1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lí LUẬN về GIÁO dục ý THỨC bảo tồn GIÁ TRỊ văn hóa LỊCH sử CHO CỘNG ĐỒNG dân cư ở hải PHÒNG

73 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 80,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về phương diện này chỉ gần đây mới được khoa học chú ý.Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu đi sâu một cáchcó hệ thống về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóalịch sử cũng nh

Trang 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỊCH SỬ CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ Ở HẢI PHÒNG

Trang 2

- Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

-.Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lịch sử đãđược đặt ra từ lâu, được sự quan tâm của nhiều nhà nghiêncứu, chủ yếu là trên phương diện thực hành, tức là công việcsưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu và công bố về tư liệu di tíchlịch sử văn hóa, còn việc nghiên cứu lý thuyết về phương diệnnày chỉ gần đây mới được khoa học chú ý

Vào thập kỷ 60 xuất hiện một sự kiện quan trọng là nước

Ai Cập dự định xây dựng đập nước Aswan trên sông Nil Hậuquả của việc xây dựng đập nước sẽ làm cho toàn bộ đền đàison ở Nubia bị nhấn chìm trong dòng nước Cộng đồng thếgiới nhận thấy nếu mất đi những đền đài son kính này sẽ làmtổn thất nặng nề không chỉ đối với nước Ai Cập và Xu Đăng,

mà còn là thiệt thòi cho cả nhân loại Người ta còn biết rằngviệc cứu trợ các di sản quý báu trên đây đòi hỏi có một nguồnkinh phí to lớn, vượt quá khả năng của hai nước hữu quan Do

đó, ngày 8/3/1960, ông René Maheu, Tổng giám đốcUNESSCO đã phát đi lời kêu gọi và sau đó thu được 30 triệu

Trang 3

đô la, đóng góp vào quỹ cứu trợ các ngôi đền của Nubia.Cũng vào thời gian này, trên thế giới xuất hiện nhiều tiếng nóiđòi bảo vệ môi trường thiên nhiên và giữ gìn di sản văn hóa.Phong trào ngày càng lớn mạnh dẫn tới về hoàn thiện côngước về di sản thế giới Công ước đã được Hội đồng UNESCO

có đại biểu của 112 quốc gia tham gia thông qua vào năm

1970 Công ước khẳng định: Các tác phẩm của con người vàcác tác phẩm của thiên nhiên hợp thành vốn di sản duy nhấtcần được bảo vệ chu đáo Các quốc gia tham gia công ước cóquyền lập ra cho quốc gia mình một danh mục tài sản, đủ tiêuchuẩn thì được xếp vào “Danh mục di sản thế giới”, một tổchức về di sản thế giới được thành lập Đó là cơ quan liênchính phủ gồm đại diện của 21 nước tham gia công ước, đượcluân phiên bầu vào Dựa vào báo cáo của hai tổ chức phi

Chính phủ là Hội đồng quốc tế về các đền đài và di chỉ (gọi

tắt là ICOMOS) và Liên hiệp quốc tế bảo tồn thiên nhiên (gọi tắt là IUCN), Ủy ban sẽ nghiên cứu hồ sơ hàng năm quyết

định việc công nhận di sản thế giới

Từ khi thành lập gần 72 năm tới nay, tổ chức UNESCOcủa Liên hiệp quốc đã tập trung hoạt động, hướng vào côngtác bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc Từ thập kỷ 80 trở lại

Trang 4

đây, UNESCO đã triển khai một chương trình hành động vớichủ đề "Bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể"

Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giá trịcác di tích lịch sử văn hóa được Đảng, Nhà nước và xã hội rấtquan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đitrước đã đề cập đến, ở các phương diện khác nhau vấn đề màluận văn nghiên cứu:

Những hoạt động nghiên cứu, bảo tồn các di tích lịch sửvăn hóa đã được ghi chép lại khá cẩn thận, chi tiết và cụ thể:

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 đã ghi: “Lý Cao Tông,năm Kỷ Dậu (1189), tháng 3 vua đi ngự khắp núi sông, phàm

xe vua đi đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu và lậpmiếu để thờ” [33] “Lý Nhân Tông hoàng đế năm Mậu Thìnnăm thứ tư (1088) “định các chùa trong nước làm ba hạng

đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm

đề cử (chức quan của nhà Lí quản lý ruộng đất và tài sản của

nhà chùa) Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho chứa đồ vật nên đặt chức ấy” [33]

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 “Lê Thái Tông năm Ất

Mão (1435) sai các quan đi tế khắp các thần kỳ trong nước có

Trang 5

ghi trong tự điển” [33] Kiến văn tiểu lục (Chép vặt những

điều mắt thấy tai nghe) của Lê Qúy Đôn có ghi: Năm BảoThái thứ ba (1727), tra cứu tự điển các xư, đền thờ thưởngđẳng thần 832 ngôi, thượng trung đẳng 1 ngôi, trung đẳng 817ngôi, trung hạ đẳng, hạ đẳng 860 ngôi, cộng 2511 ngôi VũTrung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi lại: “Nước Nam ta dựngnước từ thời Lạc Hùng; khoảng giữa lại phải phụ thuộc vềHán, đời Đường, rồi đến đời Đinh, đời Lê, Lí, Trần; ngoàiviệc tế giao miếu, tế sơn xuyên ra, còn các đền thờ ghi trong

tự điển Về đời Trần đã thấy Việt điện u linh chép cả thảy 29đền, các đời sau lại thêm mãi ra Khoảng đời Quang Thiệu

