Như vậy, so với pháp luật các nước thì khái niệm công chức theo pháp luật nước ta có điểm riêng biệt, đó là, công chức nước ta không chỉ có những người làm việc trong cơ quan hành chính
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ bảo cho tôi suốt 4 năm học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô Mai Thị Lâm – người đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành khóa luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng kỷ luật Theo Người, việc bồi dưỡng văn hoá pháp luật, kỷ luật không những phải gắn với việc duy trì nghiêm pháp luật, kỷ luật và quản lý chặt chẽ mọi chế độ, mà còn phải kiên quyết đấu tranh ngăn chặn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật, khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức Bên cạnh đó, Người còn luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sỹ phải hình thành thói quen có kỷ luật hằng ngày
Công chức là đội ngũ đóng vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính của nước ta, là những người trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước, giữ vai trò đảm bảo cho pháp luật được thực thi trong cuộc sống và là nhân tố quyết định hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước, vì vậy, họ phải là người tiên phong trong việc tuân thủ kỷ luật, kỷ cương Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận công chức có dấu hiệu suy thoái phẩm chất, đạo đức, thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức kỷ luật, tha hóa về lối sống Từ đó, dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhân dân; lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước và nhân dân giao phó để nhận hối
lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêu chuẩn đích thực của
“người công bộc của nhân dân”, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với nhà nước
Chính vì vậy, pháp luật đã có những chế tài phù hợp để xử lý những tiêu cực của công chức Bên cạnh chế tài hình sự nghiêm khắc, pháp luật còn có chế tài kỷ luật nhằm xử lý những hành vi vi phạm kỷ luật chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Việc xử lý kỷ luật công chức cũng phải tuân theo một trình tự được quy trình rõ ràng tại Luật Cán bộ, công chức 2008 và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 05 năm 2011 về xử lý kỷ luật công chức Tuy nhiên, một thực tế khách quan chúng ta phải thừa nhận là các quy định về quy trình xử lý kỷ luật của các văn bản nói trên vẫn còn có những điểm chưa hợp lý, còn tồn tại nhiều bất cập chưa được giải quyết
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết đó, tác giả đã chọn đề tài: “Quy trình xử lý kỷ
luật công chức” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Hy vọng kết quả đạt được của đề
tài này sẽ góp phần vào việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy trình xử
lý kỷ luật công chức
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trang 4Trong những năm gần đây, vấn đề kỷ luật công chức được nhiều học giả, tác giả quan tâm, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức độ
nghiên cứu dưới dạng là các bài viết tạp chí như các bài viết: “Một số bất cập của
pháp luật về xử lý kỷ luật công chức”, ThS Cao Vũ Minh, ThS Nguyễn Thị Thiện
Trí, tạp chí Luật học số 11/2012, tr 23; “Một số vấn đề về kỷ luật cán bộ, công
chức”, TS Bùi Thi Đào, tạp chí Luật học số 6/2010, tr 14…
Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào ở góc độ là một công trình khóa luận tốt nghiệp về quy trình xử lý kỷ luật công chức
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật công chức, từ đó, đánh giá thực trạng pháp lý về vấn đề này và đưa ra những biện pháp nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật
Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu trên, tác giả phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những khái niệm về công chức, quy trình xử lý kỷ luật công chức;
- Phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến quy trình xử lý kỷ luật công chức
- Phân tích thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức, chỉ ra những nguyên nhân và đưa ra được các giải pháp cụ thể để giải quyết vấn
đề
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung phân tích cơ sở lý luận và những bất cập của các quy định pháp luật về quy trình xử lý xử lý kỷ luật công chức
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phân tích, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như đường lối của Đảng và Nhà nước, chính sách pháp luật nói chung Ngoài ra, tác giả còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp… nhằm làm sáng tỏ vấn đề cần giải quyết
6 Cấu trúc của đề tài
LỜI NÓI ĐẦU
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC
KẾT LUẬN
DANH MỤC ĐỀ TÀI THAM KHẢO
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ
LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC 1
1.1 Cơ sở lý luận về quy trình xử lý kỷ luật công chức 1
1.1.1 Khái niệm công chức 1
1.1.2 Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật công chức 4
1.1.2.1 Khái niệm “quy trình” 4
1.1.2.2.Khái niệm “xử lý” 5
1.1.2.3.Khái niệm “kỷ luật” 5
1.1.2.4.Khái niệm “quy trình xử lý kỷ luật công chức” 6
1.1.3 Ý nghĩa của quy trình xử lý kỷ luật công chức 6
1.2 Cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật công chức 8
1.2.1 Giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc thụ lý 8
1.2.1.1 Về thời hiệu xử lý kỷ luật công chức 8
1.2.1.2.Về các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật 9
1.2.1.3.Về việc tạm đình chỉ công tác của công chức 10
1.2.2 Giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật 11
1.2.2.1.Thời hạn xem xét kỷ luật công chức 11
1.2.2.2 Tổ chức họp kiểm điểm công chức 11
1.2.2.3.Thành lập Hội đồng kỷ luật 13
1.2.3 Giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ luật 14
1.2.3.1.Tổ chức họp Hội đồng kỷ luật 15
1.2.3.2.Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức 17
1.2.3.3.Các hình thức xử lý kỷ luật 22
1.2.4 Giai đoạn ra quyết định kỷ luật 29
1.2.4.1.Thẩm quyền xử lý kỷ luật 29
1.2.4.2.Trình tự ra quyết định kỷ luật 31
1.2.5 Giai đoạn khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện 32
1.2.5.1 Quyền khiếu nại của công chức 33
1.2.5.2 Quyền khởi kiện của công chức 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC 36
2.1 Thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức 36
Trang 72.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc xử lý 36 2.1.2 Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn chuẩn bị xử lý
kỷ luật 38 2.1.3 Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn xem xét tại Hội đồng kỷ luật 39 2.1.4 Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn ra quyết định kỷ luật 45 2.1.5 Thực trạng quy định của pháp luật về giai đoạn khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện 46
2.2 Nguyên nhân của thực trạng pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức 48
2.3 Giải pháp hoàn thiện quy trình xử lý kỷ luật công chức 51
2.3.1 Giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật 51
2.3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc xử lý 51 2.3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật công chức 53 2.3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ luật 53
2.3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn ra quyết định kỷ luật 56 2.3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về giai đoạn khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện 56
2.3.2 Các giải pháp khác 57
2.3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát việc áp dụng và thực hiện quy trình xử lý kỷ luật công chức 57 2.3.2.2 Tăng cường công tác thi đua, khen thưởng công chức 58 2.3.2.3 Bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho các cán bộ, công chức 59
2.3.2.4 Cải tiến, hoàn thiện quy trình soạn thảo, ban hành văn bản pháp luật 60
KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 8CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT
CÔNG CHỨC 1.1 Cơ sở lý luận về quy trình xử lý kỷ luật công chức
1.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm về hoạt động công vụ, vào chế độ chính trị và nền văn hóa của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể của từng nước1 Do đó, trên thế giới tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về công chức Cụ thể là:
Theo pháp luật Hoa Kỳ, công chức bao gồm tất cả những người được bổ nhiệm vào các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp trong Chính phủ Hoa Kỳ2
