Đã có một số tác giả tìm hiểu về tín ngưỡng hầu đồng ở Việt Nam, nhưng chưa có tác giả nào khai thác về khía cạnh này, những đề tài trước tìm hiểu về hầu đồng ở Việt Nam nhưng chưa thực sự sâu sắc. Hơn nữa là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, là người cán bộ Quản lý Văn hóa trong tương lai tôi nhận thức rõ được điều này. Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “ Hiện tượng hầu đồng của cán bộ công chức ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1MUC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1.Lý do chọn đề tài : 3
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: 4
3.Mục tiêu nghiên cứu : 4
4 Phương pháp nghiên cứu: 4
5 Đóng góp của đề tài: 5
6 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ, KINH TẾ, VĂN HÓA CỦA HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH 6
1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân cư và kinh tế của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 6
1.1.1.Lịch sử ra đời huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 6
1.1.2.Đặc điểm địa lý, dân cư 7
1.1.3.Đặc điểm về kinh tế huyện Hải Hậu 8
1.2 Đặc điểm về văn hóa và phong tục tập quán của huyện Hải Hậu 10
1.2.1.Các sinh hoạt văn hóa 10
1.2.2 Phong tục tập quán của huyện Hải Hậu 11
Chương 2:THỰC TRẠNG HẦU ĐỒNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ CÔNG CHỨC Ở HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH 14
2.1.Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ hầu đồng 14
2.1.1.Hệ thống thần linh trong Tam Phủ - Tứ Phủ 15
2.1.2 Thần tích các vị thánh trong các giá đồng 18
2.1.3 Tín ngưỡng hầu đồng 18
2.2 Thực trạng hầu đồng trong cán bộ công chức 25
2.2.1.Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hầu đồng trong cán bộ công chức 25
2.2.2 Không gian và thời gian diễn ra hầu đồng 27
2.2.3 Lễ vật được dâng cúng trong các giá hầu của cán bộ công chức 27
Trang 22.2.4 Đối tượng đến xem hầu đồng công chức ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam
Định 8
2.3 Một số đánh giá về hiện tượng Hầu Đồng trong một bộ phận cán bộ 29
2.3.1 Mặt tích cực: 29
2.3.2 Mặt tiêu cực 30
2.4 Sự khác biệt giữa hầu đồng trong cán bộ công chức với các đối tượng khác trong xã hội 33
Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM HẠN CHẾ BIỂU HIỆN TIÊU CỰC CỦA HẦU ĐỒNG TRONG CÁN BỘ CÔNG CHỨC HIỆN NAY 36
3.1 Những quan điểm chung của Đảng về việc tự do tín ngưỡng tôn giáo 36
3.2 Một số giải pháp nhằm bảo tồn những giá trị tích cực và hạn chế những tiêu cực trong sinh hoạt tín ngưỡng hầu đồng của cán bộ công chức hiện nay 39
3.2.1.Tuyên truyền về nội dung và giá trị của nghi lễ hầu đồng cho quần chúng nhân dân đặc biệt là trong bộ phận cán bộ Đảng viên, công chức 39
3.2.2.Hạn chế những mặt tiêu cực của sinh hoạt hầu đồng trong bộ phân cán bộ công chức 40
3.2.3 Đổi mới trong cách quản lý các hoạt động trong Đền, Phủ tại địa bàn huyện Hải Hậu 42
3.3 Những đề xuất trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của tín ngưỡng hầu đồng tại huyện Hải Hậu hiện nay 45
3.3.1 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm trong sinh hoạt tín ngưỡng hầu đồng 45
3.3.2 Cần phải có những quy định rõ ràng đối với những thanh đồng tại các cửa Đền, Điện, Phủ 46
KẾT LUẬN 48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 51
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài :
Hải Hậu – mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, là mảnh đất địa linh
nhân kiệt, nơi vẫn còn gìn giữ được những văn hóa tâm linh trong đó có sinh
hoạt Hầu đồng – nét đặc trưng của Nam Định Không biết từ bao giờ mà tín
ngưỡng Hầu đồng đã đi sâu vào trong đời sống của người dân nơi đây, nó như
là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong sinh hoạt của người dân
Hải Hậu
Người xưa có câu : “ Phú quý sinh lễ nghĩa”, câu nói này quả không
sai, trong khi xã hội phát triển thì đời sống con người cũng được nâng lên, đòi
hỏi nhiều hơn, khi đó con người có nhiều nhu cầu hơn, đặc biệt là nhu tâm về
tâm linh Đối tượng hướng đến nhiều nhất trong xã hội đó chính là những gia
đình công chức, quan chức nhà nước thì nhu cầu này đóng vai trò rất quan
trọng trong đời sống của họ Hiện tượng được chú ý nhiều nhất hiện nay đó
chính là hiện tượng một bộ phận cán bộ công chức, Đảng viên, quan chức nhà
nước hầu đồng , đây không phải là một hiện tượng xấu nếu thanh đồng không
lạm dụng việc lên đồng với mục đích xấu, làm mất đi thuần phong mỹ tục của
dân tộc
Tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và Hầu đồng nói riêng đã phản ánh rõ
nét đặc trưng của văn hóa dân gian, thấm đượm đạo lý “ Uống nước nhớ
nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
Bên cạnh việc duy trì giá trị văn hóa của nghi lễ Hầu đồng thì nghi lễ
này đang bị biến dạng theo hướng “ Thương mai hóa” do sự tác động của nền
kinh tế thị trường Các chính sách của Đảng và nhà nước đối với hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo, nhất là việc khôi phục các sinh hoạt văn hóa tâm linh cũng
là cơ hội cho những cá nhân, tổ chức lợi dụng trở thành hoạt động tuyên
truyền mê tín dị đoan gây lãng phí tốn kém tiền của, cản trở sự phát triển của
nền văn hóa Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc mà Đảng và Nhà nước
ta đang tiến hành
Trang 4Vì vây, nhận thức đúng đắn về nghi lễ Hầu đồng là vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đóng góp phần làm lành mạnh hóa các hoạt động tín ngưỡng, hướng vào các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, bản sắc của địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc vận động: Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa do Đảng và Nhà nước ta phát động
Đã có một số tác giả tìm hiểu về tín ngưỡng hầu đồng ở Việt Nam, nhưng chưa có tác giả nào khai thác về khía cạnh này, những đề tài trước tìm hiểu về hầu đồng ở Việt Nam nhưng chưa thực sự sâu sắc Hơn nữa là sinh viên chuyên ngành Quản lý Văn hóa, là người cán bộ Quản lý Văn hóa trong
