Với tư tưởng mới mẻ ấy, hệ thống giáo dục quốcdân Việt Nam đã có sự biến đổi đáng kể với sự ra đời những mô hình tổ chức cơ sở giáo dục ở nhiều cấp độ khác nhau trong lĩnh vực Giáo dục t
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ở nước ta, chủ trương phát triển giáo dục thường xuyên, đào tạo tại cơ sở,học tập suốt đời đã được thể hiện từ khá sớm trong đường lối phát triển giáo dụccủa Đảng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960) nêu rõ “Cần
sử dụng rộng rãi các hình thức học buổi tối, hàm thụ và mở lớp tại các cơ sở sảnxuất”, đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) đã khẳng định: “Cầnphải thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tậpsuốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân” Tư tưởng về “Xây dựng
xã hội học tập” bắt đầu được thể hiện trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lầnthứ IX: "Thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập”
và được phát triển tại Đại hội Đảng lần thứ X: "Chuyển dần mô hình giáo dục hiệnnay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốtđời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và pháttriển hệ thống học tập cho mọi g hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứngnhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho ngườihọc, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục" và tiếp tục được khẳng địnhtại Đại hội Đảng lần thứ XI Với tư tưởng mới mẻ ấy, hệ thống giáo dục quốcdân Việt Nam đã có sự biến đổi đáng kể với sự ra đời những mô hình tổ chức
cơ sở giáo dục ở nhiều cấp độ khác nhau trong lĩnh vực Giáo dục thường xuyên
và Dạy nghề, trong đó có mô hình Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ).Luật Giáo dục (năm 2005) đã chính thức công nhận Trung tâm học tập cộngđồng là cơ sở giáo dục thường xuyên thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được tổchức ở các xã, phường, thị trấn Đây chính là cơ sở giáo dục dành cho tất cảmọi người để thực hiện việc xây dựng xã hội học tập từ đơn vị hành chính thấpnhất ở nước ta hiện nay
Với sự quan tâm chỉ đạo về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
và sự nỗ lực của toàn xã hội, hệ thống TTHTCĐ ở nước ta đã có bước pháttriển rõ rệt và đóng góp đáng kể vào sự nghiệp xây dựng xã hội học tập Tuynhiên do là một mô hình tổ chức cơ sở giáo dục rất mới nên để đáp ứng yêu cầu
Trang 2phát triển bền vững và hoạt động có hiệu quả thực sự, hệ thống TTHTCĐ ởnước ta đang đứng trước những thách thức không nhỏ Điều đó đặt ra yêu cầucấp thiết cho việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để từng bước hoàn thiện hệthống này.
Thành phố Hải Phòng nói chung và huyện Kiến Thụy nói riêng là địaphương có phong trào xây dựng “xã hội học tập” phát triển khá mạnh, đã vàđang quan tâm nhiều tới xây dựng hệ thống TTHTCĐ Huyện Kiến Thụy là địaphương thứ 2 trong toàn thành phố chỉ đạo xây dựng điểm TTHTCĐ tại xãĐoàn Xá Mạng lưới TTHTCĐ của Kiến Thụy được xây dựng sớm (từ năm1999), đến nay 100% xã, thị trấn đã có TTHTCĐ, góp phần đáng kể vào việcnâng cao dân trí và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Tuy nhiên, phầnlớn TTHTCĐ trên địa bàn huyện vẫn đang hoạt động chưa thật hiệu quả: việ chức học tập tại trung tâm còn đơn điệu và thụ động, cơ sở vật chất và kinh phíduy trì hoạt động còn hạn chế, cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành chưađược ổn định Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ còn nhiều biếnđộng và hầu hết chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm và quản lý giáo dụcnên đã ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt tới chất lượng và hiệu quả hoạt động củacác TTHTCĐ Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề
tài: "Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý Trung tâm Học tập cộng đồng huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất được các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐvới cơ cấu hợp lý và ổn định, năng lực quản lý tốt, đáp ứng các đặc điểm vàyêu cầu phát triển TTHTCĐ ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ quản lý và hoạt động phát triển đội ngũ cán bộ quản lýTTHTCĐ huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ huyện Kiến Thụy,thành phố Hải Phòng
Trang 34 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ hiện tại chưa phù hợp, thiếu ổnđịnh và năng lực quản lý còn thấp là một trong những nguyên nhân chính làmhạn chế chất lượng hoạt động của các TTHTCĐ Vì thế, tìm ra những biệnpháp hữu hiệu để phát triển đội ngũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ sẽ tạo chuyểnbiến quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo sự phát triển bềnvững của các TTHTCĐ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý TTHTCĐ và phát triển độingũ cán bộ quản lý các TTHTCĐ
- Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác phát triển độingũ cán bộ quản lý TTHTCĐ ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cácTTHTCĐ ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hoá,khái quát hoá các tài liệu lý luận, các công trình nghiên cứu có liên quan để xâydựng cơ sở lý luận nghiên cứu đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Gồm các phương pháp:
- Phương pháp điều tra: Phát phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn trực
tiếp về những vấn đề liên quan đến đội ngũ cán bộ quản lý của TTHTCĐ
- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn công tác điều hành của các
cán bộ quản lý, sự tham gia học tập và hoạt động giảng dạy tại các TTHTCĐ
- Phương pháp chuyên gia: Thông qua các mẫu phiếu và trao đổi trực
tiếp để xin ý kiến các chuyên gia về cách xử lý các kết quả điều tra, cách thứcthực hiện các biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý được đề xuất
- Phương pháp khảo nghiệm: Nhằm chứng minh giả thuyết khoa học của
đề tài
Trang 4
-6.3 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các tài liệu lượng hoá kết quả nghiên cứu đề tài
