1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Xây dựng làng văn hoá (theo tiếp cận phát triển cộng đồng) ở hải phòng

91 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức thực hiện xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng 2.1 Công tác tổ chức bộ máy xây dựng làng văn hóa 2.2 Công tác tuyên truyền, phát động phong trào xây dựng Làng văn hóa 2.3 Công tác

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

Họ và tên: Lê Văn Chương

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SỰ PHẠM HÀ NỘI

Họ và tên: Lê Văn Chương

XÂY DỰNG LÀNG VĂN HÓA (THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG) Ở HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Giáo dục và Phát triển cộng đồng

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ: GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG

Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Văn Tập

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn Đề tài

2 Tính cấp thiết của Đề tài

3 Mục tiêu nghiên cứu

4 Giới hạn nghiên cứu

5 Đối tượng nghiên cứu

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

7 Các phương pháp nghiên cứu đã triển khai trong quá trình nghiên cứu

8 Cấu trúc của Luận văn

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG LÀNG VĂN HOÁ

1 Khái niệm làng

2 Khái niệm làng văn hóa và “Văn hoá làng”

3 Tiêu chí làng văn hoá

4 Chất lượng làng văn hóa

5 Cơ sở khoa học của công tác xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng

5.1 Cơ sở lý luận

5.2 Cơ sở thực tiễn

6 Đặc điểm làng ở Hải Phòng

7 Tiêu chí làng văn hóa ở Hải Phòng

8 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng

Trang 4

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG LÀNG VĂN

Ở HẢI PHÒNG

1 Công tác chỉ đạo, quản lý Nhà nước đối với qúa trình xây dựng làng

văn hoá ở Hải Phòng

1.1 Các văn bản về cơ chế chính sách do các cơ quan Trung ương ban hành

1.2 Các văn bản về cơ chế chính sách xây dựng làng văn hóa do các cơ

quan Nhà nước cấp thành phố ban hành

1.3 Các văn bản về cơ chế chính sách xây dựng làng văn hóa do các cơ

quan cấp huyện ban hành

1.4 Các văn bản về cơ chế chính sách xây dựng Làng văn hóa do các cơ

quan cấp xã ban hành

2 Tổ chức thực hiện xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

2.1 Công tác tổ chức bộ máy xây dựng làng văn hóa

2.2 Công tác tuyên truyền, phát động phong trào xây dựng Làng văn hóa

2.3 Công tác xã hội hóa, phát huy sức mạnh tổng hợp của các đoàn thể,

chính trị xã hội và mỗi người dân

2.4 Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng,vật chất kỹ thuật

2.5 Công tác xây dựng và phát triển đời sống văn hóa xã hội

3 Kết quả xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng những năm qua

3.1 Quá trình xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng

3.2 Kết quả thực hiện, chất lượng xây dựng làng văn hoá

3.3 Những thành công và hạn chế của công tác xây dựng làng văn hóa

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

Trang 5

LÀNG VĂN HOÁ Ở HẢI PHÒNG

1 Đề xuất một số giải pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện và quản lý

Nhà nước đối với cộng đồng làng văn hoá Hải Phòng

1.1 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ,chính quyền

đối với xây dựng làng văn hoá

1.2 Kiện toàn và đẩy mạnh hoạt động của Ban chỉ đạo phong trào “ Toàn

dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”

1.3 Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động xây dựng làng văn

hóa

1.4 Nghiên cứu ban hành một số chính sách đầu tư

1.5 Quy hoạch xây dựng thiết chế văn hoá ở làng

1.6 Tổ chức bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xây dựng làng văn hoá

1.7 Tổ chức tổng rà soát, chỉnh lý, bổ sung hương ước làng văn hoá

1.8 Tổ chức thực hiện có hiệu quả hương ước làng văn hoá

1.9 Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng

2 Xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện một số cơ chế chính

sách đối với công tác xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng

2.1 Rà soát một số văn bản đã ban hành, điều chỉnh một số quy định

không còn phù hợp với thực tiễn

2.2 Chính sách xã hội hoá

2.3 Chính sách về tài chính

2.4 Chính sách về bồi dưỡng, đào tạo

2.5 Chính sách về việc chỉ đạo xây dựng thiết chế văn hoá làng

2.6 Chính sách thi đua khen thưởng

2.7 Chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá phi vật thể

truyền thống trong các làng văn hoá

Trang 6

2.8 Cơ chế chính sách xây dựng và thực hiện hương ước làng văn hoá

2.9 Cơ chế phối hợp chỉ đạo

2.10 Khuyến khích tôn vinh tập thể, cá nhân đóng góp xây dựng thiết chế

văn hoá làng

KẾT LUẬN

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở nông thôn nước ta nói chung và nông thôn Hải Phòng nói riêng, người Việt thường cư trú, cùng làm ăn sinh sống trên một địa bàn nhất định, thường được gọi là làng Làng đã hình thành, phát triển

từ lâu đời và có những đóng góp to lớn vào quá trình dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Trong tiến trình phát triển, làng luôn

có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng, bảo tồn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc Trong những biến cố của lịch sử dân tộc, có những lúc nước mất nhưng làng không mất Làng vẫn tồn tại như một chủ thể với các đặc trưng cơ bản vốn có của nó trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, thời gian kéo dài 30 năm (1945-1975) với mức độ vô cùng khốc liệt, mỗi làng quê Việt Nam luôn là nơi giữ gìn, hun đúc, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, quả cảm và lòng yêu nước nồng nàn của mỗi người nông dân Việt Nam Làng còn là thành luỹ ngăn chặn bước quân xâm lược, là nguồn cung cấp dường như vô tận về sức người, sức của và sức mạnh tinh thần cho kháng chiến Đó là những đóng góp vô cùng to lớn của mỗi làng quê Việt Nam góp phần cùng toàn dân tộc đánh thắng oanh liệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại nền độc lập, hòa bình, tự do cho Tổ quốc

Ngày nay thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đòi hỏi mỗi làng quê Việt Nam cần có sự phát triển và tiến bộ hơn, có nhiều đóng góp to lớn hơn nữa trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà và mỗi làng quê Việt Nam cần có sự bứt phá, đổi mới cho phù hợp

Trên cơ sở đó, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã chỉ đạo, hướng dẫn một số địa phương triển khai xây dựng thí điểm mô hình Làng văn hóa Từ đó đến nay, Làng văn hóa không chỉ là một thuật ngữ mà đã trở thành một mô hình hiện thực trong đời sống văn hóa xã hội, một phong trào có sức sống mạnh mẽ, nhanh chóng lan rộng trong cả nước cũng như trên địa bàn thành phố Hải Phòng, với sự phát triển đa dạng và phong phú

Trang 8

Việc triển khai đề tài: Xây dựng làng văn hóa (theo tiếp cận phát triển cộng đồng) là một yêu cầu khách quan, cần thiết và nên làm vì sự phát triển bền vững của cộng đồng làng ở Hải Phòng nói riêng và sự phát triển chung của thành phố trong tương lai

2 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Hải Phòng được Chính phủ công nhận đô thị loại I cấp quốc gia và thành phố đã ban hành Nghị quyết về xây dựng nông thôn mới, quyết tâm phấn đấu đến năm 2020, 100% số xã trên địa bàn thành phố đạt 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Đây là thuận lợi to lớn để các huyện ngoại thành thành phố phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó phong trào xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng sẽ chịu những thách thức lớn và chịu tác động quan trọng, mạnh mẽ từ sự phát triển chung của thành phố

Trong những năm qua, phong trào xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng cơ bản dựa vào các tiêu chuẩn chung của cả nước và những nội dung chung cho xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng Các tiêu chuẩn, nội dung đó còn thiếu định lượng hay nói một cách khác còn thiếu

“khung trần” hoặc “ngưỡng cả về số lượng và chất lượng Do đó, chưa động viên sâu rộng sự tích cực, phấn đấu xây dựng làng văn hóa của chính quyền cơ sở và nhân dân các làng Mặt khác, thực tế áp dụng các tiêu chuẩn, nội dung quy định của Trung ương đối với các làng có đặc thù khác nhau: làng thuần nông, làng nghề, làng miền núi, hải đảo còn

có những bất cập

Qua quá trình triển khai cho thấy, việc công nhận các danh hiệu văn hóa hiện nay chưa thực sự có sức thuyết phục, còn chạy theo số lượng Trong quá trình tổ chức thực hiện, kế hoạch phần nhiều Ban chỉ đạo và chính quyền cấp xã đã tập trung chỉ đạo tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia trong thời kỳ chuẩn bị, soạn thảo hương ước làng và tổ chức lễ phát động xây dựng Đó là các biện pháp, các bước tiến hành quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, sau đó lại thiếu sự quan tâm, thiếu các biện pháp chỉ đạo thường xuyên và cụ thể để nâng cao chất lượng xây dựng Làng văn hóa Do đó, sự tiến bộ về các mặt kinh tế - văn hoá xã hội ở các Làng văn hoá chưa thật mạnh mẽ và rõ nét Thậm chí có một số nơi còn buông lỏng quản lý, chưa coi trọng việc xây dựng Làng văn hoá, nên hiện nay việc xây dựng và giữu vững danh hiệu Làng văn hoá ở một số địa phương chỉ mang tính hình thức

Trong những năm qua, chính quyền các cấp từ thành phố tới cơ

sở cùng với các tầng lớp nhân dân đã có nhiều cố gắng trong phong

Trang 9

trào xây dựng làng văn hoá Thành phố đã có nhiều văn bản chỉ đạo và chính sách đầu tư, chế độ khen thưởng cho các làng văn hoá Ban chỉ đạo thành phố và các ngành thành viên đều có văn bản hướng dẫn Các huyện, xã đều ban hành Nghị quyết, văn bản pháp qui, chính sách khuyến khích phát triển xây dựng làng văn hoá nhưng chưa có một cơ chế chính sách thống nhất đồng bộ và phù hợp với sự phát triển kinh tế

- văn hoá của các địa phương Nhất là cơ chế, chính sách về phát triển văn hoá xã hội như: Đầu tư cho xây dựng và tổ chức hoạt động của các thiết chế văn hoá làng; huy động thành lập và sử dụng quỹ văn hoá làng; chế độ đãi ngộ động viên đối với Ban vận động xây dựng làng văn hoá nói chung, với Trưởng làng nói riêng, mối quan hệ điều hành giữa trưởng làng văn hoá với Trưởng thôn trong các hoạt động của làng

