Vì những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu là: lịch sử- văn hoá dòng họ Mạc ở làng Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.. Đây là cuốn sách viết về cội nguồn dòng họ
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: Các chế độ chính trị xã hội thayđổi theo tiến trình của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng tộc thì luôntrường tồn cùng non sông đất nước Mỗi dòng tộc, đặc biệt là dòng tộc lớnđều có truyền thồng văn hóa, bản sắc riêng của mình Những nét riêng đó góplại hình thành nên bẳn sắc văn hóa dân tộc Nói cách khác văn hóa các dòngtộc là cơ sở, nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia Vì vậyviệc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nhận thức,giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Đảng và nhà nước ta luôn xem văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội,
là một mặt trận hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặcbiệt là trong giai đoạn hiên nay Khi nghiên cứu về dòng họ phải đề cập đếncác vấn đề như: Văn bia, câu đối, nhà thờ, gia phả, sách truyện, những giá trịtruyền thống của dòng họ để lại cho con cháu… Rõ ràng chúng ta muốn tìmhiểu văn hóa dân tộc phải tìm hiểu văn hóa cơ bản của các dòng họ Khi ViệtNam hội nhập ngày càng cao, sâu rộng với thế giới Việc tìm hiểu văn hóa cácdòng họ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa mặt kháccũng góp phần củng cố khơi dậy lòng biết ơn và tự hào về công đức tổ tiên,
để từ đó tiếp tục phát huy truyền thống gia tộc, xây dựng gia đình quê hươngđất nước Vì thế việc nghiên cứu về lịch sử-văn hóa dòng họ cũng là một yêucầu bức thiết
Văn hoá Việt Nam bao giờ cũng bắt nguồn từ văn hoá làng, văn hoádòng họ Cho nên muốn nhận thức đầy đủ, sâu sắc về cuộc sống Việt Nam thìkhông thể bỏ qua vấn đề dòng họ Thực tế cho thấy, các dòng họ đều cónhững đóng góp khác nhau đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làcái nôi sinh ra những nhân tài, sáng tạo ra những văn hoá vô giá cho đất nước,
Trang 2do vậy việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc giữ gìn,phát huy truyền thống văn hoá dòng họ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời
và sự nghiệp danh nhân Thông qua đó mà thấy được những bài học quý báu
để giáo dục và đào tạo con người Việt Nam trong thời đại mới
Việc phát huy truyền thống gia đình và dòng họ đối với mỗi người ViệtNam trong lịch sử và hiện tại luôn là nhu cầu tinh thần chính đáng, góp phần
củng cố và nuôi dưỡng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” tình yêu quê hương, ý
thức cộng đồng của con người Việt Nam vừa có tác dụng giáo dục thực tế đốivới các thế hệ nối tiếp Qua đó nhằm khơi dậy và nhân lên những điểm tốt đẹp,loại bỏ những tàn dư không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội mới
Nghiên cứu về dòng họ Mạc giúp ta hiểu sâu sắc hơn về gia tộc, cộngđồng, mối quan hệ giữa các dòng họ Từ đó duy trì và phát triển khối đoànkết, phát huy trí tuệ và tài năng tạo nên sức mạnh tinh thần và vật chất to lớn
để đóng góp xây dựng quê hương ngày càng giầu đẹp Giữ vững gia phong,phát huy truyền thống tốt đẹp, khai thác văn hoá dòng họ tạo nền tảng vữngchắc để đất nước ta đi lên, tiến kịp với các nước trên thế giới
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu là: lịch sử- văn hoá
dòng họ Mạc ở làng Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Long Động là một làng cổ, nơi phát tích họ Mạc ở Việt Nam, quê
hương của Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi Ngày nay, làng còn lưugiữ được khá nhiều di tích liên quan đến Mạc Đĩnh Chi Tìm hiểu những biểuhiện của lịch sử- văn hóa dòng họ Mạc là một hoạt động thiết thực giúp tôi có
thêm những hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân gian địa phương.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề văn hoá làng xã Việt Nam đã được một số học giả trong vàngoài nước nghiên cứu từ rất sớm Trước năm 1945, đã xuất hiện nhiều côngtrình nghiên cứu có giá trị tham khảo như Việt Nam văn hoá sử cương của
Trang 3Đào Duy Anh, Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, Người nông dân châuthổ Bắc Kì của Pierre Gourou… Những công trình này đã phác thảo khá đầy
đủ diện mạo của làng quê Việt Nam truyền thống từ mô hình quản lý làng xãđến phong tục tập quán, nếp nghĩ của người nông dân đồng bằng Bắc Bộtrước Cách mạng Tháng Tám
Dòng họ Mạc là dòng họ xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam Đã có cảmột vương triều Mạc ở thế kỉ XVI Vì vậy, hầu hết các sách lịch sử Việt Nam
đều nói đến nhà Mạc Ngay trong “Đại Việt thông sử”, Lê Quý Đôn cũng đã
có nói đến triều Mạc Dưới ngòi bút của các sử gia phong kiến, triều Mạc bị
coi là “Nhuận triều”, các vua nhà Mạc bị coi là những kẻ “Nghịch thần”.
Mạc tộc phả, sách cổ của tác giả Mạc Hoài Thương Phạm Tú Đây là
cuốn sách viết về cội nguồn dòng họ Mạc, gia phả họ Mạc bắt đầu từ MạcĐĩnh Chi cho đến đời thứ 16 của ông, trong đó đặc biệt chú ý đến nhữngngười nổi tiếng như Mạc Đĩnh Chi, Mạc Đăng Dung…
Chí Linh phong vật chí, là sách cổ do Nguyễn Huy Đại và Nguyễn
Thanh Giản dịch Cuốn sách tổng hợp những gì là niềm tự hào của vùng đấtChí Linh xưa Đó là những “địa linh” (Côn Sơn, Kiếp Bạc, Lục Đầu Giang,núi Phượng Hoàng ), “nhân kiệt” (Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Quang Trạch,Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Mại ) Quê hương của Mạc Đĩnh Chi ngày naytrước đây thuộc đất Chí Linh nên ông cũng được giới thiệu ở đây
Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới về kinh tế - xãhội, cuộc cải cách mở cửa thu được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế
xã hội Cũng từ đây với quan niệm nhìn thẳng vào sự thực, nói đúng sự thựcgiới sử học đã bắt đầu có sự nhìn nhận đánh giá về nhà Mạc một cách côngbằng hơn, khách quan hơn
Với cuốn “Gương sáng dòng họ” 3 tập, tập 1 (2002), tập 2 (2004), tập
3 (2008), tác giả Hoàng Lê đã giới thiệu bộ sưu tập chân dung các nhân vật
Trang 4của dòng họ Mạc, gốc họ Mạc ở 25 tỉnh, thành từ Bắc tới Nam trong lịch sửcận đại và hiện đại nước ta có đóng góp to lớn về võ công, về văn nghiệp, vềtrị bình cho đất nước, cho dân tộc.
Tác giả Nguyễn Minh Tường với bài viết “Quê hương và dòng họ của
trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi”, Nghiên cứu lịch sử, số 7 năm 2005 đã tập trung
vào những di tích ở Long Động liên quan đến Mạc Đĩnh Chi
Năm 2007 cuốn “ Hợp biên thế phả họ Mạc” được xuất bản, giới thiệu
cội nguồn của dòng họ Mạc, khai khoa bảng, khai đế nghiệp, các chi phả họMạc và gốc Mạc được sắp xếp theo đơn vị hành chính hiện nay Trong cuốnsách này họ Mạc ở Long Động được giới thiệu là nơi phát tích ra dòng
họ Mạc
Năm 2010, trước thềm Đại lễ kỉ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội,Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia 1.000 năm Thăng Long kết hợp với Trungtâm bảo tồn khu di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội, Hội Sử học Hà Nội tổchức Hội thảo khoa học “ Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam” Hộ thảo
đã thu hút được nhiều học giả tham gia với nhiều bài nghiên cứu cógiá trị
Nhân kỉ niệm 470 năm ngày Thái tổ Mạc Đăng Dung băng hà 2011),Tạp chí Xưa và nay- Cơ quan Hội khoa học lịch sử Việt Nam số 385tháng 8- 2011 đã có phần Phụ trương Nhà Mạc và tiếp cận sử học với hàngloạt bài viết của các tác giả tổng kết, đánh giá lại về nhà Mạc
(1541-Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào đề cập đến văn hoádòng họ Mạc ở làng Long Động , xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh HảiDương Đây cũng là lý do để tôi làm luận văn về đề tài này
Trang 53 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ Mạc ởLong Động-Nam Tân-Nam Sách –Hải Dương,nhưng đóng góp của dòng họvới lịch sử dân tộc và văn hóa truyền thống của dòng họ Mạc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lịch sử-văn hóa của dòng họ Mạc, chủ yếu tập trung ở nơiphát tích dòng họ Mạc đó là làng Long Động, Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương
3.3 Nhiệm vụ khoa học của đề tài
- Tìm hiểu tương đối toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành vàphát triển của dòng họ Mạc ở Long Động, những đóng góp của dòng họ quacác thời kì lịch sử
-Tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp, những di sản văn hoá tiêubiểu của dòng họ Mạc
-Đi sâu tìm hiểu về những những nhân vật tiêu biểu của dòng họ từ đótìm hiểu thêm những đóng góp của họ đối với dân tộc
4 Nguồn Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tham khảo, nghiên cứu các nguồn
tư liệu sau:
4.1.1 Tài liệu gốc
Chúng tôi tham khảo các bộ Gia Phả dòng họ Mạc ở Long Động Các vănbia của làng, các đại tự, hoành phi, miếu nhà thờ họ, nhân vật, cổng làng…
Các bộ chính sử như:
+Đại Việt sử kí toàn thư-Ngô Sĩ Liên
+Lịch triều hiến chương loại chí-Phan Huy Chú
+Khâm định Việt sử thông giám cương mục-Quốc sử quán nhà Nguyễn
Trang 6+Đại Nam nhất thống chí- Quốc sử quán nhà Nguyễn.