tương lai tôi nhận thức rõ được điều này
Từ những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “ Hiện tượng hầu đồng của cán bộ công chức ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định hiện nay” làm đề
tài nghiên cứu
2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng hầu đồng của một bộ phận cán bộ công chức tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
+ Về thời gian: từ năm 2012 đến đầu năm 2014
3.Mục tiêu nghiên cứu :
- Lý giải hiện tượng hầu đồng trong bộ phận cán bộ công chức tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
- Hiểu rõ hơn về thực trạng hầu đồng trong cán bộ công chức hiện nay
- Đánh giá mặt tích cực, tiêu cực của hiện tượng Hầu đồng trong cán bộ công chức tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, từ đó đưa ra những giải pháp
để giữ gìn nét đẹp của tín ngưỡng Hầu đồng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Kế thừa những nghiên cứu của người
đi trước; các nguồn tư liệu để tham khảo là tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành: tạp chí văn hóa, văn kiện của các cơ quan nhà nước, các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tìm hiểu về tín ngưỡng Hầu đồng của người Việt và giá trị mà nó đem lại
- Phương pháp giải mã biểu tượng
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn những người làm công tác quản lý các Đền Phủ, Điện, các ông đồng, bà đồng
- Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp: từ những nguồn tư liệu đã tìm hiểu được bằng các phương pháp luận, cần phân tích và tổng hợp lại để có một bài nghiên cứu hoàn thiện nhất
- Phương pháp tham dự quan sát
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết Luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài có cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về kinh tế, văn hóa của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Chương 2: Thực trạng Hầu đồng trong cán bộ công chức tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định hiện nay
Chương 3: Giải pháp và đề xuất nhằm hạn chế biểu hiện tiêu cực của hầu đồng trong cán bộ công chức tại huyện Hải Hậu hiện nay
Trang 6Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA LÝ, KINH TẾ, VĂN HÓA CỦA HUYỆN HẢI
HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên, dân cư và kinh tế của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
1.1.1.Lịch sử ra đời huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định
Huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định ở phía Đông - Nam đồng bằng Bắc Bộ, duyên hải châu thổ sông Hồng Vào thời Ngô – Đinh – Tiền Lê, Lý – Trần, nơi đây còn là biển cả Năm 1470 Lê Thánh Tông đặt niên hiệu là Hồng Đức, ông đã chiếu chỉ thúc đẩy việc phát triển nông nghiệp Triều đình cử các quan xuống xem xét ruộng nương trong hạt của mình Các phủ, huyện ở Sơn Nam
phải đắp đê, đào sông
Tháng Giêng (Âm lịch) năm 1473 vua thân đi cày tịch điền và đốc thúc các quan đi theo cùng cày Sắc chỉ cho các qun trong nước chăm lo việc sản xuất nông nghiệp Tháng 6 (Âm lịch) 1486 (Bính Ngọ, Hồng Đức thứ 17)
triều đình ra lệnh cho các phủ, huyện, xã: “ Nơi nào có ruộng đất bỏ hoang ở
bờ biển mà người ít ruộng tình nguyện bồi đắp để khai khẩn nộp thuế thì phủ, huyện xét thực cấp cho làm” [9; tr 78]
Chính thức từ đây, cụ Trần Vu cùng các cụ Vũ Chi, Hoàng Gia, Phạm Cập (Tứ Tổ) đẩy mạnh công cuộc khai khẩn bãi bồi Lạch Lác, dần dần đất đai được san lấp và mở rộng, dân cư kéo đến ngày một đông Tứ tổ cùng nhân dân mở trường dạy học, đắp đê ngăn lũ, ngăn nước mặn, đất cao thì san xuống bãi đất trũng, thau chua rửa mặn cho đồng ruộng
Nối tiếp Tứ tính là Cửu tộc : Lại, Nguyễn, Lê, Bùi, Phan, Đoàn, Đỗ, Trần, Vũ phái khác lần lượt cùng về mở đất
Vùng đất mới ven biển huyện Chân Ninh và Giao Thủy khẩn khoang ngày càng vươn xa ra biển Nhận thấy đây là một vùng đất rộng, địa bàn trọng yếu, cửa ngõ của đồn g bằng Bắc Bộ, ngày 27/12/1888, kinh lược Bắc Kỳ
Trang 7quyết định thành lập huyện Hải Hậu (Nam Định) Địa bàn huyện Hải Hậu bao gồm: Tổng Quần Phương (1887 Đinh Hợi, Đồng Khánh thứ hai vì kiêng miếu hiệu Tự Đức là Dực Anh sau đổi thành tổng Quần Phương); Tổng Ninh Nhất (của huyện Chân Ninh); 7 xã Kiên Trung, Hà Lạn, Hà Quang, Trà Trung, Trà
Hạ, Lạc Nam (của huyện Giao Thủy) lập thành tổng Kiên Trung và lập tổng Tân Khai bao gồm vùng đất Đỗ Phát dinh điền thành 4 lý: Văn Lý, Tang Điền, Hòa Định, Kiên Chính và bao gồm tất cả các thành phần thuộc các tổng này chạy dài ra biển
Huyện Hải Hậu trực thuộc phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định Quyết định này đã được Tổng Trú Sứ Trung – Bắc Kỳ chuẩn y bằng Nghị định ngày 17/12/1888
Huyện lỵ xây dựng theo kiến trúc có thành lũy bọc hình vuông, mỗi chiều dài 30 trượng Bên trong có 3 đồn trú độc lập Công trình khởi công từ cuối năm 1888 đến đầu hạ 1889 xây dựng xong Đỗ Tông Phát làm tri huyện đầu tiên
Huyện Hải Hậu ra đời là tất yếu lịch sử, phản ánh thành quả của công cuộc khẩn hoang lấn biển vô cùng gian khổ, đánh dấu sự trưởng thành lớn mạnh tỏng suốt quá trình hơn 400 năm mở đất Tuy nhiên với thời điểm thực dân Pháp bắt đầu áp đặt chế độ “ bảo hộ” nước ta, phong kiến câu kết với thực dân Pháp làm tay sai cho chúng, lại càng ra sức áp bức, bóc lột nhân dân, nhưng với truyền thống đấu tranh mở đất và giữ đất kiên cường, nhân dân Hải Hậu tiếp tục lấn biển mở rộng bờ cõi, xây dựng Hải Hậu trở thành huyện lớn của tỉnh Nam Định
1.1.2.Đặc điểm địa lý, dân cư
* Vị trí địa lý:
Hải Hậu là huyện ven biển tỉnh Nam Định Tọa độ địa lý khoảng từ 20,00 đến 25,15 vĩ độ Bắc, và 106,21 kinh độ Đông Phía Đông giáp huyện Giao Thủy Từ Tây Bắc xuống Tây Nam huyện là sông Ninh Cơ, tiếp giáp với
Trang 8huyện Trực Ninh và Nghĩa Hưng Điểm cực Bắc là Trại Đập xã Hải Nam, phía Nam là biển Đông – điểm cực Nam là mũi Gót Chàng
Hải Hậu nối với tỉnh lỵ Nam Định bằng quốc lộ 21đi qua 3 thị trấn là Yên Định, Cồn và Thịnh Long Hải Hậu có đường 56 (đê Hồng Đức) đi về phía Đông sang Giao Thủy, phía Tây sang Ngĩa Hưng