Vì tất cả những lý do chủ yếu trên, cho thấy việc nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cộng đồng làng văn hoá (theo tiếp cận phát triển cộng đồng) ở Hải Phòng là rất cần thiết, cấp bách

3 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng

5 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các yếu tố tiêu chuẩn, nội dung xây dựng làng văn hoá; Nghiên cứu các yếu tố của công tác tổ chức chỉ đạo, quản lý, môi trường pháp lý của việc xây dựng và phát triển làng văn hoá ở Hải Phòng;

Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng đến năm 2020, định hướng đến năm 2025

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hoá các thông tin tư liệu và những bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng làng văn hóa ở một số địa phương;

Đánh giá thực trạng xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng;

Trang 10

Xác định những nhân tố ảnh hưởng chủ yếu và những yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng đến năm 2020;

Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu văn bản, tài liệu, hệ thống hóa lý luận: Tiến hành sưu tầm, thu thập và đọc các văn bản, tài liệu; chọn lựa và hệ thống hoá các thông tin, tư liệu phù hợp từ những văn bản, thu thập được;

- Điều tra xã hội: Tổ chức tọa đàm, phát phiếu điều tra, phỏng vấn … về công tác xây dựng tiêu chí, chất lượng làng văn hóa;

- Tổng kết thực tiễn và thực nghiệm: Tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác văn hoá ở cơ sở, sau đó kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả công tác xây dựng làng văn hóa theo nội dung tập huấn của cán bộ

8 Cấu trúc của luận văn:

Luận văn có kết cấu gồm 3 phần:

+ Phần Mở đầu;

+ Phần kết quả nghiên cứu gồm 3 chương:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về xây dựng làng văn hóa

- Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng;

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng làng văn ở Hải Phòng

+ Phần Kết luận

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG LÀNG VĂN HOÁ

1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu công tác xây dựng làng văn hóa

Khái niệm cũng như mô hình thực tiễn làng văn hoá mới xuất hiện trong đời sống văn hoá xã hội ở nước ta gần 20 năm trở lại đây

Đó là một vấn đề mới cho nên, ở Trung ương, Cục Văn hoá cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) – cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Phòng trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trong gần 20 năm qua đã tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo chuyên

đề khoa học về Làng văn hoá; chỉ đạo, hướng dẫn các tỉnh, thành phố trong cả nước xây dựng mô hình Phát huy hiệu quả thực tế Làng văn hoá đã đạt được bước đầu, nhiều tỉnh, thành phố như: Nghệ An, Thanh Hoá, Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Hải Dương, Thừa Thiên Huế triển khai thực hiện phong trào xây dựng Làng văn hoá Trên cơ sở đó rút ra những kết luận, những kinh nghiệm thực tiễn quý báu đối với

xây dựng Làng văn hoá

Đối với thành phố Hải Phòng, thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, phong trào xây dựng Làng văn hoá đã được phát động và triển khai thực hiện trên địa bàn 7 huyện ngoại thành liên tục trong gần 20 năm qua Theo kế hoạch, thành phố Hải Phòng triển khai phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” với 5 nội dung cơ bản là:

1 Phát triển kinh tế, giúp nhau xoá đói, giảm nghèo, làm giàu chính đáng

2 Xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh

3 Xây dựng nếp sống văn minh

4 Xây dựng môi trường văn hóa sạch- đẹp - an toàn

5 Xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá- thể thao cơ sở

Trang 12

Đến nay, toàn thành phố có tổng số 2563 làng, tổ dân phố phát động xây dựng làng, tổ dân phố văn hoá Trong đó có 1589 làng, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hoá, đạt 63%; hơn 300 làng, tổ dân phố văn hoá tiêu biểu được biểu dương, khen thưởng

Tuy nhiên cho đến nay cũng chưa có một chuyên gia, một nhà khoa học hoặc một cơ quan nào nghiên cứu một cách hệ thống, đánh giá thực trạng xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng về các mặt hiệu quả đạt được cũng như những tồn tại, bất cập cần được tháo gỡ, nhất là

sự phù hợp hay chưa phù hợp trong việc xây dựng Làng văn hoá so với các tiêu chuẩn công nhận danh hiệu Làng văn hoá do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định

Việc triển khai đề tài khoa học: Xây dựng Làng văn hóa (theo hướng tiếp cận phát triển cộng đồng) ở Hải Phòng là việc làm đầu tiên trên địa bàn thành phố đối với vấn đề này

2 Khái niệm làng

Tự ngàn xưa, ở nông thôn nước ta nói chung và ở Hải Phòng nói riêng, người Việt thường cư trú và làm ăn, sinh sống trên một địa bàn nhất định thường được gọi là làng Theo Đại từ điển “ Làng là nơi sinh sống, làm ăn lâu đời của nông dân vùng đồng bằng, trung du, thường

có phạm vi và đặc trưng riêng biệt” [23, tr.12]

“Làng là cụm dân cư ở nông thôn, là đơn vị hành chính thấp nhất

ở nông thôn ngày trước” [33, tr.12]

Trong cuốn từ điển Tiếng Việt do ông Hoàng Phê chủ biên, làng được hiểu như sau: “ Làng là khối dân cư ở nông thôn làm thành một đơn vị có đời sống riêng nhiều mặt, là đơn vị hành chính thấp nhất thời phong kiến”, [12, tr 542]

Theo giáo sư Trần Quốc Vượng: “ Làng là một đơn vị cộng cư,

có một vùng đất chung của cư dân nông nghiệp, một hình thức tổ chức

xã hội nông nghiệp, tiêu nông, tự cung, tự cấp, mặt khác là mẫu hình

xã hội phù hợp, là cơ chế thích ứng với sản xuất tiểu nông, với gia đình

- tông tộc gia trưởng, đảm bảo sự công bằng và bền vững của xã hội ngông nghiệp ấy Làng được hình thành, được tổ chức chủ yếu dựa vào hai nguyên lý cội nguồn và cùng chỗ ”[22, tr.45]

Theo quan niệm của người Việt, làng là một gia đình lớn, là một

xã hội thu nhỏ Quốc gia là một hình ảnh mở của gia tộc, người ta coi toàn quốc như một đại gia đình Làng một trong ba hằng số của văn hoá Việt Nam( nhà – làng - nước) Là tụ cư tổ chức chủ yếu dựa vào

Trang 13

nguyên lý cùng cội nguồn, cùng chỗ ở Là hình thức công xã nông thôn với những đặc thù riêng biệt của mình Những đặc thù riêng ấy thể hiện

ở chế độ ruộng đất, chế độ công điền, chế độ tổ chức xã hội,các điều lệ, tập tục

Trong chế độ phong kiến, làng là đơn vị hành chính thấp nhất, dưới tổng Cách mạng tháng Tám thành công, chế độ phong kiến thực dân sụp

đổ, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời Công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được tiến hành mạnh mẽ từ những năm 60 của thế

kỷ trước Phong trào xây dựng và phát triển hợp tác xã nông nghiệp được triển khai rộng khắp trong nông thôn miền Bắc và ở Hải Phòng Để phục

vụ cho quản lý nhà nước và sản xuất làng được chia nhỏ thành các thôn, xóm, đội sản xuất Vì thế vai trò hành chính của làng mất hẳn Hiện nay thôn vẫn được duy trì, có chức vụ trưởng thôn (thôn không phải là đơn vị hành chính), giúp chính quyền xã quản lý, duy trì trật tự trị an và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn Vì thế ở Hải Phòng có nơi gọi

là làng, có nơi gọi là thôn Trong đề tài này thống nhất gọi là làng

Xét về mặt lịch sử và xã hội, làng là một cộng đồng được hình thành và phát triển thường dựa trên nguyên lý: cùng nơi cư trú, cùng huyết thống Tính bền vững của làng, độ gắn kết giữa các thành viên và tính đoàn kết gắn bó toàn bộ cộng đồng làng phụ thuộc vào hai nguyên

lý trên Sự cố kết gắn bó nhiều dòng họ, gia tộc và các thành viên trong làng trải nhiều đời đã tạo nên mỗi làng quê Việt Nam là một không gian văn hoá Cộng đồng văn hoá làng có những nét riêng biệt và phong phú

Có thể nói, khái niệm làng từ lâu đã ăn sâu, thấm đượm vào nhiều nét suy nghĩ, tình cảm, tập quán và quan hệ xã hội của mỗi người nông dân

và toàn thể cộng đồng làng Những hình ảnh gần gũi: cây đa, giếng nước, mái đình, luỹ tre, cổng làng, lời ru của mẹ hội làng dường như đã trở thành những biểu tượng riêng biệt chứa đầy những tình cảm riêng tư của mỗi người đối với làng quê của mình Và đôi khi là nỗi nhớ khôn nguôi với mỗi người xa xứ Từ những tình cảm, nếp nghĩ, từ trong sinh hoạt và trong sản xuất con người đã gắn bó với nhau từ đời này sang đời khác trong quan hệ huyết thống, tập tục, nếp sống và trong trật tự cộng đồng

Tóm lại: Làng là hiện tượng đặc thù của xã hội Việt Nam Làng đơn vị cơ bản chiếm hữu và phân phối đất đai công cộng với nền kinh

tế tiểu nông, tự cấp, tự túc Làng gắn với các nghề thủ công tinh xảo truyền thống Làng cũng là đơn vị văn hoá, xã hội, nơi tập hợp dân cư quanh mái đình, ngôi chùa với tín ngưỡng , lễ giáo, tập tục riêng

Trang 14

"Làng là một đơn vị xã hội của văn hóa Việt Nam, làng của người Việt là một môi trường văn hóa Ở đó, mọi thành tố, mọi hiện tượng văn hóa được sinh thành, phát triển, lưu giữ và trao truyền tới mọi cá thể" [1, tr.47]

2 Khái niệm làng văn hóa và “văn hoá làng”

2.1 Khái niệm Làng văn hóa

Làng văn hoá là một tên gọi mới được xuất hiện và sử dụng tại hội thảo do Bộ Văn hoá Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) tổ chức năm 1990 tại tỉnh Bắc Ninh, nhằm nghiên cứu mô hình làng, phát huy các giá trị văn hoá tốt đẹp của làng trong các quan hệ và

cơ cấu của nó Và từ đó khái niệm Làng văn hóa được sử dụng rộng rãi trong đời sống văn hóa xã hội của nước ta Làng văn hóa là làng có đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển; có đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, phong phú và có sắc thái riêng; có môi trường cảnh quan sạch đẹp; thực hiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Riêng đối với Hải Phòng, tại kế hoạch triển khai phong trào