(niên hiệu LêChiêu Thống 1516 - 1526), Thống Nguyên (niên

hiệu Lê Cung Hoàng - 1527) lại thấy chép trong sổ ghi các

đền thờ đến 110 đền Khoảng đời Quang Hưng (niên hiệu Lê

Thế Tông 1578 - 1599) vua Lê Thế Tông khôi phục kinh đô,

truy xét những bầy tôi tiết nghĩa, đều cho lập đền cúng tế, đến

27 đền; lại còn những bậc thiên thần hiển linh có công trạngđều được bao phong và lập đền thờ ” [33]

Như vậy, dưới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn,bảo quản, kiểm kê và tu bổ các giá trị văn hóa lịch sử đã đượcchính quyền trung ương và toàn xã hội quan tâm

Trang 6

Vào cuối thế kỷ mười chín, đầu thế kỷ hai mươi, ngườiPháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu di tích của nước ta Ditích lịch sử văn hóa Việt Nam là một lĩnh vực được các nhànghiên cứu đặc biệt quan tâm như: Gustave Dumoutier (1850-1904), Madeein Colani (1866 -1943), Henri Paramentier(1883 -1945) Những công trình nghiên cứu về di tích ViệtNam đã đóng góp lớn trong việc đặt nền móng cho nền khảo

cổ Việt Nam, cho công tác bảo tồn và phát huy các di tích lịch

sử văn hóa như đánh giá của nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn:

“Những đóng góp của các nhà học giả Pháp là vô cùng to lớn”

và “chúng ta không những biết ơn các học giả Pháp trong việcnghiên cứu các nền văn hóa cổ trên đất nước Việt Nam màcòn biết ơn họ trong việc bảo tồn và lưu giữ nhiều di tích củacác nền văn hóa đó”

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tronglúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm,Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đãquan tâm ngay đến việc bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc.Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 65thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và bảo vệ di tíchlịch sử văn hóa trên toàn đất nước Việc ban hành sắc lệnh

Trang 7

đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Chính phủ đối với vaitrò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiếnthiết đất nước Trong sắc lệnh, Chính phủ quy định giành ranhững khoản tài chính hàng năm từ ngân sách quốc gia phục

vụ cho hoạt động của Đông Phương Bác Cổ học viện

Năm 2001, Nhà nước ban hành Luật Di sản văn hóa,trong văn bản luật đã ban hành đã dành 1 chương để quy địnhnhững việc có liên quan đến di tích, đó là một bước tiến quantrọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc nóichung và bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa nói riêng

Từ năm 2002, khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, Thủtướng Chính phủ đã ban hành quyết định thành lập Hội đồng

Di sản văn hóa quốc gia; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đãthành lập Hội đồng khoa học về Bảo tồn di tích để tư vấn choNhà nước các vấn đề bảo tồn, tôn tạo di tích

Như vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích vănhóa lịch sử đã được đặt ra từ lâu, thu hút sự quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu, chủ yếu là trên phương diện thực hành,tức là công việc sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu và công bố về

tư liệu di tích lịch sử văn hóa, còn việc nghiên cứu lý thuyết

Trang 8

về phương diện này chỉ gần đây mới được khoa học chú ý.Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu đi sâu một cách

có hệ thống về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóalịch sử cũng như huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và

phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa Vì vậy "Giáo dục ý

thức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử" là một vấn đề cần đi

liên quan như: “Vai trò của cộng đồng nhìn từ góc độ bảo tồn

di sản văn hóa” của tác giả Quang Minh và Nguyễn Thị Thu

Trang[18] Trong nghiên cứu này các tác giả đã khẳng định:cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các giá trịvăn hóa lịch sử vì: cộng đồng chính là môi trường cho sự tồntại của các giá trị Các giá trị không tồn tại tự nó mà tồn tạitrong chủ thể là cộng đồng Cộng đồng là chủ thể hưởng lợi từcác giá trị văn hóa trong nhiều mặt: tinh thần, vật chất, kinh

tế, ngoại giao…“Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lịch

sử phục vụ cho công tác giáo dục thế hệ trẻ” của tác giả

Trang 9

Phạm Văn Phương trường Đại học Sài Gòn [19] “Kỷ yếu hộithảo khoa học Vương triều Mạc trong lịch sử Việt Nam” củaTrung tâm bảo tồn khu di tích Cổ Loa - Thành cổ Hà Nội vănphòng Ban chỉ đạo Quốc gia 1000 năm Thăng Long Hội sử

học Hà Nội xuất bản tháng 9 năm 2010[24] Luận văn“Huy

động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các

di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”

của Ngô Viết Hải[7] Giáo dục môi trường trong cộng đồnglàng nghề của Lê Thành Nam[13]

- Những nghiên cứu về giáo dục ý thức bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử cho cộng đồng.