Diện tích huyện Hải Hậu là 226km2, huyện có 5 xã ven biển, đường
bờ biển dài 32km và 30km đê sông
* Dân cư:
Dân số của huyện năm 2008 là 294.216 người, được phân bổ ở 3 thị trấn và
32 xã Mật độ trung bình 1.301 người/km2 Trong đó đồng bào theo đạo công giáo chiếm trên 40%
1.1.3.Đặc điểm về kinh tế huyện Hải Hậu
* Nền kinh tế nông nghiệp
Hải Hậu được biết đến là mảnh đất màu mỡ,thuần nông Với hệ thống sông ngòi chằng chịt thuận lợi cho nông nghiệp trồng lúa nước, trồng cây ăn quả và một số loại cây khác Cả hải Hậu 4 mùa xanh tươi, cây xen cây, vụ nối
vụ Mùa nào cũng có thu nhập, tháng nào cũng có việc làm
Thu nhập chủ yếu của người dân Hải Hậu là từ nghề nông, thiên nhiên ban tặng cho Hải Hậu một vùng đất làm nên thương hiệu của gạo tám Hải Hậu Nay đã có thương hiệu xuất khẩu ra trong nước và ngoài nước
Có trên 80% là đất trồng lúa Người dân Hải Hậu cần cù chịu khó, năm ngoài hai vụ mùa và vụ chiêm người nông dân còn tích cực trồng màu, cây ăn quả, cây công nghiệp và cây thuốc
Ngoài ra người dân nơi đây còn chăn nuôi gia súc gai cầm để lấy sức kéo cày, sinh sản và ăn thịt như trâu, bò,ngoài ra còn có gà và vịt Tỷ trọng chăn nuôi so với ngành trồng trọt năm 1965 = 35,7%; năm 1985 = 27,8%, năm 2005 = 56,8% Năm 2008 đã có 750 con lợn lái ngoại thuần chủng giống Đại Bạch, xuất chuồng 18.000 con lợn giống, lương công nhân đạt 1,5 đến 2
Trang 9triệu đồng/ tháng Doanh thu đạt 3 tỷ đồng, hoàn thành nộp ngân sách nhà nước
Là một huyện ven biển nên ngư dân Hải Hậu tận dụng tốt lợi thế này để đánh
cá, thủy hải sản;chế biến và nuôi thủy hải sản và làm muối Diện tích muối năm 1960 đạt : 557 ha; năm 1985 đạt : 612 ha Năm 200 đạt xuất khẩu 116 tấn tôm bằng 11% sản lượng tôm xuất khẩu của cả tỉnh Nam Định
*Nền kinh tế công nghiệp
Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, người dân Hải Hậu phát huy nền kinh tế công nghiệp trong đó đáng chú ý là thủ công nghiệp truyền thống
Nghề dệt: Tơ lụa Quần Anh đã đi vào câu ca dao:
“ Khách về khách vẫn hỏi thăm Nước chè cầu Ngói, tơ tằm chợ Lương”
Đất Quần Anh xưa trồng hàng trăm ha bông Dưới đôi tay khéo léo của người phụ nữ Quần Anh những bông hoa được kéo thành những sợi vải mềm mại và được dệt thành những tấm vải đẹp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong vùng và khách hàng phương xa
Nghề rèn: nghề rèn được đưa vào từ rất sớm ngay từ thời mở đất Đặc
biệt người thợ rèn Quần Anh đã sáng tạo ra cái móng – một công cụ đào đất đặc thù của người Hải Hậu trong nông nghiệp
Nghề mộc : nghề mộc cũng phất triển ngay từ thời mở đất Những
người thợ sáng tác ra những công trình có giá trị kiến trúc như các ngôi chùa, đình, đền, Cầu Ngói Những chiếc tủ kinh, tủ chè, sập gụ, sa lông tàu, tràng kỷ… được các nghệ nhân trạm khảm rất tinh tế và ngày nay đã làm nên thương hiệu đồ gỗ mỹ nghệ Hải Minh – Hải Hậu, giúp địa phương phát triển kinh tế làng nghề vừa giữ gìn truyền thống ông cha vừa tạo việc làm cho người dân địa phương
Trang 10Ngoài ra người dân nơi đây còn làm nghề thợ nề, đan lát, cơ khí, khai thác thủy hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến lương thực, thưc phẩm
Đặc biệt 2 năm trở lại đây khi công ty may sông Hồng có cơ sở đặt tại địa bàn xã Hải Phương – Hải Hậu đã giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, ngoài ra còn có công ty sản xuất gạch ngói Tuynen – Hải Quang, khu công nghiệp đóng tàu Hợp Long – TT.Thịnh Long thu hút nhiều lao động với nguồn thu nhập ổn định
1.2 Đặc điểm về văn hóa và phong tục tập quán của huyện Hải Hậu
1.2.1.Các sinh hoạt văn hóa
Lễ hội được chia thành lễ hội cổ xưa và lễ hội cách mạng
không tháng nào không có lễ hội Sau lễ đầu năm ở các gia đình là các lễ ở đền, miếu, Thành hoàng làng, lễ tế ở đình làng, vào đám (vào hội) ở các đền, chùa…
Có thể kể đến các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội truyền thống Chùa Lương – Hải Anh (14,15/3 âm lịch), Đền Bảo Ninh – Hải Phương (11,12/3 âm lịch), Chùa
Xã Hạ - Hải Bắc (21,22/2 âm lịch)………
Nghi thức lễ hội cơ bản dựa theo nghi thức cổ truyền, có lược giản cho phù hợp với quy chế nếp sống văn hóa mới Trong các lễ hội, ngoài phần rước lễ, còn tổ chức các hoạt động văn hóa, vui chơi giải trí, phổ biến nhất là hội hát chèo, múa sư tử, chơi tổ tôm điếm, vật, chọi gà, leo cầu ngô, bịt mắt bắt vịt…
Những phong tục tập quán tốt đẹp mang đậm đà bản sắc văn hóa Việt của con người Hải Hậu, xã Quần Anh Thượng đã được triều đình nhà Nguyễn
ban khen bốn chữ “ Thiện Tục Khả Phong” (Tự Đức 20, Đinh Mão, 1867), xã Quần Anh Trung được khen tặng bốn chữ “ Mỹ Tục Khả Phong” (Tự Đức 15,
1862) hiện được treo tai khu di tích Chùa Lương – Hải Anh và chùa Trung –
Trang 11Hải Trung Đây chính là nền tảng để Hải Hậu sau này thành một vùng quê văn hóa; một điển hình văn hóa toàn quốc liên tục từ năm 1978
Lễ hội cách mạng: Từ khi miền Bắc được giải phóng (1954),vào các
ngày lễ lớn của dân tộc các hoạt động văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng được quan tâm tổ chức với mục đích nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Đặc biệt lễ hội Quốc Khánh 2-9 hàng năm đã trở thành ngày hội truyền thống văn hóa thể thao của nhân dân toàn huyện với nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, văn nghệ quần chúng thu hút hàng vạn lượt người tới tham dự
Phần lễ : là tổ chức rước lửa từ Đền Thủy Tổ (ở Hải Anh), rước cờ Tổ quốc, ảnh Bác từ cổng huyện ra sân Nhà văn hóa
Phần hội: hội diễn văn nghệ quần chúng, hội thao: bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn,bơi chải, tổ tôm, chọi gà……
Hoạt động văn hóa văn nghệ diễn ra ở khắp từ các xóm, tổ dân phố đến
xã, huyện đã tạo nên một đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh của con người Hải Hậu Nó đã giữ gìn và kế thừa một cách xứng đáng truyền thống
văn hóa cội nguồn của “ Tứ Tính Cửu Tộc”
1.2.2 Phong tục tập quán của huyện Hải Hậu