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng: Làng văn hóa là làng có đời sống kinh tế ổn định

và từng bước phát triển; đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú, có sắc thái riêng; môi trường cảnh quan sạch đẹp; có khu vui chơi giải trí

và hoạt động văn hoá thể thao; thực hiện tốt chủ trương của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng và thực hiện nghiêm túc hương ước, quy ước của làng

Về cơ bản những tiêu chuẩn về Làng văn hóa mà Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đưa ra phù hợp và cụ thể hoá các tiêu chuẩn Làng văn hóa do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định

Căn cứ hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng địa phương, dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của ngành Văn hoá và Thể thao từ Trung ương tới địa phương, các cấp uỷ Đảng, chính quyền cơ sở xã đã lãnh đạo, chỉ đạo, vận động các tầng lớp nhân dân đẩy mạnh phong trào xây dựng làng văn hoá theo các tiêu chuẩn trên Do vậy khái niệm Làng văn hóa ngày càng được phổ biến rộng rãi và đã trở thành một thuật ngữ thông dụng trong đời sống văn hoá Mô hình Làng văn hóa ngày một trở nên sinh động, phong phú và rõ nét hơn trong đời sống kinh tế, văn hoá xã hội ở nước ta nói chung và ở Hải Phòng nói riêng

2.2 Khái niệm “văn hóa làng”

Trang 15

Như trên đã trình bày, làng không chỉ là một đơn vị xã hội mà còn là một đơn vị văn hoá, một không gian văn hoá Khái niệm văn hoá ngày nay được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể Như vậy, văn hoá làng là toàn bộ các giá trị văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể do toàn bộ cộng đồng làng trải qua nhiều đời sáng tạo ra (đình, chùa, nhà ở, các công trình kiến trúc khác, trang phục, ngôn ngữ, văn nghệ, tín ngưỡng, hội làng, phong tục tập

và phát triển của làng

Và văn hoá làng là một khái niệm phản ánh khách quan sự tồn tại

và phát triển của đời sống kinh tế- văn hoá xã hội của mỗi làng quê Việt Nam, là một bộ phận góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc Nghiên cứu văn hoá làng là quá trình tìm về cội nguồn, tìm kiếm gạn đục, khơi trong những giá trị văn hoá tốt đẹp của làng quê Việt Nam trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bồi dưỡng và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp xưa trong xây dựng làng văn hoá và xây dựng nông thôn mới hiện nay

Trong kho tàng văn hoá làng nổi bật là tính cố kết cộng đồng giữa các thành viên trong làng, mối liên hệ bền chặt và thiêng liêng giữa con cháu và ông cha đã khuất, là tình đoàn kết thương yêu đùm bọc lẫn nhau giữa xóm giềng, nơi bồi đắp nên lòng yêu nước, thương nòi của mỗi người dân Việt Nam Đó là giá trị văn hóa tinh thần quý báu, vô giá tạo nên sức mạnh của mỗi làng quê Việt Nam, góp phần làm nên bản sắc văn hoá dân tộc

Tuy nhiên tính cố kết cộng đồng, tình đoàn kết làng, xã, bên cạnh những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp dường như vẫn lưu giữ và tồn taị cho đến ngày hôm nay tính bảo thủ, trì trệ, cục bộ địa phương “ phép vua thua lệ làng”, nếu như không muốn nói đến tư tưởng “cát cứ phong kiến” Điều đó buộc người nông dân phải “suy nghĩ trên luống cày” của mình và bị níu kéo trong tầm nhìn “không vượt qua nổi luỹ tre làng” và sau mỗi luỹ tre làng, mỗi làng quê Việt Nam dường như một không gian kinh tế- văn hoá xã hội đóng kín

Sự hình thành và phát triển của mỗi làng quê Việt Nam là hình ảnh của quá trình di dân tự nhiên, dựa trên chế độ chiếm hữu, phân phối đất đai công cộng với nền kinh tế tiểu nông tự túc, tự cấp cho nên trong lòng văn hoá làng, trong nếp suy nghĩ, sinh hoạt và sản xuất mặc dù đã có lệ làng, tục làng, khoán ước, hương ước làng song vẫn in đậm dấu ấn tính tự phát và tuỳ tiện và sự trả giá cho sự hội nhập nền

Trang 16

kinh tế thị trường cũng như trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn hiện nay là tất yếu và thậm chí là quá đắt Đó là những vấn đề tồn tại ngay trong văn hoá làng mà chúng ta cần phải giải quyết trong thực tiễn hiện tại

Trong quá trình xây dựng và phát triển, mỗi làng quê Việt Nam chỉ có thể tồn tại bền vững và phát triển là nhờ có mối liên kết hoặc liên hệ về kinh tế, văn hoá, xã hội với nhiều làng xung quanh và khu vực Đó là mối liên kết “liên làng” hoặc “siêu làng” và phải chăng đó

là sự mở rộng và giao thoa của văn hoá làng Điều đó cho thấy, làng là đơn vị văn hoá, một không gian văn hoá vừa đóng, vừa mở Sự đóng,

mở, giao tiếp hoặc không giao tiếp về kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi làng tuỳ thuộc vào tình hình chính trị và xã hội của mỗi thời điểm làm cho văn hoá làng luôn động chứ không tĩnh

Đánh giá về mối liên hệ này, giáo sư sử học Hà Văn Tấn đã viết:

“Để tránh các khái niệm phiến diện, đã đến lúc chúng ta phải chú ý đầy

đủ đến các mối liên hệ giữa làng với bên ngoài, tức là mối liên hệ bên ngoài cấu trúc Có thể chia những liên hệ đó ra làm hai loại Một loại gồm những liên hệ giữa làng này với làng khác, tức mối liên hệ giữa các hệ thống tương đương, mà ở đây chúng tôi gọi là liên hệ liên làng Loại thứ hai gồm những liên hệ giữa làng với cộng đồng, hay khu vực rộng lớn hơn, tức mối liên hệ giữa hệ thống làng với các hệ thống lớn chứa đựng nó mà ở đây chúng tôi gọi là liên hệ siêu làng Cộng đồng làng rộng, hẹp với các thứ bậc khác nhau Khi cộng đồng tộc người đã tiến tới trình dân tộc thì cộng đồng siêu làng lớn nhất là nước, là dân tộc Luôn phải nhớ rằng trong lịch sử Việt Nam, từ rất lâu, các cộng đồng siêu làng đã tồn tại song song với cộng đồng làng, chứ không phải cộng đồng làng đã mở rộng thành cộng đồng siêu làng, không phải làng mở rộng thành nước Cần đặc biệt chú ý điểm này, vì nếu không thấy được như vậy, dễ nảy sinh các nhận định không đúng về mối quan hệ giữa làng với nước

Chính từ những mối liên hệ siêu làng mà hình thành ý thức cộng đồng siêu làng, rồi từ ý thức cộng đồng siêu làng tiền dân tộc hình thành ý thức cộng đồng siêu làng dân tộc chứ không phải ý thức cộng đồng làng phát triển thành ý thức cộng đồng dân tộc ”

Dù gì đi nữa, làng vẫn là một đơn vị xã hội, một không gian văn hoá tồn tại và phát triển song song và chịu sự chi phối của văn hoá dân tộc, đồng thời có những đóng góp và làm phong phú thêm văn hoá dân tộc Trong những biến cố của lịch sử dân tộc, có những lúc nước mất nhưng làng không mất Làng vẫn tồn tại như một chủ thể với các đặc

Trang 17

trưng cơ bản vốn có của nó trên các mặt kinh tế- văn hoá xã hội Trong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của mỗi người được sinh ra và lớn lên ở nông thôn, làng là hình bóng của quê hương, của những người thân với những tình cảm vui buồn, được, mất vô cùng thiêng liêng của mỗi đời người

4 Tiêu chuẩn Làng văn hóa

Ngày 10/10/2011, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự thủ tục, hồ sơ công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương Sau đây trích giới thiệu những tiêu chuẩn Làng văn hóa

"Điều 5 Tiêu chuẩn Danh hiệu “Thôn văn hóa”, “Làng văn

hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa” và tương đương

1 Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển:

a) Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là bình quân chung);

b) Có phong trào xóa nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà bền vững cao hơn mức bình quân chung;

c) Có nhiều hoạt động hiệu quả: Về tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng khoa học-kỹ thuật; phát triển nghề truyền thống; hợp tác và liên kết phát triển kinh tế;

d) Tỷ lệ lao động có việc làm, thu nhập bình quân đầu người/năm cao hơn mức bình quân chung;

đ) Có 80% trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế-xã hội ở cộng đồng

2 Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú:

a) Nhà Văn hóa-Khu thể thao thôn (làng, ấp, bản và tương đương) từng bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch;

b) Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số người dân tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng;

Trang 18

c) Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá và hành nghề mê tín dị đoan;

d) Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; không

có người sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại;

đ) Có 70% trở lên hộ gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”, trong đó ít nhất 50% gia đình văn hóa được công nhận 3 năm trở lên;

e) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài;

g) Không có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độc thực phẩm đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêm chủng đầy đủ và phụ nữ có thai được khám định kỳ;

h) Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình;

i) Có nhiều hoạt động đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trình công cộng; bảo tồn các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyền thống ở địa phương

3 Môi trường cảnh quan sạch đẹp:

a) Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải

về nơi xử lý tập trung theo quy định;

b) Tỷ lệ hộ gia đình có 3 công trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm, hố xí) đạt chuẩn, cao hơn mức bình quân chung; các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường;

c) Nhà ở khu dân cư, các công trình công cộng, nghĩa trang được xây dựng từng bước theo quy hoạch;

d) Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường sinh thái; vận động nhân dân xây dựng cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước; cải tạo các ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh

4 Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước:

a) Có 90% trở lên hộ gia đình được phổ biến và nghiêm chỉnh thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương;