Những nghiên cứu về giáo dục cộng đồng đã bắt đầu đượcthực hiện trong thời gian gần đây, được áp dụng ở các địa

phương, đem lại hiệu quả cao

Các luận văn về giáo dục và phát triển cộng đồng đã đề cập đến một loạt các vấn đề:

Giáo dục ý thức phòng chống ma túy cho cộng đồng:Trên thực tế đã có nhiều biện pháp phòng chống ma túy,nhưng mới đạt được kết quả nhất định, cũng còn nhiều hạnchế chưa thực sự đi vào chiều sâu Với đề tài Giáo dục phòng

Trang 10

chống ma túy cho thanh niên dựa vào cộng đồng trên địa bànthành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long của tác giả Đặng VănThông đã có những biện pháp giáo dục thiết thực, phù hợpđạt kết quả[26].

Giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy các di tích lịch sửvăn hóa: Bởi các giá trị lịch sử văn hoá là tài sản quí báu đượclưu truyền qua nhiều thế hệ, do đó, việc bảo tồn và phát huygiá trị các giá trị di tích lịch sử văn hoá dân tộc phục vụ pháttriển kinh tế, xã hội là hết sức cần thiết Luận văn của NgôViết Hải “Huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và pháthuy các giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa,tỉnh Phú Yên, đã giúp người dân nâng cao nhận thức trongviệc bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hoá dân tộc, tạomôi trường văn hoá lành mạnh trong cộng đồng dân cư, tạo sự

ổn định về mặt xã hội và phát huy giữ gìn tốt bản sắc văn hóacủa dân[7]

Giáo dục ý thức xã hội: Trong công cuộc đổi mới đấtnước, xây dựng ý thức xã hội mới là vấn đề bức thiết Xâydựng ý thức xã hội là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnhđạo của Đảng, trên cơ sở “xây dựng và phát triển nền văn hoátiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, vận dụng sáng tạo và phải

Trang 11

biết dựa vào cộng đồng dân cư Xây dựng ý thức xã hội,chúng ta cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng cuộc sốngvăn hoá mới, con người mới; không ngừng hoàn thiện ý thức

xã hội theo hướng khoa học, cách mạng, tiến bộ, mang tínhcộng đồng

Giáo dục môi trường trong cộng đồng làng nghề của tácgiả Lê Thành Nam đã cải thiện được điều kiện về môi trường

và giải quyết những tồn tại về việc tổ chức giáo dục môitrường trong cộng đồng làng nghề là hết sức quan trọng vàcần thiết, góp phần nâng cao nhận thức về môi trường và ýthức bảo vệ môi trường của các thế hệ người dân, doanhnghiệp và cộng đồng tại các làng nghề góp phần vào sự pháttriển bền vững của tự nhiên, con người và xã hội trong sựhình thành những quan điểm, niềm tin để thay đổi thái độ,hành vi của cá nhân tác động đến môi trường [13]

- Một số khái niệm cơ bản

- Cộng đồng

Trong đời sống xã hội, khái niệm cộngđồng(Community) có nhiều tuyến nghĩa khác nhau: “Kháiniệm cộng đồng bao gồm từ các thực thể xã hội có cơ cấu tổ

Trang 12

chức chặt chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt là nhóm

xã hội có lúc khá phân tán, chỉ được liên kết với nhau bằng lợiích chung trong một không gian tạm thời trong thời gian nhấtđịnh chẳng hạn như: phong trào quần chúng, công chúng vàđám đông Như vậy, có thể phân thành hai dạng cộng đồngdựa trên cấu trúc xã hội và tính chất liên kết xã hội”

Dạng cộng đồng thể hiện mối quan hệ xã hội trong đó cónhững đặc trưng được xác định như: tình cảm, ý thức vàchuẩn mực xã hội Dạng cộng đồng này được gọi là cộngđồng tính

Dạng cộng đồng mà được xác định là nhóm người cụthể, những nhóm xã hội có liên kết với nhau ở nhiều quy môkhác nhau, kể từ đơn vị nhỏ nhất như gia đình cho đến cácquốc gia và toàn thế giới Dạng cộng đồng này gọi là cộngđồng thể Cộng đồng thể có 2 nghĩa:

Là một nhóm dân cư cùng sinh sống trong một địa vựcnhất định, có cùng các giá trị và tổ chức xã hội cơ bản.Theo

đó, cộng đồng là một làng,xã hay một huyện

Là một nhóm dân cư có cùng mối quan tâm cơ bản.Cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư sinh sống trong

Trang 13

một địa vực nhất định, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và có cùngmột giá trị cơ bản như một thực thể xã hội

Đặc tính của cộng đồng: “sự cố kết xã hội, sự tươngquan xã hội và cơ cấu xã hội Sự cố kết xã hội Theo quanniệm Mác-xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại qua lại giữacác cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi íchgiống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và hoạtđộng của những con người hợp thành cộng đồng đó Quanniệm bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạtđộng khác của họ, sự gần gũi giữa các cá nhân về tư tưởng,tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủquan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động ở ViệtNam, làng, xã đã có từ lâu đời, có giá trị tốt đẹp của cộngđồng tính Sự phát triển của xã hội cùng với sự xuất hiện của

đô thị hoá ngày càng tăng và cơ chế thị trường ngày càng ảnhhưởng rộng lớn, nên các giá trị của cộng đồng tính trong cáclàng, xã cũng ngày một giảm Cố kết xã hội luôn được cácnhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc tính hàng đầu của mỗicộng đồng Đây là ý chí và tình cảm của những người cùngsống trong một địa vực có những mối liên hệ về mặt huyếtthống hay quan hệ láng giềng Quá trình tổ chức đời sống xã

