Thường có hai hoặc bốn phụ đồng được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt...Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá".. 1.1 Thế nào
Trang 1GIA TỘC HẦU ĐỒNG –HỌ PHẠM Ở HẢI PHÒNG
1 Hầu đồng
Lên đồng hầu bóng là một dạng thực hành tín ngưỡng dân gian có từ cổ
xưa, cũng là một hiện tượng văn hóa được khá nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu Nhiều giá trị của nghi lễ này đã được lý giải như: giá trị văn hóa thể hiện ở góc độ diễn xướng, giá trị tâm linh thể hiện ở khả năng nhập thần, giá trị thẩm mỹ thể hiện ở hình thức nghi lễ Bài viết này khai thác ở khía cạnh những tác động của nó đến đời sống tâm, sinh lý các chủ thể đồng như một nghiên cứu
bổ sung về công năng trị liệu của nghi lễ
Nghi lễ lên đồng hầu bóng xưa kia ở đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB) là một dạng thực hành nghi lễ mang đậm tính ma thuật, trong đó các đồng là người trực tiếp ngồi đồng, thôi miên hoặc tự ám thị, đưa cơ thể vào trạng thái biến đổi ý thức Với trạng thái ý thức đặc biệt đó, nhiều đồng có thể cảm nhận được linh hồn hay nhận được năng lượng vũ trụ mà huy động khả năng siêu thường như: siêu nghị lực - năng lượng vượt trội trong chống chọi với sự đau đớn (dùng kim xuyên qua má, kiếm đâm qua bụng, uống nước sôi, đi trên than lửa, nuốt lửa, rạch lưỡi ), siêu thị lực, siêu trí nhớ, tiên tri, Những chủ thể đồng dạng này được dân gian gọi là đồng mê và cho rằng họ bị thần nhập, vì thế những việc họ làm (múa kiếm, múa đao, bắt tà, trị bệnh ) chính là sự thị uy, tỏ oai linh của các
vị thần Khoa học ngày nay đã hé lộ bức màn bí mật này và lý giải về những khả năng đặc biệt của các đồng, thực ra đó chỉ là hiện tượng năng lượng từ vô thức được huy động mà bột phát, trỗi dậy và phát huy được một số tính năng, công năng Đương nhiên, hiện tượng này chỉ xảy ra với những cá nhân có đặc điểm nhân cách và những tâm sinh lý khác thường, dân gian quen gọi là những căn đồng Sự xuất hiện trạng thái bất bình thường này ở các đồng có thể coi là hiện tượng tâm linh năng lượng, chỉ xảy ra ở những môi trường đặc biệt: không gian tâm linh (có tác dụng chuyển hóa ý thức); các yếu tố phụ trợ: lửa, hương, chất kích thích, âm nhạc (có tác dụng tạo đà, kích thích cho tiềm thức trỗi dậy) Cơ bản và quan trọng nhất vẫn là bản thân những người đồng, trong cơ thể tiềm
Trang 2tàng căn tính đặc biệt để có thể xuất hiện khả năng tâm linh khi gặp môi trường thuận lợi Họ là những nhân tố hiếm và không phổ biến Những đồng này rất được ái mộ và kính nể, uy lực của họ, vì thế, thường xuyên được củng cố qua những lần lên đồng bắt tà, trị bệnh
Người đứng giá hầu đồng gọi chung là Thanh Đồng, Thanh Đồng là nam giới thì được gọi là "cậu", nữ giới được gọi là "Cô hoặc Bà Đồng" "Cậu" thường mặc bộ quần áo lụa, mặt tô son điểm phấn (tóc có thể để dài như con gái) Thường có hai hoặc bốn phụ đồng (được gọi là nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng) đi theo Thanh Đồng để chuẩn bị trang phục, lễ lạt Trong một buổi lên đồng thì có rất nhiều "giá" Mỗi lần thay giá, người ta lại phủ lên "cậu" một tấm khăn lụa đỏ, sau đó bỏ ra và lúc này Thanh Đồng đang ở một "giá" mới và phải thay bộ trang phục xống áo, khăn chầu, cờ quạt, đồ hầu dâng sao cho tương xứng với "giá" này Khi thì Thanh Đồng hóa thân thành một vị tướng, khi thì là một quan lớn uy nghiêm oai vệ, lúc lại hóa thân thành một cô gái đang tung tăng nhảy múa Điệu múa của Thanh Đồng cũng được thay đổi theo đặc điểm của