Ở Pháp, công chức được coi là những người được bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên, được xếp vào một ngạch trong hệ thống cơ quan hành chính của nhà nước hoặc trong các tổ chức dịch vụ công và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan hành chính3
Ở Đức, công chức được gọi là người nằm trong quan hệ công vụ nhà nước trên cơ sở lời tuyên thệ trung thành với pháp nhân quản lý công và hoàn thành theo
sự ủy thác của pháp nhân đó chức năng pháp luật công 4
Ở Nhật Bản, Điều 15 Hiến pháp hiện hành ghi nhận công chức là công bộc của toàn xã hội mà không phải của một bộ phận riêng nào Công chức Nhật Bản bao gồm: (1) những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của Chính phủ; (2) những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ, quản lý trong bộ máy hành chính ở địa phương; (3) những người thực thi công vụ tại các tổ chức dịch vụ công hoặc trong ngành lập pháp, tư pháp5
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử khái niệm công chức lại được định nghĩa khác nhau, gắn liền với sự thay đổi của nền hành chính nhà nước Khái niệm công chức được luật hóa lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế công chức của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào ngày
20 tháng 5 năm 1950, theo đó, “Công chức Việt Nam là những công dân giữ một
nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ” Tại Điều 1, Sắc lệnh khẳng định “Những công dân Việt Nam
1 Trần Anh Tuấn (2007), Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở VN trong điều kiện phát triển và hội nhập
quốc tế, Đại học Luật TPHCM, tr 14
2
Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 147
3 Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 202
4 Nguyễn Cửu Việt (2011), Luật Hành chính nước ngoài, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 250
5
Phạm Hồng Quang (2012), “Công chức, viên chức nhà nước trong đơn vị sự nghiệp công lập ở Nhật Bản và
kinh nghiệm với Việt Nam”, Dân chủ và pháp luật (1), tr 10
Trang 9được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong nước hay nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Sắc lệnh này đã xác định rõ khái
niệm công chức mang tính khoa học phù hợp với một nền công chức hiện đại đang được thực hiện ở một số nước trên thế giới lúc bấy giờ Tuy nhiên, hoàn cảnh kháng chiến đã không cho phép triển khai thực hiện đầy đủ Sắc lệnh này6
Sau đó, một thời gian khá dài (từ những năm đầu thập niên 60 tới những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước) khái niệm công chức đã không được sử dụng thay vào đó là các khái niệm như: “cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước”, “công nhân viên chức”, họ là tất cả những người trong biên chế làm việc trong cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp của Nhà nước, của Đảng, của các tổ chức chính trị -
xã hội và các đơn vị kinh tế của Nhà nước Giai đoạn này không có sự rạch ròi giữa các khái niệm “cán bộ”, “công chức”, “viên chức” Đây là một trong những thiếu sót cơ bản của pháp luật hành chính lúc bấy giờ
Đến năm 1991, Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 25/5/1991 về công chức nhà nước đã quy định khái niệm công chức mang bản
chất như Sắc lệnh 76/SL năm 1950, theo Nghị đinh này thì: “Công chức Nhà nước
Việt Nam là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một cơ sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” Nghị định này đã tách bạch khái niệm “công chức”, không lẫn lộn với
khái niệm “cán bộ” hay “viên chức” như thời kỳ trước nữa
Năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ công chức ra đời, đánh dấu một bước tiến đáng kể trong sự nghiệp hoàn thiện pháp luật về công chức Tuy nhiên, Pháp lệnh này không đưa ra định nghĩa “công chức”, ngay cả trong Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi năm 2003 cũng không đưa ra định nghĩa này, mà thay vào đó, cả hai Pháp lệnh này lại dùng phương pháp liệt kê các đối tượng là công chức Việc dùng phương pháp liệt kê đã không bao hàm hết được các đối tượng là công chức, mặt khác, phương pháp liệt kê làm cho văn bản không khoa học, thể hiện sự “bất lực” của người làm luật khi không thể đưa ra một khái niệm bao quát thế nào là công chức
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế trên, năm 2008, Quốc hội khóa XII ban hành Luật Cán bộ, công chức đã hoàn thiện khái niệm công chức Theo đó, khoản 2,
Điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được
6
Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, tr 72
Trang 10tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo
đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Theo định nghĩa này, công chức có các dấu hiệu sau:
(1) Là công dân Việt Nam;
(2) Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;
(3) Công việc có tính chuyên nghiệp và thường xuyên;
(4) Làm việc trong các cơ quan nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị -
xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
(5) Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng lương của công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì theo quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Như vậy, so với pháp luật các nước thì khái niệm công chức theo pháp luật nước ta có điểm riêng biệt, đó là, công chức nước ta không chỉ có những người làm việc trong cơ quan hành chính mà còn bao gồm cả những người được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các tổ chức chính trị như Đảng Cộng sản Việt Nam, hay tổ chức chính trị - xã hội như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ…
So với pháp luật của nước ta qua các giai đoạn lịch sử thì khái niệm công chức được Luật Cán bộ, công chức 2008 đưa ra là tiến bộ hơn cả
Thứ nhất, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã đưa thuật ngữ “công chức” ra
thành một khái niệm chứ không gọi đơn thuần là một thuật ngữ chung chung nữa
Thứ hai, dựa vào khái niệm này chúng ta đã có sự phân biệt giữa công chức,
viên chức và cán bộ
Theo đó, công chức có nhiệm vụ vận hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm
vụ quản lý, còn viên chức thì thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp
vụ Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm thuộc biên chế; còn viên chức thì được tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc Công chức được hưởng lương từ ngân sách nhà
Trang 11nước theo ngạch, bậc; đối với viên chức thì hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập, tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao
Riêng với cán bộ thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước7
So với cán bộ thì công chức làm việc thường xuyên hơn theo biên chế và hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ Cán bộ thì được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, còn công chức thì được tuyển dụng Cán bộ làm việc có nhiệm kỳ còn công chức thì không có nhiệm kỳ mà họ làm việc theo chuyên môn, nghiệp vụ
Thứ ba, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã tách khái niệm “công chức cấp xã”
và “cán bộ cấp xã” thành các khái niệm khác nhau Theo đó, cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội8 Còn công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước9 Trong khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức không trực tiếp gọi đây là cán bộ, công chức mà chỉ xếp cùng vào một nhóm
để quy định biên chế, lương… nên cơ chế quản lý và chế độ chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng
1.1.2 Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật công chức
“Quy trình” là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó10
Nó bao gồm các bước, các giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất nhằm đảm bảo cho sự hoàn chỉnh và chính xác cho công việc cần giải quyết Nếu bỏ sót hoặc không thực hiện một bước, một giai đoạn trong quy trình sẽ phạm vào sự thống nhất, đồng thời không đạt được kết quả cao nhất hoặc là không chính xác
Bên cạnh đó, nếu các chủ thể không thực hiện theo đúng quy trình mà pháp luật quy định thì có thể phải chịu các hình thức chế tài luật định Ví dụ: quy trình tố tụng hình sự - nếu các chủ thể có thẩm quyền thực hiện sai hoặc không đủ các giai
7 Khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008
8 Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức 2008
9
Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ công chức 2008