Trang 14

hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống nhất ý chí, tình cảmcủa cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn mực và biểu tượngriêng Đây cũng là mục tiêu mà các cộng đồng đều mongmuốn tập hợp và duy trì Các lệch chuẩn xã hội xuất hiệntrong cộng đồng là do mất ý thức đoàn kết xã hội, đi kèm theo

đó là sự mất ý thức và nhân cách cá nhân.Ngược lại, khi các

cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình trong cộng đồng

đã làm tăng tính đoàn kết xã hội đồng thời cũng làm tăng ýthức và nhân cách của cá nhân Cộng đồng tồn tại được là dotừng thành viên trong các nhóm thành viên của cộng đồng cótiếng nói thống nhất trong các hành động tập thể, khi khôngcòn tâm thức chung thì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn.Chẳnghạn, trong các làng, xã hiện đang tồn tại các nhóm thànhviên(tổ chức xã hội) như: Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, HộiNông dân, một khi các thành viên của nhóm có cùng tiếng nói

và ý chí thì sức mạnh của nhóm sẽ tăng lên, các nhóm thànhviên đều hướng theo sự lãnh đạo của Đảng, chính quyền ở địaphương thì sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng được củng cố

và trở thành làng,xã mạnh”

Sự liên kết xã hội: “Đây là sự tương quan giữa người vớingười, có tính kết hợp hay những phản ứng tương hỗ, theo đó

Trang 15

con người được gần nhau và phối hợp chặt chẽ với nhau hơn.

Sự tương quan và kết hợp giữa các thành viên trong cộngđồng được biểu hiện qua các hoạt động thực tiễn hàng ngày

và củng cố thêm sự đoàn kết trong cộng đồng Các cộng đồng

ở nông thôn, do sự phân tán về nghề nghiệp không cao nêncác thành viên trong cộng đồng thường xuyên quan hệ vớinhau trong công việc hơn ở các cộng đồng đô thị, nơi có sựphân tán nghề nghiệp khá cao Chính vì thế, sự đoàn kết trongcộng đồng ở nông thôn thường cao hơn cộng đồng ở đô thị.Kiểu liên kết cao nhất trong cộng đồng chính là các quan hệmang tính hội nhập, ở đó có mức độ hợp tác tích cực giữa các

cá nhân trong các đoàn thể hay hội mà các cá nhân đó thamgia Như vậy, ở góc độ cá nhân, khi một người tham gia nhiềucác hội, đoàn thể thì người đó có mối quan hệ rộng”[23]

Các cơ cấu xã hội:“Khi không có giá trị chung, không có

sự định hướng để quy tụ nhau hay không có những quy tắcứng xử của các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở

xã hội để tạo thành cộng đồng Những định hướng, những quitắc này được nằm trong tổ chức đoàn thể của cộng đồng,chẳng hạn các hương ước, nội qui, qui chế là do làng, xã đặt

ra Quá trình thể chế hoá các giá trị chuẩn mực trong các tổ

Trang 16

chức xã hội tương đương là bước quan trọng để các liên kết

xã hội trong cộng đồng được bền vững và có giá trịđối với tất

cả mọi người, tạo nên sức mạnh của cộng đồng”

- Văn hóa lịch sử

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễntrong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển

xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định

- Giá trị văn hóa lịch sử

Giá trị: là những điều được con người đề cao, coi trọng,coi là có ý nghĩa với cuộc sống của họ

Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ Lịch sửloài người mà chúng ta học là toàn bộ những hoạt động củacon người từ khi xuất hiện đến

ngày nay

Lịch sử còn có nghĩa là khoa học tìm hiểu và dựng lạitoàn bộ những hoạt động của con người và xã hội loài ngườitrong quá khứ

Trang 17

Giá trị văn hóa lịch sử: những giá trị hình thành và pháttriển trong suốt chiều dài lịch sử của một cộng đồng, đượccộng đồng nhận thức và mong muốn duy trì, phát triển.

- Bảo tồn giá trị văn hóa lịch sử

Giá trị văn hóa lịch sử do lịch sử để lại, chúng đã tồn tạikhách quan, cụ thể Hoạt động bảo tồn để các giá trị văn hóa

đó tồn tại vĩnh cửu, lâu dài cùng lịch sử

Trong nghiên cứu bảo tồn các gái trị văn hóa thường gặpcác cụm từ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn Trong đó:

Bảo quản: mang nghĩa là tạo những phương tiện, sửdụng những biện pháp kỹ thuật để giữ gìn đối tượng đượctồn tại lâu dài.Bảo vệ, chứa đựng nội dung, gồm có nhữngquy chế hoạt động pháp chế cùng với công việc bảo quản

Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn, chẳng những phải hoạtđộng bảo vệ, giữ gìn cho đối tượng tồn tại lâu dài, mà cònkhai thác khả năng phát huy tác dụng của đối tượng, phục vụtiến bộ xã hội Bảo tồn gắn liền với di tích lịch sử - văn hóa,thành khái niệm và mang nội dung là hoạt động bảo tồn ditích lịch sử - văn hóa

Trang 18

Bảo tồn di tích ngày nay cùng với nhiệm vụ giữ gìn saocho nguyên gốc di tích tồn tại lâu dài còn phải đem vào khaithác, phát huy giá trị phong phú của di sản, di tích, phục vụnghiên cứu phát triển khoa học, phục vụ tham quan thưởngngoạn của con người.