* Trong hôn nhân, cưới hỏi :
Quần Anh xưa nay là một xã văn vật của xứ Nam Làng xã bắt đầu được quật lập cuối thế kỷ XV ( khoảng 1485) Hầu hết thời kì phong kiến, nghi lễ, phong tục do các nhà nho lãnh đạo Hôn lễ lấy gia lễ Chu Hy (Nho gia đời Tống Trung Quốc) làm gốc, gồm 6 lễ:
- Vấn danh : Hỏi tên tuổi con gái
- Nạp cát: Giẫm ngõ
- Thỉnh kỳ: Đi chơi
- Nạp tệ: Hỏi cưới và nộp cheo
- Nghinh hôn: Lễ cưới
Trang 12Phong tục, tập quán trong hôn nhân cưới hỏi được áp dụng phổ biến ở Hải Hậu thời kỳ phong kiến theo sách “ Phong trục xã Trung” của soạn giả Trần Xuân Hảo như sau:
Tìm người làm mối;người có địa vị, uy tín trong xã hội để làm mối Giẫm ngõ :biết cửa biết nhà
Xem mắt: tổ chức theo lễ “ nạp cát” và “ vấn danh”
Đi chơi: cử đại diện mang cơi trầu sang họ nhà gái đưa lễ kết hôn
Ăn hỏi: tổ chức theo lễ “nạp tệ” thường đặt cheo và hỏi cưới luôn.Lễ gồm cau trầu, bánh gai, rượu, bánh chưng Số lượng do nhà gái ấn định Sau khi nhận
lễ, nhà gái lại quả như các lễ trên
4 lễ: Giẫm ngõ, đặt trầu; ăn hỏi, xin cưới; lễ cưới; lại mặt
khá cụ thể các tục lệ và tang lễ xưa kia của người Hải Hậu:
- Lâm chung: bệnh nặng, không qua khỏi, lập di chúc (nếu có nhu cầu).Khi tắt thở, giữ cho hai vai co chặt lại, 2 bàn chân dựng lên, phủ mặt,tránh để mèo trông thấy tử thi
- Trị quan: chuẩn bị quan tài
Trang 13- Nhập liệm: tắm rửa cho thi thể, mặc quần áo, ngâm gạo, mời thầy phù thủy đến làm lễ cúng vong bằng bát cơm quả trứng lồng chặt, kẹp quả trứng vào đôi đũa vót bông cắm ngược
Khâm liệm xong đặt linh cữu giữa nhà, con cháu ngồi phục; nam Đông,
nữ Tây
- Tiết linh sàng: người trong họ phát tang, mặc tang phục cho con cháu
- Triệu tịch điện (cúng cơm): duy trì hàng ngày cho đến 100 ngày
- Hộ tang: đưa tang, do bà con làng xóm giúp
- Nộp lệ: đãi cỗ hàng xóm
- Phúng viếng: các đoàn thể, họ tộc, anh em có lễ vật đến viếng
- Triệu tổ: trước khi đưa tang, rước bát hương vong đến nhà thờ tổ
- Chuyển cữu: do làng hoặc con cháu làm
- Tiễn biệt: trước giờ đưa tang dòng họ giúp con cháu làm lễ cúng tiễn biệt
- Hành tống: là lễ phát dẫn của làng, bắt đầu từ đình làng
- An táng: đặt quan xuống huyệt
- Rước chủ: rước thân chủ về yên vị ở nhà
- Bốn chín, tuần chay, đốt mã, 100 ngày, giỗ, 3 năm thì bỏ tang
- Sau 5 năm thì có thể cải táng
*Lễ mừng thọ:
Các cụ ở tuổi 60, 65, 70, 75, 80, 85, 90, 95, 100 hàng năm vào dịp đầu Xuân thì các cấp ban ngành tổ chức mừng thọ cho các cụ Từ xã rồi về xóm sau đó về gia đình tổ chức mừng thọ cho các cụ vào ngày Mồng 4 Tết Âm lịch
Trang 14Chương 2 THỰC TRẠNG HẦU ĐỒNG TRONG MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ CÔNG
CHỨC Ở HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
2.1.Khái quát về tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi lễ Hầu đồng
Từ lâu trong tín ngưỡng dân gian người Việt Nam nói riêng và cư dan Đông Nam Á nói chung, việc tôn thờ thần linh thính nữ vốn là một hiện tượng phổ biến và thịnh hành Tất nhiên, không loại trừ yếu tố văn hóa lúa nước, cũng như điều kiện lịch sử của mỗi cư dân, mỗi dân tộc mà tục thờ nữ thần linh đã được biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau Ở Việt Nam cho tới nay tục thờ nữ thần vẫn còn, nhưng tồn tại dưới nhiều hình thức điển hiền là tín ngưỡng thờ Mẫu tam Phủ - Tứ Phủ
Phủ Giầy – Nam Định là sinh quán của vị thần chủ Liễu Hạnh, nên đây cũng là nơi thu hút đông nhất các con nhang đệ tử từ Bắc chí Nam Phủ Giầy may mắn hơn các nơi khác không chỉ có đường giao thông thuận lợi mà còn
có cả một quần thể di tích thờ Mẫu không nơi nào sánh được Đền Sòng, Phố Cát quy mô rất nhỏ, Phủ Tây Hồ gần đây mới được đầu tư sửa sang, xây thêm động Sơn Trang khá to đẹp nhưng về quy mô vẫn không thể so sánh được với tầm vóc của phủ Tiên , phủ Vân Cát Phủ giầy đã gây cho khách hành hương
án tượng sâu sắc thực sự về sự hiện diện của nhân vật Liễu Hạnh trong lịch
sử
“ Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”
Tuy nói: tháng ba giỗ mẹ nhưng ở Phủ Giầy dường như lễ quanh năm Trong những ngày đầu Xuân cho đến tháng ba hầu như người đi lễ đông chặt các đền phủ để lễ đầu năm Các ông đồng, bà đồng và cung văn tài năng nhất cũng đến đây hát đệm cho hầu đồng
Người ta đi lễ Mẫu mang theo một tâm thế hết sức bình dị, giản đơn đó
là tìm về cội nguồn, tìm về với mẹ mong nhận được sự động viên che chở từ đức thánh Mẫu Một mặt xuát phát từ quan niệm tâm linh cho rằng chỉ người
Trang 15phụ nữ mới có khả năng sinh sản, sang tạo, nên chỉ người phụ nữ mới làm cho hạt giống nảy mầm, màu màng sinh sôi Họ phải phải là người đầu tiên gieo
mạ cấy lúa, tra hạt và cũng là người đầu tiên được gặt lúa hay chế biến lương thực Người phụ nữ mới có đủ sức mạnh để nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ con cái Hơn nữa trong cảm quan của cư dân nông nghiệp, trời là cha đất là mẹ, sự giao hòa âm dương đã tạo ra vũ trụ Nhưng cha trời cao xa, thường ban phúc giáng họa khôn lường nên con người vừa kính lại vừa sợ Còn mẹ đất thì gần gũi hơn, thường đón nhậ sự âu yếm thần thánh để sinh sôi nảy nở Mẹ sinh tạo, nuôi dưỡng và cũng sẵn sàng đón nhận con người trở về cõi vĩnh hằng
Vì thế mẹ trở thành một nhu cầu tâm linh không thể thiếu được trong mỗi con người
Mặt khác tín ngưỡng thờ Mẫu còn là mảnh đất mầu mỡ cho một số loại hình nghệ thuật phát triển đặc biệt trong đó có nghệ thuật Hát văn và nghi lễ lên đồng Nghi thức lên đồng tuy chịu ảnh hưởng của hình thức saman giáo nhưng rõ rang nó không hoàn toàn là một hiện tượng mê tín dị đoan bởi vì
đó chứa đựng biết bao giá trị văn hóa đặc sắc từ kho tang văn hóa dân gian,
GS Ngô Đức Thịnh đã ví hầu đồng như là một bảo tàng sống của nền văn hóa Việt Nam
Cùng với hiện thực lịch sử là vai trò và vị trí của người vợ, người mẹ trong gia đình,sản xuất và trong công động đã ảnh hưởng không nhỏ đến tư duy tâm linh, tín ngưỡng của các cư dân Việt cổ Đây cũng là lý do tại sao mà hình tượng các nữ thần bao quát hết các loại hình ảnh hưởng trong cuộc sống của con người, và có một vị trí khá lớn trong tâm thức, tâm linh người Việt, điển hình là hệ thống Tam Phủ - Tứ Phủ