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ của các xã, thị trấn thuộc huyệnKiến Thụy
- Phạm vi khảo sát : 5 năm (từ năm 2009 đến năm 2013)
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận - khuyến nghị, nội dung của Luận văn được thực hiện trong 3 chương:
Trang 54
Trang 6Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ và công tác pháttriển đội ngũ cán bộ quản lý TTHTCĐ ở huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý cácTTHTCĐ huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
Trang 75
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, chủ trương xây dựng hình thức giáo dục không chính quy,giáo dục cộng đồng đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Ngay saukhi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, ngày 8/9/1945, Chủ tịch Hồ ChíMinh ký Sắc lệnh 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ để phụ trách việcchống nạn mù chữ trong cả nước; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 thánglàng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học ít nhất 30 người theo học Phongtrào bình dân học vụ phát triển sôi nổi rộng khắp trong cả nước Chỉ sau mộtnăm thực hiện, cả nước đã mở được 75.805 lớp học, có 97.664 người tham giadạy học và hơn 2,5 triệu học viên đã biết đọc, biết viết Đây là đặc trưng lớphọc xóa mù chữ ở cộng đồng tương ứng với lớp học xóa mù chữ, phổ cập giáodục tiểu học, trung học cơ sở ở TTHTCĐ hiện nay
- "Hướng dẫn biên soạn tài liệu ở TTHTCĐ" và "Hướng dẫn người lớn họcnhư thế nào?" của Viện chiến lược và chương trình giáo dục - Bộ GD&ĐT Nộidung hai tài liệu biện soạn đề cập đến đặc điểm học tập của người lớn, phươngpháp hướng dẫn người lớn học; nêu lên một số tiêu chí, tổ chức biên soạn và sửdụng tài liệu qua đó nhằm giúp nâng cao năng lực cho các cấp quản lý giáo dục,đặc biệt là CBQL, giáo viên, hướng dẫn viên ở TTHTCĐ
- Sổ tay hướng dẫn viên: "Để hướng dẫn học tập hiệu quả" (NguyễnTrường - Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản) Tài liệu cung cấpkiến thức cho hướng dẫn viên kỹ năng chuẩn bị kế hoạch bài dạy và một số kỹnăng cần thiết khi tổ chức các hoạt động tại TTHTCĐ
- Sổ tay "Thành lập và quản lý Trung tâm học tập cộng đồng" (Vụ GDTX
- Bộ GD&ĐT - Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản) Tài liệunêu lên những vấn đề cơ bản về chức năng, nhiệm vụ, nguồn lực, mạng lưới vàliên kết, công tác quản lý của đội ngũ CBQL TTHTCĐ
"Phát triển Trung tâm học tập Cộng đồng" (Vụ GDTXBộ GD&ĐT
Trang 9-Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản) Tài liệu đề cập đến nhucầu phát triển TTHCĐ trong bối cảnh thay đổi của thời đại và đất nước, nhữngvấn đề cơ bản về đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ, quản lý, tổ chức hoạt động,phát triển bền vững mô hình tổ chức, quản lý các TTHTCĐ.
- "Xã hội hóa công tác giáo dục" (Phạm Minh Hạc chủ biên) nêu lên cơ
sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cách làm xã hội hóa giáo dục, đồng thời nhấnmạnh xã hội hóa giáo dục là động lực nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài với các tiêu chí: giáo dục hóa xã hội, dân chủ hóa giáo dục,cộng đồng hóa trách nhiệm, đa dạng hóa loại hình giáo dục, đa phương hóa
- "Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI" (Phạm Minh Hạc chủ biên) tổnghợp kinh nghiệm thế giới về xã hội hóa giáo dục Theo đó, xã hội hóa giáo dụcchính là việc giáo dục phải thích nghi với xã hội, phải phục vụ nền kinh tế xãhội, phục vụ cuộc sống xã hội
Ngoài ra còn có những bài báo, tạp chí viết về mô hình TTHTCĐ, tiêubiểu như: "Trung tập học tập cộng đồng - một mô hình cần tiếp tục hoàn thiện
và phát triển ở Việt Nam" (Tạ Văn Sỹ); "Trung tâm học tập cộng đồng làng xã
- xu thế phát triển tất yếu ở các nước trong khu vực Châu Á - Thái BìnhDương và Việt Nam" (Thái Xuân Đào) "Cơ chế học tập và cơ chế quản lýTrung tâm học tập cộng đồng" (Nguyễn Xuân Đường) "Phát triển Trung tâmhọc tập cộng đồng - Một trong những điều kiện để xây dựng xã hội học tập ởtỉnh Kiên Giang" (Lê Văn Thành); "Xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng xã,phường góp phần hình thành xã hội học tập ở Việt Nam" (Trịnh Minh Tư).Một số tác giả của các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học QLGD đãnghiên cứu đến nội dung phát triển CBQL TTHTCĐ Cụ thể như:
- Đề tài: "Giải pháp hoàn thiện và phát triển TTHTCĐ trên địa bàn xã tạitỉnh Quảng Nam" của tác giả Trần Ngọc Thanh (2006); Đề tài "Biện pháp quản
lý phát triển bền vững Trung tâm học tập cộng đồng của huyện Ý Yên, tỉnhNam Định" của tác giả Trương Thị Thanh Hà (2009); Đề tài "Một số biện phápquản lý các Trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Yên Châu, tỉnhSơn La" của tác giả Đào Ngọc Toàn (2009)…
Trang 10Hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu khoa học về đề tài: Biện phápphát triển đội ngũ CBQL TTHTCĐ huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Do vậy, trong đề tài này, tôi mong muốn đưa ra một hệ thống các biện phápphù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương đối với công tác phát triển độingũ CBQL TTHTCĐ huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng gắn với nhiệm
vụ xây dựng "Xã hội học tập" giai đoạn 2011 - 2015, tầm nhìn
1.2 Trung tâm học tập cộng đồng ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm Trung tâm Học tập cộng đồng
TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục có những đặc điểm rất riêng biệt so vớicác loại hình cơ sở giáo dục khác
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục được thành lập tại xã, phường, thị trấn để thựchiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên TTHTCĐ được lập ra nhằm cung cấp cơhội học tập cho mọi người trong xã, phường, thị trấn để phát triển nguồn nhân lực,cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng, xây dựng xã hội học tập, góp phần thựchiện sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Hoạt động của TTHTCĐnhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân ở mọi lứa tuổi được học tậpthường xuyên, học tập suốt đời, được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệmtrong sản xuất và cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng năng suất laođộng, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và