10 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 742
Trang 12đoạn của quy trình, thủ tục tố tụng hình sự thì phải chịu trách nhiệm trước pháp
Nghĩa thứ hai, “xử lý” là áp dụng vào cái gì đó những thao tácnhất định để nghiên cứu, sử dụng12 Ví dụ như: quá trìnhxử lýthông tin…
Nghĩa thứ ba, ứng với khoa học pháp lý thì “xử lý” là xem xét và giải quyết
về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó13 Ví dụ như: Xử lýnghiêm minh những vụ
vi phạm pháp luật…
Trong giới hạn bài viết này, từ “xử lý” sẽ được sử dụng với nghĩa thứ ba, tức
là, xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ vi phạm pháp luật
Kỷ luật, dưới góc độ chung nhất, là tổng thể các quy định nhằm bảo vệ trật
tự, nề nếp hoạt động nội bộ của mọi cơ quan, tổ chức của Nhà nước và của xã hội nói chung, cũng như sự tuân thủ nghiêm chỉnh của quy định đó14
Ở một định nghĩa khác kỷ luật là tổng thể nói chung nhữngđiềuquy địnhcầnphải tuân theo để giữ gìntrật tự15 Ví dụ như: kỷ luật nhà trường, kỷ luật lao động, vi phạm kỷ luật…
Kỷ luật còn là các hình thức phạt đối với người vi phạm kỷ luật16, tức là các hình thức kỷ luật mà công chức phải chịu, ví dụ như: hình thức kỷ luật cảnh cáo, khiển trách, buộc thôi việc…
Kỷ luật có nhiều loại, ứng với mỗi chủ thể phải tuân thủ kỷ luật khác nhau, chúng ta có thể phân chia theo khu vực áp dụng thành hai loại chính17 là kỷ luật nhà nước (vi phạm các quy định pháp luật về kỷ luật, như kỷ luật công chức theo pháp
11 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 1071
12 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 1071
13
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 1071
14 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr 549
15 Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 461
16
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 461
17 Nguyễn Cửu Việt (1999), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 435
Trang 13luật về cán bộ, công chức; kỷ luật lao động theo pháp luật lao động…) và kỷ luật xã hội (vi phạm các quy định về kỷ luật của các tổ chức xã hội)
Kỷ luật công chức là một dạng của kỷ luật nhà nước Kỷ luật nhà nước theo nghĩa rộng là những yêu cầu của nhà nước đối với công chức nhà nước mang tính bắt buộc thực hiện và trật tự thực hiện những yêu cầu đó Trong quản lý nhà nước,
kỷ luật được đề cập từ nhiều hướng 1) Với ý nghĩa khách quan, kỷ luật là toàn bộ các quy tắc hành vi trong hoạt động của công chức do nhà nước ban hành, chứa đựng các quy định về hành vi được thực hiện, cấm thực hiện và về khuyến khích và
xử phạt trong thực hiện hành vi 2) Từ góc nhìn chủ quan, kỷ luật là sự tuân thủ, sử dụng, thi hành, áp dụng đúng các quy tắc hành vi đã ban hành 3) Kỷ luật nhà nước liên hệ với kỷ luật của các tổ chức mà công chức nhà nước tham gia trên nguyên tắc trách nhiệm công vụ và ngoài công vụ Như vậy, nhà nước ban hành các quy tắc hành vi, còn công chức phải hiểu và chấp hành các quy tắc ấy Kỷ luật là sự thống nhất giữa ban hành và thực hiện Có quy tắc thì mới có quy chuẩn để thực hiện Công chức không tuân theo những quy tắc, kỷ luật thì sẽ bị xem xét xử lý kỷ luật
Vì pháp luật hiện hành không quy định về khái niệm xử lý kỷ luật nói chung cũng như khái niệm xử lý kỷ luật công chức nói riêng nên dựa vào phần lý luận nêu trên về việc diễn giải các khái niệm ta có thể rút ra khái niệm cụ thể như sau:
Quy trình xử lý kỷ luật công chức là quá trình để các chủ thể có thẩm quyền xem xét và giải quyết về việc công chức có hành vi vi phạm kỷ luật bằng cách buộc
họ phải chịu những hình thức kỷ luật do Nhà nước quy định Đây là biện pháp pháp
lý mang tính cưỡng chế cao và là nội dung rất cơ bản trong việc thiết lập và duy trì
kỷ luật công chức của các chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện hoạt động quản lý của mình Việc xử lý kỷ luật công chức đóng vai quan trọng trong việc duy trì trật
tự, kỷ cương, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý ở các đơn vị Ngoài tác dụng trừng phạt, việc xử lý kỷ luật công chức còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, giáo dục những công chức khác để họ thực hiện tốt kỷ luật công chức
Quy trình này bao gồm các bước, các giai đoạn cụ thể để xử lý, giải quyết những vụ vi phạm pháp luật của công chức, đó là các giai đoạn: phát hiện vi phạm
và khởi xướng việc xử lý, chuẩn bị xử lý, xem xét ở Hội đồng kỷ luật, ra quyết định
kỷ luật, khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện Các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức phải thực hiện đúng các giai đoạn của quy trình này để đảm bảo quyền và lợi ích của công chức bị vi phạm cũng như đây là sự tuân thủ pháp luật vì quy trình này đã được NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định rõ ràng
1.1.3 Ý nghĩa của quy trình xử lý kỷ luật công chức
Trang 14Đối tượng của quy trình xử lý kỷ luật công chức là công chức có hành vi vi phạm kỷ luật, họ là những người được đào tạo có hệ thống, có uy tín xã hội nhất định nhưng lại có những hành vi hành xử không phù hợp dẫn đến phải chịu những hình thức kỷ luật Quy trình xử lý kỷ luật công chức nhằm xử lý những hành vi vi phạm đó, nó có ý nghĩa về nhiều mặt:
- Đối với các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức:
Có thể nói, quy trình xử lý kỷ luật công chức là "thước đo”, là cơ sở để tiến hành xử lý kỷ luật đúng người, đúng hành vi vi phạm Nếu quy trình xử lý kỷ luật công chức không được pháp luật quy định rõ ràng có thể dẫn tới trường hợp áp dụng tùy tiện, ảnh hưởng đến quyền lợi của công chức Chính vì vậy, khi pháp luật quy định rõ các bước trong quy trình xử lý kỷ luật giúp cho các chủ thể có thẩm quyền có cơ sở pháp lý làm nền tảng để xem xét hành vi vi phạm của công chức một cách chính xác
Mặt khác, quy trình xử lý kỷ luật còn tạo điều kiện cho người có thẩm quyền xem xét kỹ lưỡng hành vi vi phạm kỷ luật của công chức trước khi ra quyết định cuối cùng vì đã được sự giúp đỡ, tư vấn từ Hội đồng kỷ luật với nhiều thành viên, nhiều cách nhìn nhận khác nhau Chính vì vậy, quy trình xử lý kỷ luật công chức được pháp luật quy định giúp cho các chủ thể có thẩm quyền dễ dàng hơn trong xử
Thông qua quy trình xử lý kỷ luật được pháp luật quy định còn giúp cho việc bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của công chức một cách tốt hơn, khi mà pháp luật quy định vấn đề này chặt chẽ sẽ không còn cơ hội cho các chủ thể có thẩm quyền sách nhiễu, bao che hay trù dập công chức
- Đối với nhà nước:
Quy trình xử lý kỷ luật mang tính khách quan và khoa học sẽ giúp nhà nước
xử lý kịp thời sai phạm của công chức, tránh những tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật gây ra Thông qua đó, khôi phục nhanh chóng trật tự quản lý nội bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan này
Trang 151.2 Cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật công chức
Pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức là một bộ phận trong pháp luật về công chức, do vậy, việc nghiên cứu cơ sở pháp lý về quy trình xử lý kỷ luật công chức phải gắn liền với pháp luật về công chức Quy trình xử lý kỷ luật công chức được phân thành nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều mang một ý nghĩa khác nhau Việc phân thành các giai đoạn trên thực tế còn có nhiều quan điểm Tác giả nhất trí theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt là quy trình xử
lý kỷ luật công chức trải qua 5 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên là phát hiện vi phạm và khởi xướng việc xử lý, giai đoạn thứ 2 là chuẩn bị xử lý, giai đoạn thứ 3 là xem xét
ở Hội đồng kỷ luật, giai đoạn thứ 4 là ra quyết định kỷ luật, giai đoạn cuối cùng là khiếu kiện và giải quyết khiếu kiện
Quy trình xử lý kỷ luật công chức được quy định tại Luật Cán bộ, công chức
2008, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/05/2011 về xử lý kỷ luật đối với công chức của Chính phủ (sau đây gọi là NĐ 34/2011/NĐ-CP)
1.2.1 Giai đoạn phát hiện vi phạm và khởi xướng việc thụ lý
Đây là giai đoạn mở đầu cho trình tự xử lý kỷ luật công chức, cơ sở pháp lý của giai đoạn này giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác định được các bước cần tiến hành khi phát hiện ra hành vi vi phạm kỷ luật của công chức Thông qua đó, xem xét hành vi này còn thời hiệu xử lý kỷ luật hay không? Hoặc trường hợp này có rơi vào các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật hay không? Mặt khác, có cần thiết phải tạm đình chỉ công tác của công chức vi phạm? Đây là tất cả các vấn đề mà
