Với đề tài này tác giả mong muốn được đóng góp một phần nhỏ công sức của mình trong việc đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về XLKL CC và nâng cao hi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LƯỢNG
XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC -
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN MINH LƯỢNG
XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC -
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TIẾN SĨ PHẠM QUANG HUY
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giải xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận
văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính về “Xử lý kỷ luật công chức
trong cơ quan hành chính nhà nước - từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này./
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Lƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy Tiến sĩ Phạm Quang Huy, người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành Luận văn này
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Nhà nước và Pháp luật, khoa Sau đại học Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện hoàn thành đề tài luận văn
Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận, Phòng Nội vụ các huyện, thành phố trực thuộc tỉnh Ninh Thuận, Uỷ ban Kiểm tra tỉnh uỷ và huyện, thành uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ Ninh Thuận đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót
Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Hội đồng, quý Thầy Cô giáo, các nhà khoa học để bản thân nhận thức được sâu kỷ thêm và Luận văn được hoàn thiện hơn, có thể đóng góp một phần nhỏ cho công tác XLKL công chức trong thời gian tới
Trang 5Tác giả xin trân trọng cảm ơn !
Ninh Thuận, tháng 02 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Lƣợng
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 8
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, ý nghĩa và điều kiện bảo đảm thực hiện việc xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức 15
1.1.3 Ý nghĩa của việc xử lý kỷ luật công chức 21
1.1.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước 23
1.2 Điều chỉnh pháp luật về xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước 24
1.2.1 Nội dung và hình thức xử lý kỷ luật công chức 24
1.2.2 Thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức 32
1.2.3 Quy trình xử lý kỷ luật công chức 34
Chương 2: TÌNH HÌNH VI PHẠM KỶ LUẬT VÀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TẠI TỈNH NINH THUẬN 49
Trang 72.1 Tình hình vi phạm kỷ luật của công chức hành chính nhà nước tại tỉnh
Ninh Thuận giai đoạn từ 2010 đến 2016 49
2.2 Tình hình xử lý kỷ luật công chức hành chính trong cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận 52
2.2.1 Kết quả xử lý kỷ luật công chức hành chính trong cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận giai đoạn từ 2010 đến 2016 52
2.2.2 Những hạn chế trong công tác xử lý kỷ luật công chức hành chính trong cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận giai đoạn từ 2010 đến 2016 57
2.3 Nguyên nhân của hạn chế 75
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIẾN TỈNH NINH THUẬN 79
3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm kỷ luật công chức hành chính trong cơ quan hành chính nhà nước 79
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức 79
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức kỷ luật 81
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức 88
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về quy trình xử lý kỷ luật công chức 88
3.1.5 Hoàn thiện quy định pháp luật về các hệ quả khác khi công chức bị xử lý kỷ luật 105
3.2 Nhóm giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm kỷ luật công chức hành chính trong cơ quan hành chính nhà nước 107
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách
Nghị định 157 Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính
phủ quy định chế độ trách nhiệm đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức đơn vị của Nhà nước trong thi hành nhiệm vụ, công vụ
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Qua hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, chính trị và ngoại giao Kinh tế tăng trưởng cao và đều hàng năm, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân được nâng lên, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội đã được giữ vững, hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng, vị thế nước ta trên trường quốc tế từng bước được nâng cao, đưa đất nước ta thoát khỏi giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, toàn diện về kinh tế - xã hội, bị bao vây cấm vận của thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp, duy ý chí; từ đó tạo đà cho sự phát triển của đất nước trong giai đoạn tới