cả cộng đồng TTHTCĐ cũng là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chínhsách, pháp luật đến với mọi người dân một cách trực tiếp và cụ thể, phù hợp vớiđặc điểm riêng của mỗi cộng đồng dân cư tại cơ sở
Khái niệm “Trung tâm học tập cộng đồng” đã chính thức được ghi nhậnvới tư cách một cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Namsau khi Luật Giáo dục được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 14 tháng 6 năm
2005 Tại Điều 46, Mục 1 Luật Giáo dục khẳng định: “Cơ sở giáo dục thườngxuyên gồm: a) Trung tâm giáo dục thường xuyên được tổ chức ở cấp tỉnh vàcấp huyện; b) Trung tâm học tập cộng đồng được tổ chức ở cấp xã, phường, thịtrấn” [25]
Theo “Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thịtrấn” của Bộ GD&ĐT, “TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ
Trang 11thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có
sự quản lý hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đónggóp của người dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trungtâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm”[5]
Trang 129
Trang 131.2.2 Mục tiêu hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng
TTHTCĐ là nơi cung cấp và đáp ứng cơ hội học tập suốt đời, cơ hộihưởng thụ văn hoá cho mọi người (đặc biệt là những người ít có cơ hội học tập,trẻ em bỏ học, phụ nữ và những người lớn tuổi) nhằm cải thiện năng lực của cánhân và tăng cường sự phát triển của cộng đồng, góp phần thực hiện việc
“chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình
xã hội học tập” ở các địa phương trong cả nước “Cả loài người đang bước vàongưỡng cửa của thế kỷ XXI với tư tưởng xây dựng một xã hội học tập, coi việchọc là việc làm thường xuyên, suốt đời của mọi người, lấy việc học là động lựcquyết định hàng đầu để đưa xã hội tiến lên” [12] Đó là một xã hội mà mọingười được khuyến khích và hỗ trợ để học tập, mọi người vừa làm vừa học, họcthường xuyên, học liên tục để không ngừng nâng cao trình độ học vấn và taynghề nhằm đáp ứng những yêu cầu của thời đại mới: tin học hoá, toàn cầu hoá,
xã hội thông tin và tri thức
Với tư cách là hạt nhân xây dựng “xã hội học tập” tại cơ sở, TTHTCĐhướng tới các mục tiêu cụ thể là:
- Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người trong cộng đồng được học tậpthường xuyên, được hưởng dịch vụ giáo dục, thực hiện đa dạng các nội dunghọc tập
- Chuyển giao kiến thức khoa học kỹ thuật một cách trực tiếp, rộng rãi vànhanh nhất đến người lao động
- Trang bị kiến thức về cuộc sống cho mọi người dân trong cộng đồng, gópphần nâng cao mặt bằng dân trí, cải thiện cuộc sống, chăm sóc gia đình, tăng năngsuất lao động, giải quyết việc làm… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội
ở địa phương và làm lành mạnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng
- “Dấy lên phong trào diệt “giặc dốt” trong toàn Đảng, toàn dân Ai dốt
gì diệt nấy, người biết dạy người chưa biết, xoá mù chữ, mù công nghệ, mùnghề, mù tin học, mù ngoại ngữ để nhân dân ta tự nâng mình lên một trình độtrí tuệ ngang tầm thời đại, áp dụng được công nghệ vào sản xuất, xây dựngđược nếp sống văn hoá, văn minh”[16]
Trang 1410
Trang 15- Thực hiện chiến lược thông tin (tuyên truyền, giáo dục) của các ban,ngành, đoàn thể tại cộng đồng Cuộc cách mạng thông tin hiện nay đang tạođiều kiện thuận lợi để tiếp thu tinh hoa văn hoá của các nước nhưng đồng thờicũng làm cho các nền văn hoá dễ bị pha tạp, lai căng, mất bản sắc Khi hộinhập vào quá trình toàn cầu hoá, nếu biết phát huy những giá trị truyền thống
và bản sắc văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại thì sẽ
có sức đề kháng với các cuộc “xâm lược văn hoá" đang diễn ra hàng ngày, hànggiờ như tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW, Chỉ thị số 46-CT/TW của Ban Bí thưTrung ương khóa X về đẩy mạnh đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trênlĩnh vực tư tưởng, văn hóa và chống sự xâm nhập của các ấn phẩm văn hóa độchại Gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc phải được quán triệt trong mọi lĩnh vựcgiáo dục và trong lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội, khoa học, nghệthuật, ngoại giao, an ninh quốc phòng Các hoạt động này đều do các ban,ngành, đoàn thể cùng phối hợp tổ chức tại TTHTCĐ
1.2.3 Đặc điểm tổ chức của Trung tâm Học tập cộng đồng
Là một cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân nhưngTTHTCĐ có những đặc điểm về tổ chức không giống các loại hình cơ sở giáodục khác Trước hết, tuy được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt làcấp xã) nhưng TTHTCĐ có nhiều điểm không giống các cơ sở giáo dục cùngđược tổ chức ở cấp xã như trường Mầm non, trường Tiểu học (TH), trườngTrung học cơ sở (THCS) Mặt khác, tuy cũng là cơ sở giáo dục thường xuyênnhưng TTHTCĐ không có các thành phần cấu trúc tương tự ở Trung tâm Giáodục thường xuyên (TTGDTX) cấp tỉnh, thành và cấp quận, huyện Cụ thể là:
- TTHTCĐ không nhất thiết phải có khuôn viên, phòng học, sân chơiđộc lập và cố định (hầu hết các TTHTCĐ đều mượn cơ sở sẵn có của xã nhưHội trường, Nhà văn hóa xã hoặc Nhà sinh hoạt cộng đồng của các thôn )
- TTHTCĐ không có đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách và không cógiáo viên cơ hữu Họ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, không theo nhiệm kỳ
và không nhất thiết phải có chuyên môn sư phạm
Trang 1611
Trang 17- TTHTCĐ không tổ chức học sinh (học viên) theo biên chế lớp cố địnhtừng niên khóa (mọi người dân tự nguyện đăng ký và đến dự bất kỳ lớp họcnào, vào thời gian nào khi thấy cần thiết).