cơ quan có thẩm quyền cần xem xét trong giai đoạn này Cơ sở pháp lý của giai đoạn này được quy định cụ thể như sau:
Việc quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật là cần thiết, nhằm bảo vệ quyền lợi của công chức bị kỷ luật cũng như tăng cường trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý vi phạm Nếu như pháp luật không có quy định
về thời hiệu thì có thể dẫn đến trường hợp xử lý kỷ luật về một hành vi phát sinh từ nhiều năm trước, hiệu quả của nó và các vấn đề có liên quan đã có nhiều biến đổi dẫn đến việc giải quyết sẽ gặp nhiều khó khăn Trong khi đó, hoạt động xử lý kỷ luật đòi hỏi phải nhanh nhạy, kịp thời, vì ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau hành vi này có thể xem là vi phạm và bị xử lý kỷ luật nhưng giai đoạn khác lại không xem
đó là hành vi vi phạm và không cần phải xử lý Do vậy, việc xử lý kỷ luật chỉ có thể được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.Thời hiệu xử lý kỷ luật công
chức là khoảng thời gian pháp luật cho phép xử lý kỷ luật công chức
Trang 16Trước đây, Pháp lệnh Cán bộ, công chức không quy định thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức Tuy nhiên, tại Điều 9 Nghị định số 35/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức có quy định thời hiệu
xử lý kỷ luật Theo đó, thời hiệu xử lý kỷ luật là khoảng thời gian quy định phải tiến hành xem xét xử lý kỷ luật công chức và được tính từ thời điểm cơ quan, tổ chức đơn vị có thẩm quyền xem xét, xử lý kỷ luật xác định công chức có hành vi vi phạm
kỷ luật cho đến thời điểm Hội đồng kỷ luật họp Thời hiệu xử lý kỷ luật là 3 tháng Thực chất, đây chính là thời hạn xử lý kỷ luật chứ không phải là thời hiệu
Luật Cán bộ, công chức 2008 thì có quy định về thời hiệu xử lý lỷ luật, theo
đó, tại Khoản 1, Điều 80 quy định thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn do Luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì cán bộ, công chức có hành vi vi phạm không bị xem xét xử lý kỷ luật Thời hiệu xử lý kỷ luật là 24 tháng, kể từ thời điểm có hành
vi vi phạm
Như vậy, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã quy định về thời hiệu hợp lý hơn,
đó là khoảng thời gian mà người có thẩm quyền có quyền xử lý kỷ luật công chức, còn hết khoảng thời gian này thì công chức không bị xử lý kỷ luật nữa Đây là quy định hợp lý nhằm phân biệt với thời hạn xử lý kỷ luật công chức là khoảng thời gian
mà người có thẩm quyền phát hiện xử lý kỷ luật công chức đến khi có quyết định kỷ luật
Nghị định 34/2011/NĐ-CP quy định các trường hợp nếu phát hiện công chức
có hành vi vi phạm trong khoảng thời gian này thì chưa xem xét xử lý kỷ luật:
- Công chức đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc
riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép
- Đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền
- Công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con
dưới 12 tháng tuổi
- Đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra,
truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật
Đây là quy định mang tính nhân văn của pháp luật, vừa hợp tình và hợp lý, bởi
lẽ, việc xử lý kỷ luật sẽ không khả quan khi công chức đang có khoảng thời gian nghỉ được pháp luật cho phép, mặt khác, khi công chức đang ốm đau, công chức nữ đang mang thai mà lại xử lý kỷ luật họ trong lúc này không những không đem lại hiệu quả mà còn gây áp lực cho họ dẫn đến những trường hợp xấu có thể xảy ra Bên cạnh đó, trong những trường hợp này công chức có hành vi vi phạm kỷ luật đang có khoảng thời gian không ở cơ quan, đơn vị nên việc triệu tập công chức để
Trang 17viết bản kiểm điểm gặp khó khăn Chính vì vậy, pháp luật quy định các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật công chức trong các trường hợp trên là hoàn toàn phù hợp
Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức trong các trường hợp này cũng không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật18
Đây là nội dung mang tính pháp lý cần chú ý trong giai đoạn phát hiện vi
phạm và khởi xướng việc xử lý
Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật công chức, nếu để công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc
có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ công tác nếu công chức không bị xử lý kỷ luật thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ19
Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ20
NĐ số 34/2011/NĐ-CP có Điều 24 quy định cụ thể về chế độ, chính sách đối với công chức đang trong thời gian tạm giữ, tạm giam và tạm đình chỉ công tác như sau:
- Trong thời gian tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố,
xét xử hoặc tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật thì công chức được hưởng 50% của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có)
- Trường hợp công chức không bị xử lý kỷ luật hoặc được kết luận là oan, sai
thì được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam
18 Khoản 5, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
19
Khoản 1, Điều 81 Luật cán bộ, công chức 2008
20 Khoản 2, Điều 81 Luật cán bộ, công chức 2008
Trang 18- Trường hợp công chức bị xử lý kỷ luật hoặc bị Tòa án tuyên là có tội thì
không được truy lĩnh 50% còn lại của mức lương theo ngạch, bậc hiện hưởng, cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có) trong thời gian tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam
1.2.2 Giai đoạn chuẩn bị xử lý kỷ luật
Giai đoạn này nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để tiến hành xử lý kỷ luật công chức tốt hơn, tránh tình trạng xử lý qua loa, không đúng hành vi vi phạm Trên thực tế, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xử
lý kỷ luật công chức đã góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả xử lý kỷ luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công chức
Ngoài việc xem xét thời hạn xử lý kỷ luật công chức giai đoạn này công việc quan trọng của chủ thể có thẩm quyền còn có việc tổ chức họp kiểm điểm cho công chức có vi phạm pháp luật để công chức nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của mình và tự nhận hình thức kỷ luật mà mình cho là hợp lý Đây là quy định cần thiết,
là yếu tố mà sau này Hội đồng kỷ luật có thể sử dụng để xem xét hình thức kỷ luật hợp lý Mặt khác, nhiệm vụ quan trọng nữa của giai đoạn này là việc thành lập Hội đồng kỷ luật Nội dung cụ thể mà pháp luật quy định về giai đoạn này như sau:
Quy định về thời hạn xử lý kỷ luật là rất cần thiết, nó ràng buộc trách nhiệm
xử lý của các chủ thể có thẩm quyền phải xử lý hành vi vi phạm trong một khoảng thời gian nhất định Tăng cường trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong quá trình xử lý kỷ luật công chức
Trước đây, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức và NĐ 35/2005/NĐ-CP đều không quy định về thời hạn xử lý kỷ luật, đây là khái niệm mới được quy định ở Luật Cán bộ, công chức 2008, theo đó, tại khoản 2, Điều 80 Luật này quy định thời hạn xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức là khoảng thời gian từ khi phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật của cán bộ, công chức đến khi có quyết định xử lý kỷ luật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 02 tháng; trường hợp vụ việc có những tình tiết phức tạp cần có thời gian thanh tra, kiểm tra
để xác minh làm rõ thêm thì thời hạn xử lý kỷ luật có thể kéo dài nhưng tối đa không quá 04 tháng
Đây là công việc không thể bỏ qua khi xem xét xử lý kỷ luật công chức, việc này giúp xem xét thái độ cũng như mức độ nhận thức sai lầm của công chức Mặt khác, đây cũng là cơ hội để công chức có thể nói lên suy nghĩ về hành vi của mình
Trang 19Dựa vào các yếu tố đó, chủ thể có thẩm quyền có thể xem xét xử lý kỷ luật công chức đúng đắn, hợp tình, hợp lý Pháp luật về xử lý kỷ luật công chức quy định vấn
đề này cụ thể như sau:
Thứ nhất, người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức chịu trách nhiệm tổ
chức cuộc họp để công chức có hành vi vi phạm pháp luật tự kiểm điểm và nhận hình thức kỷ luật Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm được tiến hành đối với các trường hợp có thành lập Hội đồng kỷ luật và không thành lập Hội đồng kỷ luật quy định tại Điều 17 Nghị định 34/2011/NĐ-CP21
Việc tổ chức cuộc họp kiểm điểm được tiến hành như sau:
- Trường hợp cơ quan sử dụng công chức có đơn vị công tác cấu thành thì tổ
chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là toàn thể công chức của đơn vị công tác cấu thành Biên bản cuộc họp kiểm điểm ở đơn vị công tác cấu thành được gửi đến người đứng đầu cơ quan sử dụng công chức Cuộc họp kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức có hành vi vi phạm pháp luật được tổ chức với thành phần dự họp là đại diện lãnh đạo chính quyền, cấp ủy
và công đoàn của cơ quan sử dụng công chức22;
- Trường hợp cơ quan sử dụng công chức không có đơn vị công tác cấu thành
thì tổ chức cuộc họp kiểm điểm với thành phần dự họp là toàn thể công chức của cơ quan sử dụng công chức23
Thứ hai, đối với người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu có hành vi
vi phạm pháp luật thì người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan sử dụng công chức có trách nhiệm tổ chức họp kiểm điểm và quyết định thành phần dự họp24
Thứ ba, công chức có hành vi vi phạm pháp luật phải làm bản tự kiểm điểm,
trong đó có tự nhận hình thức kỷ luật Trường hợp công chức có hành vi vi phạm pháp luật không làm bản kiểm điểm hoặc vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập mà không có lý do chính đáng, đến lần thứ 03 sau khi đã gửi giấy triệu tập, nếu công chức vẫn vắng mặt thì cuộc họp kiểm điểm vẫn được tiến hành25
Thứ tư, nội dung các cuộc họp kiểm điểm công chức có hành vi vi phạm phải
được lập thành biên bản Biên bản các cuộc họp kiểm điểm phải có kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật đối với công chức có hành vi vi phạm pháp luật Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp kiểm điểm, biên bản cuộc họp
21
Khoản 1, Điều 16, NĐ 34/2011/NĐ-CP
22 Điểm a, Khoản 1, Điều 16, NĐ 34/2011/NĐ-CP
23 Điểm b, khoản 1, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP
24
Khoản 2, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP
25 Khoản 3, Điều 16 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 20kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức được gửi đến Chủ tịch Hội đồng kỷ luật trong trường hợp thành lập Hội đồng kỷ luật hoặc người có thẩm quyền xử lý kỷ luật trong trường hợp không thành lập Hội đồng kỷ luật để xem xét theo thẩm quyền quy định tại NĐ 34/2011/NĐ-CP26
17, NĐ 34/2011/NĐ-CP
:
phạm pháp luật bị phạt tù mà không được hưởng án treo
Trong trường hợp này, công chức có hành vi vi phạm pháp luật và hành vi này
đã được xem xét bởi Tòa án, là cơ quan có thẩm quyền xét xử duy nhất ở nước ta Những quyết định của Tòa án được đưa ra bởi những thủ tục tố tụng chặt chẽ, tuân theo pháp luật tố tụng Tòa án cũng làm việc theo chế độ tập thể như Hội đồng kỷ luật Do vậy, việc xem xét hành vi vi phạm pháp luật của công chức ở Tòa án đã đảm bảo tính khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội nên nếu cũng là hành vi
đó mà xem xét ở Hội đồng kỷ luật nữa là không cần thiết, mất thời gian, công sức Chính vì vậy, NĐ 34/2011/NĐ-CP đã quy định trường hợp này không cần thành lập Hội đồng kỷ luật
đạo, quản lý bị xem xét xử lý kỷ luật khi đã có kết luận về hành vi vi phạm pháp luật của cấp ủy, tổ chức Đảng theo quy định phân cấp quản lý cán bộ, công chức của Ban Chấp hành Trung ương
Trong trường hợp này, hành vi vi phạm của công chức cũng đã được xem xét bởi tổ chức khác là cấp ủy, tổ chức Đảng Việc xem xét lại ở Hội đồng kỷ luật cũng không còn cần thiết nữa Tuy nhiên, trường hợp này có một số điểm bất cập, chưa hợp lý, sẽ được trình bày ở chương hai
Trang 21- Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm
pháp luật, Hội đồng kỷ luật có 05 thành viên, bao gồm:
Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức;
Một Ủy viên Hội đồng là đại diện Ban Chấp hành công đoàn của cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức;
Một Ủy viên Hội đồng là đại diện của đơn vị công tác có công chức bị xem xét xử lý kỷ luật, ủy viên Hội đồng này do người đứng đầu của đơn vị công tác đó lựa chọn và cử ra;
Một Ủy viên Hội đồng là người trực tiếp quản lý hành chính và chuyên môn, nghiệp vụ của công chức bị xem xét xử lý kỷ luật;
Một Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là người phụ trách bộ phận tham mưu
về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị có công chức bị xem xét xử lý kỷ luật
- Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có hành vi vi phạm pháp
luật, Hội đồng kỷ luật có 05 thành viên, bao gồm:
Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức;
Một Ủy viên Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu
cơ quan cấp trên trực tiếp của cơ quan sử dụng công chức;
Một Ủy viên Hội đồng là đại diện cấp ủy của cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức;
Một Ủy viên Hội đồng là đại diện Ban Chấp hành công đoàn của cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức;
Một Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng là người phụ trách bộ phận tham mưu
về công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan quản lý công chức hoặc cơ quan được phân cấp quản lý công chức
- Không được cử người có quan hệ gia đình như cha, mẹ, con được pháp luật
thừa nhận; vợ, chồng; anh, chị, em ruột; chị, em dâu; anh, em rể hoặc người
có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của công chức bị xem xét xử lý
kỷ luật tham gia thành viên Hội đồng kỷ luật
1.2.3 Giai đoạn xem xét ở Hội đồng kỷ luật
Đây là một bước quan trọng trong trình tự xử lý kỷ luật công chức, nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công chức có hành vi vi phạm Hội đồng kỷ luật
29 Điều 15 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 22làm việc tập thể nên sẽ đưa ra những quyết định mang tính khách quan, hợp lý nhất, trách tình trạng chủ quan, định kiến của một cá nhân khi giải quyết vi phạm Giai đoạn này, Hội đồng kỷ luật phải xem xét hành vi vi phạm của công chức cần tuân theo những nguyên tắc nào, bị xử lý bằng hình thức kỷ luật nào, có áp dụng trách nhiệm tăng nặng hay không? Trước khi xem xét tất cả các vấn đề này, việc tiên quyết là phải tổ chức họp Hội đồng kỷ luật
: Hoạt động của Hội đồng kỷ luật phải tuân theo những nguyên tắc sau:
- Hội đồng kỷ luật họp khi có đủ 03 thành viên trở lên tham dự, trong đó có
Chủ tịch Hội đồng và Thư ký Hội đồng Hội đồng kỷ luật kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật thông qua bỏ phiếu kín
Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo quyết định của Hội đồng kỷ luật phải được đưa ra bởi tập thể có 3 thành viên trở lên
Chủ tịch Hội đồng và Thư ký Hội đồng là những thành viên quan trọng, họ không thể vắng mặt trong cuộc họp Hội đồng
Nguyên tắc bỏ phiếu kín đảm bảo tính khách quan, mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do thể hiện ý chí của thành viên, không bị sự tác động từ các chủ thể khác, để có sự khách quan trong việc lựa chọn họ
- Việc họp Hội đồng kỷ luật phải được lập thành biên bản ghi ý kiến của các
thành viên dự họp và kết quả bỏ phiếu kiến nghị hình thức kỷ luật áp dụng đối với công chức có hành vi vi phạm pháp luật
Thứ hai, về công tác chuẩn bị họp31:
Chậm nhất là 07 ngày làm việc trước cuộc họp của Hội đồng kỷ luật, giấy triệu tập họp phải được gửi tới công chức có hành vi vi phạm pháp luật Công chức
có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt phải có lý do chính đáng Trường hợp công chức có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt sau 02 lần gửi giấy triệu tập thì đến lần thứ 3 sau khi đã gửi giấy triệu tập, nếu công chức đó vẫn vắng mặt thì Hội đồng kỷ luật vẫn họp xem xét và kiến nghị hình thức kỷ luật;
Hội đồng kỷ luật có thể mời thêm đại diện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội nơi công chức có hành vi vi phạm pháp luật đang công tác dự họp Người được mời dự họp có quyền phát biểu ý kiến và đề xuất hình thức kỷ luật nhưng không được bỏ phiếu về hình thức kỷ luật;
30 Khoản 3, Điều 17 NĐ 34/2011/NĐ-CP
31
Khoản 1 Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 23Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng kỷ luật có nhiệm vụ chuẩn bị tài liệu, hồ sơ liên quan đến việc xử lý kỷ luật, ghi biên bản cuộc họp của Hội đồng kỷ luật;
Hồ sơ xử lý kỷ luật trình Hội đồng kỷ luật gồm có bản tự kiểm điểm, trích ngang sơ yếu lý lịch của công chức có hành vi vi phạm pháp luật, biên bản cuộc họp kiểm điểm của cơ quan sử dụng công chức và các tài liệu khác có liên quan
sau:
- Chủ tịch Hội đồng kỷ luật tuyên bố lý do, giới thiệu các thành viên tham dự;
- Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng kỷ luật đọc trích ngang sơ yếu lý lịch của