- Giáo dục cộng đồng

- Giáo dục

Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ

“education”, đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là

“Ex” và “Ducere” - “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”)con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tớinhững gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn

Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Namđều trình bày “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bảnchất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử -

xã hội của các thế hệ loài người’’ [02] Định nghĩa này nhấnmạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnhđến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xahơn, mục đích cuối cùng của việc đó

Trang 19

Theo John Dewey (1859 - 1952), nhà triết học, nhà tâm

lí học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ, ông cho rằng cánhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sựchết và cùng với sự chết thì những kiến thức, kinh nghiệm mà

cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại xã hộilại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con ngườiphải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tínhliên tục của sự sống xã hội Giáo dục là “khả năng” của loàingười để đảm bảo tồn tại xã hội Ngoài ra, ông John Deweycũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưngcòn tồn tại chính trong quá trình truyền dạy ấy Như vậy, theoquan điểm của ông John Dewey, ông cũng đề cập đến việctruyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn về mục tiêu cuối cùng củaviệc giáo dục, là dạy dỗ

Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản,trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc,mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xãhội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với conngười ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngàycàng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếpkhông còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo

Trang 20

dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phươngthức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời

và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xãhội Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càngtrở nên phức tạp hơn và mang tính chuyên biệt hơn Sự pháttriển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sứcmạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vaitrò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hộithì không ai có thể phủ nhận về nó

Như vậy, “từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố

cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện cácchức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cựccủa giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sựphát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về kháiniệm giáo dục”:

Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triểnnhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bênngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong

nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của

các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường;ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh

Trang 21

hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòngnhân từ của người khác;…

Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động cómục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kếhoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáodục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhâncách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như quanhững hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ,cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo

ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triểnnhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáoviên, của nhà giáo dục

Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triểnnhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động

sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dụcnhư: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động

Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành

và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đếngiáo dục đạo đức Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắnliền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục

Trang 22

phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không pháttriển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiệncần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáodục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêucầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do

sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triểncủa giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội

Chúng ta có thể hiểu GDCĐ như là “giáo dục cho cộngđồng trong phạm vi cộng đồng” Nói cách khác, khi nói vềcộng đồng không có nghĩa chỉ là nơi chốn hay hoàn cảnhtrong đó việc giáo dục được tiến hành Giáo dục cộng đồngcòn là mối quan tâm chung, trọng tâm của cộng đồng Đó là

Trang 23

một quá trình mà cộng đồng trở thành một phần của mạnglưới xã hội hiện tại nhằm khuyến khích đối thoại và học hỏi.

GDCĐ là một quá trình được thiết kế nhằm làm giàuthêm cuộc sống mỗi cá nhân và các nhóm thông qua sự thamgia của mọi người sống trên cùng một vùng địa lý, hoặc chia

sẻ cùng một mối quan tâm, để tự nguyện phát triển một phạm

vi hay lĩnh vực học tập, học hỏi và các cơ hội suy nghĩ vàhành động Những học hỏi, suy nghĩ và hành động này xuấtphát từ nhu cầu chính trị, kinh tế, xã hội và từ bản thân cácthành viên của cộng đồng

GDCĐ giúp cho một cộng đồng đựơc trang bị đầy đủ

hiểu biết để hành động chung, cùng giải quyết các vấn đề củamình Vì thế giáo dục cộng đồng là xây dựng năng lực và tạosức mạnh cho người dân trong cộng đồng GDCĐ là biến đổicộng đồng, làm cho cộng đồng phát triển và từ đó biến đổi xãhội

- Ý thức

Từ ý thức có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩahẹp Theo nghĩa rộng, ý thức thường được dùng đồng nghĩa

Trang 24

với tinh thần tư tưởng (ý thức tổ chức, ý thức kỉ luật ).Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một cấp

độ đặc biệt trong tâm lý con người

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng conngười mới có, được phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng conngười hiểu được các tri thức (hiểu biết) và con người đã tiếp thuđược (là tri thức về tri thức.,phản ánh của phản ánh) Có thể ví ýthức như "cặp mắt thứ hai"soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý)

do "cặp mắt thứ nhất)"(cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy cảmxúc ) mang lại Với ý nghĩa đó ta có thể nói: ý thức là tồn tạiđược nhận thức

- Giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử cho cộng đồng dân cư

- Mục tiêu giáo dục

Giá trị văn hóa lịch sử của mỗi giai đoạn lịch sử là một

bộ phận rất quan trọng của nền văn hóa dân tộc; là chứng tíchcho sự phát triển của cộng đồng Nhân dân lao động vừa làchủ nhân, vừa là lực lượng nòng cốt để xây dựng nên khotàng các giá trị văn hóa lịch sử ấy Bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa lịch sử là trách nhiệm của toàn dân và của cả