Trang 19

b) Hoạt động hòa giải có hiệu quả; hầu hết những mâu thuẫn, bất hòa được giải quyết tại cộng đồng;

c) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; phản ánh kịp thời những đề xuất, kiến nghị của nhân dân giải quyết những vấn đề bức xúc ở cơ sở, cộng đồng dân cư; không có khiếu kiện đông người trái pháp luật;

d) Tuyên truyền và tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư tham gia giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức Nhà nước; tham gia xây dựng Chi bộ Đảng, chính quyền đạt danh hiệu “Trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiến trở lên hàng năm; các tổ chức tự quản ở cộng đồng hoạt động có hiệu quả

5 Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng:

a) Thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước, phát triển phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, nhằm chăm sóc các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức bình quân chung;

b) Thực hiện tốt các hoạt động “Nhân đạo từ thiện”, giúp đỡ đồng bào bị thiên tai, gia đình khó khăn, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, nạn nhân chất độc da cam-dioxin và những người bất hạnh”

5 Cơ sở khoa học xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

5.1 Cơ sở lý luận xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

Các loại văn bản, tài liệu liên quan tới công tác xây dựng Làng văn hoá do các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, đoàn thể các cấp ban hành khá nhiều và phong phú

Tuy nhiên sau khi hệ thống, chọn lựa chúng tôi thấy có 2 nhóm loại văn bản là cơ sở lý luận xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng:

- Thứ nhất là, nhóm loại văn bản, tài liệu gồm: Các Nghị quyết, Chỉ thị phổ biến chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng với một hệ thống các quan điểm toàn diện sâu sắc và đúng đắn về lĩnh vực văn hoá, văn nghệ nói chung và về xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, xây dựng làng văn hoá nói riêng

- Thứ hai là, nhóm loại văn bản, tài liệu gồm: Các Chỉ thị, Quyết định, Thông tư, Quy định, Quy chế do các cơ quan, Nhà nước, Chính phủ, các ngành, đoàn thể Trung ương và chính quyền thành phố ban hành để cụ thể hoá các quan điểm lãnh đạo của Đảng về văn hoá, văn

Trang 20

nghệ và công tác xây dựng làng văn hoá bằng các cơ chế, chính sách Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn của phong trào xây dựng Làng văn hoá, nhóm loại văn bản này còn chưa đồng bộ, thiếu nhiều và phần nào còn chưa phù hợp

5.2 Cơ sở thực tiễn xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

Sau khi nghiên cứu và tìm hiểu các văn bản, tài liệu liên quan tới phong trào xây dựng Làng văn hoá, tình hình thực tiễn xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng và ở một số tỉnh bạn, có thể xác định cơ sở thực

tiễn xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng như sau:

5.2.1 Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” nói chung và phong trào xây dựng Làng văn hoá nói riêng là hiện thực sinh động thể hiện các quan điểm đúng đắn của Đảng về văn hoá, văn nghệ và xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, phù hợp nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân ở nông thôn; đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phù hợp thời đại Hay nói một cách khác ngắn gọn hơn Phong trào xây dựng làng văn hoá thuận ý Đảng, hợp lòng dân Đây là cuộc vận động chính trị cách mạng sâu rộng toàn bộ xã hội, nhất là nông thôn Trong điều kiện còn có nhiều khó khăn về đời sống kinh tế và văn hoá xã hội

ở nông thôn, các cơ chế chính sách của Nhà nước còn chưa đồng bộ, thiếu và phần nào chưa phù hợp, song dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, các tầng lớp nhân dân ở nông thôn đã chủ động, tích cực tham gia tiến trình xây dựng Làng văn hoá và đưa phong trào xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng phát triển nhanh chóng

5.2.2 Xây dựng mô hình Làng văn hoá ở Hải Phòng vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội nông thôn nói chung và làng xã nói riêng ở Hải Phòng, từng bước đưa nông thôn Hải Phòng phát triển theo hướng văn minh và hiện đại Thông qua quá trình vận động xây dựng Làng văn hoá, việc thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở ngày càng được triển khai sâu rộng Nhân dân thực hiện quyền dân chủ và nghĩa vụ công dân một cách tự giác và ngày một tốt hơn Điều này khai thác và phát huy khả năng sáng tạo của mỗi người dân

và tiềm năng lợi thế các mặt của địa phương, tạo ra sức mạnh tổng hợp phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương; các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và những nét văn hoá đặc sắc riêng của làng được giữ gìn và phát huy; nếp sống mới từng bước được xây dựng, các hủ tục lạc hậu dần dần bị hạn chế và loại bỏ dần trong cuộc sống; Đời sống kinh tế từng bước được ổn định và phát triển; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, các tệ nạn xã hội từng

Trang 21

bước bị hạn chế và đẩy lùi, các tổ chức chính trị xã hội, chính quyền tại

cơ sở làng xã được củng cố và tăng cường thêm một bước Tất cả những điều đó từng bước hình thành và hoàn thiện con người mới xã hội chủ nghĩa, đó là sản phẩm tất yếu của việc xây dựng Làng văn hoá 5.2.3 Xây dựng thành công Làng văn hoá còn là quá trình đầy khó khăn và không thể hoàn thành trong một sớm một chiều Vì thế đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ, chính quyền cơ sở xã, làng, sự kết phối hợp chặt chẽ của các ngành, đoàn thể địa phương và

sự ủng hộ, tham gia chủ động tích cực của toàn bộ cộng đồng làng Hay nói một cách khác, xây dựng Làng văn hoá là một cuộc cải biến cách mạng ở nông thôn toàn diện, sâu sắc, lâu dài, phức tạp đòi hỏi sự hưởng ứng kiên trì bền bỉ của các cấp, các ngành và toàn bộ cộng đồng làng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền cơ sở xã Và

vì thế trong tình hình hiện nay và trong thời gian tới không chỉ có chủ trương đúng mà còn cần sớm có những cơ chế, chính sách của Nhà nước ban hành một cách đồng bộ, phù hợp trên các lĩnh vực: đất đai, kinh tế, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, văn hoá, xã hội, chế độ đãi ngộ v.v việc thực hiện các cơ chế chính sách trong lĩnh vực cải cách hành chính một cách hiệu quả mới có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp đồng bộ xây dựng thành công Làng văn hoá

5.2.4 Cả nước đang đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thành phố Hải Phòng cũng đang bước vào quá trình đô thị hoá nhanh chóng Bối cảnh đó đã tác động không nhỏ và tạo ra những biến động ở mỗi làng quê và nông thôn Hải Phòng Một số làng quê đã và

sẽ bị đô thị hoá, sự phân công trong lao động ở nông thôn sẽ diễn ra nhanh chóng Đời sống văn hoá, nếp sống, phong tục tập quán dần dần cũng có sự thay đổi cho phù hợp với cuộc sống mới Vì thế đảm bảo cho quá trình xây dựng Làng văn hoá đi đúng hướng, phục vụ đắc lực

sự nghiệp, công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố nói chung và khu vực nông thôn nói riêng, đòi hỏi tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo chỉ đạo thường xuyên của các cấp uỷ Đảng, chính quyền về lĩnh vực này 5.2.5 Phong trào xây dựng Làng văn hoá mới được triển khai ở Hải Phòng gần 20 năm trở lại đây So với quá trình hình thành và phát triển của làng thì đó là thời gian rất ngắn Những kết quả đạt được trong thời gian qua mới chỉ là bước đầu, chưa có một làng nào có sự phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội thực sự nổi bật và có sức thuyết phục về một mô hình kinh tế, xã hội toàn diện Trong sự phát triển chung của thành phố, phong trào xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng đang đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững bởi các cơ chế

Trang 22

chính sách của Nhà nước về xây dựng Làng văn hoá chưa đồng bộ, thiếu và phần nào chưa phù hợp Điều này thể hiện ở một số điểm sau: + Một số văn bản đã ban hành về cơ chế chính sách nhất là quy chế công nhận danh hiệu Gia đình văn hoá, Làng văn hoá, do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành đã định ra những tiêu chuẩn, chuẩn mực chung và tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào Hiện nay danh hiệu Làng văn hóa do Ủy ban nhân dân các huyện ra quyết định công nhận, không còn danh hiệu làng văn hóa cấp huyện, cấp thành phố như trước đây Điều này sẽ không tạo ra sự cố gắng phấn đấu để đạt các danh hiệu cao hơn của nhân dân các Làng văn hóa Như chúng ta đã biết xây dựng Làng văn hoá đã khó, việc giữ và duy trì danh hiệu làng văn hoá còn khó hơn, thực tế một số làng đã không giữ được danh hiệu này Một số địa phương trong quá trình thẩm định công nhận danh hiệu văn hóa còn chạy theo số lượng, chưa chú trọng nâng cao chất lượng nên mô hình Làng văn hoá còn thiếu tính thuyết phục và chưa động viên phong trào

+ Chưa có cơ chế chính sách đầu tư về đất đai và đầu tư kinh phí, khuyến khích tư nhân, tập thể đầu tư kinh phí xây dựng các Nhà văn hoá

- Trung tâm văn hoá - Trung tâm vui chơi giải trí và các công trình phúc lợi văn hoá xã hội khác của làng Số nhà văn hoá làng cùng các trung tâm vui chơi giải trí được xây dựng trong những năm qua là do các làng vận dụng sự quản lý của chính quyền, địa phương mà xây dựng một cách tự phát và đưa vào hoạt động phục vụ đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân địa phương Việc xây dựng cũng thiếu quy hoạch

+ Chưa có cơ chế chính sách đầu tư và khuyến khích tư nhân, tập thể đầu tư, ủng hộ cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí của các cộng đồng làng cũng như ở nông thôn nói chung, nhất là cơ chế chính sách, ưu tiên đầu tư cho việc khôi phục giữ gìn các loại hình văn hoá, nghệ thuật truyền thống ở các địa phương

+ Chưa có cơ chế, chính sách về đào tạo, tập huấn nghiệp vụ văn hoá thông tin cho cán bộ văn hoá thông tin cơ sở nhất là trưởng làng và ban vận động xây dựng Làng văn hoá

+ Chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ, động viên đối với ban vận động nói chung và trưởng Làng văn hoá nói riêng

Những hạn chế trên đây đã tác động không nhỏ tới sự phát triển của phong trào xây dựng Làng văn hoá trong thời gian vừa qua ở Hải Phòng; đồng thời cũng là nguyên nhân làm cho phong trào phát triển thiếu tính bền vững Tuy còn nhiều khó khăn, thử thách, song việc xây