"giá" "Giá" quan thường múa cờ, múa kiếm, long đao, kích; giá các chầu bà thì múa quạt, múa mồi, múa tay không; giá ông hoàng thì có múa khăn tấu, múa tay không, múa cờ; giá các cô múa quạt, múa hoa, chèo đò, múa thêu thùa, múa khăn lụa, múa đàn, múa tay không; giá các cậu thường múa hèo, múa lân Nghi
lễ Thánh giáng phải theo thứ tự từ cao đến thấp từ Thánh Mẫu đến hàng Quan, Chầu, ông Hoàng, hàng Cô và Cậu Số lượng giá trong một buổi lên đồng có khi lên tới 36 giá
Trong lúc Thanh Đồng đang hoá thân thì bốn phụ đồng ngồi quỳ chân ở dưới cũng nghiêng ngả và múa may hưởng ứng Thanh Đồng theo nhịp câu hát.Những nắm tiền lẻ sau khi được Thanh Đồng tung ra, ban phát cho những người xung quanh được coi là tiền lộc và được những người dứng xem xung quanh nhặt lấy cất giữ để lấy may Nhạc hát thông thường là điệu chầu văn hoặc
là hát nói có nội dung ca ngợi sự linh thiêng của thần thánh và vẻ đẹp tiên giới Nhạc khí chủ đạo là đàn nguyệt, bên cạnh nó là phách, cảnh, sênh, trống
Trang 3chầu,chuông, trống…Ở miền Bắc Việt Nam có Phủ Giầy là nơi hay tổ chức lên đồng nhiều nhất
Với các giá ông Hoàng thì nhóm đàn hát (được gọi là "Cung văn") sẽ ngâm các bài thơ cổ Lúc này, Thánh biểu hiện sự hài lòng bằng động tác thưởng tiền cho Cung văn và dùng những thứ người hầu đồng dâng như: rượu, thuốc lá, trầu nước Tới giai đoạn cao trào của Thánh thì người đứng giá thường múa gươm hoặc bơi thuyền Do vậy, ở Việt Nam có câu hát "cậu bắn súng lục, cô bơi thuyền rồng" là để chỉ sự này
1.1 Thế nào là tam tứ phủ
Tứ phủ công đồng hay Tứ phủ là một tín ngưỡng nằm trong của tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam
Tứ phủ bao gồm:
- Thiên phủ (miền trời): Mẫu đệ nhất (mẫu Thượng Thiên) cai quản bầu trời, làm chủ các quyền năng mây mưa, gió bão, sấm chớp
- Nhạc phủ (miền rừng núi): Mẫu đệ nhị (mẫu Thượng Ngàn) trông coi miền rừng núi, ban phát của cải cho chúng sinh
- Thuỷ phủ (miền sông nước): Mẫu đệ tam (mẫu Thoải) trị vì các miền sông nước, giúp ích cho nghề trồng lúa nước và ngư nghiệp
- Địa phủ (miền đất): Mẫu đệ tứ (mẫu Địa Phủ) quản lí vùng đất đai, là nguồn gốc cho mọi sự sống
Tam phủ là hệ thống ba vị Mẫu đệ nhất, Mẫu đệ nhị, và Mẫu đệ tam (không bao gồm Mẫu đệ tứ) Mẫu đệ tứ thường được thờ riêng Riêng Tam phủ Thánh Mẫu gần như các đền đều thờ Mẫu đệ tứ các đền thờ ít hơn và thường thờ nơi quàn các vong linh
Nhiều tài liệu cho rằng Tam tòa Thánh mẫu đều là hiện thân của Mẫu Liễu Hạnh với 3 lần giáng trần Còn một số tài liệu khác cho rằng Tam toà Thánh mẫu là hiện thân của ba vị thánh khác nhau:
1.Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên
Trang 4Thánh Mẫu (Bà Chúa) Liễu Hạnh Bà vốn là con vua Ngọc Hoàng, Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa, ba lần giáng sinh phàm trần: lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm (tên là Phạm Thị Tiên Nga) ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định (do vâng mệnh giáng sinh), được bốn mươi năm; lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê (cải từ họ Trần, tên là Lê Thị Thắng, hiệu Giáng Tiên) ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định (do lỡ tay đánh rơi chén ngọc nên bị trích giáng), kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời; lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa (do tình nguyện hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang) được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên
Sau đó bà hiển linh giúp dân giúp nước nên được các triều đại sắc phong
là : “Mã Hoàng Công Chúa, Thượng Đẳng Tối Linh Tôn Thần”, “Thượng
Thượng Đẳng Tối Linh Vi Bách Thần Chi Thủ” (triều vua Lê Thần Tôn), “Hộ Quốc Bình Nhung Chế Thắng Bảo Hòa Diệu Đại Vương” (triều vua Lê Huyền Tôn).