Trang 25

xã hội Giáo dục ý thức và trách nhiệm bảo tồn về các giá trịvăn hóa lịch sử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, hếtsức cần thiết Như vậy việc giáo dục ý thức bảo tồn các giá trịvăn hóa lịch sử cho cộng đồng dân cư góp phần nâng cao đờisống văn hóa tinh thần cho nhân dân, có ý thức giữ gìn các giátrị văn hóa lịch sử, đồng thời xây dựng nền văn hóa Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Mục đích của nội dung giáo dục chính là sự tham giacộng đồng, lôi kéo mọi người đóng góp tài năng, trí tuệ vàcông sức vào quá trình quản lý các giá trị văn hóa lịch sử gắnliền với phát triển kinh tế Sự tham gia của người dân địaphương trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản là cầnthiết bởi hai lý do có tính nguyên tắc:

Thứ nhất, nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa

phương thì sự bền vững lâu dài của di sản sẽ bị đe doạ

Thứ hai, người dân địa phương có quyền được hưởng lợi

nhờ khai thác các giá trị văn hóa lịch sử cho sinh kế, các nhucầu văn hoá xã hội và các lý do tâm linh của họ

- Nội dung giáo dục

Trang 26

Đưa các nội dung giáo dục phù hợp với cộng đồng:Chương trình giáo dục địa phương đối với nhà trường, các địaphương tổ chức các chuyên đề văn hóa làng xã, sinh hoạt vănhóa dân gian, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về lịch sử , về nộidung bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử.

Thực tiễn đã chứng minh,“ không ai có thể giữ gìn di sảnvăn hóa tốt hơn, hiệu quả hơn chính chủ nhân của các loạihình di sản văn hóa ấy Di sản văn hóa không thể đứng ngoàisinh hoạt của cộng đồng dân cư, hoặc đứng ngoài không gianvăn hóa của nó Ðể có thể duy trì sức sống cho di sản văn hóavốn đã được nhân loại tôn vinh, thì trước hết, các di sản vănhóa ấy phải được bảo tồn như nó vốn có, phải được sống đượctôn vinh, được người dân thừa nhận ngay trong chính đờisống của cộng đồng Cho nên, cần ứng xử với các trị văn hóalịch sử bằng lòng tự hào dân tộc, bằng hiểu biết và niềm đam

mê cái đẹp, bằng cái cảm quan sự tinh túy của các giá trị vănhóa lịch sử”

Muốn có được điều ấy, chúng ta cần tăng cường giáodục thẩm mỹ, giáo dục sự hiểu biết các tri thức văn hóa nóichung và các giá trị văn hóa lịch sửc nói riêng, từ đó khơi dậy

Trang 27

và nhân lên niềm đam mê, ý thức bảo tồn các giá trị văn hóalịch sử trong cộng đồng

Đây là những lý do chính cho sự tham gia của địaphương vàọ quản lý di sản còn rất nhiều những lợi ích vềquản lý khác cũng cần được cân nhắc:“Những quyết định vềquy hoạch, kế hoạch giáo dục ý thức bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa lịch sử sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượngcuộc sống cộng đồng Những người trong cộng đồng chịu ảnhhưởng do họ là những người sinh sống, làm việc, học tập vàthường qua lại trong khu vực đó Do đó, sự cần thiết phải cóđược những ý kiến của họ về những gì họ đang làm, những gì

họ đang muốn có và trong nhiều trường hợp chính cộng đồng

là những người ra quyết định Thực tiễn đã cho thấy nếunhững kế hoạch và phát triển các giá trị về địa chất, địa mạo,

về văn hóa có phù hợp với nguyện vọng và nhu cầu của cộngđồng thì cộng đồng cũng sẽ tự hào về hành vi ứng xử củamình do đó để cộng đồng địa phương đưa ra được ý kiến tưvấn của họ cấn thiết phải có 02 yếu tố quan trọng:Thông tinthu được từ cộng đồng về ý kiến, thái độ của họ phải đượcchuyển tới các nhà lập kế hoạch các nhà ra quyết định Vềphía mình, các nhà ra quyết định, lập quy hoạch có trách

Trang 28

nhiệm thu nhận các thông tin này một cách nghiêm túc vàxem xét trong mối quan hệ với quá trình lập kế hoạch”.

Từng bước hình thành cho cộng đồng dân cư niềm tinvào những giá trị mà họ phải vươn tới, đó là niềm tin vào chế

độ xã hội chủ nghĩa đang đổi mới mà Bác Hồ và Đảng ta đãchọn, tin vào tiền đồ, tương lai của đất nước Từ đó, ngườidân cảm thấy tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêmtruyền thống của cơ quan, đơn vị, trường học, của quê hươngmình, mong muốn trở thành công dân có ích cho xã hội

Tuyên truyền nội dung giá trị di sản cho người dân vềcác giá trị văn hóa lịch sử, văn hóa tín ngưỡng, tâm linh ảnhhưởng đối với người dân địa phương Hoạt động tham quangiúp cộng đồng dân cư định hướng chính trị, xã hội, có nhữnghiểu biết nhất định về truyền thống văn hóa lịch sử tốt đẹp củađất nước, của địa phương đồng thời làm tăng thêm sự hiểubiết của họ, để họ thực hiện tốt nghĩa vụ của người công dântrong cộng đồng xã hội

Người dân hăng hái tham gia vào các hoạt động có liênquan đến giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử

Trang 29

Phát huy tiềm năng du lịch tại các di tích, đặc biệt là các

di tích có giá trị Cộng đồng sẽ góp phần tăng thêm thu nhập,tạo công ăn, việc làm cho cộng đồng dân cư tại địa phương.Đồng thời, góp phần tích cực cho việc ý thức bảo tồn và pháthuy các giá trị truyền thống lịch sử