2.1.1.Hệ thống thần linh trong Tam Phủ - Tứ Phủ
Trong hệ thống thần linh của Tam Phủ - Tứ Phủ, nếu xét theo văn bản cộng đồng thì có nhiều vị thần linh: Từ Ngọc Hoàng đến Phạt tổ Như Lai, Thích Ca, Quan Âm, Di Lặc, Diêm Vương, ông Lốt, ông Xà, 28 vì tinh tú, Mẫu Liễu đến các hàng Chầu, hàng quan, hàng Cô, hàng Cậu….đây cũng là
Trang 16sự thể hiện tính đa nguyên của loại hình tín ngưỡng này, hay nói cách khác là
sự thể hiện của tín ngưỡng đa thần Nhưng nếu gạt hết những yếu tố sai lệch
có tính địa phương và mang yếu tố ảnh hưởng của các tôn giáo tín ngưỡng khác chúng ta có được một hệ thống thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu như sau:
- Ngọc Hoàng
- Hàng Mẫu
- Hàng Quan: Ngũ vị quan lớn (từ quan Đệ Nhất tới quan Đệ Ngũ )
- Hàng Chầu: Tứ vị Chầu Bà là hóa thân trực tiếp của các vị Thánh Mẫu
- Hàng ông Hoàng: Từ Hoàng Nhất đến Hoàng Mười, nhưng trên thực
tế chỉ có ba ông Hoàng là hay giáng đó là : Hoàng Ba, Hoàng Bảy và Hoàng Mười
- Hàng Cô: Thập nhị Vương Cô, từ cô cả đến cô thứ mười hai (còn gọi
là cô bé) Nhưng khi giáng đồng thì chỉ có các cô : Cô Cả, Cô Đôi, Cô
Bơ, Cô Chín, Cô Cam Đường là hay giáng Cô Bốn và Cô Sáu thỉnh thoảng cũng giáng và thường hay giáng vào phủ Thượng ngàn hoặc phủ Thoải
- Hàng Cậu :Thập nhị Vương Cậu (từ Cậu Cả đến Cậu thứ mười hai)
- Quan Ngũ Hổ
- Ông Lốt (Rắn)
Tuy vậy, những con số về số lượng các vị thánh trong từng hang Quan, Chầu, ông Hoàng hay hàng Cô, Cậu…đều không cố định nà thay vào đổi: Trong hang Chầu có khi lên tới sáu vị Chầu Bà, hang ông Hoàng cũng tăng lên tới con số mười vị Trong thờ Mẫu, hệ thống thần linh còn phân chia thành các phủ riêng biệt đại diện cho bốn miền của vũ trụ như:
+ Tam phủ :
Phủ ở đây không có nghĩa là một điểm thờ Mẫu như Phủ Tây Hồ chẳng hạn, mà phủ là theo nghĩa rộng, mỗi phủ tương ứng với một miền của vũ trụ,
Trang 17hay đại diện cho một thế giới: Thiên Phủ là Phủ của tất cả những vị thần nào
có nguồn gốc từ trên trời xuống và như vậy thì trong Tam phủ gồm các Phủ sau Thiên Phủ (miền trời), Địa Phủ (miền đất), Thoải Phủ miền nước)
Tứ phủ là sự thể hiện của bốn phương ứng với bốn màu đặc trưng: Thiên Phủ (màu đỏ), Thoải Phủ (màu trắng), Địa Phủ màu vàng), Nhạc Phủ ( màu xanh) Mỗi Phủ lại có một vị thánh Mẫu cai quản
Tóm lại về hệ thống thần linh trong thờ Mẫu Tứ Phủ bao gồm cả thiên thần và nhân thần, là các vị thần linh có nguồn gốc từ tiên, thánh hay người trần thế Trong quá trình lịch sử hóa hay trần gian hóa đã được tái tạo thành những nhân vật thần linh có đầy đủ nguồn gốc và tâm trọng với nhân dân nên được nhân dân hương khói phụng thờ Đây cũng là xu hướng phổ biến trong việc dựng lên hệ thống thần linh nói chung trong tín ngưỡng và dân gian, kể
cả nhân vật Liễu Hạnh là vị thần ra đời muộn nhưng cũng được lịch sử hóa khá trọn vẹn, để rồi từ đó nhân vật này bước lên vị trí thần chủ trong thần điện thờ Mẫu Vì vậy mà có tình trạng khi nhắc đến tín ngưỡng thờ Mẫu là người
ta nghĩ ngay đến bà với tư cách là một phúc thần
Các vị thần linh trong thờ Mẫu Tứ Phủ gồm cả nam thần và nữ thần, tuy là thờ Mẫu – vị thần linh có quyền năng tối thượng, nhưng trong điện thần các vị thần bao gồm cả các vị thánh nam và thánh nữ, các vị thánh nam thì hóa thân trực tiếp vào các ngôi hàng quan, hàng ông Hoàng, hàng Cậu và cũng phân thành bốn Phủ Quan Đệ Nhất thuộc Phủ Thiên, Quan Đệ Nhị thuộc Phủ Thượng Ngàn, quan Đệ Tam thuộc Phủ Thoải……Thánh Mẫu, với vai trò thần chủ của điện thờ nhưng lại hóa thân trực tiếp vào các hàng Chầu
Trang 18Bà và những người giúp việc là hệ thống các cô Như vậy thì quan niệm dân gian Mẫu là một, là nhất thể nhưng lại hóa thân thành tam vị: Thiên, Địa, Thoải để rồi thành ra Tứ Phủ vị Mẫu tượng trưng cho bốn miền của vũ trụ tạo thành cặp Thiên – Địa, rừng núi – sông biển (Sơn Thủy)
2.1.2 Thần tích các vị thánh trong các giá đồng
* Thần tích giá hàng Mẫu
Mẫu là quyền năng sang tạo vũ trụ duy nhất, nhưng lại hóa thân thành Tam vị, Tứ vị Thánh Mẫu cai quản cá miền khác nhau của vũ trụ Mẫu Thiên,
Mẫu Địa, Mẫu Thoải, Mẫu Nhạc
Mẫu thượng Thiên được đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh và luôn luôn ở
vị tri trung tâm, mặc trang phục màu đỏ
Mẫu Thượng Ngàn: Cũng theo quan niệm dan gian Mẫu Liễu Hạnh còn
có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền rừng núi địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, các đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở hầu khắp mọi nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính gắn với hai truyền thuyết là suối Mỡ (Hà Bắc) và Bắc Lệ (Lạng Sơn);
Khác với Mẫu Thượng Thiên có nguồn gốc thiên thần, Mẫu Thượng Ngàn có xuất sứ từ người trần Có thể là con hay cháu vua Hùng, nhưng đều
có sự tích gắn bó với núi rừng, và đều có tính cách yêu thiên nhiên cây cỏ, muông thú và đều là những người có phép tiên có thể mang lại ấm no cho dân lành và trở thành vị thần bảo hộ cho rừng núi bản làng
2.1.3 Tín ngưỡng hầu đồng
Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hệ thống nghi lễ và lễ hội rất phong phú và
đa dạng, mang nhiều sắc thái độc đáo có thể phân biệt với các tín ngưỡng và tôn giáo khác Tuy nhiên, tập trung điển hình vẫn là nghi lễ Hầu đồng hay còn được gọi là lên đồng hay hầu bóng và hệ thống lễ hội :
“ Tháng Tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ”
*Tín ngưỡng:
Trang 19Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng mộ, sùng bái của con người vào cái thiêng và con người biểu hiện lòng tin vào cái thiêng thông qua nghi lễ thờ cúng, lòng ngưỡng mộ thành kính của cá nhân, của cộng đồng đối với các thế lực siêu nhiên vô hình hay hữu hình có ảnh hưởng đến đời sống con người
Căn cứ vào Nghị quyết số 21/2003/HQ11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khóa XI, kì họp thứ 4 về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2004; Pháp lệnh này quy định về hoạt động tín ngưỡng tôn giáo:
Nội, Nam Định, Hải Dương, Huế, Sài Gòn………
Trong cuốn Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam của
Gs.Ngô Đức Thịnh có định nghĩa :“Hầu đồng hay hầu bóng là hiện tượng
nhập hồn nhiều lần của nhiều vị thần linh Trong đó mỗi lần một vị thần linh nhập hồn (ốp đồng, giáng đồng), rồi làm việc quan(tức thời gian thực hiên các nghi lễ, nhảy múa, bam lộc, phán truyền) và xuất hồn(thăng đồng), được gọi là một giá đồng (tức thời gian thần linh ngự trị trên cái giá của mình là các ông Đồng, bà Đồng )”[5;Tr 152 ]
Trang 20Hầu đồng thường diễn ra vào nhiều dịp trong năm Với những thầy Đồng đền, trong một năm có lễ hầu xông đền sau lễ giao thừa năm mới ), lễ hầu Thượng Nguyên (tháng Giêng), lễ hầu Nhập hạn (tháng tư), Lễ Hập ấn (25 tháng Chạp)….Trong các dịp trên hai lần được coi là quan trọng nhất đó
là vào tháng Ba giỗ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và tháng Tám là dịp giỗ Vua Cha Bát Hải, Đức Thánh Trần Đối với mỗi đền hay mỗi ông Đồng, bà Đồng thì các dịp Hầu đồng còn nhiều hơn nữa, như đầu tiên là lễ trình đồng, lễ lên đồng, lễ hầu bản mệnh, lễ hầu ngày tiệc của các vị Thánh, như tiệc Cô Bơ (12/6 0), tiệc quan Tam Phủ (24/6), tiệc ông Hoàng Bảy (17/7 ), tiệc Trần Triều (20/8), tiệc Đức Vua Cha (22/8), tiệc Chầu Bắc Lệ (tháng 9), tiệc ông Hoàng Mười (10/10), tiệc quan Đệ Nhị (11/11)
Trước khi hầu, ông Đồng hay bà Đồng thông qua người chủ đền phải làm lẽ Chúng sinh và lễ Thánh Đồ lễ chúng sinh được đặt trên một cái mâm, trên đó có các đồ vàng mã, cắt thành hình quần áo, tiền, lá vàng, thỏi vàng, thỏi bạc, những bát cháo, bánh trái và những thức ăn khác Có khi trên mâm còn bỏ mấy đồng tiền bỏ vào chậu nước dành cho những người chết đuối Lễ cúng chúng sinh có mặt trong tất cả các nghi lễ tín ngưỡng Tứ Phủ và tín ngưỡng dân gian khác, dành cho những vong hồn chết dữ hay không có người thừa nhận, không có người hương khói cúng giỗ……
Giúp trực tiếp cho ông Đồng bà Đồng trong buổi hầu thì phải kể tới
hầu dâng và cung văn Người hầu dâng thường cũng là những người đã từng
Hầu đồng Họ giúp ông Đồng bà Đồng trong việc hầu Thánh, như thắp hương, dâng các loại vũ khí, dâng thuốc lá, rượu, trầu…, đặc biệt giúp người hầu trong việc thay lễ phục khi chuyển từ giá này sang giá khác Có thể là hai người (nhị trụ) ngồi hai bên người hầu trước bàn thờ Thánh, cũng có thể là bốn người (tứ trụ), họ mặc áo dài đen, quần trắng, đội khăn xếp (nếu là nam),
áo dài màu (nếu là nữ)
Cung văn giữ vai trò cực kì quan trọng trong hầu đồng Họ xướng nhạc
và hát cho việc trình diễn của các con Đồng khi Thánh nhập Nhạc cụ chủ đạo
Trang 21của cung văn là trống cái, đàn nguyệt, ngoài ra còn có đàn tranh, sáo, kèn, trống ban, tiêu cảnh, thanh la, phách…Trong cung văn, có người gảy đàn, gõ trống, phách nhưng có thể họ vừa đàn vừa hát chỉ dừng lại những lúc Thánh nhập, Thánh xuất Đặc biệt trong khi múa đồng, ban phát lộc, thưởng thơ thú….thì cung văn phải vừa chơi nhạc vừa hát Cung văn hát hay, đàn giỏi,
mở đầu và dừng ngắt đúng lúc đều được người hầu thưởng nhiều tiền và ban lộc
Theo trật tự thời gian, có thể phân một buổi hầu đồng thành các bước sau: Thánh giáng, Thánh thăng, thay lễ phục, thắp hương làm phép, múa đồng, ban lộc và nge văn chầu, Thánh thăng
Sau khi đứng làm lễ và xin phép mọi người được nhập đồng, ông Đồng hay bà Đồng trùm khăn đỏ phủ diện, hai tay chắp dâng nén hương, đầu và chân lắc lư cho tới khi nào Thánh giáng (nhập) thì buông các nén hương, rung mình, tay ra hiệu Thánh thuộc hàng bậc thứ nào Lúc đó cung văn tấu nhạc và xướng văn chầu phù hợp vị Thánh vừa giáng
Có hai hình thức Thánh giáng, giáng trùm khăn (gọi là hầu tráng mạn)
và giáng mở khăn Các giá Thánh Mẫu đều hầu theo hình thức trùm khăn (tráng mạn) Khi Mẫu Đệ Nhất giáng, thì người hầu giơ ngón tay lên báo hiệu Mẫu đã giáng, cung văn chỉ tụng kinh theo tiếng chuông và mõ Khi người hầu khẽ rung mình, bắt chéo tay trước trán báo hiệu Mẫu đã thăng (xa giá), cung văn chuyển sang điệu xa giá hồi cung Hình thức hầu mở khăn, tức Thánh nhập thực sự và xuất hiện trước mặt mọi người, là hình thức hầu đồng dành cho các Thánh từ hàng quan trở xuống Tuy nhiên, trong một buổi Hầu đồng, không phải ai cũng hầu tất cả các vị Thánh, mà chỉ một số các vị Thánh nào đó người ta được biết rõ cả về thần tích cũng như vai trò phù trợ của họ đối với người trần Ngay trong số các vị Thánh mà nhiều người thường hầu, tùy theo căn đồng của mỗi ông Đồng hay bà Đồng (căn Quan, căn Cô, căn Ông Hoàng….), họ thường xuyên hầu số vị Thánh nào đó
Trang 22Trong một buổi ầu đồng, thường là có nhiều vị Thánh giáng, ít nhất cũng phải trên 10 lần giáng của các vị Thánh, bình thường cũng 15 vị giáng, còn nhiều thì cũng trên 20 Việc giáng của các vị Thánh phải theo thứ tự, từ Thánh Mẫu tới hàng các Quan, hàng Chầu, hàng ông Hoàng, rồi hàng Cô, hàng Cậu Thánh Ngũ Hổ, ông Lốt, vong linh tổ tiên giáng sau, tuy cũng ít thấy xảy ra
Trùm khăn phủ diện có ý nghĩa quan trọng nhất trong nghi lễ Thánh giáng Từ quan niệm cho rằng người hầu đồng chỉ là cái xác, cái giá, cái ghế
để Thánh nhập vào, nên khi ông Đồng, bà Đồng trùm khăn lên đầu, thì họ được coi như người đã chết Có lẽ vì thế mà khi người tắc thở, người ta bao giờ cũng phủ khăn mặt, còn với người đang sống mà lấy khăn che mặt là điều cấm kỵ
Người ta thường phân biệt hai trường hợp trong nghi lễ nhập hồn này,
là Thánh giáng và Thánh nhập Thánh nhập tức là bước thứ hai sau khi Thánh giáng, bởi vậy, cũng có trường hợp Thánh chỉ giáng chứ không nhập Trong trường hợp như vậy, bằng dấu hiệu tay, ông Đồng hay bà Đồng ra hiệu cho người hầu dâng và những người ngồi quanh biết vị Thánh nào vừa giáng đã thăng ngay, không chịu nhập hồn và họ làm nghi thức cầu khẩn vị Thánh tiếp theo
Khi Thánh đã giáng và nhập đồng, lúc đó ông Đồng, bà Đồng không còn là mình nữa, mà là hiện thân của Thần linh, những người ngồi quanh thưa gửi bằng các cung cách tôn kính nhất, như người trần gian xưng hô với vua quan thời phong kiến