Trang 23

dựng làng văn hoá không còn là vấn đề cần tranh luận mà là mục tiêu phấn đấu với những giải pháp phù hợp để chúng ta xây dựng ngày một nhiều làng văn hoá thực sự có chất lượng

6 Đặc điểm làng của Hải Phòng:

Hải Phòng có diện tích 1519 km2, dân số hơn 2 triệu người, có 15 quận, huyện trong đó có 5 huyện trên đất liền, 2 huyện đảo Trong thời gian qua đã có 153/153 xã, thị trấn triển khai xây dựng Làng văn hoá với 790 Làng văn hoá phát động xây dựng Làng văn hóa đạt 100%

Với đặc điểm địa lý của Hải Phòng, gồm: 153 xã, thị trấn có tổng

số 790 làng với 3 loại hình làng: Làng thuần nông, làng miền núi, làng hải đảo, còn lại một số gọi là làng nghề nhưng chưa rõ nét

+ Làng có tính chất thuần nông có 734 làng ở 147 xã, thị trấn thuộc các huyện: An Lão, An Dương, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, Kiến Thuỵ, Thuỷ Nguyên

+ Làng miền núi có 26 làng thuộc 6 xã thuộc huyện Thuỷ Nguyên: Xã An Sơn 3 làng, Lại Xuân 4 làng, Kỳ Sơn 4 làng, Minh Tân

5 làng, Lưu Kiếm 5 làng, Liên Khê 5 làng

Mặc dù được xác định là các xã miền núi nhưng thực tế về mặt

độ cao của các xã không lớn như các xã miền núi thuộc các tỉnh miền núi, thành phần dân cư là người Kinh, chủ yếu làm nông nghiệp, trồng lúa nước và một số làng có thêm hoạt động khai thác vật liệu xây dựng Làng xa nhất cách trung tâm huyện là 20 km, cách trung tâm thành phố là 30km, giao thông thuận lợi, xe ô tô đi được đến các làng; kinh tế khá phát triển dường như không có sự khác biệt về hoạt động sản xuất

và sinh hoạt so với các xã, làng khác trong huyện Thuỷ Nguyên, nên mọi phong trào và đánh giá phong trào của các xã, làng trong huyện Thuỷ Nguyên đều bình đẳng như nhau Những năm qua phong trào xây dựng làng văn hoá ở các xã miền núi huyện Thuỷ Nguyên phát triển mạnh mẽ, hoà nhập với các làng ở đồng bằng, 26 làng thuộc 6 xã miền núi của huyện Thuỷ Nguyên đều đã làm lễ phát động xây dựng làng văn hoá

+ Loại hình làng ở huyện đảo Cát Hải, huyện có diện tích 326.000km2 gồm 174 hòn đảo lớn nhỏ, có 428 mỏm núi, dân số gần 25.000 người, nghề nghiệp chính là đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, trồng trọt, dịch vụ nghề cá và phát triển du lịch Huyện có 12 xã, gồm

30 làng đã phát động xây dựng làng văn hoá Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên phong trào xây dựng làng văn hoá ở huyện Cát Hải còn gặp nhiều khó khăn về công tác triển khai phát động cũng

Trang 24

như tổ chức thực hiện hương ước làng văn hoá Hiệu quả và chất lượng xây dựng làng văn hoá còn hạn chế so với các huyện thuộc thành phố Hải Phòng Từ thực tiễn trên và tính đặc thù của huyện đảo cần có sự xem xét xác định tiêu chuẩn công nhận làng văn hóa ở các làng hải đảo cho phù hợp

7 Tiêu chí Làng văn hoá ở Hải Phòng

Căn cứ vào các quy định của các văn bản pháp quy, căn cứ vào thực tiễn của phong trào xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng trong những năm qua, Hải Phòng đã xây dựng tiêu chí làng văn hóa với 5 tiêu chí cụ thể cho làng thuần nông, làng hải đảo

Đối với làng miền núi ở huyện Thuỷ Nguyên dường như không

có sự khác biệt về hoạt động sản xuất và sinh hoạt so với các xã, làng khác của thành phố Hải Phòng Vì vậy, không xác định tiêu chí riêng cho các làng ở miền núi thuộc thành phố Hải Phòng

- Tiêu chí xây dựng làng văn hoá thuần nông ở Hải Phòng

Hải Phòng thực hiện xét công nhận làng văn hoá theo tiêu chí làng văn hoá quy định tại Luật Thi đua Khen thưởng và Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL ngày 10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch ban hành quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự thủ tục, hồ

sơ công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương Các tiêu chí như quy định tại Điều 5 của Thông tư số 12/2011/TT-BVHTTDL, riêng có tiêu chí về phổ cập giáo dục có cao hơn “phải phổ cập trung học phổ thông” trong khi tiêu chí chung của

Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch là “đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học trở lên “

- Về tiêu chí làng văn hoá hải đảo ở Hải Phòng

Căn cứ vào điều kiện cụ thể của các làng, xã hải đảo của Hải Phòng như đã trình bày tại Mục 6 nên tiêu chuẩn của làng văn hoá hải đảo được xác định có một số tiêu chí cụ thể thấp hơn so với làng văn hoá thuần nông Cụ thể như sau:

“ Có 75% (làng thuần nông 80%)trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế-xã hội ở cộng đồng ”

“ Nhà Văn hóa-Khu thể thao thôn (làng, ấp, bản và tương đương) từng bước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch ”(được tính chuẩn theo quy định đối với miền núi, hải đảo);

Trang 25

“ 95% (làng thuần nông 100%) trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài ”;

- Về trình tự, thủ tục công nhận danh hiệu văn hóa đối với làng thuần nông và làng hải đảo ở Hải Phòng

Theo quy định tại Thông tư 12/2011/TT-BVHTTDL ngày

10/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

“Điều 8 Trình tự, thủ tục, hồ sơ công nhận “Thôn văn hóa”,

“Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa”

d) Căn cứ vào hồ sơ đề nghị công nhận khu dân cư văn hóa, Phòng Văn hóa-Thông tin phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cấp huyện và các ngành, đoàn thể thành viên Ban Chỉ đạo Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” cấp huyện tiến hành kiểm tra (có biên bản kiểm tra);

đ) Phòng Văn hóa-Thông tin phối hợp với Mặt trận Tổ quốc cấp huyện và bộ phận Thi đua, Khen thưởng trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ra quyết định công nhận, công nhận lại và cấp Giấy công nhận cho các khu dân cư văn hóa;

Thời gian giải quyết năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ hợp lệ

c) Công văn đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã;

Hồ sơ đề nghị công nhận một (01) bộ, nộp trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trang 26

Giấy công nhận khu dân cư văn hóa thực hiện theo Mẫu số 02 Phụ lục kèm theo Thông tư này

d) Điều kiện công nhận:

- Đạt các tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 5 và Điều 6 Thông tư này và các tiêu chí bổ sung theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (nếu có);

- Thời gian đăng ký xây dựng khu dân cư văn hóa từ hai (02) năm trở lên (công nhận lần đầu); ba (03) năm trở lên (công nhận lại)

đ) Khen thưởng:

- Khu dân cư văn hóa được thưởng theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 71 Nghị định số 42/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ;

- Khuyến khích các địa phương căn cứ vào khả năng ngân sách Nhà nước và các nguồn lực xã hội hóa, tăng kinh phí hỗ trợ cho các khu dân cư văn hóa xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động cho Nhà Văn hóa-Khu thể thao ở khu dân cư”

8 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng làng văn hóa ở Hải Phòng:

Mục tiêu theo Nghị quyết số 32 của Bộ Chính trị về phát triển Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “Phấn đấu Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp văn minh trước năm 2020”

Theo Quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đến năm 2020: “Hải Phòng trở thành thành phố Cảng xanh, văn minh, hiện đại, một trung tâm đô thị cấp quốc gia, cửa chính ra biển, trung tâm công nghiệp, du lịch, dịch vụ, thuỷ sản ở miền Bắc có kinh

tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng an ninh vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống”

Thành uỷ, Ủy ban nhân dân thành phố chủ trương quyết tâm phấn đấu thành phố Hải Phòng sớm trở thành thành phố công nghiệp hoá - hiện đại hoá trước năm 2020 Phát triển văn hoá vì mục tiêu phát triển con người toàn diện, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Gắn văn hoá với đời sống xã hội, hướng mọi hoạt động văn hoá vào việc xây dựng con người mới có văn hoá Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá", bảo đảm phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, phát triển hài hoà giá

Trang 27

trị văn hoá hiện đại Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá - thông tin

cơ sở đồng bộ từ thành phố đến cơ sở quận, huyện, xã, phường Bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng gắn với dịch vụ,

du lịch Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực văn hoá - thông tin;

Trong lộ trình phát triển chung của thành phố, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” nói chung và phong trào xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng sẽ đứng trước nhiều thuận lợi cơ bản song cũng không ít những khó khăn thử thách mới Nhiều nhân tố về kinh tế, văn hoá xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển chung

sẽ có những ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc tới nông thôn Hải Phòng nói chung và mỗi làng quê đang xây dựng Làng văn hoá nói riêng

Vấn đề đặt ra là cần xem xét, nghiên cứu và dự báo những ảnh hưởng quan trọng, cả mặt tích cực cũng như tiêu cực và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với nông thôn Hải Phòng nói chung và phong trào xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng nói riêng đến năm 2020

8.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng là một thành phố ven biển, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông Hải Phòng là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ Tính đến hết tháng 12 năm 2016, dân số Hải Phòng là hơn 2 triệu người, trong đó dân cư thành thị chiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9% Hải Phòng là nơi có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, công nghệ thông tin

và an ninh quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khóa IX, kinh tế xã hội thành phố đạt được nhiều thành tựu nổi bật

Tăng trưởng GDP ước bình quân 8,67%/năm, trong đó năm 2015 ước gấp 1,52 lần năm 2010, riêng GDP bình quân đầu người ước đạt 2.857 USD/người, gấp 1,8 lần so với năm 2010 Tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước từ 2,7% năm 2010 ước tăng lên 3,5% năm 2015; quy mô thu ngân sách nhà nước tăng gấp 1,8 lần so với giai đoạn 2006-2010; dịch vụ phát triển nhanh, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP, ước tăng bình quân 10,15%/năm, thể hiện tích cực quá trình