Bởi vậy trong văn thỉnh Đức Thánh Mẫu mới có hát rằng:
“ Thỉnh mời Đệ Nhất Thiên Tiên Sắc phong Chế Thắng xe loan ngự về Phủ Dày, Vân Cát thôn quê Nghĩa Hưng, Thiên Bản họ Lê cải trần Hình dung cốt cách thanh tân Mười năm định giá hôn nhân xướng tùy”
Đền thờ Mẫu Liễu Hạnh có ở khắp mọi nơi nhưng các nơi chính vẫn là những nới Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu dấu thánh tích như: Phủ Nấp_Phủ Quảng Cung Đệ Nhất ở Vỉ Nhuế, Ý Yên, Nam Định (là nơi Mẫu giáng trần lần đầu tiên) Nguy nga nhất là quần thể Phủ Dày (nơi Mẫu giáng trần lần thứ hai) với các đền phủ chính là: Phủ Công Đồng, Phủ Chính Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Phủ Bóng (Đền Cây Đa Bóng), Phủ Giáp Ba (Đông Phù Giáp Ba), Phủ Tổ, Đền Khởi Thánh và Lăng Mẫu (do vua Khải Định cùng Hoàng Hậu cầu tự, sinh
ra được vua Bảo Đại nên xây để tạ ơn)… Rồi Đền Đồi Ngang_Phố Cát , Đền
Trang 5Sòng thuộc Thanh Hóa (nơi Mẫu giáng hiện lần thứ ba) Ngoài ra còn có Phủ Tây Hồ, Đền Rồng, Đền Dâu, Quán Cháo…đều là những nơi Mẫu để lại thánh tích
Ngày hội chính của Mẫu là ngày 3/3 âm lịch, tức là ngày Mẫu hóa trong lần giáng sinh thứ hai, ngoài ra ngày rằm tháng 8 ở Phủ Tây Hồ cũng mở tiệc rất long trọng
2 Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn
Thánh Mẫu (Bà chúa) Sơn Lâm Bà vốn là con Vua Đế Thích, lần đầu hạ phàm bà là Quế Hoa Mị Nương công chúa, con Vua Hùng Vương Theo sự tích khi sinh bà ra, Hoàng Hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên Vua Hùng Vương mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa, sau khi sinh được bà thì Hoàng Hậu cũng qua đời nên bà quyết chí tu hành, không kết duyên,
về sau cùng mười hai nàng thị nữ vào rừng sâu, được lão tổ truyền đạo Lần thứ hai bà giáng sinh vào cửa nhà họ Cao, một người tù trưởng trên đất Yên Bái Sau đó nhiều lần bà hiển linh, dạy dân trồng trọt, làm ăn, biết lên rẫy làm nương, đi rừng, làm ruộng bậc thang, được nhân dân suy tôn là: “Diệu Tín Thuyền Sư Diệu Nghĩa Tàng Hình”, “Bạch Anh Trưởng Quản Đỉnh Thượng Cao Sơn Thần Nữ Cao Mường Sơn Triều” Sau này bà lại linh ứng giúp vua Lê Thái
Tổ nên được gia phong là: “Lê Mại Đại Vương” Trong văn thỉnh mời Đức Thánh Mẫu có hát rằng:
“Thỉnh mời Đệ Nhị Chúa Tiên Vốn xưa giá ngự trên đền Đông Cuông Hình dung nhan sắc khác thường Giá danh đổi một hoa vương khôn bì
Biết đâu lá thắm thơ bài Lòng trinh chẳng động một vài giá xuân”
Đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở khắp mọi vùng, nơi nào có rừng núi thì đều có đền Mẫu Thượng Nhưng nổi tiếng bậc nhất vẫn là cụm di tích Đền Đông Cuông, Đền Vọng Đông và Đền Tuần Quán tại Yên Bái (là nơi Mẫu giáng làm
Trang 6con gái nhà tù trưởng họ Cao) Tiếp nữa có Đền Công Đồng Bắc Lệ và Đền Thất Khê tại huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn, tương truyền là nơi vua Lê Thái Tổ lập để ghi nhớ công ơn Mẫu giúp vua Ngoài ra còn có Đền Suối Mỡ thuộc Bắc Giang (xưa thuộc Hà Bắc, là nơi dấu tích của Mẫu khi xưa học đạo), Đền Tam Cờ trên tỉnh Tuyên Quang, Đền Mẫu Thượng thuộc thị xã Lào Cai
Ngày hội chính của Mẫu Đông Cuông thường tổ chức vào ngày Mão đầu tiên của năm theo âm lịch Còn trên Đền Bắc Lệ lại tổ chức hội vào ngày 20/9
âm lịch
3 Mẫu Đệ Tam Thoải Cung:
Thánh Mẫu (Bà Chúa) Thoải Phủ Bà vốn là con Vua Bát Hải Thủy Quốc Động Đình, kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất) Nghe lời tiểu thiếp Thảo Mai, Kính Xuyên vu cho bà thất tiết, đem đóng cũi, bỏ lên rừng cho thú dữ
ăn thịt Tại nơi rừng sâu bà không những được thú rừng yêu quý, mang vật quả đến dâng mà còn gặp được nho sĩ Liễu Nghị Bà bèn nhờ Liễu Nghị mang thư
kể hết sự tình về cho vua cha Sau đó bà được minh oan, kết duyên cùng Liễu Nghị, còn Kính Xuyên và Thảo Mai thì bị trừng phạt
Khi ở chốn Động Đình bà vốn là con vua cha Bát Hải nên được gọi
là: “Động Đình Công Chúa Ngọc Hồ Thần Nữ”, sau này bà còn có danh hiệu:
“Bạch Ngọc Thủy Tinh Xích Lân Long Nữ Công Chúa”.Vậy nên trong văn thỉnh Đức Thánh Mẫu cũng có hát rằng:
“Thỉnh mời Đệ Tam Thánh Tiên
Xích Lân Long Nữ ngự miền Thoải Cung Kính Xuyên sớm kết loan phòng Thảo Mai tiểu thiếp ra lòng gieo oan Kinh Xuyên chẳng xét ngay gian Vàng mười nỡ để lầm than sao đành”
Đền thờ Mẫu Thoải có khá nhiều nhưng hầu hết đều do lòng thành kính của nhân dân hoặc do nơi cửa sông cửa biển chứ hầu như không có dấu tích của Mẫu
vì Mẫu không giáng trần Nổi tiếng nhất có Đền Mẫu Thác Hàn Sơn ở Hà Trung,
Trang 7Thanh Hóa, nơi bến Đò Lèn, còn có Đền Mẫu Thoải ở thị xã Lạng Sơn, gần sông Kì Cùng, và có ngôi đền ở bến sông Hồng, gần cầu Chương Dương, Gia Lâm cũng tên là Đền Mẫu Thoải hay còn gọi là Đền Cửa Sông
Ngày tiệc chính của Mẫu Thoải là ngày 10/6 âm lịch, thường được tổ chức long trọng nhất là ở Đền Mẫu Thác Hàn Sơn
1.2 Lịch sử gia tộc hầu đồng –Họ Phạm
Gia tộc họ Phạm thuộc chi 5 họ Phạm Công , gia tộc có tất cả 15 thanh đồng được chia ra thành 5 đời :đời thứ nhất: cụ đồng trưởng là mộc ân thanh đồng Phạm Đình Đốc húy Công Đốc,tự Hàn Minh