Khi Thánh đã nhập ông Đồng hay bà Đồng dùng tay ra hiệu (Thánh nam nhập thì ra hiệu bằng tay trái, Thánh nữ nhập thì ra hiệu bằng tay phải)
và tung khăn phủ diện, lúc này người hầu dâng giúp người Hầu đồng thay lễ phục phù hợp với vị Thánh đã nhập ấy Việc thay lễ phục mất khá nhiều thời gian Mỗi vị Thánh đều có lễ phục riêng phù hợp với vị trí và tính cách từng người Nói chung, các Thánh ở cùng một hàng, như hàng Quan, hàng Chầu,
Trang 23ông Hoàng Mười, hàng Cô,….đều mặc theo một kiểu, sự khác biệt chính là màu sắc sao cho phù hợp với từng phủ của từng vị Thánh, phù hợp với gốc tích dân tộc là Mán, Thổ, Mường…, phù hộ với vị thế là bên văn hay võ…
Sau khi thay đổi lễ phục, ông Đồng hay bà Đồng làm lễ dâng hương
Đó là nghi thức không thể thiếu được của bất cứ sự hiện diện nào của các vị Thánh Các ông Đồng hoặc bà Đồng nhận một số nén hương hay một bó hương từ tay người dâng hầu (còn gọi là tay hương), rút một nén hương cầm trong tay phải, huơ lên các nén hương khác làm động tác phù phép, mà những người Hầu đồng gọi là “khai quang” (nói chệch đi là khai cuông), tức là xua đuổi đi cái trần tục ma quỷ, làm trong sạch hương để dâng cho các vị Thánh Sau khi làm phép khai quang, ông Đồng hay bà Đồng ném hương xuống đất hay đưa cho người hầu dâng, rồi cầm bó hương tiến đến trước bàn thờ Thánh làm lễ dâng hương
Nghi thức dâng hương có sự khác biệt giữa Thánh nam và Thánh nữ Thánh nữ quỳ dâng hương, rập trán xuống đất ba lần Các Thánh nam thì quỳ lạy giơ cao bó hương trước trán, mỗi lần như thế lại thỉnh một tiếng chuông Việc dâng hương là một hành vi tôn kính, khói hương hòa quyện vào hương thơm của nước hoa, mùi trái cây…không những làm cho các vị thần linh thích
mà còn xua đuổi tà ma…
Động tác múa trong hầu đồng sử dụng bằng những chất liệu dân gian,kết hợp nhịp nhàng với âm nhạc và lời hát cụ thể là hát văn, tạo nên không khí nhộn nhịp, lúc hào hùng khi duyên dáng Tùy theo vị trí và tính cách của mỗi vị Thánh mà động tác múa khác nhau
Múa xong, Thánh lại ngồi xuống Lúc này cung văn lại hát những bài chầu văn kể lại sự tích, lai lịch, ca ngợi tài năng, vẻ đẹp, công đức của các vị Thánh đang giáng Những đoạn văn hay làm cho các vị Thánh hài lòng được biểu lộ bằng cách vỗ gối đang tự vào người và thưởng tiền và ban lộc cho cung văn Lúc này, người dâng hầu lại dâng rượu, thuốc lá, trầu, nước…Trước khi Thánh dùng các đồ dâng đó thì phải làm nghi thức khai
Trang 24quang để làm thanh sạch đồ dâng cúng Những chất như trầu, rượu, thuốc lá
có tác động trực tiếp đến trạng thái ngây ngất của ông Đồng hay bà Đồng , còn nước được coi như máu tiếp thêm sức sống cho các vị thần linh sống lại trong cơ thể người hầu đồng
Đây cũng là lúc người dự xung quanh lại gần nghe ông Đồng hay bà Đồng nghe Thánh phán truyền về tương lai hay dâng lễ vật xin cầu tài, bảo
hộ, chữa bệnh cho gia chủ Cũng có ông thanh đồng đáp lại những lời cầu xin bằng lời phán, hay chỉ bằng ánh mắt, điệu bộ vì họ nhập đồng theo kiểu cấm khẩu
Trong lúc Thánh ngồi nghe hát chầu văn, truyền phán cũng là lúc Thánh ban tài phát lộc Các con nhang, đệ tử đi dự thì mong muốn xin được lộc Thánh về cho gai đình Khác với đi lễ Phật để cầu phúc cho đời sau thì trong Hầu đồng lộc Thánh gồm nhiều thứ , từ nén nhang cháy dở, đuốc mồi,
lá trầu, điếu thuốc lá, lá trầu, quả cau, bánh trái, gương lược, sách vở, bút, tiền….Đó được coi là những thứ quà thiêng mà Thánh ban cho những người tới dự
Dấu hiệu Thánh thăng thường là lúc Thanh đồng ngồi yên, khẽ rung mình, hai tay bắt chéo trước trán, hay che quạt lên đỉnh đầu…lúc này hai người hầu dâng nhanh chóng phủ khăn đỏ lên Thanh đồng đồng thời cung văn hát điệu “ Thánh giá hồi cung” Từ đó Thanh đồng chuẩn bị nhập sang vị Thánh khác
Khi vị Thánh cuối cùng ra đi, thường là Thánh Cậu hay Quan Hổ, ông Lốt, thì Thanh đồng cởi bỏ trang phục Thánh rồi tạ ơn các Thánh Tứ Phủ và cảm ơn người tới dự Các Thanh đồng sau khi Hầu Thánh xong thường cảm thấy mạnh khỏe, nhẹ nhõm, vui tươi và mãn nguyện Thanh đồng đi mời các quan khách, cung văn tới thụ lộc Thánh chủ yếu là đồ chay như oản, bánh, hoa quả
Trang 252.2 Thực trạng hầu đồng trong cán bộ công chức
2.2.1.Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng hầu đồng trong cán bộ công chức
Những năm gần đây, đệ tử đạo thờ Mẫu với nghi lễ Hầu đồng đã hoan
hỉ vì được xã hội công nhận như một nét văn hóa của Việt Nam Thế giới Hầu đồng từ khép kín khi bị gán ghép đủ điều về tiêu cực, mê tín nay đã bắt đầu
mở lòng giãi bày những điều tưởng chừng như rất khó tin của kiếp số hầu đồng
Trước đây, bàn về nguyên nhân ra hầu đồng đã có nhiều thông tin sai lệch cho rằng, phần lớn người tham gia hầu đồng là do sự lôi kéo, xúi giục có biểu hiện lừa đảo trục lợi của một số kẻ lợi dụng tín ngưỡng cò mồi Trong thực tế, hầu đồng có nhiều người ham mê, thậm chí cuồng tín với hầu đồng,nguyên nhân thường được gọi chung là có căn (cốt), có quả Qua tìm hiểu từ những người trong cuộc tôi được biết để xác định là người có căn (cốt) hầu đồng phải hội tụ ba yếu tố như: Khi đến các Đền, Phủ có cảm giác khác lạ, thay đổi trong người; trong cuộc sống nhiều lần gặp sự vất vả, bệnh tật, làm ăn thất thoát, bất trắc mà không phải nguyên nhân tự thân gây ra, không thể giải thích được; họ thường mơ thấy các vị thần trong thế giới thần linh…
Câu chuyện về các thanh đồng bén duyên cửa Thánh, cửa Quan, cửa Mẫu lại
là những câu chuyện khác nhau Người thì bị Thánh gọi phải ra trình đồng theo hầu không thì Thánh vật cho dở điên dở dại, ốm đau lay lắt,con đường thăng quan tiến chức thì mịt mờ Người thì theo phong trào sau mấy buổi dự hầu đồng thấy vui quá, loanh quanh bạn bè nhìn đâu cũng thấy bạn mình đi theo cửa Quan, cửa Thánh nên: con gà hơn nhau tiếng gáy, kém miếng có vẻ khó chịu muốn gia nhập hội đồng để cho bằng bạn, bằng bè Người lại nghe nói Hầu đồng thì được Thánh, được Mẫu ban cho tài lộc, phú quý, liền sắm sanh xiêm y lễ vật rồi mời thầy dạy để tập tọe ra nhập đồng