+Đại Việt thông sử-Lê Quý Đôn…
4.1.2 Tài liệu nghiên cứu
Các tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hoá như đã trình bày ở phần tài liệutham khảo
4.1.3 Các tài liệu khác: báo, tạp chí, tài liệu từ ban liên lạc họ Mạc… 4.1.4 Các tài liệu điền dã
Để tìm tư liệu phuc vụ cho đề tài chúng tôi đã đến đền thờ Mạc ĐĩnhChi để nghiên cứu thực địa, thu thập tư liệu, Đồng thời gặp gỡ, trao đổi trựctiếp với người đại diện của dòng họ, các bậc cao lão trong địa phương
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thống kê: Khảo sát, tập hợp và thống kê các tư
liệu liên quan đến dòng họ Mạc ở làng Long Động
4.2.2 Phương pháp điền dã: Tiến hành điền dã trên địa bàn làng Long
Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, tham quan các di tíchlịch sử và di chỉ khảo cổ học có liên quan đến nhân vật Mạc Đĩnh Chi và triềuđại nhà Mạc Gặp gỡ và trao đổi với những cán bộ văn hóa, cán bộ quản lí ditích lịch sử, những người dân địa phương đã nhiều năm tìm hiểu, thu thập tưliệu về dòng họ Mạc Đặc biệt, gặp gỡ và trao đổi trực tiếp với ông Mạc VănKết – Trưởng chi họ Mạc – người hiện đang giữ Từ đường họ Mạc tại làngLong Động Ông Mạc Văn Trang phó chủ tịch Hội đồng Mạc tộc
4.2.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp: Tôi sử dụng phương pháp
này trước hết là để tiếp cận đối tượng khoa học một cách cụ thể, chi tiết, saunữa là để đảm bảo vấn đề được đánh giá một cách toàn vẹn, khái quát
4.2.4 Phương pháp liên ngành: Do Lịch sử- văn hóa là ngành khoa
học rộng nên khi tiến hành đề tài này tôi đã vận dụng những tri thức thuộc
Trang 7nhiều lĩnh vực khác như: lịch sử, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, văn học… để
có thể lí giải một số vấn đề liên quan đến đề tài
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách có hệ thống về lịch
sử văn hoá truyền thống của dòng họ Mạc ở làng Long Động cũng như sựbiến đổi của dòng họ trong thời đại ngày nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp thêm tư liệu vào việc nghiêncứu dòng họ Mạc ở Long Động nói riêng và dòng họ Mạc trên cả nướcnói chung
Luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ một số sự kiện, một số nhân vậtlịch sử mà các bộ chính sử chỉ nhắc đến sơ sài như: Mạc Hiển Tích, Mạc ĐĩnhChi, Mạc Thị Bưởi…
Trang 8Chương 1 NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ MẠC
Ở THÔN LONG ĐỘNG, NAM TÂN, NAM SÁCH, HẢI DƯƠNG
1.1 Vài nét về mảnh đất và con người Nam Sách, Hải Dương
1.1.1 Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính
Điều kiện tự nhiên
Huyện Nam Sách có tổng diện tích tự nhiên là 109 km2 Dân
số111.635 người Mật độ dân số là 1.082,7 người/km²(số liệu tháng 3/2008).Công dân thứ 90 triệu là người Nam Sách, Hải Dương Nguyễn Thị ThùyDương sinh lúc 2h45 phút ngày 1 tháng 11 năm 2013, nặng 3,2 kg
Huyện Nam sách là một vùng đất cổ, nằm ở vùng châu thổ sông Hồng,địa hình bằng phẳng,Tính chất đất đai cũng như địa hình của huyện mang đặctính địa hình của đất phù sa sông Thái Bình Độ cao so với mực nướcbiển trung bình là 0,60 m Đất đai chủ yếu được hình thành do quá trình bồi tụphù sa của hệ thống sông Hồng Cả bốn phía đều có sông bao bọc, gồm cácsông Thái Bình, sông Kinh Thày, sông Lai Vu Vì vậy đất đai màu mỡ phùhợp với sự sinh trưởng phát triển của các cây nông nghiệp, đặc biệt là các cây
vụ đông như hành, tỏi
Khí hậu ở Nam Sách mang rõ nét tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa,hội tụ đầy đủ điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện
Huyện Nam Sách về cơ bản cả bốn phía đều có sông bao bọc, Do vậynguồn nước khá dồi dào, phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của dân
cư Tuy nhiên, đây cũng là một khó khăn cho huyện do giao thông khôngđược thuận lợi và nguy cơ ngập lụt về mùa mưa Nhưng chính sự khó khăncủa điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết, ý chí kiên
Trang 9cường bất khuất của người dân Nam Sách trong chiến đấu và trong lao độngsản xuất.
Về địa giới hành chính
Huyện Nam Sách phía bắc giáp huyện Chí Linh, phía đông giáp huyệnKinh Môn và huyện Kim Thành, phía nam giáp thành phố Hải Dương, phíatây giáp huyện Cẩm Giàng và huyện Gia Bình (tỉnh Bắc Ninh)
Nam Sách nằm ở trung tâm của tam giác kinh tế Hà Nội Hải Phòng Quảng Ninh Huyện có 18 xã đó là: An Bình · An Lâm · An Sơn · CộngHòa · Đồng Lạc · Hiệp Cát · Hồng Phong · Hợp Tiến · Minh Tân · NamChính · Nam Hồng · Nam Hưng · Nam Tân · Nam Trung · Phú Điền ·QuốcTuấn · Thái Tân · Thanh Quang và 1 thị trấn (huyện lỵ), trong đó bao gồm
-102 thôn
Nam Sách là huyện có lịch sử phát triển lâu đời, con người đến sinh cơlập nghiệp khá sớm Theo kết quả khảo cổ học gần đây nhất cho thấy ngay từđầu Công nguyên, mảnh đất này đã có con người sinh sống
Tên Nam Sách không hiểu có từ khi nào chỉ biết rằng, Phạm Chiêm làmột hào trưởng ở vùng Trà Hương (Nam Sách Giang) giúp Ngô Quyền trongchiến thắng Bạch Đằng năm 938 và đã cưu mang con trai Ngô Quyền là NgôXương Ngập năm 944 Sau khi giành lại ngôi vua Ngô Xương Văn xưngvương lấy hiệu là Nam Tấn Vương và Ngô Xương Ngập lấy hiệu là ThiênSách Vương, mỗi người lấy một từ của tên "Nam Sách" để tỏ lòng ghi nhớ vềvùng đất này
Đến đời nhà Lý cũng có tên là Nam Sách Giang Nam Sách là nơi pháttích của dòng họ Phạm (Trà Hương) và họ Mạc (Long Động).Thời nhà Trần, Nam Sách là tên gọi của một xứ, bao gồm Chí Linh, NamSách, Thanh Hà và Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày nay Cuối thời nhà Trần, nó
là tên gọi của một châu (Nam Sách châu) thuộc phủ Lạng Giang
Trang 10Đầu thời kỳ Lê sơ, là tên gọi của một lộ, bao gồm Nam Sách thượng vàNam Sách hạ Đến thời Lê Nhân Tông là tên gọi của một phủ Đến năm 1466,
Lê Thánh Tông chia cả nước thành 13 đạo thừa tuyên, Nam Sách là một trong số
đó Tháng 4 năm 1469, nó lại chỉ là tên gọi của một phủ, do đạo thừa tuyên NamSách đã đổi thành Hải Dương Trong thành phần phủ Nam Sách khi đó có cáchuyện Thanh Lâm, Chí Linh, Thanh Hà và Tiên Minh (Tiên Lãng ngày nay)
Thời Hậu Lê, trụ sở phủ Nam Sách đặt tại Vạn Tải (nay thuộc xãHồng Phong)
Tới năm Gia Long 7 (1806) chuyển về Tổng Xá (xã Thanh Quang ngàynay) Năm 1898, bỏ cấp phủ Tên gọi huyện Nam Sách có lẽ có từ khi này
Các giai đoạn từ 9/1947 tới 25/8/1948 và từ 7/11/1949 tới 22/2/1955,huyện thuộc tỉnh Quảng Yên
Ngày 24/2/1979 Nam Sách hợp nhất với Thanh Hà thành huyệnNam Thanh
Ngày 17/2/1997 huyện Nam Thanh lại tách ra thành huyện Nam Sách
và huyện Thanh Hà
1.1.2 Đăc điểm kinh tế của huyện.
Sống trong vùng đất đai có sông nước bao quanh, thiên nhiên ở đây thuận lợi cho việc làm nông nghiệp vì vậy từ lâu đời sản xuất nông nghiệp đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo Dựa trên cơ sở nền nông nghiệp định cư mang tính thời vụ, cư dân nơi đây còn tranh thủ thời gian làm những nghề phụ bổ xung kinh tế gia đình như: thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản…hình thành nên những làng nghề thủ công nổi tiếng như Gốm Chu Đậu Ngày nay kinh tế hộ và kinh tế trang trại phát triển Cư dânNam sách đã tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinhhọc, đưa giống cây trồng, vật nuôi mới vào sản xuất Mở rộng diện tích mặtnước nuôi trồng thuỷ sản, với những con có giá trị kinh tế cao như tôm, cá rô
Trang 11phi đơn tính, cá chim trắng Diện tích trên 800 ha nuôi trồng thuỷ sản, 1.038,5
ha sông ngòi tự nhiên và 500 ha đất bãi trũng cấy lúa được chuyển đổi sangđào ao lập vườn phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Về lĩnh vực công nghiệp: Trước kia Nam Sách có làng nghề gốm cực
kỳ nổi tiếng là gốm Chu Đậu Ngay từ thời nhà Trần và nhà Hậu Lê (khoảngthế kỷ 13 đến thế kỷ 18) làng Chu Đậu, cùng với làng Mỹ Xá (Đặng Xá) bêncạnh, đã là một làng nghề đồ gốm rất nổi tiếng Gốm Chu Đậu đã lan tỏa đến
cả các các nước châu Âu, trở thành dòng gốm sứ nổi tiếng khắp thế giới Từnăm 1995 làng nghề gốm này bắt đầu phục hồi
Ngày nay huyện đã có khu công nghiệp Nam Sách được Chính phủ phêduyệt trên 63 ha, cụm công nghiệp An Đồng đã được tỉnh phê duyệt trên 35
ha Khu Công nghiệp Cộng Hoà Ngoài ra một số doanh nghiệp đã đầu tư vàothị trấn Nam Sách, xã Minh Tân, khả năng dành đất cho công nghiệp ở dọcđường 183, đường 17 của huyện còn lớn Được sự quan tâm của chính quyềnđịa phương, nhiều doanh nghiệp đã phát triển và trở thành các doanh nghiệplớn trong nhiều lĩnh vực trọng yếu của đất nước như Công ty cổ phần nhựa vàmôi trường xanh An Phát với 3 nhà máy được xây dựng, góp phần phát triểnkinh tế địa phương ổn định quốc phòng và an ninh, giúp cho hàng ngàn thanhniên có việc làm
1.1.3 Dân cư và Truyền thống
Dân cư
Nam Sách là huyện có lịch sử phát triển lâu đời, con người đến sinh cơlập nghiệp khá sớm Theo kết quả khảo cổ học gần đây nhất cho thấy ngay từđầu Công nguyên, mảnh đất này đã có con người sinh sống
Dân cư sống trên đất Nam Sách đều là người Kinh, họ sống tâp trungthành những làng lớn nằm kề nhau Họ sống bằng nhiều nghề nhưng chủ yếubằng nông nghiệp nên tính rất chất phác cần kiêm
Trang 12Phạm Cự Lạng, cháu của Phạm Chiêm, người suy tôn Thập đạo tướngquân Lê Hoàn lên ngôi cửu ngũ.