Cùng với sự phát triển của đất nước, bộ máy nhà nước và đội ngũ CBCC cũng từng bước được xây dựng, củng cố và kiện toàn; trình độ, năng lực chuyên môn ngày càng được nâng lên, nhất là việc tiếp cận nền khoa học,
kỹ thuật tiến tiến, hiện đại, tinh hoa của nhân loại, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức và công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá để phục vụ cho sự phát triển và hội nhập của đất nước
Bên cạnh những thành tựu đạt được, sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với đội ngũ CBCC là không tránh khỏi; thậm chí trên một số lĩnh vực rất nghiêm trọng; dẫn đến tình trạng một số CBCC thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống; vi phạm trong thực thi công vụ của CBCC ngày càng nhiều, tính chất mức độ vi phạm ngày càng phức tạp, tinh vi và nghiêm trọng
Trước thực trạng trên, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI của
Đảng một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay đã đánh giá: “Một
bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí
Trang 11lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng,
sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, tuỳ tiện, vô nguyên tắc”
Để tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm của CBCC; trong những năm gần đây, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về XLKL công chức vi phạm Đây là những cơ sở pháp lý để thực hiện XLKL CC vi phạm trong thực thi công vụ
Tuy nhiên, việc XLKL CC vi phạm trong các cơ quan hành chính nhà nước trong thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế; chưa đạt được mục tiêu giáo dục, răn đe, phòng ngừa sai phạm; còn nặng về xử lý sự vụ Bên cạnh đó, qua nghiên cứu cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật về XLKL
CC vẫn còn thiếu thống nhất, chưa đồng bộ, còn có khoảng trống, còn nhiều bất cập
Để góp phần làm sáng tỏ thêm bản chất của việc XLKL CC, những bất cập trong pháp luật về XLKL CC và thực trạng tình hình XLKL CC trong cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận trong thời gian qua nên tác giả
đã chọn đề tài “ Xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà
nước - từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận” làm luận văn thạc sĩ của mình
Với đề tài này tác giả mong muốn được đóng góp một phần nhỏ công sức của mình trong việc đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về XLKL CC và nâng cao hiệu quả việc XLKL CC hành chính trong các cơ quan hành chính nhà nước, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CC, xây dựng bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị tại tỉnh Ninh Thuận nói riêng và trên cả nước nói chung ngày càng trong sạch, vững mạnh
Trang 122 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Từ sau khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành cải cách nền hành chính nhà nước, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về XLKL CBCC Các công trình nghiên cứu trên được đăng tải trên một số sách, báo, tạp chí, luận án nghiên cứu sinh như:
- Đề tài khoa học "Trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm bồi thường vật
chất của cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay" của Tiến sĩ Phạm Hồng Thái
và Thạc sĩ Lê Thiên Hương năm 2001 Đề tài đã góp phần làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm bồi thường vật chất của CBCC, các mối liên hệ giữa trách nhiệm kỷ luật với các loại các loại trách nhiệm pháp lý khác của CBCC; làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thủ tục XLKL đối với CBCC trên cơ sở đáng giá pháp luật thực định
- Luận văn thạc sĩ "Trách nhiệm kỷ luật của cán bộ, công chức ở nước
ta hiện nay" của tác giả Phạm Văn Như năm 2001 (Học viện Hành chính
Quốc gia) Trên cơ sở làm rõ vấn đề lý luận về trách nhiệm kỷ luật của CBCC trong hoạt động công vụ ở nước ta; nghiên cứu sâu vào trách nhiệm kỷ luật của CBCC dưới góc độ là một loại trách nhiệm pháp lý; thông qua việc nghiên cứu, chỉ ra những hạn chế, tồn tại về trách nhiệm kỷ luật của CBCC ở nước ta hiện nay, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện trách nhiệm kỷ luật của CBCC
- Đề tài "Thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức" của tác giả Bùi Thị