Trang 28

chuyển dịch cơ cấu kinh tế; số lượt khách du lịch ước tăng bình quân 9,46%/năm, lợi thế du lịch biển được khai thác hiệu quả

Trong 5 năm (2010 – 2015), tổng vốn đầu tư toàn xã hội của thành phố ước đạt trên 208 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 8,87%/năm Cơ cấu thu hút vốn cũng chuyển mạnh theo hướng xã hội hóa, trong đó vốn khu vực ngoài nhà nước đạt 86,6 nghìn tỷ đồng, gấp 1,4 lần so với nhiệm kỳ trước; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI ước đạt 7,63

tỷ USD, bằng 1,5 lần tổng số vốn FDI của tất cả những năm trước đó cộng lại; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng bình quân 19,13%/năm, chiếm 10,8% và đứng thứ 2 trong vùng đồng bằng sông Hồng; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 15,88%/năm; sản lượng hàng hóa qua cảng tăng bình quân 15,09%/năm, hoàn thành chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ thành phố 14 đề ra trước 3 năm

Công tác quy hoạch và xây dựng đô thị được quan tâm, các dự án lớn như sân bay, cảng biển, đường cao tốc, khu kinh tế Đình Vũ – Cát Hải…được khởi công tạo động lực mới cho sự phát triển Bộ mặt thành phố đã có khởi sắc, từng bước phát huy vai trò đầu mối giao thông quan trọng, cửa chính ra biển, trung tâm phát triển trên lĩnh vực vận tải biển của các địa phương phía Bắc

Văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; giáo dục và đào tạo phát triển tốt, lao động qua đào tạo chiếm tỉ lệ cao; an sinh xã hội được bảo đảm, năm 2012 tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn 4,2% Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, văn hoá, nghệ thuật, phát thanh truyền hình, thể thao, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, chăm sóc người có công với cách mạng, giúp đỡ người khó khăn, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, y tế, khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường có chuyển biến, đạt nhiều kết quả khá tích cực Hoàn thành chương trình xây nhà mới thay thế nhà tranh vách đất cho các hộ nghèo; cơ bản hoàn thành phổ cập trung học và nghề tại 4 quận Hồng Bàng, Ngô Quyền, Lê Chân, Kiến An, Đồ Sơn Tổ chức thành công kỷ niệm ngày giải phóng thành phố 13/5, lễ hội Hoa Phượng Đỏ Hải Phòng và các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, tạo lòng tin, sự phấn khởi trong nhân dân thành phố

Với đặc điểm kinh tế, xã hội của thành phố như trên, đã có những tác động trực tiếp đến việc xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

+ Về những ảnh hưởng tích cực:

Trang 29

Sự phát triển của nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá trong thời gian tới cùng với sự phát triển chung của thành phố

sẽ mang lại những cơ hội, điều kiện cũng như các yếu tố tích cực thuận lợi để phát triển kinh tế từng hộ gia đình, từng làng, và cả vùng, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất của nhân dân Hệ thống các loại hình dịch vụ cũng nhờ đó mà phát triển theo sẽ mang lại nhiều tiện ích trong sản xuất, kinh doanh cho người dân ở ngoại thành

Nhiều vùng chuyên canh cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, có chất lượng, nhiều trang trại, gia trại nuôi gia cầm, gia súc, thuỷ hải sản sẽ được hình thành và phát triển nhanh tạo nên mối liên kết,

về kinh tế - xã hội cũng như sự lệ thuộc lẫn nhau ngày một chặt chẽ giữa các làng xã với nhau, với cả vùng và với cả nền kinh tế Tư duy và trình độ kỹ thuật trong sản xuất và trong sinh hoạt theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá của người nông dân dần một hoàn thiện và nâng cao Cách sản xuất nhỏ lẻ, cùng với nếp sinh hoạt tự do tuỳ tiện ở nông thôn dần được khắc phục và tầm nhìn của người nông dân không chỉ vươn ra khỏi luỹ tre làng mà vươn ra tầm nhìn toàn quốc và toàn cầu Sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn dần bị thu hẹp

+ Về những ảnh hưởng tiêu cực

Diện tích đất canh tác nông nghiệp dần bị thu hẹp, trình độ canh tác và quy mô sản xuất nông nghiệp như hiện nay và một vài năm tới, trong một cơ chế kinh tế thị trường, nông thôn và nông dân Hải Phòng đang đứng trước những thử thách và cạnh tranh gay gắt Vấn đề đặt ra gieo trồng cây gì, nuôi con gì, sản xuất như thế nào để đảm bảo có hiệu quả kinh tế cao là những bài toán kinh tế hóc búa mà không phải người nông dân nào, làng nào, xã nào cũng tìm ra lời giải thoả đáng Hơn nữa trong tình hình hiện nay và trong tương lai giá cả các loại: xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… ngày một không ổn định

và đang lên; tỷ lệ chênh lệch giữa giá cả của nhóm hàng nông sản so với nhóm hàng công nghiệp ngày một gia tăng mang lại nhiều bất lợi

và thua thiệt cho người nông dân Đó là chưa kể đến những dịch bệnh

và thiên tai bất thường khó đoán trước Đây đó ở nông thôn Hải Phòng

đã có hiện tương nông dân “ly nông” và trong tương lai khả năng tình trạng này có thể gia tăng

Một bộ phận lớn nguồn lực lao động có trí, lực ở nông thôn sẽ bị quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thành phố và đô thị hoá nông thôn thu hút (tất yếu là như thế) Điều này mang lại nguồn thu nhập kinh tế đáng kể đối với nhiều hộ gia đình và một số khu vực nông thôn Mặt khác quá trình “dồn điền, đổi thửa” đối với ruộng đất đẩy nhanh

Trang 30

quá trình hình thành và phát triển các trang trại, nhưng đồng thời cũng đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất (tư liệu sản xuất) sẽ có một bộ phận nông dân không còn đất để sản xuất Những điều đó cùng với các yếu tố kinh tế khác đã đẩy sự phân hoá giàu nghèo trong nông thôn, nông dân sẽ ngày càng rõ nét và gia tăng trong thời gian tới

Đặc biệt đối với các làng, xã ven đo do quá trình đô thị hoá, nhiều hộ nông dân không chỉ mất đất canh tác, mà quan trọng hơn, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội vốn có bị phá vỡ Số ruộng đất còn lại gặp khó khăn trong việc cấp và thoát nước và một phần trong số ấy có thể bị ô nhiễm, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, đẩy một bộ phận hộ nông dân vào tình cảnh tái nghèo (Điều này đã xảy ra ở một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) và thất nghiệp ngay trên quê hương họ

Sự du nhập và tiếp thu văn hoá ngoại lai mang tính lai căng, thiếu sự lựa chọn đi cùng với quá trình hội nhập phát triển kinh tế ngày càng phát triển Bên cạnh đó các tệ nạn xã hội, cùng với lối sống thực dụng - sản phẩm của nền kinh tế thị trường, theo quá trình đô thị hoá sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới ngoại thành, góp phần tạo ra tình hình không

ổn định về mặt xã hội ở các cộng đồng dân cư làng quê Hải Phòng

Nhìn chung những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực do sự phát triển kinh tế và đô thị hoá nông thôn như trên đã trình bày là tất yếu khách quan sẽ có tác động rất lớn cả thuận lợi cũng như tạo ra những khó khăn cho quá trình nâng cao chất lượng Làng văn hoá ở Hải Phòng

8.2 Điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội

Hình ảnh luỹ tre, cây đa, bến nước, dòng sông trở nên quen thuộc với mỗi làng quê Việt Nam Đó chính là sự gắn bó, gần gũi của mỗi làng quê, mỗi người nông dân Việt Nam với thiên nhiên Quá trình phát triển của dân tộc nói chung và của mỗi làng xã Việt Nam nói riêng

là quá trình chinh phục, khai thác các sản vật của tự nhiên phục vụ đời sống con người Hiện nay các nhà nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có các nhà nghiên cứu văn hoá đã chỉ ra những yếu tố địa

lý, điều kiện tự nhiên của các vùng miền đã, đang và sẽ ảnh hưởng cả tích cực lẫn tiêu cực sâu sắc, đậm nét tới sự phát triển kinh tế, đến tư duy nếp sống, phong cách văn hoá và phong tục, tập quán trong sản xuất và sinh hoạt cộng đồng dân cư sống ở vùng miền đó

- Về ảnh hưởng tích cực:

Những điều kiện tự nhiên của miền đất Hải Phòng như chúng ta

đã biết đã, đang và sẽ là những nguồn lợi vật chất to lớn và quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho người Hải Phòng nói chung và các làng xã ở

Trang 31

Hải Phòng tiếp tục sử dụng và khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố và nhu cầu nâng cao đời sống cho nhân dân Với ý nghĩa ấy các điều kiện tự nhiên hiện có là tài sản

vô giá của người Hải Phòng, cần phải biết khai thác các nguồn lợi tự nhiên một cách hợp lý và hiệu quả