Mạc Đăng Dung, người mở đầu triều đại nhà Mạc
Ngô Hoán, một thành viên trong hội thơ Tao Đàn của Lê Thánh Tông
Cụ tổ của Tổng đốc Hoàng Diệu người họ Mạc quê ở Nam Sách, di cưvào Quảng Nam sau một trận lụt lớn, đến Hoàng Diệu là đời thứ 7
Nơi đây còn là quê hương nhà cách mạng Lê Hồng Sơn, Phan ĐăngLưu, nhà thơ Trần Đăng Khoa
Tại Nam Sách còn là nơi mai táng Vũ Hồn, thủy tổ của một dòng họVũ/Võ của Việt Nam và Thành hoàng của làng Mộ Trạch giàu truyền thốngkhoa bảng Trong khoảng thời gian của triều Lê (1428-1789) thì làng MộTrạch đã có đến 36 vị đỗ tiến sĩ, mấy chục vị khác đỗ hương cống, cửnhân, sinh đồ, tú tài, nhiều vị đảm đương các chức vị cao trong triều đìnhđương thời Có gia đình mấy anh em cùng đỗ đại khoa Có chi họ, như chi họ
Vũ Khắc đã đời nối đời đỗ đạt Từ đó, tên làng Mộ Trạch đã tồn tại suốt gầntám trăm năm, cho đến ngày nay
Trang 13Truyền thống khoa bảng: Nam Sách còn là nơi có truyền thống khoa
bảng:Trong thời kỳ phong kiến Hải Dương có 10 vị đỗ đại khoa (Thủ khoaĐại Việt hayTrạng nguyên) thì riêng huyện Nam Sách có 6 vị là
Thủ khoa Minh kinh bác học Mạc Hiển Tích (1086), người Long Động,Nam Tân
Trạng nguyên Trần Quốc Lặc (1256) người Uông Hạ, Minh Tân
Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1304) người Long Động, Nam Tân.Trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh (1487) người Đồng Khê, An Lâm
Trạng nguyên Vũ Dương (1493) người Mạn Nhuế, Thanh Lâm
Trạng nguyên Đặng Thì Thố (1559) người làng Thạc, An Châu (naythuộc thành phố Hải Dương)
Cũng chính vì có nhiều người đỗ đạt cao mà nhiều ý kiến cho rằngNam Sách tức là "Sách của trời Nam"
Truyền thống đấu tranh yêu nước: Trong cuộc kháng chiến bảo vệ tổ
quốc Nam Sách có 8 người được nhà nước Việt Nam tuyên dương là Anhhùng lực lượng vũ trang nhân dân, đó là Vũ Ngọc Diệu, Đỗ Chu Bỉ, NguyễnNhật Chiêu, Đặng Đức Song, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Trung Goòng, NguyễnĐức Sáu và Nguyễn Đăng Lành
Năm 1978, huyện Nam Sách được tuyên dương là anh hùng lực lượng
vũ trang
1.1.4 Một số dòng họ lớn trên đất Nam sách
Dòng họ Đặng ở xã Cộng Hòa, huyện Nam Sách, Hải Dương
Dòng họ Đặng bắt đầu được hình thành từ thế kỉ XVI Theo bản tộcphả còn lưu ở từ đường ở làng Chi Điền xã Cộng Hòa thì Thủy rổ của HọĐặng là Tề Danh Cụ sinh được ba trai đó là Đặng Đức Tuấn, Đặng ĐứcDung, Đặng Đức Hồ Theo văn bia “Văn hội Võ hội, Phủ Nam Sách niên hiệu
Trang 14Cảnh Thịnh 5 thì có 13 vị văn võ trong đó có Đặng Đức Tuấn võ trưởng.Đặng Phúc Cẩn, Phúc Hồ về văn.
Cụ phúc Cần thi Đình trượt về dạy học Cụ Phúc hồ thi hội đỗ làm quan
ở huyện Kinh Môn.Nay vẫn còn văn bia họ Đặng ở Kinh Môn, Hải Dương
Đến đời cháu thứ 5 của Phúc thọ là Đặng Huy Dư, đỗ cử nhânnăm1807 lam quan lang thời Nguyên Gia Long Việc này được ghi lại trongvăn miếu tại Cẩm Điền
Cháu 5 đời của cụ Dư là Đặng Đức Song được tặng danh hiệu Anhhùng quân đội nhân dân Việt Nam Hai cụ được tặng danh hiệu bà mẹ ViệtNam anh hùng đó là Đặng thị Dong và Đặng thị Gắng
Chi họ Đặng tính từ đời cụ Phúc Thọ trở xuống hiện còn sống là đờithứ 8, bé nhất là đời thứ 12 Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp-Mĩ cứunước, chi họ Đặng đã có hàng trăm người tham gia hoạt động cách mạng trênmọi niền đất nước
Dòng họ Vũ ở Mộ Trạch
Truyền thuyết kể lại rằng Vũ Hồn cho nơi này là đất có phong thuỷ tốt,giữ làng này làm nguyên quán thì đời đời sẽ tiến phát về đường khoa bảng.Dưới con mắt của nhà phong thủy tài ba, Vũ Hồn cho rằng cả vùng HảiDương là một đại cuộc, huyện Đường An là huyệt trường và làng ChằmThượng là huyệt kết Vì vậy ông quyết định cắm đất lập trại và đặt tên làng làKhả Mộ Nghĩa là vùng đất khi đó còn cằn cỗi nghèo nàn nhưng có thể saunày sẽ trở nên trù phú hơn và sẽ được mến mộ Mãi đến sau này, vào khoảngtriều nhà Trần (1226-1400) mới đổi tên là Mộ Trạch Nghĩa là vùng đất đượcmến mộ
Vào thời điểm đó, làng Mộ Trạch đã trở nên đông đúc và đã phát tíchkhoa bảng rực rỡ, trong khoảng thời gian của triều Lê (1428-1789) thì làng
Mộ Trạch đã có đến 36 vị đỗ tiến sĩ, mấy chục vị khác đỗ hương cống, cử
Trang 15nhân, sinh đồ, tú tài; nhiều vị đảm đương các chức vị cao trong triều đìnhđương thời Có gia đình mấy anh em cùng đỗ đại khoa; có chi họ, như chi họ
Vũ Khắc đã đời nối đời đỗ đạt Từ đó, tên làng Mộ Trạch đã tồn tại suốt gầntám trăm năm, cho đến ngày nay
Trong số 36 vị đỗ đại khoa của làng Mộ Trạch liệt kê dưới đây, họ Vũchiếm đa số tuyệt đối với 9 hoàng giáp và 20 tiến sĩ Trong khi đó họ Lê có 1trạng nguyên, 2 hoàng giáp và 1 tiến sĩ Vũ Đức Lâm, Đệ tam giáp đồng tiến
sĩ xuất thân năm 1448 Vũ Hữu, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (tức Hoànggiáp) năm 1463, tác giả của Lập thành toán pháp Vũ Ứng Khang, hoàng giápnăm 1472 Vũ Quỳnh, hoàng giáp năm 1478, người hiệu đính sách Lĩnh Namchích quái Vũ Đôn, hoàng giáp năm 1487 Vũ Tụ, hoàng giáp năm 1493 VũThuận Trinh, hoàng giáp năm 1499 Vũ Cán, hoàng giáp năm 1502, tác giảcủa Tùng Hiên thi tập và Tùng Hiên văn tập Lê Nại, trạng nguyên năm 1505
Lê Tư, hoàng giáp năm 1511 Vũ Lân Chỉ, tiến sĩ năm 1520.Lê Quang Bí,hoàng giáp năm 1526 Nhữ Mậu Tổ, tiến sĩ năm 1526 Nhữ Mậu Tô, tiến sĩnăm 1526 Vũ Tĩnh, tiến sĩ năm 1562 (nhà Mạc) Vũ Đường, tiến sĩ năm 1565(nhà Mạc) Vũ Bạt Tụy, hoàng giáp năm 1634 Vũ Lương, tiến sĩ năm 1643
Vũ Trác Oánh, tiến sĩ năm 1656 Vũ Đăng Long, tiến sĩ năm 1656 Vũ CôngLượng, tiến sĩ năm 1656 Vũ Cầu Hối, tiến sĩ năm 1659 Vũ Bật Hài, tiến sĩnăm 1659 Vũ Công Đạo, tiến sĩ năm 1659 Lê Công Triều, tiến sĩ năm 1659
Vũ Duy Đoán, tiến sĩ năm 1664 Vũ Công Bình, tiến sĩ năm 1664 Vũ ĐìnhLâm, hoàng giáp năm 1670 Vũ Duy Khuông, tiến sĩ năm 1670 VũĐìnhThiều, tiến sĩ 1680.Vũ Trọng Trình, tiến sĩ năm1685 NguyễnThườngThịnh, tiến sĩ năm 1703 Vũ Đình Ân, tiến sĩ năm1712 Vũ Huyên, tiến sĩnăm 1712 (trạng cờ) Vũ Phương Đề, tiến sĩ năm 1736, tác giả Công dư tiệp
kí Vũ Huy Đỉnh, tiến sĩ năm 1754
Trang 161.2 Nguồn gốc và lịch sử pát triển của dòng họ Mạc ở làng Long Động thôn Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương
1.2.1 Vài nét về thôn Long Động
Vị trí và điều kiện tự nhiên thôn Long Động: Long Động còn cótên nôm là làng Sách, vốn xưa kia là xã Lũng Động nhưng ngày nay là mộttrong năm thôn của xã Nam Tân (4 thôn còn lại là: Trung Hà, Đột Hạ, ĐộtThượng và Quảng Tân) Thôn Long Động nằm ở phía Nam của xã Nam Tân,phía Bắc giáp làng Đột Hạ, Quảng Tân; phía Đông Bắc giáp làng Trung Hà;phía Tây giáp làng Cao Đôi xã Hợp Tiến; phía Nam giáp làng Lê, làng HàLiễu xã Thanh Quang
Từ huyện Nam Sách, theo đường quốc lộ 183 đến xã Thanh Quang, rẽ trái
đi chừng 2 km thì đến trung tâm xã Nam Tân Xã Nam Tân là vùng đất thuầnnông, đất khá thấp (3 mặt giáp sông Kinh Thầy và hệ thống trung thủy nông củahuyện Nam Sách) nên rất dễ bị ngập lụt, trước đây chỉ cấy được một vụ chiêm
Diện tích đất tự nhiên của thôn Long Động trước năm 1960 là 3km2 Saucải cách ruộng đất, thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó
có những chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn được triển khai mạnh
mẽ Sông Ấp Bắc ra đời chảy qua 4 xã Nam Hưng, Nam Tân, Hợp Tiến vàThanh Quang Vì vậy, một số diện tích của thôn Long Động bị cắt cho các xã,làng lân cận Thôn Long Động ngày nay có 375 mẫu [21, tr 10]
Sông Kinh Thầy ngày xưa (khoảng thế kỉ III) chạy sát làng Đột Lĩnhxuống Long Động Sông Kinh Thầy ngày nay ôm gọn nửa chu vi phía Đông của
xã Nam Tân từ Ngô Đồng, Nam Hưng chạy xuống phía đông hai làng Quảng Tân
và Trung Hà Sông Kinh Thầy là ranh giới của xã Nam Tân và huyện Chí Linh
Do đất bồi của sông mà hình thành làng Quảng Tân và Trung Hà Thôn LongĐộng dần dần xa đê sông Kinh Thầy gần 1km Những năm chưa trị thủy được
Trang 17sông Kinh Thầy, từ tháng 5 đến tháng 9 nước ngập mênh mông, từ xóm này sangxóm kia, thậm chí từ nhà này sang nhà kia cũng phải đi thuyền.