công chức có hành vi vi phạm pháp luật và các tài liệu khác có liên quan;
- Công chức có hành vi vi phạm pháp luật đọc bản tự kiểm điểm, nếu công
chức có hành vi vi phạm pháp luật vắng mặt thì Thư ký Hội đồng kỷ luật đọc thay, nếu công chức có hành vi vi phạm pháp luật không làm bản tự kiểm điểm thì Hội đồng kỷ luật tiến hành các trình tự còn lại của cuộc họp quy định tại khoản này;
- Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng kỷ luật đọc biên bản cuộc họp kiểm điểm;
- Các thành viên Hội đồng kỷ luật và người tham dự cuộc họp phát biểu ý
kiến;
- Công chức có hành vi vi phạm pháp luật phát biểu ý kiến; nếu công chức có
hành vi vi phạm pháp luật không phát biểu ý kiến hoặc vắng mặt thì Hội đồng kỷ luật tiến hành các trình tự còn lại của cuộc họp quy định tại khoản này;
- Hội đồng kỷ luật bỏ phiếu kín kiến nghị áp dụng hình thức kỷ luật;
- Chủ tịch Hội đồng kỷ luật công bố kết quả bỏ phiếu kín và thông qua biên
Thứ tư, Hội đồng kỷ luật gửi kiến nghị hình thức kỷ luật và biên bản cuộc họp
đến người có thẩm quyền Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc cuộc họp, Hội đồng kỷ luật phải có kiến nghị việc xử lý kỷ luật bằng văn bản (kèm
32
Khoản 2, Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP
33 Khoản 3, Điều 19 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 24theo biên bản họp Hội đồng kỷ luật và hồ sơ xử lý kỷ luật) gửi người có thẩm quyền
xử lý kỷ luật34
Bất kỳ hoạt động nào có tổ chức của con người đều phải được tiến hành dựa trên những nguyên tắc nhất định, nó sẽ giúp hoạt động đó được tiến hành tốt hơn, có
hệ thống hơn Hoạt động xử lý kỷ luật công chức cũng vậy, cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để tránh tùy tiện của những chủ thể có thẩm quyền, nhằm bảo vệ lợi ích của công chức, đồng thời để đảm bảo cho việc xử lý kỷ luật công chức được khách quan, đúng pháp luật và phát huy được tác dụng tích cực của
kỷ luật công chức trong quản lý công chức Chính vì vậy, pháp luật về xử lý công chức đã quy định về các nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ quá trình xử lý
kỷ luật công chức Đòi hỏi những chủ thể có thẩm quyền phải nắm rõ những nguyên tắc này, có như vậy mới đảm bảo xử lý khách quan, công minh
Nguyên tắc xử lý kỷ luật được quy định tại Điều 2, NĐ 34/2011/NĐ-CP cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc xử lý kỷ luật phải khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng
pháp luật35
Đây là nguyên tắc quan trọng, góp phần bảo đảm việc tuân thủ pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của công chức Nguyên tắc này đòi hỏi việc xử lý kỷ luật công chức phải đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, đặc biệt
là đảm bảo đúng thời hạn giải quyết, thủ tục gọn, tránh dây dưa kéo dài gây tốn kém, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công chức
Việc xử lý kỷ luật khách quan là quá trình xử lý kỷ luật phải được tiến hành dựa trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động, không được bóp méo, xuyên tạc sự thật Đảm bảo nguyên tắc khách quan mới giúp cho chủ thể có thẩm quyền xử lý đúng hành vi vi phạm
Tính công bằng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm thiết chế dân chủ Tính công bằng trước hết thể hiện ở chỗ quá trình xử lý kỷ luật phải tránh các hiện tượng vì lợi ích của một cá nhân hoặc của một nhóm người mà làm trái các quy định của pháp luật, như bao che hành vi vi phạm, hay vì thù hằn cá nhân mà xử lý kỷ luật công chức nặng hơn Chính vì vậy, cùng một hành vi vi phạm, cùng một điều kiện, hoàn cảnh phải được xử lý kỷ luật như nhau, không bao che, thiên vị hay trù dập công chức
34
Khoản 1, Điều 20 NĐ 34/2011/NĐ-CP
35 Khoản 1, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 25Xử lý kỷ luật công chức phải thật sự nghiêm minh, không “giơ cao đánh khẽ”, thực hiện nguyên tắc này giúp đảm bảo quyền lực nhà nước, nhằm răn đe những công chức khác để họ không có hành vi vi phạm tương tự
Việc xử lý kỷ luật phải đúng pháp luật, tức là mọi chủ thể phải tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về xử lý kỷ luật công chức nói riêng một cách tự giác, nghiêm minh, đầy đủ, triệt để, thống nhất…
Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ bảo vệ được quyền lợi của công chức
vi phạm mà còn góp phần kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước một cách hữu hiệu, ngăn chặn tình trạng tha hóa quyền lực nhà nước, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Đây là một trong những nguyên tắc của việc áp dụng trách nhiệm pháp lý nói chung (bao gồm cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật lao động) Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật công chức chủ yếu là để giáo dục, thuyết phục chứ không phải để trừng phạt công chức và cũng nhằm mục đích bảo vệ công chức
Nếu công chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc37
một hình thức kỷ luật, ví dụ: công chức A bị phạt tù mà không được hưởng án treo,
chủ thể có thẩm quyền ra quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức A, như vậy, hành vi vi phạm của công chức A đã được xử lý bằng một hình thức kỷ luật là buộc thôi việc, lúc này không thể áp dụng hình thức kỷ luật khác như cảnh cáo, khiển trách… đối với hành vi vi phạm này Đối với trường hợp công chức có nhiều hành
vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm và chịu hình thức
kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm phải xử lý kỷ luật bằng hình thức
buộc thôi việc Ví dụ: công chức B có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó
36
Khoản 2, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
37 Khoản 2, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 26khăn, phiền hà đối với cá nhân trong thi hành công vụ và tự ý nghỉ việc 06 ngày làm việc trong một tháng; trong trường hợp này, công chức B phải chịu hình thức kỷ luật khiển trách đối với hành vi có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với cá nhân trong thi hành công vụ và chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với hành vi tự ý nghỉ việc 06 ngày làm việc trong một tháng Vì công chức B có nhiều hành vi vi phạm nên phải chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật cảnh cáo, chung quy lại, công chức B sẽ phải chịu hình thức kỷ luật hạ bậc lương Nếu công chức B có hành vi vi phạm mà bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc thì dù công chức B có hành vi vi phạm nào đi chăng nữa hình thức kỷ luật vẫn là buộc thôi việc
Thứ ba, trường hợp công chức tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật trong thời
gian đang thi hành quyết định kỷ luật thì bị áp dụng hình thức kỷ luật như sau: _ Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật ở hình thức nhẹ hơn hoặc bằng so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật đang thi hành38
Ví dụ: Công chức C đang thi hành hình thức kỷ luật cảnh cáo vì sử dụng giấy tờ
không hợp pháp để được dự thi nâng ngạch công chức thì lại phải chịu hình thức kỷ luật khiển trách vì thực hiện hành vi sử dụng tài sản công trái pháp luật Trong trường hợp này công chức C phải chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật cảnh cáo đang áp dụng là hình thức kỷ luật hạ bậc lương
_ Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật ở hình thức nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức
so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật mới39
Ví dụ: Công chức D là công chức giữ chức vụ lãnh đạo đang thi hành hình
thức kỷ luật cảnh cáo vì cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện mà lại phải chịu hình thức kỷ luật hạ bậc lương vì vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Trong trường hợp này công chức
D phải chịu hình thức kỷ luật là giáng chức nặng hơn so với hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với hành vi vi phạm mới
Và quyết định kỷ luật đang thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định kỷ luật đối với hành vi vi phạm pháp luật mới có hiệu lực
Thứ tư, thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của công
chức có hành vi vi phạm pháp luật là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi
áp dụng hình thức kỷ luật40
38
Điểm a, khoản 3 Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