Đời thứ hai: cụ đồng mộc ân thanh đồng Phạm Văn Túc húy Công Túc tự Bảo Minh
Đời thứ ba: cụ đồng mộc ân thanh đồng Phạm Văn Phong húy Công Phong
tự Quang Minh
Đời thứ tư: mộc ân thanh đồng quan thầy Phạm Ba Thái tự Giác Minh hiện nay trụ trì Tâm Linh Điện (thôn 5 xã Đông Sơn huyện Thủy Nguyên tp Hải Phòng)
Đời thứ năm thanh đồng Phạm Trung Kiên pháp danh Vân Minh hiệu Thanh Trúc
2 Tâm Linh Điện gắn liền với gia tộc họ Phạm
Tâm Linh Điện được xây dựng năm 1904 tại làng Thiên Đông xã Đông Sơn huyện Thùy Nguyên thành phố Hải Phòng với diện tích 60m vuông trên tổng diện tích 760m vuông không viên tự đường họ, với ba gian thờ và một hậu cung
Cung chính giữa thờ trên cùng là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát tiếp theo đến thờ Đức Vua cha Ngọc Hoàng,hàng thứ ba thờ Thánh Mẫu Đệ Nhất( theo đúng lối cổ xưa chỉ thờ một pho mẫu Đệ Nhất –áo đỏ),hàng thứ ba thờ ngũ vị tôn quan tượng trưng cho năm hành Kim- Mộc-Thùy-Hỏa -Thổ, hàng thứ tư thờ chính cung chúa bà bản cảnh còn gọi là chúa bà Năm Phương, cuối cùng là cô cậu bản đền
Trang 8Bên trái tính theo nhìn từ ngoài vào là thờ cung sơn trang chính cung là chúa bà sơn trang và phối thờ chầu Bé và chầu Lục cùng với 12 cô sơn trang.Bên phải thờ Đức Thánh Trần và hai Vương cô
2.1 Các ngày tiệc trong năm
Đại Tiệc Tứ Phủ Trong Năm :
-Tháng Giêng:
Ngày 6/1: Tiệc Cô Đôi Thượng Ngàn
Ngày 9/1: Tiệc Đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ Công Chúa
Ngày 10/1: Tiệc Quan Hoàng Bát Nùng
Ngày 12/1: Tiệc Trần Triều Đệ Nhất Vương Cô Quyên Thanh Công Chúa Ngày 15/1: Đại Lễ Thượng Nguyên
Ngày 17/1: Tiệc Cô Tân An
Ngày 20/1: Ngày Nhà Trần Ra Quân
- Tháng hai:
Ngày Mão đầu: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn Đông Cuông Ngày 3/2: Tiệc Trần Triều Đức Ông Đệ Tam Đông Hải Đại Vương Cửa Đông Cửa Suốt Trần Quốc Tảng
Ngày 6/2: Tiệc Tứ Vị Vua Bà Đền Cờn Môn
Ngày 12/2: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
Ngày 14/2: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Ngũ Tuần Tranh
Ngày 15-16/2: Tiệc Chúa Đệ Nhị Nguyệt Hồ
Ngày 24/2: Tiệc Sòng Sơn Quốc Mẫu
Ngày 28/2: Tiệc Quan Hoàng Lục An Biên Đại Tướng Quân
- Tháng ba:
Ngày 2/3: Tiệc Trần Triều Cô Bé Cửa Suốt Tĩnh Huệ Công Chúa Cặp Tiên Linh Từ
Ngày 3/3: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Phủ Dày
Ngày 7/3: Tiệc Cậu Bé Quận Đồi Ngang
Trang 9Ngày 14/3: Tiệc Chầu Đệ Tứ Khâm Sai