Lịch sử hình thành và phát triển thôn Long Động
Làng được hình thành từ thế kỉ XI, do cụ tổ Mạc Hiển Tích về đây khaihóa đất đai, sinh cơ lập nghiệp Anh em con cháu cụ Mạc Hiển Tích đến dảiđất bên bờ sông Bình Hà (chỗ sông bến Bình ngày nay, thời cổ gọi là sôngBằng Hà), lập trang ấp tại khu vực đống Lăng quan trạng bây giờ gọi là TrangSách (tên gọi đầu tiên của làng Long Động) thuộc xã Đống Cao (xã Hợp Tiếnbây giờ) Trong quá trình sinh sống, dân số đã phát triển, Trang Sách đổithành làng Sách vào đời Trần Do điều kiện tự nhiên và những biến cố lịch sử,làng Sách đã chuyển dời từ khu vực đống Lăng về khu vườn Bến ngày nay,nơi có điện Sùng Đức được xây vào thời Mạc Đăng Dung lên ngôi vua, đúngnền nhà thân phụ Mạc Đĩnh Chi
Lịch sử thôn Long Động theo sử sách lưu truyền có nhiều tên gọi khácnhau: làng Lũng Động, làng Sách, làng Đống Cao Làng Sách sau đổi thànhlàng Long Động, có tài liệu gọi là Lũng Động nhưng không rõ niên đại.Làng Sách có dấu ấn lịch sử quan trọng nên quãng sông Bình Hà nay thuộcsông Kinh Thầy chảy qua làng Sách gọi là sông Sách Trạng Sách, làngSách, sông Sách, bến Sách là những tên gọi mà cho đến nay nhiều người dânvẫn còn nhớ rõ [21, tr 17 - 18]
Sự thay đổi hành chính của thôn Long Động qua các thời kỳ được thaynhư sau: đời Trần, vùng đất này thuộc về lộ Hồng Châu rồi lộ Nam Sách Đầuthế kỷ XV, vùng đất Long Động thuộc về huyện Thanh Lâm châu Nam Sáchphủ Lạng Giang Khoảng niên đại Thuận Thiên (1428 - 1433), Long Độngthuộc về Đông Đạo về sau thuộc về lộ Nam Sách thượng Vua Lê Thánh Tôngtiến hành cải cách hành chính, Long Động thuộc về huyện Bình Hà phủ NamSách thừa tuyên Hải Dương Sau này, các đời vua nhà Lê Trung Hưng đổi thừa
Trang 18tuyên Hải Dương ra xứ, rồi trấn, Long Động vẫn thuộc các xứ, trấn này Năm
1831, vua Minh Mạng cho thành lập các tỉnh, Long Động thuộc về tổng CaoĐôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương
Do nhu cầu của cuộc sống và nhiều nguyên nhân tự nhiên, xã hội nhưphòng chống lũ lụt, đạo tặc, làng Sách tiến dần lên phía Bắc và định cư ở vịtrí như ngày nay Những dấu tích nguyên sơ được tìm thấy còn rất nhiều như
vỏ sò, vỏ hến, mảnh bát, đĩa, sành sứ… là những minh chứng chứng minh sựhiện diện của cư dân làng Long Động cổ
Trước kia, địa phận thôn Long Động rất rộng, phía Bắc đến tận MôMốc (mốc trắc địa cắm ở bãi Quà) tiếp giáp đất Quảng Tân, ngang với lũy treĐột Hạ và ngang với nghĩa địa Trung Hà hiện nay, phía Tây giáp làng Tè xãHợp Tiến và Trại Xém xã Nam Hưng, ngang với chùa Đột bây giờ, phía Namgiáp Cầu Bình và sông Mụa thuộc thôn Hà Liễu xã Thanh Quang
Nghề nghiệp chủ yếu của người dân nơi đây là nghề nông, trồng lúa
và các cây hoa màu Một số dân làm nghề chài lưới, đánh bắt cá, tôm, cua,
ốc Làng Long Động xưa là bến sông, nên khi đào kênh, mương, đào đất làmnhà mới… người dân thấy vô vàn những gốm vỡ, chum, lọ, địa tầng vỏ sò,
vỏ ốc, chứng tỏ nơi này đã từng là một bến sông buôn bán sầm uất một thời
Do thuần túy nghề nông nên thương nhân hầu như không có Nghề thủ côngchỉ có vài người làm nghề rèn phục vụ sản xuất tự cấp tự túc Người dânLong Động vốn chất phác, hiền lành, hay lam hay làm, thương yêu, đùm bọclẫn nhau, chiến thắng thiên nhiên và đạo tặc, bảo vệ xóm làng, phát triểncuộc sống
Trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, từ một dòng họ, hiệnnay trong thôn có 10 dòng họ khác nhau cùng sinh sống Trong đó có họ Mạc
và họ Nguyễn xuất hiện sớm nhất và tồn tại cho đến ngày nay Dân số củathôn tính đến năm 2010 có 272 hộ với 953 nhân khẩu
Trang 191.2.2 Cội nguồn của dòng họ
Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, tùy điều kiện hoàn cảnh màthân thế sự nghiệp của cá nhân cũng như sự phát triển của một dòng họ luôngắn chặt với vận mệnh tồn vong của dân tộc Nhiều cá nhân đã có nhữngđóng góp và để lại dấu ấn quan trọng trong lịch sử Việt Nam Nhiều dòng họ
đã trở thành những triều đại cai trị và quyết định vận mệnh đất nước Dòng
họ Mạc ở Việt Nam mà cụ thể là dòng họ Mạc ở thôn Long Động, xã NamTân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cũng không nằm ngoại lệ và cónhiều đóng góp đối với đất nước Tuy nhiên, do những thay đổi của lịch sử,
do những tác động của những quan niệm khác nhau cả về chính trị cũng như
về đạo đức mà có cách đánh giá, nhận định khác nhau về dòng họ Mạc cũngnhư đóng góp của dòng họ với lịch sử đất nước Nghiên cứu về họ Mạc ởLong Động, chúng ta thấy nổi lên các vấn đề: Nguồn gốc dòng họ Mạc; sựthành lập và đóng góp của vương triều Mạc với đất nước; việc cải đổi danhtính của dòng họ Mạc
Nói về nguồn gốc của họ Mạc, Hợp Biên thế phả họ Mạc ghi lại bàitựa thế phả họ Mạc ở thôn Tiều Lợi, Đông Hoãn, Quảng Đông như sau:
Họ Mạc vốn là họ Cơ Cuối đời Chu bị ly tán đến đời Tần, Hán cóngười dời đến Cự Lộc làm quan đến Chấp kích, ăn thực ấp ở đất Mạc nênlấy tên đất là tên họ là Mạc Nay huyện Nhiệm Khâu, phủ Hà Giản là huyệnMạc ngày xưa vậy, cũng gọi là Mạc Châu, dấu tích xưa vẫn còn, họ Mạc bắtđầu từ đó Đến năm Đại Lịch, Mạc Tang làm Bắc bộ Viên ngoại lang, saudời đến ngõ Châu Cơ, thôn Kim Lũ đất Phong Châu
Đến năm Đại Trung thứ năm đời Đường (660) thì có ngài Trạngnguyên Mạc Tuyên Khanh là người đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam Kế đó
có Tấn thứ sử rồi đến Như Tùng Năm Thiên Thành thứ 3 đời Đường MinhTông vì có tài văn học được vời làm Trung thư kiêm Thị giảng học sĩ Kế đó
Trang 20có Hữu Hoài, quan biệt giá bắt đầu ra ở đất Lăng Thủy thuộcNam Hùng.