39 Điểm a, khoản 3 Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 27Điều này đóng vai trò quan trọng, bảo đảm công bằng, minh bạch trong quá trình định hình thức kỷ luật Việc xử lý kỷ luật công chức nhằm mục đích giáo dục công chức, đồng thời góp phần phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật của công chức Nếu như công chức đã có những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức thì việc áp dụng hình thức kỷ luật quá nghiêm khắc cũng không cần thiết nữa, lúc này công chức sẽ được xem xét giảm nhẹ hình thức
kỷ luật Ngược lại, nếu như công chức vẫn tỏ thái độ không tiếp thu, không hợp tác, không sửa chữa khắc phục hậu quả thì việc áp dụng hình thức kỷ luật là cần thiết
Thứ năm, thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức trong các
trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị định 34/2011/NĐ-CP không tính vào thời hạn
xử lý kỷ luật41
Tại Điều 4 NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định về các trường hợp chưa xem xét xử
lý kỷ luật, đó là trường hợp công chức (1) đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép, (2) đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, (3) công chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới
12 tháng tuổi, (4) đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật
Các trường hợp trên không tính vào thời hạn xử lý kỷ luật, vì đây là những trường hợp chưa xem xét kỷ luật, thời hạn xử lý kỷ luật chỉ có 2 tháng, nếu chúng ta tính các trường hợp này vào thời hạn xử lý kỷ luật thì trường hợp quá hạn xử lý kỷ luật sẽ xảy ra
Thứ sáu, không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình thức kỷ
luật42
Theo khoản 1, Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Trục xuất
Như vậy, không được áp dụng các hình thức xử phạt hành chính nói trên để thay thế hình thức kỷ luật Sở dĩ có nguyên tắc này là vì:
Trang 28phạm pháp luật hành chính, tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Còn hình thức kỷ luật áp dụng cho công chức vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ; những việc công chức không được làm quy định tại Luật Cán bộ, công chức, công chức vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật, công chức vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Ý nghĩa của mỗi dạng trách nhiệm pháp lý là khác nhau nên không thể thay
thế cho nhau Trách nhiệm hành chính được đặt ra khi các cá nhân, cơ quan,
tổ chức vi phạm hành chính, nhằm trừng trị, lên án đối với người vi phạm cũng như thông qua đó giáo dục họ về mặt nhận thức để có định hướng đúng đắn đối với giá trị xã hội được nhà nước ghi nhận và phòng ngừa vi phạm pháp luật hành chính Còn trách nhiệm kỷ luật đặt ra khi công chức vi phạm
kỷ luật, là trách nhiệm luôn gắn với hành vi vi phạm kỷ luật, được áp dụng tại cơ quan, đơn vị, tổ chức với mục đích nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, trật
tự quản lý, giáo dục công chức vi phạm và phòng ngừa vi phạm
- Trách nhiệm kỷ luật có thể được áp dụng đồng thời với trách nhiệm hành
chính Khi công chức thực hiện một hành vi vi phạm kỷ luật mà hành vi này đồng thời vi phạm pháp luật hành chính thì công chức đó phải gánh chịu đồng thời trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hành chính
Thứ bảy, cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của công
chức trong quá trình xử lý kỷ luật43
Mục đích của các hình thức kỷ luật công chức là nhằm giáo dục, răn đe công chức vi phạm kỷ luật, để họ nhận ra sai lầm và sửa chữa chứ không nhằm mục đích trả thù hay trừng phạt
Mặt khác, quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người là một trong những quyền quan trọng của con người được hiến pháp quy định, theo đó, tại khoản 1, Điều 20 Hiến pháp 2013 nước ta quy định: mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự
43 Khoản 7, Điều 2 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 29và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm Chính vì vậy, khi xử lý kỷ luật công chức, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc này một cách triệt để, phải tôn trọng, không xúc phạm công chức vi phạm
Hình thức xử lý kỷ luật công chức được quy định tại khoản 1, Điều 79 Luật Cán bộ, công chức 2008, theo đó, công chức vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây:
e) Buộc thôi việc
Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý44 Điều này là hợp lý, vì chỉ khi “có chức” thì mới có thể giáng chức, cách chức còn “không có chức” thì không thể cách chức, giáng chức được
Nhằm hướng dẫn Luật Cán bộ, công chức, Nghị định số 34/2011/NĐ-CP đã
có quy định cụ thể hơn về các hình thức xử lý kỷ luật đối với công chức
Luật Cán bộ công chức 2008 và NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định về hình thức
xử lý kỷ luật đối với công chức có một số điểm mới so với Nghị định số 35/2005/NĐ-CP Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức và Nghị định số 35/2005/NĐ-
CP của Chính phủ về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức thì quy định 6 hình thức
kỷ luật chung cho cả cán bộ và công chức, đó là: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc Còn theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP thì quy định riêng cụ thể:
- Đối với cán bộ, có 04 hình thức kỷ luật là: khiển trách, cảnh cáo, cách chức
và bãi nhiệm45 Việc cách chức chỉ áp dụng đối với cán bộ được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ46
- Đối với công chức, có 04 hình thức kỷ luật đối với công chức không giữ
chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc
44 Khoản 2, Điều 79 Luật Cán bộ, công chức 2008
45
Khoản 1, Điều 78 Luật Cán bộ, công chức 2008
46 Khoản 2, Điều 78 Luật Cán bộ, công chức 2008
Trang 30thôi việc47; đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 06 hình thức
kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc48
Như vậy, Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 34/2011/NĐ-CP đã quy định rõ các hình thức kỷ luật phù hợp đối với công chức không giữ và có giữ chức
vụ lãnh đạo, quản lý Đồng thời còn bổ sung thêm hình thức kỷ luật giáng chức, đây
là hình thức kỷ luật được bổ sung đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý
bị xuống chức ở mức thấp hơn khi chưa đến mức bị cách chức nhằm tạo điều kiện cho công chức giữ chức vụ khi vi phạm kỷ luật tiếp tục phấn đấu, khắc phục sai phạm Luật Cán bộ, công chức 2008 còn bỏ đi hình thức kỷ luật hạ ngạch vì ngạch chỉ là sự phân loại thuần túy mang tính chất chuyên môn, tuy nhiên, bỏ đi hình thức
kỷ luật này vẫn còn cần phải cân nhắc, vì có những trường hợp áp dụng hình thức
kỷ luật hạ ngạch hợp lý hơn
Khiển trách là hình thức kỷ luật được sử dụng phổ biến và cũng là hình thức
kỷ luật ít nghiêm khắc nhất Hình thức kỷ luật này chủ yếu mang tính nhắc nhở và không có ảnh hưởng trực tiếp về mặt vật chất của công chức
Về mặt lý luận cũng như pháp lý có nhiều khái niệm khác nhau về hình thức
kỷ luật này “Khiển trách” là phê phán và chê trách khuyết điểm (một hình thức kỷ luật nhẹ hơn cảnh cáo)49 Hay theo như khoản 1, Điều 12 NĐ 97/1998/NĐ-CP về xử
lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức thì hình thức khiển trách được
áp dụng đối với công chức có hành vi vi phạm lần đầu, nhưng ở mức độ nhẹ Quy định như NĐ 97/1988/NĐ-CP là chưa cụ thể, còn chung chung, quy định “mức độ nhẹ” còn khó có thể xác định được mà cũng không có sự hướng dẫn cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền Việc xác định thế nào là “mức độ nhẹ” phụ thuộc hoàn toàn vào sự xem xét, đánh giá của các chủ thể có thẩm quyền
Chính vì vậy, khi xây dựng Luật Cán bộ, công chức 2008 và NĐ 34/2011/NĐ-CP đã không còn đưa ra những quy định chung chung mà đã quy định
cụ thể các hành vi vi phạm nào là bị xử lý kỷ luật khiển trách
Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây50
:
- Có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thi hành công vụ
Trang 31- Không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có lý do chính đáng;
- Gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;
- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc trong một tháng;
- Sử dụng tài sản công trái pháp luật;
- Xác nhận giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;
- Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện tiết
kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công tác
Việc quy định các hành vi vi phạm cụ thể đã giúp cho công chức nhận biết được hành vi nào là vi phạm để có thể tránh tình trạng vi phạm cũng như giúp các
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý vi phạm biết được và phát hiện hành vi vi phạm để xử lý kịp thời, đúng pháp luật