Từ kinh nghiệm bản thân, thanh đồng (người hầu đồng lâu năm) Trần
TL, người có thâm niên hầu đồng gần 30 năm chia sẻ, mỗi người có một lý
Trang 26do riêng để ra hầu đồng, có nhiều người là cán bộ công chức Nhà nước đi hầu đồng là do truyền thống gia đình có 3-5 thế hệ hầu Thánh Một trong số đó thì cầu mong sự bình an cho những người thân, giải tai nạn, tai vạ, độ tai ách, nhanh chóng được thăng quan tiến chức, nhận được nhiều bổng lộc, tiền tài, con cái, tình duyên, cũng có trường hợp đi hầu đồng do tổn thương tình cảm
vợ chồng, nghi ngờ, không tin tưởng nhau
Khi xã hội phát triển, nhu cầu vật chất của con người ngày càng được nâng cao thì lúc này con người muốn thỏa mãn về nhu cầu tinh thần Người xưa có câu: Phú quý sinh lễ nghĩa quả không sai, hiện nay tại một số địa phương trong đó có huyện Hải Hậu – một huyện có dân số đông nhất Tỉnh Nam Định, là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và tâm linh, nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, nhiều đình chùa, miếu mạo…Trong đó đặc biệt đáng chú
ý đến những gia đình khá giả, gia đình là cán bộ công nhân viên chức, là những người lãnh đạo lớn
Có thể thấy ở trường hợp của chị N.T.Mai , trước kia nức tiếng trong vùng là một giáo viên dạy giỏi môn xã hội, khéo léo trong giao tiếp, những năm gần đây chị lại nổi tiếng hơn với vai trò là một cô đồng Tìm gặp chị, tôi khá bất ngờ, chị không chỉ đẹp mà là người rất hiểu văn hóa Chị kể rằng, từ nhiều năm nay, chị bị bệnh tật triền miên, thường xuyên phải đến bệnh viện nhưng cứ khỏi được vài ngày lại ốm Mẹ chị đi xem bói về nói rằng, chị có căn số cao và đang bị cơ đày Thầy bói khuyên chị nên tìm một đồng thầy dẫn dắt ra hầu đồng thì mới khỏi bệnh tật được
Mới đầu, chị không tin, nhưng đầu xuân cách đây vài năm, chị đi lễ đền, gặp một bà trong bản hội bây giờ giới thiệu về hầu đồng, hầu bóng có thể chữa được bệnh Chị cũng thử đi xem thế nào Sau một năm, sức khỏe ổn định hơn, chị xin nghỉ hẳn giảng dạy ở nhà, dành thời gian để tụ họp cùng
“bản hội”
Cũng có trường hợp thanh đồng là cán bộ công nhân viên chức nhà nước lương tháng ba cọc một đồng nhưng đau ốm nên nóng lòng giải quyết
Trang 27nhu cầu tâm linh, cầu mong bình an sức khỏe nên cũng không ngại bỏ tiền ra làm lễ Hầu bóng, có khi còn phải đi vay bạn bè để đến cửa Đền, cửa Phủ trình Mẫu
2.2.2 Không gian và thời gian diễn ra hầu đồng
* Không gian diễn ra Hầu đồng:
Không gian diễn ra Hầu đồng là tại các cửa Đền, cửa Điện nơi thờ Tam Tòa Thánh Mẫu và hội đồng các Quan, các Cô, các Cậu trong hệ thống tứ Phủ So với các điện thờ Mẫu ở các Đền Phủ, Chùa chiền trong Miền Bắc thì các ngôi Đền, Điện, Phủ, Chùa ở Hải Hậu vẫn giữ được nguyên vẹn nghi thức thờ Mẫu gồm các ban: Ban thờ Mẫu với Tam Tòa Thánh Mẫu, Tứ vị Chầu
Bà, Ngũ vị tôn Quan, các Cô, Các Cậu, ông Lốt, ngũ Hổ,… ngoài ra còn có động Sơn trang được dựng công phu ở khuôn viên các Đền, Phủ, Điện
* Thời gian diễn ra hầu đồng:
Khác với thời gian của những người dân bình thường có thể Hầu đồng bất kì lúc nào, thì cán bộ công nhân viên chức lại chọn thời gian rất đặc biệt
đó là vào buổi tối và lúc ban đêm vào các ngày nghỉ Ban ngày thì họ phải đến
cơ quan làm việc nên thời gian buổi tối là thời gian thích hợp để các ông Đồng, bà Đồng làm việc Thánh, một phần nữa là tránh để người dân xung quanh hay bạn bè cùng cơ quan phát hiện làm ảnh hưởng đến uy tín và công việc của mình
2.2.3 Lễ vật được dâng cúng trong các giá hầu của cán bộ công chức
Lễ vật của cán bộ công chức là yếu tố rất rõ để chúng ta có thể phân biệt được đâu là giá đồng của người dân bình thường đâu là giá đồng của những người có tiền
Lễ vật gồm có lễ chay và lễ mặn Lễ mặn gồm thịt gà, thịt lợn, ngoài ra còn có trứng gà, gạo, muối, mâm cỗ để cúng ngũ hổ và cúng chúng sinh Lễ chay thì bao gồm những lễ tương ứng với các giá đồng, là những đồ lộc mà thanh đồng ban phát cho các con nhang đệ tử trong các giá hầu Gồm bánh kẹo, hoa quả, bia, nước ngọt, chè, thuốc lá, trầu Đó là những lễ vật không thể
Trang 28thiếu được trong các vấn hầu, còn số lượng ít hay nhiều phụ thuộc vào điều kiện của thanh đồng
Những hộp bánh to được đặt lên các mâm, với đủ mọi thứ bánh kẹo, đầy đủ sắc màu được đặt tại các ban Ở những gia thờ mà không còn nơi để đặt đồ lễ họ phải chuẩn bị hai chiếc giá cao làm bằng sắt có các nấc thang để đặt lễ
Thanh đồng còn phải chuẩn bị đồ hàng mã để dâng các Thánh, các Mẫu khi trình đồng như : Hình nhân, tàu thuyền, voi, ngựa, động sơn trang, tiền, vàng, sớ ghi rõ tên tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ toàn gia thanh đồng để dâng lên các vị Thần, những lá sớ là những lời cầu nguyện, mong muốn mà thanh đồng gửi tới các vị Thần,Thánh để các ngài chứng dám và ban tài, phát lộc cho bách gia trăm họ và toàn gia thanh đồng
Ngoài ra còn có các lẵng hoa, giỏ hoa tươi được bầy biện trên các ban thờ Nhiều thanh đồng có điều kiện kinh tế khá giả thì đồ lễ có thêm cả những chai dầu ăn, đường, sữa tươi, túi gạo, rượu tây, mì gói…
2.2.4 Đối tượng đến xem hầu đồng
Đối tượng đi xem hầu đồng thường được gọi là các con nhang đệ tử là những người gần gũi với thanh đồng So với các vấn hầu của người dân bình thường tại các Đền, Phủ rất đông các con nhang đệ tử đến dự và xem thì những vấn hầu của các thanh đồng là cán bộ công chức thì rất hạn chế người đến dự Các thành phần đến dự của thanh đồng là cán bộ công chức là những người thân thiết với thanh đồng và người nhà thanh đồng Xem những vấn hầu của người bình thường ta có thể thấy các thành phần đến dự họ ăn mặc rất bình thường và giản dị, nhưng khi gặp vấn hầu của một cán bộ công chức nào nào đó ta sẽ thấy được sự khác biệt ở đây Họ ăn mặc rất chỉnh chu và sang trọng, nhẹ nhàng và kín kẽ trong từng lời ăn, tiếng nói cho tới những hành động Trong khi phát lộc thì không có hiện tượng thanh đồng vung tiền rồi mọi người xung quanh ồ ạt vào lấy lộc như ở các vấn hầu bình thường mà ở