Đến đời Cảnh Hựu (1038) triều Tống Nhân Tông thì có cụ VĩnhXương đỗ Tiến sĩ làm Học huấn Quảng Châu, do đó làm nhà ở cầu ThanhPhong, thành Quảng Châu, sinh được 3 con trai: con cả là Ngu, con thứ
là Lỗ, con thứ ba là Độn Cụ Ngu làm trực giảng ở Vương phủ Con cháudời đến đất V ĩ Tụng thuộc Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Châu)(2) Còncon cháu cụ Lỗ vì có Dương hầu tàn ngược nên nhà cửa bị tàn phá đổ nát
Cụ Độn ra Thất An và cụ Lỗ do đó dời đến ở thôn Lỗ Con của
cụ Độn là Mạc Vi dời đến ở thôn Tiều Lợi, huyện Đông Hoãn, khi ấy cụdâng thư hiến kế sách góp thóc giúp việc biên cương, được phong là Phụngnghị đại phu, lấy bà Nghi nhân Trần Thị Nam Cụ mất năm Nhâm Ngọ, niênhiệu Thiệu Hưng thứ 22 đời Tống Cao Tông Chôn ở gò Thánh Nương, TràLinh huyện Đông Hoãn, hợp táng với cụ bà Trần thị Đó là Thủy tổ họ Mạcdời đến trong ấp
Sau này, 7 người con chia thành 7 chi Con cả ở Tiều Lợi Con thứ ởthôn Đại Đao thuộc cửa khẩu Thạch Thủy Con thứ ba từ Tiều Lợi dời đến ở
gò Long Vĩ thuộc Lỗ Thành, vợ là Chu thị, sinh được 2 con trai, con cả
là Văn Hoán, con thứ làVăn Quang Vợ Quang là Lý thị sinh ra Tổng Cán.Dời đến ở Quan Điền, vợ là Tiết thị, sinh được 3 con: con cả là ThượngTuấn, con thứ là Thượng Đạt, con thứ ba là Thượng Hiền Tuấn vẫn ở QuanĐiền, Hiền dời đến đất Cổ Thiệp, Đạt dời đến ở Thạch Vĩ, tức thôn Mạc ốc
Vợ cụ Thượng Đạt là Dương thị, sinh được 2 con Con trưởng là KhắcXương, con thứ là Khắc Phát Vợ cụ Khắc Phát là Hà thị sinh được 2 con.Con trưởng là Bản Trinh, con thứ là Bản Tường Cụ Tường sinh được 4con: Kính Hoà, Kính Đức, Kính Nghiệp, Kính Hiền Nay ghi bài tựa này đểcon cháu đời đời chớ có thay đổi, để biết ngọn ngành nguồn gốc của họ Mạc
Trang 21vậy Thủy tổ cụ Tuyên Khanh đỗ Trạng nguyên năm Đại Trung thứ 5 đờiĐường.Tổ đời thứ hai là cụ Tấn làm quan Biệt giá Hoài Châu Tổ đời thứ ba
là cụ Như Tùng làm Đoạn Minh điện đại học sĩ Đường Minh Tông Truyềnđến đời thứ 22 thì đến cụ tổ là Đại Luân, tự là Đôn Nhân, dời sang ở Hà Nộinước Đại Nam Theo Thi Nham Đinh Gia Thuyết thì con cháu cụ Mạc Ngusau dời sang Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thôn LongĐộng, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), đến cụ Mạc HiểnTích đỗ Nhất giáp Tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Quảng Hựu triều Lý(1086), tức là Thủy Tổ nhà Mạc ở nước Nam [7, tr 30]
1.2.3 Lịch sử phát triển của dòng họ Mạc
Như vậy Họ Mạc là một dòng họ nằm trong “bách tính” của ngườiViệt Nam Trong lịch sử Việt Nam, do những điều kiện khác nhau mà cónhiều dòng họ tuy cùng một họ nhưng không phải là cùng một nguồn gốc
Họ Mạc ở Việt Nam cho đến nay được biết và nổi tiếng hơn cả bởi hai dòng
họ có nguồn gốc phát tích khác nhau
Dòng họ Mạc nhỏ hơn là dòng họ Mạc ở Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.Dòng họ này là người Minh Hương vốn gốc tích từ Trung Quốc di cư sangvào đầu thế kỷ XVIII Tuy có nguồn gốc như vậy, nhưng dòng họ Mạc nàytrong quá trình phát triển đã coi Hà Tiên là quê hương của mình, họ có nhiềuđóng góp với Hà Tiên cũng như với đất nước Họ hòa chung dòng máu vớicộng đồng người Việt, dần dần gốc tích Trung Hoa của họ chỉ còn lưu lạitrong ký ức dòng họ Dòng họ Mạc này có công khai phá, ổn định vùng đất
Hà Tiên, thành lập tại đây một vùng văn hiến những danh nhân họ Mạc HàTiên có thể kể đến như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích… Họ là những võ tướng,những nhà quản lý hành chính đồng thời cũng là những nhà văn hóa khi tạodựng lên một thị xã nổi tiếng có tên là Chiêu Anh Các
Trang 22Dòng học Mạc lớn hơn và có nhiều đóng góp hơn với lịch sử đất nước
là dòng họ Mạc phát tích tại thôn Long Động - xã Nam Tâm - huyện NamSách - tỉnh Hải Dương Dòng họ này (tạm gọi là họ Mạc Long Động) đượchình thành từ lâu đời và ngày nay phát triển rộng khắp trên nhiều vùng đấtnước Nhân vật họ Mạc Long Động được nhắc đến đầu tiên trong lịch sử làTrạng nguyên Mạc Hiển Tích và em trai ông là Tiến sĩ Mạc Kiến Quan đỗvào triều nhà Lý Sang đến nhà Trần lại có Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyênvào năm 1304 Thế kỷ XVI, họ Mạc đã đánh dấu sự đóng góp của mình đốivới lịch sử đất nước bằng việc thành lập lên vương triều Mạc (1527 - 1592).Vương triều Mạc có nhiều đóng góp với đất nước đặc biệt trên các lĩnh vựcphát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục… Tuy nhiên cho đến nay việc đánh giávương triều này còn nhiều tranh luận khác nhau với những sự kiện: thay thếnhà Lê nắm chính quyền, quan hệ đối ngoại với Trung Quốc
Bài tựa Gia phả họ Mạc cho biết họ Mạc vốn thuộc họ Cơ đời Chu.Trảiđời Tần đến đời Hán dời đến đất Cự lộc, nhân đó được ban họ Mạc Như vậy
họ Mạc bắt đầu từ đó Đến năm trung đại thứ năm đời Đường (660), có trạngnguyên Tuyên Khanh đó là cụ tổ đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam
Lại truyền đến cụ Mạc Hiển Tích ở Lũng Động, Chí Linh, Dương đỗ đệnhất giáp khoa Bính Dần, năm Quảng Hựu thứ hai triều Lý(1086) Em cụ làMạc Kiến quan cũng đỗ tiến sĩ Anh em cùng triều, làm tới thượng thư, mộtnhà châm hốt từ xưa chưa hề có
Rồi đến cụ Mạc Đĩnh Chi hồi nhỏ nổi tiếng thần đồng Khoa Giáp Dầntriều trần, bắt đầu chia thành tam giáp, cụ đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập Đệ nhấtdanh(tức trạng Nguyên) Làm quan đến Đại Liêu ban, tả bộc xạ Lại vânglệnh đi sứ, văn chương nổi tiếng ghi lại trong Bắc sử Vua Nguyên khen tài,phong làm lưỡng quốc Trạng Nguyên Con cụ là Công Hướng, Công Trựcđều đỗ Hương tiến, làm Viện ngoại lang Cháu là công Địch, Công Toại
Trang 23,Công Viễn, có thế lực làm quan cho nhà Minh Con cháu Công Toại di cư về
Ma Khê, Thanh Hà Hải Dương Tiếp đó là Mạc Đĩnh Quý sinh Đĩnh Phú vìcửa nhà kiệm ước, dời đến xã Cao Đôi, huyện Bình Hà(Hải Dương), làm nghềchèo thuyền qua sông Đĩnh Phú sinh con Cả là Đăng Dung, con gái lớn làThi Công, Thị Dung đều gả cho người xã Cao Đôi
Mạc Đăng Dung hồi nhỏ cày cấy chăn nuôi, có chí khí hơn người Anh
em cùng đến học thầy họ Lê ở Cổ Trai, Nghi Dương Nhờ thầy dạy dỗ sứchọc ngày một tinh thông, lại nổi tiếng về võ nghệ Thầy học mừng cho là bậcđại tài, đem con gái gả cho
Sau có thầy phong thủy phương Bắc Lê tiên sinh xin cho để một ngôiđất tốt Thầy lại để cho họ Mạc Nguyên do đươc phúc thực là như vậy
Từ sau năm nhâm thìn đời Hồng Ninh(1592) trải cơn binh biến, chínhquyền ngày một suy vi, con cháu có kẻ tan tác bốn phương, có người tìm vềquê cũ đều phải thay họ đổi tên như họ Hoàng ở Hương Ốc, Họ Phạm ởThanh Đặng, Họ Lều ở Tảo Khê Để giữ lại tên cũ có bộ thảo ở trên đầu sợlẫn với họ khác Còn như ở Phú Xuyên, Từ Liêm, An Lũng thì đổi thành họNguyễn Cũng họ Nguyễn ở Phù Lưu, quất Động thì đổi hành họ Bùi,Chương Đức thì đổi thành họ Liêu Nơi thì lấy họ mẹ nơi thì lấy chữ ‘Đăng”
đó là dụng ý giữ lại nếp xưa vậy [7.tr.33]
Như vậy họ Mạc ở Việt Nam được phát tích ở làng Long Đông, naythuộc Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương và phát triển qua các đời như sau:
Đời thứ 01: Cụ Tổ là Mạc Hiển Tích Ông là người ở xã Lũng Động,
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyệnNam Sách, tỉnh Hải Dương) Đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ khoa Bính Dần, niên
hiệu Quảng Hựu thứ hai (1086) đời nhà Lý (Nhân Tông) Ông được bổ làm
Hàn lâm Viện học sĩ, sau làm đến chức Thượng thư bộ Lại Đi sứ ChiêmThành năm 1094
Trang 24Ông là một người có biệt tài về chính trị và là một trung thần nhà Lý.Sau này khi Mạc Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế có truy tôn ông là thủy tổhồng phúc đại vương.
Ông sinh ra Mạc Hiển Đức
Đời thứ 02: Có 1 đinh là Mạc Hiển Đức Cụ sinh hạ được 1 trai là
Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc
xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) Ông có tướng mạo xấu xínhưng trí tuệ thông minh
Năm 1304 đời vua Trần Anh Tôngniên hiệu Hưng Long thứ 12, triềuđình mở khoa thi lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) Mạc Đĩnh Chi đỗđầu, chiếm học vị trạng nguyên Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố củanhà vua, rồi chức Tả bộc xạ (Thượng thư) Đặc biệt hai lần đi sứ Trung Quốc,ông đã dùng tài năng và phẩm chất thông minh của mình khiến người nướcngoài phải khâm phục Về sau ông được cháu 7 đời là Mạc Đăng Dung truytôn là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế Ông sinh ra Mạc Dao
Đời thứ 06: Có 1 đinh là Mạc Dao: Ông là con của Lưỡng quốc Trạng
nguyên Mạc Đĩnh Chi (đời Trần) chưa rõ năm sinh năm mất
Trang 25Cụ đỗ Hương Cống đời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1363) Làm quan tưhình viện đại phu Sau này cháu xa 6 đời là Mạc Thái Tổ khi lên ngôi Hoàng
đế có truy tôn ông tổ 6 đời này làm Hoằng cơ đốc thiện tuyên hưu hoàng đế
Ông sinh hạ bốn con trai, đặt tên là Mạc Địch, Mạc Thoan, Mạc Thúy,Mạc Viễn Người con nào cũng có tài năng sức lực Song bất đắc chí vì ở cuốiđời Hồ
Đời thứ 07: Có 4 đinh là: Mạc Địch, Mạc Thoan, Mạc Thúy, Mạc Viễn.
Mạc Thúy: Ông là con thứ của cụ Mạc Dao (Chưa rõ năm sinh mất
năm 1412) Anh trai của của Ông là Mạc Địch, có tài năng và sức lực nhưng
vì bất đắc chí muốn chống lại nhà Hồ và mắc sai lầm đưa đường cho nhàMinh sang đánh nhà Hồ Người Minh phong cho ông chức chỉ huy sứ
Ông có cùng chí hướng như anh và cũng có hành động sai lầm, muốnchống lại nhà Hồ buổi ấy nên đã dẫn đường cho Trương Phụ qua sông đánh
úp phá thành Đông kinh Ông lại sai thủ hạ là bọn đầu mục Nguyễn NhưKhanh bắt Hồ Hán Thương ở núi Cao Vọng Người Minh thưởng công phongcho ông chức Tham chính ở Ty bố chính Giao Chỉ và em cụ là Mạc Viễnchức Diêm thiết sứ Năm Mậu Tý (1408) lại cùng Trương Phụ đánh DiễnChâu Năm Nhâm Thìn (1412) niên hiệu Trùng Quang thứ tư vào tháng 12,đem quân đánh Nông Văn Lịch ở Lạng Sơn bị trúng tên độc chết
Sau này khi cháu xa là Mạc Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế có truy tôn Ông
là Tổ 5 đời làm Dụ tổ triệu phúc hoằng đạo tích đức Hoàng đế Ông sinh raMạc Tung
Đời thứ 08: Có 1 đinh là Mạc Tung ( Chưa rõ năm sinh, năm mất):
Ông là con của Mạc Thúy Sống vào thời hậu Trần (1407-1413) Di cư đếnlàng Lan Khê, huyện Bằng Hà, châu Nam Sách lộ Lạng Giang (nay là Thanh
Hà, tỉnh Hải Dương) Khi ấy Lê Lợi đã bình định xong giặc Minh xâm lược,
Trang 26nghiêm trị bọn ngụy quan, cho nên ông không dám ra làm quan, chỉ ẩn náunơi thôn dã.