- TTHTCĐ không có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy, học tập
cố định; không có “thời khoá biểu” và hồ sơ sổ điểm học sinh
Những điểm khác biệt đó vừa do mục tiêu hoạt động của TTHTCĐ như
đã trình bày ở trên, vừa do tính chất cơ sở giáo dục và tính chất của hoạt độnghọc tập ở TTHTCĐ quy định:
Về tính chất của cơ sở giáo dục, TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thực sự “củadân, do dân và vì dân” TTHTCĐ chủ yếu do người dân trong cộng đồng tự lập ra
và tự quản lý TTHTCĐ là của từng cộng đồng dân cư (chủ yếu là mỗi xã có mộtTTHTCĐ) góp công sức, của cải tại chỗ để tạo nên Tác động của Nhà nước từcấp trung ương đến địa phương chỉ mang tính chất hỗ trợ ban đầu và tạo mặt bằngtối thiểu Mọi người dân đều tham gia xây dựng, ủng hộ và kiểm soát TTHTCĐhoạt động trước hết là để đáp ứng nhu cầu “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”,
“vừa học vừa làm” một cách thường xuyên, liên tục, học suốt đời của cán bộ vàcác tầng lớp nhân dân ở các cụm dân cư xã, phường, thị trấn Đó chính là nhữngnhu cầu cụ thể của từng cộng đồng (bao gồm các thành viên và những người đứngđầu cộng đồng) Những nhu cầu học tập do
nhân dân đề xuất, xây dựng lên được kịp thời đáp ứng sẽ mang lại hiệu quảthiết thực trong đời sống xã hội
Về tính chất hoạt động học tập, ở TTHTCĐ hoạt động học tập là thườngxuyên, suốt đời Đây là hoạt động giáo dục hết sức đa dạng về nội dung và hìnhthức tổ chức; trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự kết hợp hài hoà giữa giáodục và đời sống của người dân Tổ chức hoạt động giáo dục ở TTHTCĐ do đókhông quá lệ thuộc vào các điều kiện “cứng” về cơ sở vật chất, đội ngũ ngườidạy, người học, chương trình và tài liệu như giáo dục trong nhà trường chínhquy Tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ là phản ánh rõ nhất tinh thần “Giáo
Trang 1812
Trang 19dục cho mọi người” và “Mọi người cho giáo dục” đồng thời minh họa cho bứctranh phong phú về cơ sở giáo dục để cung cấp mọi cơ hội học tập cho người
dân trong “xã hội học tập”.