“có tính chất tương đối nghiêm trọng” cũng không được giải thích dẫn đến tình
trạng áp dụng không chính xác, còn tùy nghi
Khắc phục tình trạng đó, NĐ 34/2011/NĐ-CP đã quy định cụ thể các trường hợp vi phạm pháp luật và phải chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo cụ thể như sau52
:
- Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;
- Sử dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị để vụ lợi;
- Không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ
chức, đơn vị có thẩm quyền;
- Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; được
dự thi nâng ngạch công chức;
- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng;
- Sử dụng trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo về cơ quan, tổ
chức, đơn vị nơi công chức đang công tác;
51
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb Tp Hồ Chí Minh, tr 100
52 Điều 10 NĐ 34/2011/NĐ-CP
Trang 32- Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với công chức
không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
- Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống
tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét
xử lý kỷ luật
Hình thức kỷ luật hạ bậc lương đã chính thức tác động trực tiếp đến kinh tế của công chức vi phạm, nó có tính chất nặng hơn hình thức kỷ luật cảnh cáo Theo khoản 3, Điều 12, NĐ 97/1998/NĐ-CP quy định hình thức hạ bậc lương áp dụng đối với công chức có hành vi vi phạm nghiêm trọng trong thực hiện nhiệm vụ, công
vụ Thế nào là “vi phạm nghiêm trọng” không được nghị định này giải thích, điều này làm cho trên thực tế khó áp dụng quy định này
Tại Điều 11, NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không có lý do chính
đáng, gây ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị
- Lợi dụng vị trí công tác, cố ý làm trái pháp luật với mục đích vụ lợi;
- Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống
tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
Các hành vi trên nếu kỷ luật cảnh cáo thì không tương xứng với mức độ vi phạm nhưng nếu buộc thôi việc thì quá khắt khe, việc quy định hình thức kỷ luật hạ bậc lương là phù hợp nhất, nó tác động trực tiếp đến kinh tế của công chức
Theo khoản 1, Điều 23 NĐ 34/2011/NĐ-CP thì công chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức hạ bậc lương, nếu đang hưởng lương từ bậc 2 trở lên của ngạch hoặc chức danh thì xếp vào bậc lương thấp hơn liền kề của bậc lương đang hưởng Thời gian hưởng bậc lương mới kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực Thời gian xét nâng bậc lương lần sau để trở lại bậc lương cũ trước khi bị kỷ luật được tính kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực Thời gian giữ bậc lương trước khi bị kỷ luật hạ bậc lương được bảo lưu để tính vào thời gian xét nâng bậc lương lần kế tiếp Trường hợp công chức đang hưởng lương bậc 1 hoặc đang hưởng phụ cấp thâm niên vượt khung của ngạch hoặc chức danh thì không áp dụng hình thức kỷ luật hạ
Trang 33bậc lương; tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật người có thẩm quyền xem xét áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp
“Giáng chức” là việc công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị hạ xuống chức
vụ thấp hơn53 Hay “giáng chức” là hạ chức xuống bậc dưới54 Chung quy lại, giáng chức là hình thức kỷ luật chỉ áp dụng đối với công chức giữ chức vụ quản lý, lãnh đạo và bị hạ chức xuống thấp hơn chức đang đương nhiệm Đây là hình thức kỷ luật mới được Luật Cán bộ, công chức quy định, trước đây Pháp lệnh Cán bộ, công chức
1998 không có quy định hình thức kỷ luật này
Hình thức kỷ luật giáng chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể sau đây55
:
- Không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không
có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả nghiêm trọng;
- Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống
tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật;
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi vi phạm pháp
luật nghiêm trọng trong phạm vi phụ trách mà không có biện pháp ngăn chặn
Theo khoản 3, Điều 23 NĐ 34/2011/NĐ-CP thì trường hợp công chức giữ chức
vụ lãnh đạo, quản lý mà không còn chức vụ lãnh đạo thấp hơn chức vụ đang giữ nếu
có hành vi vi phạm pháp luật bị xem xét ở hình thức kỷ luật giáng chức thì giáng xuống không còn chức vụ
“Cách chức” là không cho giữ chức vụ đang làm nữa56 Hay “cách chức” là việc cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý không được tiếp tục giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm57 NĐ 97/1998/NĐ-
CP cũng đã có quy định về hình thức kỷ luật cách chức, theo đó, tại khoản 5, Điều
12 Nghị định này quy định hình thức cách chức áp dụng đối với công chức có chức
vụ mà hành vi vi phạm nghiêm trọng xét thấy không thể để tiếp tục đảm nhiệm
Trang 34được chức vụ được giao Tương tự như các hình thức kỷ luật khác, trong quy định này vấn đề thế nào là “vi phạm nghiêm trọng” cũng không được giải thích rõ ràng
Tại Điều 13 NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
- Hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với công chức giữ chức vụ lãnh
đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây58
:
Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ;
Không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không
có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng;
Bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ;
Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
- Việc áp dụng hình thức kỷ luật cách chức đối với công chức giữ các chức
danh tư pháp được thực hiện theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật chuyên ngành59
Đây là hình thức kỷ luật nặng nhất, lúc này công chức không còn được tiếp tục làm việc trong các cơ quan nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập nữa Do đó, pháp luật quy định rất chặt chẽ về hình thức kỷ luật này
Tại khoản 3 Điều 79 Luật Cán bộ, công chức quy định về trường hợp đặc biệt là khi công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
Tại Điều 14, NĐ 34/2011/NĐ-CP quy định cụ thể các trường hợp áp dụng hình thức kỷ luật buộc thôi việc đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
Trang 35- Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ
20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;
- Vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng,
chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công chức
Các hành vi vi phạm trên đây là đặc biệt nghiêm trọng, công chức không còn xứng đáng để được giữ nhiệm vụ chuyên môn trong các đơn vị sự nghiệp nữa
Theo Luật Cán bộ, công chức 2008 thì nếu công chức bị khiển trách hoặc cảnh cáo thì thời gian nâng lương bị kéo dài 06 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật
có hiệu lực; nếu bị giáng chức, cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực60
Còn nếu công chức bị kỷ luật từ khiển trách đến cách chức thì không thực hiện việc nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực; hết thời hạn này, nếu cán bộ, công chức không
vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì tiếp tục thực hiện nâng ngạch, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm theo quy định của pháp luật61
Nếu công chức đang trong thời gian bị xem xét kỷ luật, đang bị điều tra, truy
tố, xét xử thì không được ứng cử, đề cử, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, đào tạo, bồi dưỡng, thi nâng ngạch, giải quyết nghỉ hưu hoặc thôi việc62
Còn nếu công chức bị kỷ luật cách chức do tham nhũng thì không được bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý63
Nghị định số 34/2011/NĐ-CP đã quy định cụ thể về các trường hợp trên như sau:
Thứ nhất, công chức bị xử lý kỷ luật bằng hình thức hạ bậc lương, nếu đang
hưởng lương từ bậc 2 trở lên của ngạch hoặc chức danh thì xếp vào bậc lương thấp hơn liền kề của bậc lương đang hưởng Thời gian hưởng bậc lương mới kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực Thời gian xét nâng bậc lương lần sau để trở lại bậc lương cũ trước khi bị kỷ luật được tính kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực Thời gian giữ bậc lương trước khi bị kỷ luật hạ bậc lương được bảo lưu để tính vào thời gian xét nâng bậc lương lần kế tiếp Trường hợp công chức đang hưởng lương
60 Khoản 1, Điều 82 Luật Cán bộ công chức 2008
61 Khoản 2, Điều 82 Luật Cán bộ công chức 2008
62
Khoản 3, Điều 82 Luật Cán bộ công chức 2008
63 Khoản 4, Điều 82 Luật Cán bộ công chức 2008