phẫu thuật Tuy trung vị

thời gian nằm viện của 2 nhóm không có sự

khác biệt, thời gian nằm viện sau phẫu thuật

của những bệnh nhân sử dụng KSĐT và ở

những phẫu thuật nhiễm dơ cũng giảm có ý

nghĩa (p < 0,05) ở nhóm sau can thiệp, qua đó

giảm được chi phí điều trị cho bệnh nhân

KẾT LUẬN

Kết quả khảo sát trên 300 HSBA của các

bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật tiêu hóa,

gan mật tụy tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP

Hồ Chí Minh từ tháng 3/2016 và tháng

1-3/2018 đã cung cấp tình hình chung về việc sử

dụng KSDP và KSĐT, tính hợp lý của việc chỉ

định kháng sinh so với các hướng dẫn trong

nước và trên thế giới, đánh giá hiệu quả can

thiệp của DSLS trong việc sử dụng kháng sinh

trên bệnh nhân phẫu thuật tiêu hóa, gan mật tụy

Các kết quả thu được góp phần xây dựng các

biện pháp can thiệp giúp tăng cường sử dụng

kháng sinh trong phẫu thuật hợp lý và cung

cấp dữ liệu cho chương trình giám sát sử dụng

kháng sinh tại bệnh viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 America Society of Health-System Pharmacist (2010)

ASHP statement on the Pharmacist’s Role in Antimicrobial

Stewardship and Infection Prevention and Control

American Journal of Health-System Pharmacy, 67: pp.575-577

2 Annucha A, et al (2006) Inappropriate antibiotic use in a tertiary care center in Thailand: an incidence study and

review of experience in Thailand Infect Control Hosp Epidemiol, 27(4): pp.416-420

3 Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh M (2016) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh dự phòng tại các Khoa Ngoại

4 Bộ Y tế (2015) Hướng dẫn sử dụng kháng sinh, 159-192, tr.316-322

5 Bùi Hồng Ngọc (2018) Đánh giá hiệu quả chương trình quản lý kháng sinh trong sử dụng kháng sinh dự phòng

tại các khoa ngoại bệnh viện Bình Dân Chuyên đề Dược

Y học TP Hồ Chí Minh, phụ bản 22(1): tr.148-154

6 Gilbert DN, Chamber HF, Eliopoulos G, et al (2016) The

Sanford Guide To Antimicrobial Therapy 2016 Sanford Guidelines, (46): pp.17-22, 46-47, 51-53

7 Laura H, Rosenberger, et al (2011), “The Surgical Care Improvement Project and Prevention of Post-Operative Infection,

Including Surgical Site Infection” Surgical Infections NCBI

8 Lê Thị Anh Thư (2011) Tình hình sử dụng kháng sinh

trong ngoại khoa tại 9 bệnh viện tỉnh và trung ương Y học thực hành, 764: tr.101-104

9 Lê Thị Anh Thư, Nguyễn Văn Khôi (2010) Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sạch và

sạch nhiễm tại bệnh viện Chợ Rẫy Y học thực hành, 6: tr.13-19

10 Lê Thị Anh Thư, Nguyễn Văn Khôi (2015) Xây dựng, áp

dụng và đánh giá hiệu quả của chương trình quản lý sử

dụng kháng sinh tại bệnh viện Chợ Rẫy Thông tin khoa học

và công nghệ TP Hồ Chí Minh

11 Mohamoud SA, et al (2016) Utilization Assessment of Surgical Antibiotic prophylaxis at Ayder Referral Hospital,

Northern Ethiopia Journal of applied Pharmacy, 8: pp.220

12 Neville HL, Chevalier B, Daley C, et al (2014) Clinical benefits and economic impact of post-surgical care provided by

pharmacists in a Canadian hospital International Journal of Pharmacy Practice, 22(3): pp.216-22

13 Phạm Thị Kim Huệ, Đặng Nguyễn Đoan Trang (2018) Khảo sát việc sử dụng kháng sinh dự phòng trong phẫu thuật sạch, sạch – nhiễm tại Bệnh viện Đại học Y dược

thành phố Hồ Chí Minh Chuyên đề Dược Y học TP Hồ Chí Minh, phụ bản 22(1): pp.83-88

14 Solomkin JS, et al (2009) Diagnosis and Management of Complicated Intra-abdominal Infection in Adults and Children: Guidelines by the Surgical Infection Society and the

Infectious Diseases Society of America IDSA Practice Guidelines

15 Stevens DL, et al (2014) Practice Guidelines for the Diagnosis and Management of Skin and Soft Tissue Infections: 2014 Update by the Infectious Diseases Society

of America IDSA Practice Guidelines

16 Valgalis GA (2010) Antimicrobial Prophylaxis in Surgery

An international survey Surgical Infection, 11(4): pp.23-25

Ngày nhận bài báo: 18/10/2018 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2018 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2019

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w