1.2.4 Nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học ở các TTHTCĐ
1.2.4.1 Nội dung dạy và học ở các TTHTCĐ
Với phương châm “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”, trên cơ sở thựctiễn của từng cộng đồng dân cư để lựa chọn nội dung học tập cho phù hợp Cácnội dung, chương trình học tập tại TTHTCĐ rất đa dạng Tuy nhiên, có thểkhái quát thành các nhóm nội dung chính sau:
- Học tập đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật, thời sự chính trị
- Học tập về khoa học kỹ thuật, sản xuất và đời sống, học nghề
- Học tập về văn hoá, ngoại ngữ, tin học
- Học tập về văn nghệ, thể dục - thể thao, vệ sinh - môi trường
Các nhóm nội dung học tập trên được thể hiện qua một số chương trình học tập và giảng dạy chủ yếu sau đây:
- Chương trình nâng cao trình độ văn hoá ứng với các trình độ phổ thôngnhư: chương trình xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dụcTHCS, tin học, ngoại ngữ thông dụng Những chương trình này được tiến hànhbằng cách dùng đội ngũ giáo viên ngay tại địa phương để vận động học viên ralớp và phối hợp với chính quyền, ban, ngành đoàn thể hỗ trợ, cùng cộng táctrách nhiệm tạo điều kiện để người dân đi học đầy đủ, nghiêm túc và hiệu quảcao Ở TTHTCĐ, các nội dung được thực hiện linh hoạt theo yêu cầu thực tế,
có thể dạy bất cứ lúc nào người dân cho là hợp lý
- Chương trình tạo thu nhập: Căn cứ vào đặc thù của địa phương và nhucầu học tập của nhân dân, các TTHTCĐ mở các chuyên đề phù hợp để thiếtthực giúp người lao động biết cách xóa đói, giảm nghèo, từng bước nâng caochất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc tư vấn,chuyển giao khoa học công nghệ, truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn (ví dụ: các
Trang 2013
Trang 21nội dung về chăn nuôi, trồng trọt, nghề thủ công ) Vì tính đa dạng về nộidung của chương trình, học viên có thể chọn cho mình những nội dung cầnthiết và phù hợp với quỹ thời gian, điều kiện học tập, nhu cầu học tập của mìnhnhằm đạt được mục đích cuối cùng là giúp bản thân và gia đình đồng thời gópphần cùng cộng đồng nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Chương trình học theo sở thích: cung cấp các cơ hội khác nhau cho cánhân tham gia học tập những nội dung về vấn đề xã hội, văn hoá, tinh thần, sứckhoẻ và nghệ thuật mà họ quan tâm, nhằm khuyến khích và tăng cường cáchoạt động học tập để làm tăng khả năng của mỗi người trong việc sử dụng thờigian, cải thiện cuộc sống và tự khẳng định mình Chương trình này thườngđược tổ chức cho những nhóm người có cùng một sở thích nhất định (ví dụ: câulạc bộ sinh vật cảnh, câu lạc bộ những người yêu thơ, yêu hội hoạ; hội ngườichơi tem; hội những người nghiên cứu làm thuốc đông y; thể dục dưỡngsinh…) Các chương trình học theo sở thích làm tăng thêm tiềm lực cho conngười, do vậy tăng tốc độ phát triển cho xã hội Chương trình học theo sở thíchcũng tăng cường sự liên kết giữa các chương trình khác của GDTX, góp phầnchuyển giao truyền thống văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác và khuyếnkhích các hoạt động văn hoá làm phong phú thêm cuộc sống Chương trình nàycòn giúp cho những người yêu thích từng lĩnh vực của cuộc sống có điều kiệngần nhau, cùng nghiên cứu, trao đổi về những lĩnh vực mà họ có cùng sở thích,làm cho tâm hồn sảng khoái, giúp đời sống vật chất và tinh thần của họ đượcnâng cao, từ đó củng cố sự gắn bó lành mạnh trong mỗi cộng đồng dân cư
- Chương trình định hướng tương lai: bao gồm các nội dung mang tínhchất đón đầu sự phát triển của thời đại Các chương trình này có ý nghĩa lớntrong việc cung cấp kiến thức, hình thành các kỹ năng và xây dựng thái độ chongười học thực hành một hình tượng tương lai Từ đó, người học có khả năngtham gia vào sự biến đổi cá nhân, biến đổi xã hội trong sự vận động từ hiện tạitới tương lai theo một phương thức có kế hoạch, có tổ chức hợp lý Ví dụ như
Trang 2214
Trang 23chương trình phổ cập về công nghệ thông tin (một vấn đề tuy đã quen thuộc vớinhiều vùng phát triển của nước ta, nhưng đối với phần lớn các vùng nông thôn,miền núi thì đây là nội dung khá mới mẻ với đa số người dân và chỉ có thể thựchiện khi có điều kiện về trang thiết bị và cơ sở hạ tầng trong tương lai) Việchọc tập để nắm bắt và sẵn sàng sử dụng, khai thác công nghệ thông tin phục vụcho công việc sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống được xem là một nhucầu cấp bách đối với mỗi người dân và với cả cộng đồng.
1.2.4.2 Phương pháp và hình thức dạy và học ở TTHTCĐ
Phương pháp học tập và giảng dạy ở TTHTCĐ căn bản dựa trên cácnguyên tắc học tập dành cho người lớn vì người học ở TTHTCĐ chủ yếu là đốitượng người lớn
- Trong giảng dạy, người dạy (giáo viên/hướng dẫn viên) phải phát huytối đa những kinh nghiệm của người học và tổ chức được sự tham gia tích cựccủa người học trong quá trình học tập Sự thành công của buổi học luôn dựatrên mức độ đảm bảo sự tương tác tích cực giữa người dạy và việc đảm bảo môitrường học tập năng động