Sau này khi cháu xa là Mạc Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế có truy tôn ông
Tổ bốn đời là ý tổ hồng khánh uyên triết anh duệ hoàng đế Ông sinh raMạc Bình
Đời thứ 09: Có 1 đinh là Mạc Bình (hay Mạc Đĩnh Quý) Chưa rõ
năm sinh, năm mất Ông là con của cụ Mạc Tung Lại di cư đến làng CổTraihuyện Nghi Dương Cũng như bố, chỉ ẩn náu nơi thôn dã, không ra làm quan
Sau này khi cháu nội là Mạc Thái Tổ lên ngôi hoàng đế có truy tôn ông nộilàm Hoằng tổ thuần hiến tuy hưu đốc cung hoàng đế Ông sinh ra Mạc Hịch
Đời thứ 10: Có 1 đinh là Mạc Hịch (hayMạc Đĩnh Phú) Chưa rõ năm
sinh, mất năm 1514 Ông là con của cụ Mạc Bình (hay Mạc Đĩnh Quý) ở làng
Cổ Trai, huyện Nghi Dương Lấy con gái cụ Đặng Xuân, người cùng làng tên
là Đặng Thị Hiếu Sinh hạ được 3 người con trai Con trưởng là Đăng Dung,con thứ là Đốc, con thứ ba là Quyết Họ Mạc lại khởi sắc bắt đầu từ 3 ngườicon của ông
Đời thứ 11: Có 3 đinh là: Mạc Đăng Dung, Mạc Đốc, Mạc Quyết.
Mạc Đốc được phong tước Trào Quận công, sau vua Mạc Đăng Dungphong cho tước Từ Vương
Mạc Quyết tước Đông Quận công lại được Mạc Đăng Dung phongtước Tín vương và sau khi chết còn được truy phong Uy tín Đại vương
Khi Thái tổ Mạc Đăng Dung lên ngôi có truy tôn thân phụ làm Chiêu Tổquang liệt cơ mệnh Hoàng Đế Thân mẫu Đặng thị phong làmHoàng Thái Hậu
Mạc Đăng Dung sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão
(1483) Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện KiếnThụy, thành phố Hải Phòng) Mất ngày 22/8âm lịch năm 1541 Ông là cháu
7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần Theo Toàn thư và Đại Việt
Trang 27thông sử, Mạc Đăng Dung là người xã Cao Đôi huyện Bình Hà (nay là thônLong Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên ông
là Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên triều Trần Mạc Đăng Dung hồi nhỏ làm nghềđánh cá, lớn lên có sức khoẻ, đỗ lực sĩ xuất thân, được sung vào quân túc vệcủa nhà Hậu Lê đời Lê Uy Mục
Năm 1508, Đoan Khánh năm thứ 4, vua Lê Uy Mục giao cho ông làmThiên vũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ Năm 1511, Hồng Thuận năm thứ
3, vua Lê Tương Dực thăng ông làm Đô chỉ huy sứ tước Vũ Xuyên bá
Triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoàinông dân nổi dậy khởi nghĩa, mạnh nhất là lực lượng Trần Cảo.Trần Cảođánh chiếm kinh thành Thăng Long, các tướng gác mâu thuẫn cùng đánh dẹp.Đến khi Trần Cảo rút đi, các tướng lại chia bè phái đánh nhau Nguyễn Hoằng
Dụ (con Nguyễn Văn Lang) đánh nhau với Trinh Tuy thua chạy về Tây
Đô (Thanh Hoá) Trần Chân về phe với Tuy đánh đuổi Hoằng Dụ, nắm lấyquyền trong triều
Mạc Đăng Dung thấy uy quyền của Trần Chân lớn liền kêt thông giavới Chân, cho con gái Chân lấy con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh
Năm 1518, Lê Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của TrầnChân nên sai người giết Chân Thủ hạ của Chân là Nguyễn Kính nổi loạn.Bấy giờ Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương Chiêu Tông bèn triệu MạcĐăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá Hoằng Dụ đánh bị thua chạy vềThanh Hóa rồi chết Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn và nắmhết quyền bính…
Năm 1521, Mạc Đăng Dung chiêu hàng được Nguyễn Kính, dẹpđược Trần Cung (con Trần Cảo), quyền thế át cả Chiêu Tông Chiêu Tông sợchạy ra ngoài gọi quân Cần vương Đăng Dung bèn lập em Chiêu Tông làXuân lên ngôi, tức là Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông…
Trang 28Năm 1523, Mạc Đăng Dung nhân phe Chiêu Tông yếu thế, điều quânđánh Thanh Hoá Năm 1524, Trịnh Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết ĐăngDung được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhânquốc công
Năm 1527, ông được phong làm An Hưng Vương Các đối thủ đều bịdẹp yên, không còn ai ngăn trở, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi,lập ra nhà Mạc Chiếu nhường ngôi của Lê Cung Hoàng cho Mạc Đăng Dung
có đoạn viết: "Từ cuối đời Hồng Thuận gặp lúc Quốc gia nhiều nạn, Trịnhtrung lập kẻ nghịch lên ngôi, lòng người lìa tan, trời cũng không giúp, lúc ấythiên hạ đã không phải của nhà Lê vậy Ta (Cung đế) bạc đức nối ngôi khôngthể gánh nổi, mệnh trời và lòng người hướng về người có đức Vậy nay Thái
Sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung là người trí đức, tư chất thông minh, đủtài văn võ, bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nướcthiên hạ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều qui phục, nay theo lẽphải nhường ngôi cho "
Ông lên làm vua từ ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527 đến hếtnăm 1529 với niên hiệu Minh Đức Sau đó
Vợ của Hoàng đế Mạc Đăng Dung là Hoàng hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn.Mạc Đăng Dung sinh được 10 hoàng tử và 3 công chúa
Năm 1541, Thái tổ Mạc Đăng Dung qua đời, ngày 22/8âmlịch năm 1541 thọ 59 tuổi
Sau năm 1592, Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long một chiến dịch truy
sát họ Mạc đã diễn ra Trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn ghi: “Bình An
vương (Trịnh Tùng) giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở CổTrai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng Đó là tỏ sự truy phạt vậy”[24, tr 34] Họ Trịnh đã hành hình Mạc Hồng Ninh rất tàn nhẫn, đưa ra phíanam cửa doanh xử lăng trì (dùng voi xé xác), đóng đinh vào mắt, chặt và bêu
Trang 29đầu, rồi đem thủ cấp hiến hoàng đế ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hóa Để xóa
bỏ đối thủ của mình, uy hiếp con cháu họ Mạc để làm tiêu tan ý chí phục thùrửa hận và tránh được hậu họa về sau, chúa Trịnh đã giết một lúc hơn 60 người
họ Mạc, thây chết đầy bờ cát, tạo ra bầu không khí nặng nề ghê sợ
Con cháu họ hàng nhà Mạc phải li tán, mai danh ẩn tích, ở nhiều vùng,nhiều miền đất lạ, đổi thành nhiều họ, hoặc theo họ mẹ, hoặc theo họ của bốnuôi, hoặc theo họ của địa phương cư trú, hoặc theo điều kiện sinh hoạt…nhưng đều giữ một quy ước chung để sau này tìm nhau Quy ước đó có nơi
ghi rõ trong gia phả, có nơi chỉ truyền miệng Đó là “Khử túc bất khử thủ”
(Bỏ chân không bỏ đầu) Ví như chữ Mạc bỏ nét ngang ở chữ Đại dưới chân,đưa lên thành chữ Hoàng, tức là bộ thảo đầu vẫn giữ
Theo lời kể của các cụ bô lão trong làng cuốn gia phả cổ ghi chép ởlàng tất cả cùng chung họ Mạc và cùng chi Nhưng khi xảy ra chiến tranh Lê -Mạc nhiều người họ Mạc ở đây cũng phải lưu tán đến khắp nơi Sau một thờigian nhiều người quay về Từ đó trong làng hình thành 2 chi họ Mạc, Chi cụMạc Phúc An và chi cụ Mạc Văn Tĩnh Tại sao họ Mạc tại đây chia tách thành
2 chi thì không ai còn nhớ rõ Chỉ biết rằng lễ giỗ được tổ chức cùng mộtngày (19/12 âm lịch) và tại nhà trưởng của mỗi chi Về cơ bản, hoạt động củahai chi tương tự nhau
Hiện nay, theo Phả đồ Chi họ Mạc tại làng Long Động thì mỗi chi nàyđều tồn tại được hơn 12 đời Tổng số nhân khẩu là 417 người trong đó có 219nam và 198 nữ Từ đời thứ nhất đến đời thứ 5 có thể xác lập được phả đồ củatừng chi họ là dựa vào tấm bia “Từ đường bi ký được lập năm Tự Đức 1856
Từ đời thứ 6 trở đi chi ghi ngành trưởng
Từng nghe: Cây có gốc, nước có nguồn, người có Tổ Kính nghĩ họ ta
ở Long Động, Cao Đôi là họ Mạc truyền được 9 đời Rồi được nghe biết từđời thứ 8 về sau.Tổ có ghi chép đến 5 đời Tổ sinh ra 5 chi mà trưởng chi
Trang 30truyền được 3 đời Thứ chi nối truyền lớn kể không được hết Tiên Tổ, thụyhiệu, ngày kị, mộ táng và ruộng liệt như sau [7, tr 216].
- Đời thứ 01: có 1 đinh Cụ Di Tổ là Mạc tiên công, tự là Văn Tĩnh,
thụy Khánh Lưu phủ quân ( giỗ ngày 19/12 Âm lịch), mộ ở xứ Đống Tác Mộ
bà thất truyền
- Đời thứ 02: có 1 đinh là Mạc quý công, tự là Phúc Thọ, thụy Khắc
Xương phủ quân ( giỗ ngày 15/8 Âm lịch), mộ ở xứ Đống Tác Bên đông hai
Mộ bà là Trần Thị hiệu là Diệu Đức (giỗ ngày 16/11) ở xứ Đống Tác
- Đời thứ 03: có 1 đinh: hiệu sinh của bản phủ Mạc Văn Công, thụy là
Chính Trực phủ quân (giỗ ngày 19/3 Âm lịch), mộ ở Đống Dạ xứ
- Bà Trần Thị, hiệu Từ Nghi nhụ nhân (giỗ 7/7) mộ ở xứ ĐốngChiêm Bầu
- Đời thứ 04: có 1 đinh là Thập Lý Hầu (Lý trưởng) kiêm Hậu thần
bản xã Mạc Công tự Đôn Chí, thụy Phúc Trí phủ quân (giỗ 3/6) mộ ở xứĐống Cái Quýt
- Bà Trần Thị, hiệu Từ Chiết nhụ nhân (giỗ 9/1) mộ tang ở Đống Tốisinh hạ năm giai: Duy Hằng, Duy Hàn, Duy Ninh, Duy phiên, Duy…
- Chi Giáp
- Đời thứ 05: có 5 đinh: Mận Nhân công, tự Duy Hằng thụy Trung
Nhã phủ quân ( giỗ 24/6) mộ thất truyền
- có 5 đinh Vệ binh Mạc Duy Năng phủ quân (Giỗ 25/12).