Địa bàn Hải Phòng là miền đất đồng bằng ven biển, xen lẫn một phần địa hình đồi núi và hải đảo (chủ yếu ở huyện Thuỷ Nguyên và huyện Cát Hải) Dân cư cư trú ở các khu vực miền núi và hải đảo chủ yếu là người Việt, do vậy cũng không có sự khác biệt nhiều về văn hoá với các vùng miền khác Song cũng không thể phủ nhận những yếu tố đặc thù giữa các huyện, các xã của một huyện trong đời sống kinh tế và văn hoá của các cộng đồng dân cư ví dụ như: phần lớn các xã thuộc huyện An Dương, An Lão, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thụy là thuộc vùng đồng bằng xa biển nên phát triển các ngành nghề trồng trọt và chăn nuôi là chính, có chăng phát triển thêm vài nghề phụ nhỏ lẻ không đáng kể Các xã ven biển thuộc các huyện Tiên Lãng, Kiến Thụy, Thuỷ Nguyên chủ yếu phát triển ngành nghề trồng trọt, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ, hải sản, các xã miền núi của huyện Thuỷ Nguyên chủ yếu phát triển trồng trọt và khai thác khoáng sản đá vôi sản xuất vật liệu xây dựng Các xã thuộc huyện Cát Hải làm muối kết hợp nuôi trồng và đánh bắt hải sản (đảo Cát Hải), nuôi trồng và đánh bắt hải sản và phát triển dịch vụ du lịch (đảo Cát Bà) Do điều kiện địa lý tự nhiên với các điều kiện sống khác nhau và phát triển ngành nghề khác nhau đã tạo ra những nét riêng trong văn hoá truyền thống của từng cộng đồng làng xã như: Lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán và trong sinh hoạt xã hội, góp phần làm nên bức tranh văn hoá truyền thống Hải Phòng phong phú, sinh động và đặc sắc Các giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp cùng với những nét riêng, đặc sắc về văn hoá của từng vùng, miền quê Hải Phòng là tài sản vô giá, là nền tảng tinh thần sẽ tiếp tục được gìn giữ, bồi đắp và phát huy trong phong trào xây dựng làng văn hoá ở Hải Phòng Lịch sử hình thành và phát triển của miền đất Hải Phòng nói chung và của mỗi cộng đồng làng quê Hải Phòng nói riêng chính là quá trình chinh phục và khai thác thiên nhiên: khai hoang, lấn biển đã diễn ra liên tục hàng ngàn năm Trong đó vai trò của các dòng họ, của những người có uy tín, những người đại diện cho các tổ chức xã hội, các tổ chức tôn giáo và tín ngưỡng cũng sẽ hết sức quan trọng và có đóng góp không nhỏ vào quá trình nâng cao chất lượng xây dựng Làng văn hoá ở Hải Phòng trong tương lai

Trang 32

Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực một cách khách quan nói trên thì những quyết sách về phát triển lĩnh vực văn hoá xã hội mang tính chất chủ quan của Thành ủy và Uỷ ban nhân dân thành phố trong giai đoạn 2016 - 2020 sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của sự nghiệp văn hoá cơ sở ở nông thôn nói chung và phong trào xây dựng làng văn hoá trong giai đoạn tới Trong báo cáo phương hướng, nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 5 năm 2016 - 2020,

Uỷ ban nhân dân thành phố đã xác định nhiệm vụ và giải pháp phát triển lĩnh vực văn hoá như sau: "Xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện với các đặc trưng: thực sự cầu thị, năng động, cởi mở, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, có tầm nhìn

xa, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tiếp tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến, mang đậm nét đặc trưng riêng của Hải Phòng, thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực, là mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Phát triển toàn diện các hoạt động văn hóa, chú trọng mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.[36, tr.51]

Những kết quả đạt được về xây dựng và tổ chức hoạt động các thiết chế văn hoá cơ sở trong 17 năm qua cũng sẽ có những ảnh hưởng lớn đến phong trào xây dựng Làng văn hóa những năm tiếp theo Hiện nay, toàn thành phố có 14 Trung tâm Văn hóa Thông tin quận, huyện; 10/15 quận, huyện có Trung tâm Thể dục Thể thao; 191 Nhà văn hóa xã, phường, thị trấn, 866 Nhà văn hóa, khu thể thao làng, thôn tổ dân phố văn hóa Hệ thống thiết chế văn hóa đang hoạt động ngày một hiệu quả Với

sự đóng góp của nhân dân và sự đầu tư của Nhà nước các cấp, với hàng chục tỷ đồng đã góp phần từng bước nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của đông đảo nhân dân ngoại thành trong những năm qua, đã và

sẽ là những cơ sở vật chất quan trọng có đóng góp lớn vào sự phát triển văn hoá cơ sở ngoại thành và phong trào xây dựng làng văn hoá trong những năm tới

- Về ảnh hưởng tiêu cực:

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành phố và nông thôn Hải Phòng sẽ diễn ra nhanh chóng trong thời gian tới, kéo theo quá trình khai thác, sử dụng các lợi thể và các sản vật của tự nhiên trên địa bàn thành phố và ở mỗi làng quê sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn nữa Song tự nhiên và những điều kiện thuận lợi từ tự nhiên chỉ có giới hạn Nếu không có quy hoạch, kế hoạch và phương pháp khai thác, sử dụng phù hợp và có hiệu quả thì nguy cơ cạn kiệt tài nguyên tái sinh và không tái sinh có thể sẽ diễn ra, kéo theo sự mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi

Trang 33

trường cục bộ Bên cạnh đó là sự sử dụng các hoá chất, các thuốc bảo

vệ thực vật trong sản xuất và chăn nuôi thiếu quy trình kỹ thuật sẽ tạo

ra môi trường sống mất cân bằng và không an toàn

Trong điều kiện canh tác và sản xuất nông nghiệp như hiện nay cũng như một vài năm tới nông nghiệp vẫn sẽ chịu nhiều tác động tiêu cực của các yếu tố thiên nhiên bất lợi như: bão, lũ, hạn hán, dịch bệnh…mà không phải lúc nào chúng ta cũng đoán biết trước và khắc phục được

Bên cạnh các ảnh hưởng tiêu cực từ những điều kiện tự nhiên bất lợi, thì những yếu tố văn hoá truyền thống lạc hậu của mỗi làng quê như : tính bảo thủ, cục bộ địa phương “phép vua thua lệ làng” tính tuỳ tiện và manh mún tiểu nông hoặc những hủ tục, tập quán lạc hậu khác vv sẽ là những lực cản vô hình rất lớn tới sự phát triển đi lên của mỗi làng quê Hải Phòng và toàn thành phố

Nói tóm lại văn hoá nói chung và Làng văn hoá Hải Phòng nói riêng phụ thuộc rất lớn vào tình hình phát triển kinh tế của thành phố Chỉ có phát triển kinh tế mạnh mẽ và bền vững mới là cơ sở để phát triển văn hoá nói chung và văn hoá cơ sở nói riêng Ngược lại, văn hoá

cơ sở với nhiều thiết chế, trong đó thiết chế Làng văn hoá phát triển với chất lượng ngày càng cao sẽ tạo ra môi trường xã hội ở nông thôn

ổn định, nguồn lực vật chất to lớn và nguồn lực lao động có trí lực đáp ứng nhu cầu phát triển chung của thành phố Bởi vì như Đảng ta đã xác định "Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội"

8.3 Một số nhân tố khác

Những nhân tố mới, mang hơi thở thời đại và trình độ văn minh của nhân loại cho chúng ta nhiều cơ hội phát triển cũng như nhiều thách thức Đó là vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề toàn cầu hoá

và vấn đề phát triển kinh tế tri thức với nòng cốt là công nghệ thông tin; vấn đề mở rộng và tăng cường về giao lưu văn hoá quốc tế

Mục tiêu phát triển văn hóa nói chung và văn hoá cơ sở nói riêng, ngày nay không chỉ phục vụ, làm thoả mãn nhu cầu hưởng thụ

và sáng tạo của người dân mà còn là công cụ tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu hình ảnh Việt Nam và thành phố với bạn bè thế giới Văn hóa phải được coi là sức mạnh to lớn, “một quả đấm mềm” để tự bảo

vệ mình trong cơn xoáy lốc toàn cầu hoá, trong sự nô dịch về văn hóa

có chủ tâm của những nước giàu Trong đó văn hóa cơ sở, Làng văn hoá phải là thành luỹ để gìn giữ, phát huy các giá trị văn hoá truyền

Trang 34

thống tại mỗi địa phương đồng thời là cái nôi để sản sinh, nuôi dưỡng

và phát triển các giá trị văn hoá hiện tại tốt đẹp và văn minh đóng góp vào sự phát triển của địa phương và thành phố

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thành phố, Làng văn hoá Hải Phòng chắc chắn sẽ tiếp cận với các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, với công nghệ thông tin Đó là đổi mới, nâng cấp các trang thiết bị âm thanh, ánh sáng, nhạc cụ phục vụ các hoạt động văn hoá Đó là quá trình nâng cao trình độ nghiệp vụ với sự hỗ trợ của các phương tiện hiện đại của đội ngũ cán bộ làm văn hoá,nghệ thuật, các văn nghệ sĩ để thiết kế chương trình, biên soạn, sáng tác tác phẩm văn học nghệ thuật, đạo diễn, biên đạo, biểu diễn, là sự am hiểu sâu sắc các giá trị văn hoá tốt đẹp đặc sắc của dân tộc và sự am hiểu rộng khắp

về các nền văn hoá và văn minh thế giới Thực sự là những nhân tố tác động tích cực tới sự phát triển của các Làng văn hoá Hải Phòng

Trên đây là một số nhân tố chủ yếu mang cả tính tiêu cực lẫn tích cực tác động tới chất lượng xây dựng Làng văn hóa Hải Phòng trong tương lai Nếu có cách khai thác, phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế, tránh các yếu tố tiêu cực sẽ là điều kiện thuận lợi để chất lượng xây dựng Làng văn hoá Hải Phòng ngày một cao hơn và tốt hơn trong những năm tới

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG LÀNG VĂN HOÁ

Ở HẢI PHÒNG TRONG NHỮNG NĂM QUA

1 Công tác chỉ đạo, quản lý Nhà nước đối với quá trình xây dựng Làng văn hóa ở Hải Phòng

Triển khai thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng về công tác văn hoá, văn nghệ, chính quyền các cấp đã thực hiện vai trò chỉ đạo, quản lý Nhà nước đối với phong trào xây dựng Làng văn hoá trên các lĩnh vực sau: Đề ra mục tiêu, xây dựng nội dung- chương trình, kế hoạch

và biện pháp tổ chức thực hiện chỉ tiêu; xây dựng các cơ chế, chính sách

để quản lý, thúc đẩy và khuyến khích phong trào; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện và chỉ đạo, uốn nắn kíp thời; xét duyệt, công nhận danh hiệu làng văn hoá các cấp và quyết định khen thưởng động viên các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng Làng văn hoá

Thực hiện chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo, quản lý Nhà nước đối với phong trào xây dựng Làng văn hoá ở địa phương, vận dụng sự chỉ đạo của các cơ quan Nhà nước Trung ương, chính quyền, các ngành, đoàn thể các cấp từ thành phố tới cơ sở đã ban hành nhiều văn bản, tài liệu liên quan tới công tác xây dựng làng văn hoá Đó là những công cụ để vận hành bộ máy tổ chức Nhà nước tại địa phương chỉ đạo, quản lý phong trào xây dựng Làng văn hoá phù hợp và có hiệu quả