- Việc giảng dạy ở TTHTCĐ luôn phải chú ý sử dụng nhiều phươngpháp khác nhau tùy theo đối tượng và mục tiêu học tập Liên kết và phối hợp làphương thức hoạt động chủ yếu của TTHTCĐ Đối tượng đến học tập tạiTTHTCĐ là mọi người dân ở mọi tổ chức, thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi trình
độ văn hoá từ mù chữ đến sau đại học Họ tham gia các hình thức học tập tùytheo nhu cầu cá nhân, cần gì học nấy Những nhu cầu này có thể từ xóa mùchữ, bổ túc văn hoá cơ bản, nghề thông dụng đến kỹ thuật tiên tiến như máy vitính hoặc các lĩnh vực công nghệ khác
Các hình thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ rất đa dạng, linh hoạt,mềm dẻo để tạo điều kiện tốt nhất cho người học Có thể có những hình thứchọc tập và giảng dạy chủ yếu như sau:
- Hình thức học tập không theo cấp lớp, trình độ văn hoá, lứa tuổi, giớitính gồm có: Các buổi học theo chuyên đề; các lớp tập huấn chuyển giao ứng
Trang 2415
Trang 25dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội;hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề khác nhau; hội thảo tại chỗ (“hộithảo đầu bờ”); câu lạc bộ sở thích; các hoạt động tham quan thực tế; hội thi,giao lưu văn hoá; triển lãm; các buổi nói chuyện, tổ chức nghe đài, xem tivi,xem phim, video; các buổi giới thiệu sách báo tại thư viện, tại hội trường trungtâm hoặc các thôn bản, tổ dân phố…
- Hình thức học tập theo cấp, lớp gồm có: Các lớp xoá mù chữ, bổ túcvăn hoá, học nghề, ngoại ngữ, tin học… Các lớp học này nhằm mục đích học
để lấy văn bằng, chứng chỉ chính thức nên thường có quy chế chặt chẽ
- Hình thức học tập dưới dạng các buổi tư vấn về giáo dục, giáo dục từ
xa, khuyến học, khuyến nông - lâm - ngư nghiệp thường được tổ chức vớinhững cá nhân, gia đình hay nhóm dân cư có nhu cầu trong cộng đồng
1.2.5 Người học và người dạy trong Trung tâm Học tập cộng đồng
1.2.5.1 Đặc điểm của người học trong các TTHTCĐ
Người học của TTHTCĐ là những người có nhu cầu học tập và có nghĩa
vụ học tập, đủ điều kiện tham gia vào một hoặc nhiều chương trình giáo dụccủa trung tâm Người học trong TTHTCĐ có các đặc điểm sau:
- Đa dạng về lứa tuổi, trình độ và nhu cầu học tập
- Về tâm sinh lý, họ phần lớn là những người lớn tuổi, đã trưởng thành
về thể chất cũng như về tâm lý Do đó, một số người học dễ có tâm lý ngại học
lý thuyết, ngại khó hoặc có thể mặc cảm trong học tập
- Về nhận thức, phần lớn người học là những người chịu nhiều thiệt thòitrong quá trình học tập, do nhiều nguyên nhân khác nhau như khó khăn về kinh
tế, khó khăn về địa lý, về dân tộc, về giới tính, đặc biệt trẻ em gái và phụ nữ.Vốn kiến thức của người học không có hệ thống nên việc nhận thức thường gặpkhó khăn, việc tiếp thu kiến thức cơ bản thường bị hạn chế
- Phần lớn họ là những người có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống vàtrong lao động sản xuất nên dễ nảy sinh tư tưởng bảo thủ, khó khăn khi tiếp cậnnhững kiến thức mới
Trang 2616
Trang 27- Động cơ học tập của họ là: nâng cao hiểu biết, bồi dưỡng các kiếnthức, kỹ năng nghề nghiệp để nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, vươnlên làm giàu chính đáng, nâng cao chất lượng cuộc sống của chính bản thânmình và góp phần nâng cao cuộc sống của toàn xã hội.
- Họ không có điều kiện thuận lợi về mặt thời gian và tài chính Đại bộphận người học có ít thời gian dành cho việc học tập, họ phải tự học, vừa họcvừa làm là chủ yếu
- Điều kiện học tập của họ như: phòng học, bàn ghế, tài liệu, trang thiết
bị nghe nhìn, thư viện và các thiết bị học tập đều rất hạn chế
1.2.5.2 Đặc điểm của người dạy ở các TTHTCĐ
Người dạy ở các TTHTCĐ là những người làm nhiệm vụ giáo dục, giảngdạy trong TTHTCĐ, bao gồm giáo viên dạy các môn văn hóa hoặc dạy nghề vàcác hướng dẫn viên truyền đạt các chuyên đề, chuyển giao khoa học côngnghệ Do đặc điểm học tập ở TTHTCĐ là “cần gì học nấy” và nhu cầu, trình
độ của người dân rất đa dạng, do đó người dạy ở các TTHTCĐ cũng có tínhchất đa ngành, đa lĩnh vực, đa trình độ và có tính cơ động cao để thích ứng vớinhững nhu cầu, đặc điểm và điều kiện học tập khác nhau của người học
TTHTCĐ “là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý,
hỗ trợ của Nhà nước” [5], do đó TTHTCĐ không có biên chế giáo viên/hướng dẫnviên cố định mà phải mời giảng và tự cân đối kinh phí để trả thù lao cho ngườitham gia giảng dạy Hình thức hoạt động của người giáo viên
ở TTHTCĐ cũng khá đặc biệt, vừa dạy vừa làm, thầy dạy ở lớp học, lĩnh vựcnày song rất có thể là học viên của lớp học,lĩnh vực khác
Quan hệ giữa người dạy và người học ở TTHTCĐ cũng là mối quan hệ đặcbiệt mà người cán bộ quản lý TTHTCĐ phải quan tâm và am hiểu Trong hầu hếtcác trường hợp, quan hệ giữa giáo viên và học viên trong TTHTCĐ là quan hệthân mật, bình đẳng, tôn trọng và giúp đỡ nhau trên tinh thần “người biết dạyngười chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít” Mấu chốt hoạt động lên lớpcủa người dạy là hướng dẫn để người học nhận thức, vận dụng, so
Trang 2817
Trang 29sánh với kinh nghiệm của bản thân mình, từ đó tự chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kỹ năng và nâng cao nhận thức.