- Hình thức giáo dục

Trước hết cần nâng cao nhận thức về ý nghĩa của giáodục các giá trị văn hóa lịch sử Các hoạt động giáo dục bảotồn các giá trị văn hóa lịch sử phải phù hợp phải phù hợp vớicác đối tượng trong cộng đồng

Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa lịch sử

Giáo dục cộng đồng về ý thức bảo tồn và phát huy cácgiá trị văn hóa lịch sử

Tuyên truyền, vận động cộng đồng dân cư tham gia cáchoạt động diễn ra ở các di tích, đặc biệt vào các ngày lễ lớn

Lồng ghép vào chương trình giáo dục địa phương địaphương của các trường phổ thông trên địa bàn thông qua các

bộ môn khoa học xã hội

Trang 30

Các ngành liên quan cần phối hợp xây dựng và ban hànhvăn bản chỉ đạo, hướng dẫn về giáo dục các giá trị văn hóalịch sử cho cộng đồng dân cư.Lồng ghép vào nội dung sinhhoạt văn hóa của các làng, của các cụm dân cư tại các nhà vănhóa thôn.

Tổ chức trang nghiêm các lễ hội truyền thống lịch sử,các trò chơi dân gian được lưu truyềncho cộng đồng dân cư

Thông qua nhiều hình thức giáo dục sẽ làm tăng thêmvốn hiểu biết của cộng đồng về văn hóa, xã hội, bồi đắp thêmlòng yêu quê hương đất nước, niềm tự hào về truyền thốngcủa dân tộc

-Tổ chức và phương pháp giáo dục

Thu hút người dân tham gia vào công tác bảo tồn và pháthuy các giá trị di tích Đòi hỏi nội dung tổ chức và qui môhoạt động phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi vànhu cầu của cộng đồng dân cư Thực tế, hoạt động phải manglại lợi ích cho cộng đồng dân cư để thu hút, lôi cuốn họ tựgiác tham gia bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa lịch sử

để đạt được hiệu quả cao

Trang 31

Giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử chocộng đồng dân cư phải thực hiện các phương pháp như:Tuyên truyền, vận động bởi một phận không nhỏ trong cộngđồng, họ không nhận thức được ý nghĩa tầm quan trọng củaviệc gìn giữ bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sửhoặc còn xemnhẹ các giá trị văn hóa lịch sử Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu

về các giá trị văn hóa lịch sử với nhiều hình thức khác nhaucho cácc tượng trong cộng đồng được tham gia Tổ chức cácbuổi chuyên đề, tọa đàm, giao lưu , trên nền tảng các giá trịvăn hóa lịch sử Tổ chức các trò chơi văn hóa dân gian gắnvới các giá trị văn hóa lịch sử

Các hoạt động trên phải được sự chỉ đạo của chínhquyền các cấp, đặc biệt là phòng văn hóa thông tin là cơ quantham mưu với Ủy ban nhân dân huyện và hướng dẫn các địaphương thực hiện, có như vậy thì các hoạt động giáo dục ýthức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử,sẽ được tổ chức bàibản, thường xuyên, đạt kết quả cao và thu hút được đông đảocộng đồng dân cư tham gia

- Giáo dục ý thức bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử nhà Mạc cho cộng đồng dân cư

Trang 32

- Các giá trị văn hóa lịch sử nhà Mạc tại Kiến Thụy, Hải phòng.

*Sự hình thành Triều đại Mạc trong lịch sử

Đầu thế kỷ XVI, nhà Hậu Lê bước vào thời kỳ khủnghoảng, suy thoái, triều đình rối ren đánh giết lẫn nhau, các vua

Lê Uy Mục, Lê Tương Dực, Lê Chiêu Tông đều không đủnăng lực cầm quyền Sự xuất hiện của một vương triều mớithay thế cho vương triều Hậu Lêđã suy tàn trở thành vấn đềtất yếu của lịch sử

Người khởi đầu cho nhà Mạc là Mạc Đăng Dung (MạcThái Tổ) Thời Lê Chiêu Tông, Mạc Đăng Dung là tướng võ,song cũng giỏi cả về văn chương và là người có biệt tài vềchính trị Mạc Đăng Dung đã có công giúp Lê Chiêu Tôngđánh dẹp, yên ổn được triều chính Sau đó, quyền thế của MạcĐăng Dung dần dần át cả Chiêu Tông Chiêu Tông sợ chạy rangoài kêu gọi quân Cần Vương Năm 1521, Đăng Dung lập

em Chiêu Tông là Xuân lên ngôi (tức Lê Cung Hoàng), tuyên

bố phế truất Chiêu Tông

Trang 33

Tháng 6 năm 1527, khi các đối thủđều bị dẹp yên, khôngcòn ai ngăn trở, Mạc Đăng Dung phế truất Cung Hoàng, lênngôi, lập ra nhà Mạc.

Chiếu nhường ngôi của nhà Lê cho nhà Mạc cóđoạn viếtnhư sau:

“Từ cuối đời Hồng Thuận gặp lúc Quốc gia nhiều nạn,Trịnh trung lập kẻ nghịch lên ngôi, lòng người lìa tan, trời cũngkhông giúp, lúc ấy thiên hạđã không phải nhà Lê vậy Ta (Cungđế) bạđức nối ngôi không thể gánh nổi, mệnh trời và lòng ngườihướng về người cóđức Vậy nay, Thái sư An Hưng Vương MạcĐăng Dung là người cóđức, tư chất thông minh, đủ tài văn võ,bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều quy phục, nay theo lẽ phảinhường ngôi cho….”