Ngày 17/3: Tiệc Chầu Bát Nàn Đông Nhung Đại Tướng Quân
- Tháng tư:
Các ngày trong tháng: Đại Lễ Nhập Hạ
Ngày 12/4 : Tiệc Chúa Thác Bờ
Ngày 19/4: Tiệc Quan Hoàng Lục Thanh Hà
Ngày 24/4: Tiệc Trần Triều Vương Tử Đệ Nhất Hưng Vũ Đại Vương
- Tháng năm:
Ngày 5/5: Tiệc Trần Triều Đệ Nhị Vương Cô Đại Hoàng Công Chúa
Ngày 7/5: Tiệc Trần Triều Vwong Tử Đệ Tứ Hưng Trí Đại Vương
Ngày 10/5: Tiệc Đản Nhật Chầu Lục Cung Nương Chín Tư Hữu Lũng Tiệc Chúa Bà Đệ Nhất Tây Thiên
Ngày 20/5: Tiệc Chầu Năm Suối Lân
Ngày 25/5: Tiệc Quan Lớn Tuần Tranh Ninh Giang Kì Cùng
- Tháng sáu:
Ngày 1/6: Tiệc Trần Triều Vương Phụ An Sinh
Ngày 10/6: Tiệc Đức Quốc Mẫu Đệ Tam Thoải Cung Thác Hàn
Ngày 12/6: Tiệc Mẫu Thác Đền Hàn và Đản Nhật Cô Bơ Bông
Ngày 16/6: Tiệc Chúa Bà Năm Phương Bản Cảnh Vũ Quận Bạch Hoa Công Chúa Cấm Giang
Ngày 24/6: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Tam Thuỷ Quốc Bơ Phủ Vương Quan Lảnh Giang Xích Đằng
Ngày 26/6: Tiệc Quan Hoàng Bơ Thoải
- Tháng bảy:
Các ngày trong tháng: Đại Lễ Tán Hạ - Đại Tiệc Tinh Tuyên Quang
Ngày 7/7: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
Ngày 12/7: Tiệc Mẫu Tuyên Quang
Ngày 13/7: Tiệc Quan Triệu Tường Tống Sơn Thanh Hoá
Ngày 17/7: Tiệc Ông Hoàng Bảy Bảo Hà
Trang 10Ngày 20/7:Tiệc Bà Chúa Kho Bắc Ninh
- Tháng tám:
Ngày 3/8: Tiệc Trần Triều Vương Tử Đệ Nhị Hưng Hiến Đại Vương
Ngày 6/8: Tiệc Mẫu Đền Ghênh Nguyên Phi Ỷ Lan
Ngày 10/8: Tiệc Quan Hoàng Lục An Biên
Ngày 20/8: Tiệc Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn Kiếp Bạc Linh Từ
Ngày 22/8: Tiệc Đức Vua Cha Bát Hải Động Đình Thoải Phủ Đồng Bằng Linh Từ
- Tháng chín:
Ngày 2/9: Tiệc Cô Bé Suối Ngang Phố Vị Lạng Sơn
Ngày 4/9: Tiệc Quốc Mẫu Âu Cơ
Ngày 9/9: Tiệc Cửu Trùng Thiên Cung Vương Mẫu
Ngày 13/9: Tiệc Cô Đôi Cam Đường
Ngày 19/9: Tiệc Cô Chín Đền Sòng
Ngày 20/9: Tiệc Công Đồng Bắc Lệ và Tiệc Chầu Lục Cung Nương
Ngày 28/9: Tiệc Trền Triều Quốc Mẫu Nguyên Từ Phu Nhân
-Tháng mười:
Ngày 10/10: Tiệc Đản Nhật Ông Hoàng Mười Nghệ An
-Tháng mười một:
Ngày 1/11: Tiệc Trần Triều Đức Ông Điện Suý Phù Ủng Đại Vương Phò
Mã Phạm Ngũ Lão
Ngày 10/11: Tiệc Đản Nhật Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Ngàn Thanh Tra Giám Sát
-Tháng mười hai:
Các ngày trong tháng (trước ngày 23 tháng chạp): Đại Lễ Tất Niên
Ngày 10/12: Tiệc Đản Nhật Đức Ông Trần Triều Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Ngày 25/12: Tiệc Chúa Đệ Tam Lâm Thao (Chúa Ót, Chúa chữa)