1.2.6 Nguồn lực của Trung tâm Học tập cộng đồng
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên “của dân, do dân và vì dân” Vìvậy, bên cạnh sự hỗ trợ một phần của Nhà nước, các nguồn lực của TTHTCĐcũng được tạo dựng và khai thác chủ yếu theo phương thức “xã hội hóa”, khôngtrông chờ vào cấp trên mà phải tận dụng các nguồn lực ngay tại cộng đồng
Nguồn lực của TTHTCĐ bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực
Nhân lực (con người):
- Cán bộ quản lý: Mỗi trung tâm HTCĐ có một Ban giám đốc do UBND
huyện ra quyết định công nhận, gồm: một cán bộ quản lý cấp xã kiêm giámđốc, một cán bộ của Hội Khuyến học và một cán bộ lãnh đạo của trường THhoặc THCS trên địa bàn kiêm phó giám đốc
- Giáo viên, hướng dẫn viên: Gồm những người có trình độ về chuyên
môn, kỹ thuật của các ban ngành, đoàn thể ở thành phố, huyện, xã, thị trấn; độingũ cán bộ, kỹ sư, bộ đội, giáo viên đã nghỉ hưu, các cụ cao tuổi, cựu chiếnbinh, lão thành cách mạng, nghệ nhân, người lao động giỏi ở các cơ sở sảnxuất, giáo viên các trung tâm GDTX, các trường TH, THCS, THPT, các trườngĐại học, Cao đẳng…
Vật lực (cơ sở vật chất):
Bên cạnh nguồn lực con người là đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, cơ
sở vật chất của TTHTCĐ có những đặc điểm riêng, cần được quan tâm khaithác, sử dụng phù hợp Các TTHTCĐ có thể tận dụng ngay mặt bằng sẵn có ởđịa phương như phòng họp, hội trường của UBND xã, phường, thị trấn, trụ sởthôn, đình làng, nhà văn hoá, nhà bưu điện … ; trang thiết bị như bàn ghế, loa,đài của chính quyền, đoàn thể ở địa phương; mượn, tận dụng cơ sở vật chất củacác trường học trong những ngày nghỉ…
Đặc điểm khai thác vật lực này là một “thế mạnh độc quyền” chỉTTHTCĐ mới huy động được một cách triệt để nhất, hiệu quả nhất, do
Trang 3018
Trang 31TTHTCĐ thực sự là “của dân, do dân, vì dân” và cũng do đặc điểm đối tượngngười học, đặc điểm dạy - học rất linh hoạt của TTHTCĐ Tại một số địaphương có điều kiện kinh tế phát triển hoặc có sự hỗ trợ của Trung ương,TTHTCĐ đã được đầu tư xây mới cơ sở học tập (tương lai, có thể cácTTHTCĐ cũng sẽ tiến tới xây dựng cơ sở độc lập) song TTHTCĐ vẫn cần huyđộng các nguồn vật lực tại chỗ để phục vụ ngày càng tốt hơn các cộng đồngdân cư phân tán, các nhóm học viên đặc thù.
Tài lực (tài chính):
Đây là một nguồn lực rất quan trọng để thành lập và duy trì hoạt độngcủa TTHTCĐ Nguồn tài chính phục vụ cho việc tu bổ cơ sở vật chất, mua sắmtrang thiết bị, tài liệu học tập, bồi dưỡng giảng viên, báo cáo viên, tổ chức cáchoạt động của trung tâm Bên cạnh nguồn kinh phí hỗ trợ ban đầu cho tất cảTTHTCĐ và bổ sung cơ sở vật chất cho những TTHTCĐ khu vực khó khănđược cấp từ ngân sách Nhà nước, nguồn tài chính để xây dựng học liệu, bồidưỡng giảng viên, báo cáo viên và tổ chức các hoạt động của trung tâm đượchuy động chủ yếu từ các nguồn:
- Ngân sách xã, phường, thị trấn hàng năm được Hội đồng nhân dân xã,phường, thị trấn thông qua dành một phần để chi cho trung tâm HTCĐ
- Kinh phí các chương trình hoặc dự án cho địa phương
- Kinh phí tập huấn của các ban, ngành, đoàn thể
- Kinh phí huy động qua quỹ khuyến học, sự đóng góp, tài trợ, giúp đỡcủa các cá nhân, các cơ sở sản xuất dịch vụ, kinh doanh, các đoàn thể xã hội,Việt kiều, sự tài trợ của các tổ chức quốc tế…)
- Kinh phí thu từ các hoạt động của trung tâm (sản xuất, dịch vụ, đónggóp của học viên các lớp ngoại ngữ, tin học, học nghề )
Tin lực (thông tin):
Các thông tin có thể được tìm kiếm, khai thác ở Internet để phục vụ cho cộng đồng Ngoài ra, có thể khai thác những gương điển hình tiên tiến, những
Trang 3219
Trang 33bài học về nâng cao chất lượng cuộc sống, các tin tức về chính trị, xã hội từcác phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh, đài truyền hình, báochí để phục vụ cho cộng đồng Sức mạnh của thông tin đang được nhân lên gấpbội qua hoạt động của hệ thống TTHTCĐ, với chủ trương tăng cường các trangWeb dành riêng cho các TTHTCĐ và trang bị đồng bộ cho mỗi TTHTCĐ trong
cả nước một dàn máy vi tính được nối mạng Internet miễn phí.