1.1 Các văn bản về cơ chế, chính sách do các cơ quan Trung ương ban hành:

1.1.1 Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Ngày 5-8-2003, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 32-NQ/TW xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xác định rõ phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố trong khoảng thời gian dài gần 20 năm

Đây là Nghị quyết rất quan trọng đối với Đảng bộ, quân và dân thành phố Hải Phòng; thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Trung ương Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi để Hải Phòng phát triển vượt bậc và là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và cơ bản trở thành

Trang 36

thành phố công nghiệp văn minh hiện đại trước năm 2020 Vì thế Nghị quyết cũng rất quan trọng đối với Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" nói chung và phong trào xây dựng Làng văn hóa nói riêng ở Hải Phòng trong những năm sau này

Nghị quyết xác định vị trí và vai trò của thành phố Hải Phòng như sau:

“Hải Phòng là một thành phố cảng lâu đời, nằm ở vị trí trung tâm vùng duyên hải Bắc Bộ, lá chắn cho thủ đô Hà Nội, là đầu mối giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước và quốc tế Trải qua hơn một thế kỷ xây dựng và phát triển, luôn phát huy truyền thống cách mạng

và năng động sáng tạo trong sự nghiệp đổi mới, đến nay Hải Phòng đã trở thành một thành phố công nghiệp, đô thị loại I của đất nước, một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc, một trọng điểm phát triển kinh tế biển- đảo, có vị trí trọng yếu cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh Xây dựng và phát triển Hải Phòng về nhiều mặt còn

có ý nghĩa quan trọng đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và cả nước”.[5, tr.1]

1.1.2 Nghị quyết Hội nghị lần Thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt

Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, Hội nghị lần thứ tư

đã ra Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt nhằm chấn chỉnh, định hướng các hoạt động văn hoá, văn nghệ theo đúng đường lối của Đảng, Nghị quyết xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Văn học, nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân - thiện- mỹ”

Nhiệm vụ đặt ra là “ Góp phần xây dựng con người Việt Nam

về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp,

có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh xã hội văn minh Nền văn hoá mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm cũng như trước mắt theo tư tưởng chỉ đạo đã nêu ở trên Nghị quyết đã đề ra 8 biện pháp thực hiện các mặt trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ Trong đó biện pháp thứ 5 đề cập đến một số vấn đề liên quan trực tiếp tới việc xây dựng làng văn hoá, đó là:

Trang 37

“Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ và phát triển văn hoá, văn nghệ dân tộc Bằng mọi cách đưa ra những giá trị văn hoá, văn nghệ dân tộc và thế giới đến với nhân dân; Tiếp tục mở rộng các loại hình thông tin đại chúng, hiện đại hoá các phương tiện nghe nhìn, tăng cường phát hành sách báo để chuyển tải được tốt và nhanh các giá trị văn hoá, văn nghệ; Khôi phục và phát triển hệ thống thư viện, từ Trung ương tới cơ sở Xây dựng Thư viện quốc gia có tầm cỡ đáp ứng yêu cầu phát triển trí tuệ của nhân dân, yêu cầu nghiên cứu khoa học, văn hoá, văn nghệ; Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá ”.

Có thể nói Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII của Đảng không chỉ đánh giá khái quát tình hình đời sống văn hoá, văn nghệ nước ta trong những năm cuối của thập kỷ 80

và vài năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ 20; đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt mà còn xây dựng những quan điểm cơ bản của Đảng về lĩnh vực văn hoá, văn nghệ trong tình hình mới Những quan điểm đó được Đảng ta tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và cụ thể hơn trong kỳ Đại hội VIII và nhất là trong Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII

Từ những quan điểm trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản

lý của Nhà nước đã đưa các hoạt động trong lĩnh vực văn hoá, văn nghệ ngày một phát triển, khởi sắc và đúng hướng hơn trong những năm sau đó

1.1.3 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII

Đã vạch ra phương hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện mới và những quan niệm mới nghị quyết đã xác định: “ Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước

ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”

Cùng với việc khẳng định đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đại hội VIII của Đảng đã đặt công tác văn hoá, văn nghệ lên một

vị trí mới khác hẳn về chất so với trước đó Văn kiện Nghị quyết của Đại hội đã chỉ rõ: “ Văn hoá, văn nghệ là nền tảng tinh thần của xã hội,

là mục tiêu và động lực của quá trình phát triển” Văn hoá là một bộ phận không tách rời trong kết cấu hạ tầng xã hội- bên cạnh giao thông, điện, nước sạch, bệnh xá và đòi hỏi “có chính sách đầu tư thích đáng”

Trang 38

cho văn hoá để tăng cường nguồn lực cho văn hoá, và xác lập một chiến lược thông tin cho thời kỳ mới

Lần đầu tiên văn kiện của Đảng đã dành một phần riêng để làm sáng tỏ vị trí của văn hoá sau khi đề cập nhiệm vụ kinh tế và văn hoá được coi là nhân tố cấu thành, yếu tố nội sinh của sự phát triển

1.1.4 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Đảng khoá VIII

Phát triển và cụ thể hoá hơn nữa những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hoá, văn nghệ, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền văn hoá nước ta theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Từ ngày 06 đến ngày 16 tháng 7 năm 1998, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ V Tại Hội nghị này Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

Toàn văn Nghị quyết được trình bày trên 3 phần lớn: Về thực trạng văn hoá nước ta; Phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá; Những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hoá

Về phương hướng Đảng ta đã xây dựng những quan điểm cơ bản:

“1 Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa

là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội

2 Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc

và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng động gắn kết cá nhân- gia đình- làng xã- Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hoá dân

Trang 39

tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hoá các dân tộc khác Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ ”

Để triển khai thực hiện tốt phương hướng trên, Đảng ta xác định

có 10 nhiệm vụ lớn Trong đó nhiệm vụ lớn thứ hai liên quan đặc biệt đến phong trào xây dựng làng văn hoá, đó là: Nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hoá:

“ Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản , xã, phường ,khu tập thể, cơ quan ,xí nghiệp, nông trường, lâm trường,trường học , đơn

vị bộ đội ), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống văn hoá lành mạnh, đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Giữ gìn phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ Coi trọng xây dựng gia đình văn hoá Xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng, ấp, xã, phường văn hoá, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống văn minh

Trong 4 nhóm giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hoá mà văn kiện Nghị quyết đã nêu, Đảng ta xác định nhóm giải pháp hàng đầu là: Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” Trong nhóm giải pháp này, văn kiện Nghị quyết của Đảng chỉ rõ:

“ Bằng nhiều hình thức phong phú, tuyên truyền giáo dục làm chuyển biến nhận thức trong toàn xã hội, trước hết trong các cấp uỷ Đảng, đảng viên, cán bộ quản lý Nhà nước, cán bộ các đoàn thể quần chúng

về tầm quan trọng, sự cần thiết cấp bách của sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hoá, về trách nhiệm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ văn hoá trong thời kỳ mới Phát động phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, huy động mọi lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trênxuống, từ trong Đảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể

ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào

1.1.5 Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX

Ngày 5/7/2004 tại Hà Nội Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã khai mạc Một trong những nội dung quan trọng của Hội nghị này là đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết

Trang 40

Trung ương 5 khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc “ Sự tham gia tích cực, tự giác của nhân dân vào các hoạt động văn hoá, đặc biệt là cuộc vận động

“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã tạo được chuyển biến bước đầu và tiền đề rất quan trọng để văn hoá nước nhà tiếp tục phát triển đúng hướng và vững chắc"

Về nhiệm vụ trọng tâm, Hội nghị Trung ương 10 đã xác định trong những năm tới cần thực hiện có hiệu quả 10 nhiệm vụ cụ thể và

3 nhiệm vụ trọng tâm Trong đó nhấn mạnh “ chú trọng xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, nhất là cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tốt đẹp, phong phú ”

1.1.6 Chỉ thị số 27/CT-TW của Ban chấp hành Trung ương về

việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội

Chỉ thị này là bước triển khai thực hiện biện pháp thứ 5 trong 8 biện pháp cần thực hiện được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, chỉ rõ một số công việc cần làm:Cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp phải thực sự quan tâm, có kế hoạch cụ thể, chỉ đạo xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, coi đó là việc quan trọng của địa phương ”; “ .Phát động phong trào quần chúng rộng rãi, nêu cao vai trò làm chủ, ý thức tự giác của nhân dân, xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá ”

1.1.7 Luật Thi đua khen thưởng

Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá XI,

kỳ họp thứ 4 từ ngày 21 tháng 10 đến ngày 26 tháng 11 năm 2003 đã thông qua Luật Thi đua khen thưỏng và được Chủ tịch nước ra lệnh công bố luật vào ngày 10 tháng 12 năm 2003 Trong đó có một số điều khoản liên quan đến công tác xây dựng làng văn hoá Cụ thể như sau:

“Điều 20:

2- Danh hiệu thi đua đối với tập thể gồm:

đ- Danh hiệu thi đua đối với thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương là thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hoá

Điều 30:

Danh hiệu thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố văn hóa được xét tặng cho thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và tương đương đạt các tiêu chuẩn sau:

1- Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển

Ngày đăng: 22/06/2017, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại từ điển Tiếng Việt- Bộ Giáo dục và đào tạo - Trung tâm ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam - NXB Văn hoá Thông tin - H; 1999 Khác
2. Từ điển Tiếng Việt thường dùng- NXB Giáo dục- H; 1999 Khác
3. Từ điển Tiếng Việt- Trung tâm từ điển học- Đà Nẵng 4. Cơ sở Văn hóa Việt Nam - NXB Giáo dục - H.2010 Khác
5. Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới - NXB Văn hóa Thông tin - H.1993 Khác
6. Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam - NXB Khoa học xã hội - H.1996 Khác
7. Bản sắc Văn hóa Việt Nam - NXB Văn học - H.2002 Khác
8. Hồ Chí Minh - Văn hóa và đổi mới - NXB Lao động; H.2001 Khác
9. Văn hóa Việt Nam - truyền thống và hiện đại - H.2000 Khác
10. Một số giá trị văn hóa truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay - NXB VHDT - H.1998 Khác
11.Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khác
12. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII Khác
13. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Khác
15. Nghị quyết số 16-NQ/TU ngày 18/3/2008 của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển văn hóa Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w