- Khán thư Mạc Duy Giao phủ quân giỗ (12/12) tang ở xứ Đống Tiểu.Ruộng cúng ở ngõ giữa một thửa 10 thước, một thửa 8 thước, một thửa 1 sào
5 thước
- Mạc Lễ công tự Duy Hàn, hiệu Tài Thành phủ Quân
- Mạc Chí công tự Duy Ninh phủ quân
Trang 31- Mạc Tín công tự Duy Phiên, hiệu Phúc Chính phủ quân Ruộnghương hỏa ở ngõ giữa 1 thửa 10 thước.
- Từ đời thừ 06 đến đời thứ 12 chỉ ghi ngành trưởng.
- Lệ: Hàng năm cày cấy biện lễ: Lợn 1 con, gạo trắng 1 mâm, rượu 10bình, cau 50 quả, trầu 100 lá, vàng mã 1000
- Cùng phối thờ bà cô Mạc Thị Ngôn, hiệu Từ Hoài ở Chi Mậu giỗ(18/11) táng ở Đống Cao
1.2.4 Các chi họ Mạc trên phạm vi cả nước
Sau năm 1592, Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long một chiến dịch truy
sát họ Mạc đã diễn ra Trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn ghi: “Bình An
vương (Trịnh Tùng) giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở CổTrai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng Đó là tỏ sự truy phạt vậy”[24, tr 34] Họ Trịnh đã hành hình Mạc Hồng Ninh rất tàn nhẫn, đưa ra phíanam cửa doanh xử lăng trì (dùng voi xé xác), đóng đinh vào mắt, chặt và bêuđầu, rồi đem thủ cấp hiến hoàng đế ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hóa Để xóa
bỏ đối thủ của mình, uy hiếp con cháu họ Mạc để làm tiêu tan ý chí phục thùrửa hận và tránh được hậu họa về sau, chúa Trịnh đã giết một lúc hơn 60 người
họ Mạc, thây chết đầy bờ cát, tạo ra bầu không khí nặng nề ghê sợ
Con cháu họ hàng nhà Mạc phải li tán, mai danh ẩn tích, ở nhiều vùng,nhiều miền đất lạ, đổi thành nhiều họ, hoặc theo họ mẹ, hoặc theo họ của bốnuôi, hoặc theo họ của địa phương cư trú, hoặc theo điều kiện sinh hoạt…nhưng đều giữ một quy ước chung để sau này tìm nhau Quy ước đó có nơi
ghi rõ trong gia phả, có nơi chỉ truyền miệng Đó là “Khử túc bất khử thủ”
(Bỏ chân không bỏ đầu) Ví như chữ Mạc bỏ nét ngang ở chữ Đại dưới chân,đưa lên thành chữ Hoàng, tức là bộ thảo đầu vẫn giữ
Dương Bá Cung viết Lều thị thế phả năm Tự Đức thứ 6 (1853) có ghi:
“ Tổ tiên họ Mạc, đến đầu thời Lê Trung Hưng đổi thành họ Lều, giữ lại bộ thảo
Trang 32đầu sợ lẫn với họ khác ” [7, tr 279] Cũng phả đó cho biết họ Khương, họ Hoàng,
họ Vũ, họ Phạm lưu lạc chuyển đổi không xét được
Từ họ Mạc đổi ra nhiều họ Cho đến nay, Ban liên lạc họ Mạc đã thống
kê được chắc chắn bốn mươi họ khác nhau, là các họ sau: “Bế, Bùi, Cao Thái,Cát, Chu, Chữ, Chương, Diệp, Dương Mạc, Đào, Đặng, Đinh, Đoàn, Đồng,
Đỗ, Hà, Hán, Hồ Đăng, Hoa (Khoa), Hoàng và Huỳnh, Hứa, Khổng Vũ,Khương, Lê Đăng, Lều, Liêu, Lưu, Ma, Mai, Màn, Mậu, Mông, Nguyễn,Phạm, Phan, Phùng, Phương, Quách, Tạ, Thái, Thạch, Thẩm, Tô, Trần, Trịnh,Trừ, Trương, Văn, Vũ, Vương.” [7; tr 205 ]
Việc cải đổi tên họ của họ Mạc trong lịch sử dân tộc diễn ra chủ yếu từsau thời Lê Trung Hưng (cuối thế kỉ XVI) và di chuyển đến nhiều địa bàn cưtrú từ Bắc đến Nam cũng từ thời điểm ấy Theo Hợp biên thế phả họ Mạc thì:
“Hậu duệ của Mạc Kính Điển và Mạc Kính Phu từ Quảng Ninh di tản về BắcNinh, Bắc Giang, Thái Nguyên ; Hậu duệ của Mạc Phúc Nguyên, Mạc PhúcThái, Mạc Mậu Giang thì di tản ở Hải Dương, Thái Bình, Nghệ An, HàTĩnh ; Hậu duệ của Mạc Phúc Hải, Mạc Mậu Hợp, Mạc Thao thì di tản về
Hà Tây ; Hậu duệ của Mạc Đăng Uyên, Mạc Đăng Chương, Mạc Đăng Tâmthì về Nam Định ; Hậu duệ của Mạc Kính Vũ thì vào Quảng Nam ; Hậuduệ của Mạc Đăng Ninh thì vào Quảng Ngãi ” [7; tr.206] Thật khó phác họađược con đường di tản của con cháu họ Mạc
Tính đến ngày 30/6/2000 Ban liên lạc họp Mạc đã lập được danh sách
Trang 33Cao Bằng: 15 chi họ gồm: Chi họ Hoàng, Bế, Mai, Vương, Định Mạc,
Ngọc, Phạm Đăng, Mạc(8 chi)
Đồng Nai: 1 chi họ là: Bùi Thái.
Hà Nam : 3 chi họ gồm: Chi họ Hoàng, Mạc, Văn.
Hà Nội : 5 chi họ gồm: Thạch (3 chi họ), Phương Đình, Phương Văn.
Hà Tây: 13 chi họ gồm: Bùi Trần, Cát, Lều, Liêu, Hoàng(2 chi họ),
Phùng, Phương, Lê, Nguyễn Đăng, Trần Đăng,Chu
Hà Tĩnh: 28 chi họ gồm: Chi họ Phạm Công, Phạm Viết, Phạm Bá,
Thái Văn, Hoàng Văn, Bùi, Thái, Thái Xuân, Phan, Phạm Quốc, Phạm Cao,Phan Đình, Pham, Phan, Thái Khăc, Thái Vân, Hoàng Văn, hoàng Xuân,Phan Đăng, Bùi Đình, Phan Viết, Thái
Ở Hải Dương: 25 chi họ Gồm chi họ Mạc (18 chi họ), Trần, Đăng,
Nguyễn, Bùi Hữu, Nguyễn Thế, Nguyễn, Phương
Hải Phòng: 4 chi họ gồm có: Mạc (2 chi), Hoa, Phạm.
Hưng Yên: 3 chi họ gồm: Phạm, Lều, Mạc.
Nam Định: Chi họ gồm: Phái hệ thế tử Mạc Đăng Uyên đổi sang họ
Pham sau chia thành 3 chi Phái hệ cụ Hoàng thế Mỹ cha hành 2 chi họ Hoàng
và chi họ Bùi
Phái hệ cụ Mạc Đăng Tâm đổi thành họ Phan chia thành hai chi PhanVăn và Phan Đình
Phái hệ cụ Mạc thiên Đạo chia thành 3 chi họ Phạm
Ninh Bình: 4 chi họ gồm: Phái hệ Mạc Văn Văn đổi sang họ Phạm chiathành 4 chi
Nghệ An: 182 chi họ gồm: Phái hệ Quốc Vương Mạc Đăng Lượng chiathành 8 chi họ đó là: Hoàng Trần, Hoàng Văn (2 chi ho), Hoàng Bá, Hoàng
Sĩ, Lê Đăng (3 chi họ)
Trang 34Phái hệ thế tử Mạc Mậu Giang: 14 chi họ gồm: Nguyễn Phương,Nguyễn Trọng(4 chi họ ), Hoàng văn(3 cchi họ), Phạm Đình, Phạm Văn(3 chihọ), Phan Đăng, Phan Sĩ, Phan.
Phái hệ thế tử Mạc Đăng Bình: 38 chi họ gồm: Thái Khắc (7 chi họ),Thái Doãn(12 chi họ), Thái Văn(8 chi họ)Thái Đắc, Thái Duy, Thái Đạo,Thái Bá,Thái Huy…
Phái hệ hậu duệ Mạc Kính Vũ: 6 chi họ gồm Phạm Ngọc, Phạm Văn (4chi họ), Phạm Bá
Các phái hệ khác 117 chi
Vinh: 3 chi họ Chi họ Hoàng Văn, Phạm (2 chi họ).
Hưng nguyên: 22 chi họ gồm: Phạm Viết, Phạm Xuân, Phan, Bùi(2 chi
họ), Phan(2 chi họ), Pham(4 chi họ), Phan Hữu, Phan Hồng, Phạm Văn, PhạmViết, Phan Đăng, Hoàng Đức ,Thái
Nam Đàn: 10 chi họ gồm: Bùi(2 chi họ), Bùi Đình, Phan, Lê, Nguyễn
Xuân , Phạm Hồng, Phạm Văn, Hoàng Văn, Hoàng Thế
Thanh Chương: 18 chi họ gồm: Phạm Xuân, Phạm Văn(7 chi họ),
Phạm Viết, Hoàng Đình(2 chi họ), Phạm, Bùi Văn, Bùi Gia, Nguyễn Văn(2chi họ), Nguyễn Xuân, Thái
Đô Lương: 25 chi họ gồm: Phạm Viết(5 chi họ), Hoàng Văn(2 chi họ),
Hoàng Ngọc, Hoàng, HoàngDuy, Hoàng Như, Hoàng Đình, Phạm Viết, PhạmĐình, Phạm Bá,…
Quảng Bình: 2 chi họ gồm: chi họ Hoàng và chi họ Phạm Bá.
Quảng Nam: 5 chi họ gồm: Hoàng, Huỳnh Phương, Huỳnh, Mạc
Nguyễn Trường, Nguyễn Trường
Quảng Ngãi: 4 chi họ gồm: Huỳnh, Phạm (2 chi họ), Bùi.
Quảng Ninh: 3 chi họ Mạc.
Trang 35Thái Bình: 22 chi họ Hoàng, Phạm Văn, Phạm, Phạm Ngoc, hạm
Đăng, Bùi Đăng, Khổng, Lều, Nguyễn Doãn, Vũ Tiến…
Thái Nguyên: 4 chi họ gồm: Mạc (2 chi họ), Nông, Đoàn.
Thanh Hóa: 10 chi họ gồm: Hoàng, Hoàng Trịnh, Hoàng Viết, Lê
Đăng, Hoàng, Đỗ, Tô, Phạm
Vĩnh Phúc : 4 chi họ gồm: Chữ, Hoàng, Nguyễn, Nguyễn Đăng.