1.3 Quản lý TTHTCĐ và cán bộ quản lý TTHTCĐ
1.3.1 Quản lý Trung tâm Học tập cộng đồng
1.3.1.1 Quản lý giáo dục
Trước khi tìm hiểu về quản lý TTHTCĐ, chúng ta cùng xem xét một số
lý luận về quản lý giáo dục Xét về lịch sử phát triển của xã hội thì khoa họcquản lý giáo dục ra đời sau khoa học quản lý kinh tế Do đó, đã có thời kỳngười ta vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục (trườnghọc) và coi quản lý cơ sở giáo dục như quản lý một loại “xí nghiệp đặc biệt”.Thực ra, quản lý giáo dục không thể đồng nhất với quản lý kinh tế Trong cuốnsách nổi tiếng “Con người trong quản lý xã hội”, viện sĩ Liên Xô (cũ) V.G.Aphanaxep đã chia đời sống xã hội ra ba lĩnh vực: đời sống kinh tế, đời sống xãhội - chính trị và đời sống tinh thần; từ đó có ba “hình thức quản lý xã hội cơbản” là “quản lý sản xuất, quản lý kinh tế”, “quản lý xã hội - chính trị” và
“quản lý đời sống tinh thần” [31] Giáo dục nằm trong lĩnh vực đời sống tinhthần Như vậy, nếu xét về sự phân loại khoa học thì khoa học quản lý giáo dụcđược coi là một bộ phận nằm trong quản lý văn hoá tinh thần
Có thể xem xét khái niệm “quản lý giáo dục” ở các phạm vi khác nhauvới những cách quan niệm về quản lý giáo dục như sau:
- Xét về quản lý giáo dục nói chung, hoạt động quản lý giáo dục đượcxem là “Tập hợp những biện pháp (tổ chức, phương pháp, cán bộ, giáo dục, kếhoạch hoá, tài chính…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơquan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệthống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [23]
Trang 3420
Trang 35- Xét về quản lý giáo dục theo góc nhìn gắn nhiều hơn tới quản lý cơ sởgiáo dục, có thể thấy “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý hệ giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dụcvận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được cáctính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiếnlên trạng thái mới về chất” [23].
Từ các định nghĩa trên ta thấy quản lý giáo dục là những tác động cóphương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm hình thành và phát triển nhân cách con người Do đó, muốn quản lý giáodục một cách khoa học và hiệu quả thì chủ thể quản lý phải nắm được các quyluật khách quan đang chi phối sự vận hành của đối tượng quản lý
1.3.1.2 Quản lý trường học
Sau khi xem xét một số lý luận về quản lý giáo dục, chúng ta cùng xemxét về khái niệm quản lý trường học
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý trường học:
- "Quản lý trường học là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trongphạm vi trách nhiệm của mình, đưa nhà trường thực hiện theo nguyên lý giáodục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, vớithế hệ trẻ, với từng học sinh" Đi sâu vào quản lý trường học, còn có thể thấy cụthể hơn: “Quản lý trường học là tổ chức được các hoạt động dạy học… Có tổchức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trườngphổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa… mới quản lý được giáo dục, tức là cụthể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đápứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước [12]
Nhưng mặt khác, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người.Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sựliên kết chặt chẽ không những bởi cơ chế hoạt động có tính quy luật khách
Trang 3621
Trang 37quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạtđộng quản lý chính bản thân của giáo viên và học sinh Trong nhà trường giáoviên và học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể quản lý.
Lý luận quản lý giáo dục đã được quan tâm và có nhiều nghiên cứu vềquản lý cơ sở giáo dục, chủ yếu dưới góc độ “quản lý trường học” Theo đó,việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy của thầy, hoạt động học củatrò và các hoạt động khác trong nhà trường, tức là làm sao đưa hoạt động đó từtrạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục nhà trường đề
ra Công tác quản lý trường học bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữatrường học với xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường Quản lý giáo dục ởnhà trường như một hệ thống bao gồm các thành tố:
- Thành tố tinh thần gồm: mục đích, nội dung và biện pháp giáo dục
- Thành tố con người gồm: người dạy và người học
- Thành tố vật chất gồm: cơ sở vật chất và các phương tiện, trang thiết bịphục vụ cho giảng dạy và học tập
Vấn đề đặt ra là quản lý trường học phải làm sao cho các thành tố nêutrên vận hành, liên kết chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn TheoGiáo sư Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảngtrong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theonguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối vớingành giáo dục
Do vậy, quản lý trường học không chỉ là trách nhiệm riêng của ngườiHiệu trưởng, mà là trách nhiệm, nghĩa vụ chung của tất cả các thành viên trongnhà trường Đối tượng bị quản lý trong một nhà trường thì nhiều, trong đó cógiáo viên và học sinh Nhưng trong một tổ chức mang tính xã hội như nhàtrường thì giáo viên và học sinh vừa là đối tượng bị quản lý, nhưng cũng vừa làchủ thể quản lý
Để quản lý trường học (quản lý cơ sở giáo dục) có hiệu quả, chủ thể quản lý(hiệu trưởng nhà trường/giám đốc trung tâm) cần thực hiện tốt các chức
Trang 3822
Trang 39năng quản lý: chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo,chức năng kiểm tra Điều quan trọng hơn nữa là hiệu trưởng nhà trường/giámđốc trung tâm phải biết vận dụng các chức năng quản lý nói chung vào quản lýmột cơ sở giáo dục cụ thể sao cho phù hợp với những quy luật, những nội dunggiáo dục và những đặc thù của cơ sở giáo dục đó.
1.3.1.3 Quản lý Trung tâm Học tập cộng đồng
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốcdân, do đó quản lý TTHTCĐ trước hết cũng là một dạng “quản lý cơ sở giáodục”
TTHTCĐ là loại hình cơ sở giáo dục có nhiều nét đặc thù so với các loạihình trường học và trung tâm giáo dục khác Nó là trung tâm học tập tự chủ củacộng đồng cấp xã, có sự quản lý hỗ trợ của Nhà nước, đồng thời phát huy mạnh
mẽ sự tham gia, đóng góp của người dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng
và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm Do đó,quản lý ở các TTHTCĐ có nhiều điểm khác và có phần phức tạp hơn so với
việc quản lý ở các cơ sở giáo dục đã ổn định trước đây (Xem sơ đồ quản lý TTHTCĐ ở địa phương tại Sơ đồ 1.3).
Sơ đồ 1.3: Hệ thống quản lý TTHTCĐ tại địa phương ở Việt Nam
Trung tâm HTCĐ
Trang 4023