* Tổ chức bộ máy chính quyền

Mạc Đăng Dung lên ngôi vua với niên hiệu Minh Đức(1527 -1529).Về cơ bản, hệ thống chính quyền nhà Mạckhông có gì khác với thời Lê Sơ Song trong thiết chế của nhàMạc, đôi chỗđược bổ sung theo cách thức nhà Trần, như vuanhường ngôi cho con để làm Thái Thượng hoàng (Mạc ĐăngDung chỉở ngôi hơn 2 năm rồi nhường ngôi cho con là Mạc

Trang 34

Đăng Doanh- tức Mạc Thái Tông), hoặc tuy không có tểtướng song bên cạnh vua có thêm Phụ chính để giúp vua điềuhành đất nước

Thiết chế hành chính được xây dựng trên cơ sở của bathành phần thiết yếu: hành chính, quân sự và giám sát Nếu ởchính quyền Trung ưong có ba cơ quan chính là Lục bộ lo chính

sự, Ngũ phủ lo việc quân và ngự sửđảm nhận việc kiểm tra, đànhặc; thìở chính quyền địa phương cũng có tam ty: Thừa ty, Đô

ty và Hiến ty cũng có chức năng tương ứng như trên Hệ thốnghành chính ở chính quyền địa phương gồm 4 cấp cơ bản làđạo-phủ- huyện hoặc châu và xã Ngoài ra còn xuất hiện một đơn vịmới nối giữa huyện và xã là “tổng”

* Kinh tế:

Thời kỳ nhà Mạc có một số chính sách mới trong pháttriển kinh tế Chính sách “quân điền” trong chếđộ ruộng đấtphổ biến ở thời Lê Sơ thì hầu như bị thay thế bằng chính sách

“binh điền” (ruộng lính) dưới thời Mạc Số ruộng tư khá pháttriển và việc mua bán ruộng đất cũng khá phổ biến Sau khilên ngôi, Mạc Đăng Dung cóđưa ra một số quy chế về ruộngđất, ngoài quy chế về chính sách “Binh điền” còn có quy chế

Trang 35

về chính sách “Lộc điền” Ngoài ra còn cho đúc tiền ThôngBảo.

Nghề thủ công, nhất là nghề gốm sứđặc biệt phát triển, mở

ra khả năng lớn về cơ sở cho một nền kinh tế thị trường Một

số nghệ nhân làm gốm nổi tiếng thời Mạc như: Đặng HuyềnThông ở lò gốm Nam Sách (Hải Dương), Đỗ Phủở lò gốm BátTràng (Hà Nội)… Sản phẩm gốm thời Mạc đã nhanh chóng trởthành một trong những mặt hàng phổ biến trong hoạt động buônbán của nước ta với nước ngoài trong thời bấy giờ Những hiệnvật được phát hiện trên những con tàu, thuyền bị đắm là mộtminh chứng xác thực cho điều đó

Thời kỳ Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh) trị vì có thểcoi là thời kỳđỉnh cao của nhà Mạc Lúc đó, nhà Lê chưatrung hưng, toàn cõi do nhà Mạc cai quản, cảnh thịnh trịđược

các sử gia nhà Lê ghi nhận: “đêm ngủ không đóng cửa, ngoài

đường không ai nhặt của rơi” Có lẽ nhà Hậu Lê, thời hoàng

kim của Lê Thánh Tông cũng không hơn được như vậy

Nhưng từ khi Nguyễn Kim nổi dậy, chiến tranh nổ ra,đất nước bị tàn phá, kinh tế bịảnh hưởng nghiêm trọng Chiến

Trang 36

tranh liên miên đã làm cho cuộc sống của người dân đóinghèo hơn.

* Văn hoá- tín ngưỡng

Sau một thời kỳ bị kìm hãm dưới thời Lê Sơ, chùa Phậtđược hưng thịnh trở lại dưới thời Mạc Đạo Phật cùng đạoNho, đạo Lão đồng thời tồn tại và ngày càng có xu hướnghoàđồng trong thực hành tín ngưỡng Các nhà Nho vốn chiếmmột lực lượng đông đảo trong xã hội và lại là lực lượng củathế lực cầm quyền, nên muốn hướng điểm quy tụ của tamgiáo về với giáo lýđạo Khổng Song song với sự khôi phục trởlại các ngôi chùa, quán là sự xuất hiện ngày càng rộng rãingôi đình và tín ngưỡng Thành hoàng làng, khiến cho làng xã

có bước biến chuyển lớn

*Thi cử và chính sách dùng người

Thi cử

Nhà Mạc rất chú trọng tới nhân tài tuyển chọn qua đườngthi cử:“Tuy chiến tranh nhưng nhà Mạc cũng vẫn chúýđào tạo vàxây dựng hệ thống quan lại thông qua 22 kỳ khoa cử với chu kỳ

3 năm một lần Chẳng hạn năm 1535, nhà Mạc mở khoa thi Hội,

(1) (2)

Ngày đăng: 18/06/2019, 18:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w