Yên Bái: 1 chi họ đó là chi họ Mạc
Tồn tại ở Nam Tân - Nam Sách - Hải Dương và Hợp Thành - ThủyNguyên - Hải Phòng, Tiên Cường - Tiên Lãng - Hải Phòng con cháu họ Mạcvẫn giữ nguyên họ mình vì lẽ đây là dòng con cháu Mạc Đạo Trai có vợ làquận chúa Trịnh Thị Nhâm
Tại mỗi miền quê, mỗi họ đều có phả ghi chép lại cội nguồn từ họ Mạc hay
từ xa xưa vốn ở Lũng Động hoặc Cổ Trai ra đi Lý do vì sao phải ra đi, vì sao lại
cư trú ở đây, đổi thành họ gì, từ vị tổ nào Tín hiệu mật truyền cho con cháu cácthế hệ sau biết và dặn dò phải tìm nhau, tìm về cội nguồn Cho đến nay nhiều họvẫn tiếp tục ghi chép bổ sung để tìm về cội nguồn và bảo lưu sự phát triển dòng
họ Cho đến nay chưa có thống kê cụ thể về những dòng họ có gốc tích họ Mạctrên toàn quốc nhưng có thể thấy con cháu họ Mạc ngày nay được đổi ra rất nhiềutộc danh khác nhau có địa bàn sinh sống rộng khắp trên mọi miền tổ quốc
Con cháu của họ Mạc, dù ngày nay mang họ gì đi nữa, dù ở đâu cũngtiếp tục tìm nhau, xác định họ hàng tổ tông, như dòng sông, con suối đều cóngọn nguồn của nó Quá khứ là bài học, hiện tại là định hướng cho tương lai
Từ đó mà giáo dục con cháu phát huy truyền thống của dòng họ, ra sức xâydựng đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh như trong câu đối thờ gia tiên củadòng họ:
Long Động văn chương quang nhật nguyệt
Cổ Trai đế nghiệp tráng sơn hà.
[nguồn 70]
Trang 36Từ nơi địa linh nhân kiệt (Trạng nguyên Mạc Hiển Tích, Mạc ĐĩnhChi), nơi phát tích Mạc tộc - thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách,tỉnh Hải Dương, đến cố đô Dương Kinh, huyện Kiến Thụy, thành phố HảiPhòng - nơi các vua Mạc thịnh trị Hậu duệ dòng họ Mạc vừa tự hào, vừa cótrách nhiệm cùng với nhà nước tôn tạo nơi thờ cúng các danh nhân văn hóa:Cụm di tích thờ Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi ở Long Động vànơi tưởng niệm các vua Mạc ở Dương Kinh
Trang 37Tiểu kết chương 1
Dòng họ Mạc ở Việt Nam là một dòng họ lâu đời và có nhiều đóng góptrong lịch sử đất nước Dòng họ Mạc từng xuất hiện trong lịch sử đất nước vớimột vương triều vào thế kỷ XVI Đóng góp của vương triều Mạc vô cùng lớn,cần được khẳng định Do những biến động của lịch sử, sự tranh giành quyềnlực dưới chế độ phong kiến, dòng họ Mạc phải chịu một biến động mạnh đó
là việc hoán cải tộc danh và ly tán để tồn tại và phát triển Không phải mọingười mang tộc danh họ Mạc đều cùng chung một nguồn gốc Tộc danh họMạc ngày nay không đông nhưng con cháu của dòng họ Mạc xưa kia lại kháđông đảo và phát triển với nhiều tộc danh khác như Nguyễn, Hoàng, Phạm…trên mọi miền tổ quốc
Dòng họ Mạc tại Long Động - Nam Sách - Hải Dương là một dòng họ
có nhiều danh nhân đất nước và được cho là cội nguồn quê hương của vươngtriều Mạc Trên quê hương Long Động ngày nay vẫn còn tồn tại nhiều dấutích phản ánh truyền thống văn hóa của dòng họ Mạc
Trang 38Chương 2 VĂN HÓA DÒNG HỌ MẠC Ở LONG ĐỘNG NAM TÂN NAM SÁCH
Gia phong thuộc về thế giới tinh thần nó không khép kín cũng khôngbất biến mà luôn luôn được bổ sung, thanh lọc Gia phong là sắc thái văn hóacủa các gia đình, dòng tôc
Khi tìm hiểu về dòng họ Mạc ở Long Động chúng tôi đã nghiên cứunhững di sản văn hóa, đồng thời tiếp xúc trực tiếp với các thế hệ con cháutrong dòng họ, chúng tôi nhận thấy: đây là một dòng họ không chỉ có truyềnthống hiếu học và khoa bảng mà còn có nền nếp gia phong rất thuần hậu, thểhiện chất tốt đẹp rất phong nhã cần kiệm mà thượng võ
Chúng ta sẽ thấy nét văn hóa này thể hiện qua từng cách ứng sử của các
cá nhân trong dòng họ
Mạc Đĩnh Chi mồ côi cha từ nhỏ, nhà nghèo, hai mẹ con phải đi vàorừng hái củi để kiếm sống hàng ngày Từ nhỏ Mạc Đĩnh Chi đã tỏ ra thôngminh khác người Khi lên bốn năm tuổi, Hoàng tử Chiêu quốc công mởtrường dạy học, ông đã theo học Mẹ ông đã hi sinh tất cả để cố nuôi con, chocon đi học Niềm tin lớn lao giúp mẹ vượt qua mọi gian khổ Hiểu được lòng
mẹ, Mạc Đĩnh Chi càng ra sức học tập Vốn là cậu bé có tư chất thông minh,
Trang 39lại phải sống trong cảnh mồ côi nghèo khổ, nên Mạc Đĩnh Chi sớm nhận rarằng chỉ có học hành thành tài mới là con đường thoát khỏi nghèo khổ Vìvậy, không mấy lúc Mạc Đĩnh Chi ngơi đọc sách, nghiền ngẫm sách, kể cảlúc vai gánh củi đi bán Không có sách học thì mượn thầy, mượn bạn Không
có tiền mua nến để đọc sách, Mạc Đĩnh Chi đốt củi, hết củi thì lấy lá rừng đốtlên mà học Dù vô cùng gian khổ, nhưng chú bé không hề nản chí Do có nghịlực phi thường, cộng với tính cần cù, trí tuệ thông minh trác việt, nên chẳngbao lâu Mạc Đĩnh Chi đã nổi tiếng thần đồng Nho học xứ Hải Đông
Đến đời Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long thứ 12, khoa thi GiápThìn (1304), thi Hội Mạc Đĩnh Chi đỗ Hội nguyên, thi Đình ông được chấm
đỗ Trạng nguyên Nhưng khi vào ra mắt vua, vua Trần thấy ông tướng mạoxấu xí, có ý không muốn cho đỗ Biết ý, Mạc Đĩnh Chi đã làm bài thơ “Ngọctỉnh liên phú” Đó là bài phú để gửi gắm chí khí của ông Bài phú đề caophẩm chất trác việt và phong thái cao quý của một người khác thường, vượt
xa người khác về mọi mặt, song không muốn a dua với người tầm thường đểmong người đời biết đến Trong bài phú, ông dùng hình tượng bông hoa sentrong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn do một vị đạo sĩ kỳ dị hái mang xuống cõitrần Vua xem xong khen là thiên tài, mới cho đậu Trạng nguyên, ban cờ hiểnvinh quy bái tổ Nhân dân gọi ông là Trạng Hầu (Trạng khỉ)
Trong sự nghiệp làm quan Mạc Đĩnh Chi từng được hai lần cử đi xứnhà Nguyên Tài năng của ông không chỉ làm rạng danh đất Việt mà cònkhiến vua tôi nhà Nguyên hết lòng nể phục Kết quả là vua Nguyên công nhậnông là Trạng nguyên của Trung Hoa Mạc Đĩnh Chi trở thành Lưỡng quốcTrạng nguyên Đó là danh hiệu cao quý mà ở nước ta từ cổ chí kim chỉ có 3người được phong (Mạc Đĩnh Chi triều vua Trần Anh Tông, Nguyễn Trựctriều vua Lê Thái Tông, Nguyễn Đăng Đạo triều vua Lê Hy Tông) Bằng tàinăng của mình, ông từ chức Hàn lâm học sĩ thăng dần lên chức Thượng thư,
Trang 40rồi Đại liêu ban Tả Bộc Xạ (tương đương chức Tể tướng), con đường hoạn lộđạt cực đỉnh Trong gần 40 năm làm quan của mình, Mạc Đĩnh Chi đã đónggóp nhiều công lao to lớn cho đất nước Là người quyền cao chức trọng,nhưng cả trong chốn quan trường lẫn đời thường, ông vẫn giữ được phẩmchất cao quý của người quân tử, sống cuộc sống thanh bần, tinh khiết nhưbông hoa sen trong giếng ngọc.
Theo sử sách ghi chép, Mạc Đĩnh Chi là một Trạng nguyên tiêu biểucho sự đối lập giữa vẻ bề ngoài xấu xí, nhút nhát với một nội tâm phong phú,nhân cách thanh cao và tài năng mẫn tiệp Giữ đến chức Hành khiển nhưngvẫn nghèo, vẫn giữ gìn quy củ, sống liêm khiết, đạm bạc Đạm bạc đến nỗinhà vua phải sai người ban đêm lén đem trăm quan tiền bỏ vào nhà ông Chotiền theo cách ấy chứng tỏ nhà vua rất hiểu bề tôi của mình, nhưng “MạcĐĩnh Chi giữ ý, sáng sớm hôm sau vào chầu, ông đem việc ấy tâu lên vua,vua bảo: “Không có ai nhận, khanh giữ lấy mà tiêu” [37, tr 109]
Tuổi cao, Mạc Đĩnh Chi đã về dạy học ở quê nhà, làm việc trồng ngườigóp phần đưa vùng đất Thanh Lâm xưa, Nam Sách ngày nay trở thành mộtvùng đất văn hiến, có số tiến sĩ nhiều nhất so với đơn vị huyện trong cả nước,với 125 tiến sĩ Trong suốt cuộc đời, ông sống bình dị, ngay thẳng, liêm khiết.Ông mất ngày 10/2 năm Bính Tuất (1346) tại quê nhà Với tài năng, đức độ
và công lao to lớn của ông , vua Trần đã phong cho ông tước Hầu và xâydựng đền thờ ông ngay trên quê hương Vùng đất Nam Sách ngày nay còn lưugiữ khá nhiều kỉ niệm về ông như Đền Long Động, Trạng nguyên Cổ đường -nơi ông về dạy học, khu Lăng mộ và Điện Sùng Đức Tài năng, đức độ và sựcống hiến của ông đối với giang sơn còn mãi lưu truyền như lời vua TrầnMinh Tông đã ca tụng: “Ông vẫn là một bậc quý nhân cao sang, một đóa sen vàngluôn tỏa hương thơm ngát trong tòa giếng Ngọc - non sông Đại Việt”