Đào đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật số 9 năm 2007 Trên cơ sở phân tích những bất cập về thời hiệu XLKL CBCC được quy định tại Điều 9 Nghị định 35, tác giả đã đưa ra những kiến nghị sửa đổi quy định, tách thời hiệu XLKL thành thời hiệu và thời hạn XLKL cho phù hợp với thực tế
- Đề tài "Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, viên chức Y tế - Biện pháp quan
trọng của quản lý nhà nước về Y tế" của tác giả Nguyễn Huy Quang đăng trên
Trang 13Tạp chí Quản lý nhà nước số 145, tháng 2/2008 Từ việc phân tích thực trạng việc XLKL đối với cán bộ, viên chức y tế vi phạm pháp luật từ đầu năm 1999 đến tháng 2/2008 và những bất cập của quy định pháp luật về XLKL CBCC, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm chấn chỉnh việc XLKL đối với CBCC y tế vi phạm pháp luật
- Đề tài "Vai trò của trách nhiệm kỷ luật hành chính trong quản lý cán
bộ, công chức" của tác giải Nguyễn Hữu Phúc đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 8 năm 2009 Tác giả đã tập trung phân tích vai trò của trách nhiệm kỷ luật hành chính trong quản lý CBCC ở các khía cạnh: nâng cao năng lực, bảo đảm hiệu lực hiệu quả nền hành chính nhà nước; vai trò bảo vệ pháp chế trong tổ chức quản lý, hoạt động của cơ quan nhà nước; vai trò xác định hành vi hợp pháp, hành vi không hợp pháp, tạo cơ sở, chuẩn mực cho cách ứng xử của CBCC; vai trò giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa; vai trò trừng phạt đối với CBCC
- Luận án nghiên cứu sinh Tiến sĩ "Chế định trách nhiệm kỷ luật hành
chính trong pháp luật Việt Nam" của tác giả Nguyễn Hữu Phúc năm 2010
Luận án đã phân tích thực trạng pháp luật về trách nhiệm kỷ luật hành chính hiện nay cũng như thực trạng thực hiện chế định pháp luật trách nhiệm kỷ luật hành chính; từ đó đưa ra những quan điểm, phương hướng hoàn thiện chế định và những giải pháp khoa học, khả thi nhằm hoàn thiện chế định trên trong điều kiện hiện nay ở nước ta
Các công trình trên đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến công tác XLKL, trách nhiệm của CBCC trong hệ thống pháp luật và thực tế tại một số địa phương, đơn vị Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, trực tiếp và toàn diện về XLKL CC trong cơ quan hành chính nhà nước nói chung và tại tỉnh Ninh Thuận nói riêng
Trang 14Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực công tác XLKL CBCC, thông qua đề tài này tác giả không chỉ muốn tìm hiểu thực trạng về tình hình XLKL trong các cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận,
mà còn muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác XLKL, tăng cường quản lý, giáo dục, phòng ngừa vi phạm, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức, xây dựng bộ máy nhà nước và toàn hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn trong thời gian đến
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Việc nghiên cứu đề tài luận văn nhằm mục đích góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về XLKL đối với CC trong các cơ quan hành chính nhà nước; nâng cao hiệu quả việc XLKL CC trong cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Ninh Thuận nói riêng và cả nước nói chung
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật về XLKL CC và thực tiễn việc XLKL CC trong các cơ quan hành chính Nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận
Trang 154.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: các cơ quan hành chính nhà nước
từ tỉnh đến 7 huyện/thành phố thuộc tỉnh Ninh Thuận
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ năm 2010 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin Tư tưởng Hồ Chí Minh về CBCC và XLKL CBCC, đảng viên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu: Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử
dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
+ Nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến CC, XLKL CC, trách nhiệm của CC, PCTN lãng phí
+ Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến XLKL CC như: Những vấn đề cơ bản về Luật Hành chính, Pháp luật về công vụ, CC, Pháp luật Hành chính trong xu thế chuyển đổi của nền hành chính, Tổ chức thực hiện quyền hành pháp, văn bản quy phạm pháp luật về XLKL CC, trách nhiệm kỷ luật trong thực hiện nhiệm vụ, công cụ, trong phòng chống tham nhũng, lãnh phí …
+ Phân tích các bài báo có liên quan của các nhà khoa học, các chuyên gia đăng trên các Tạp chí, trang thông tin điện tử có liên quan
+ Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo về công tác nội vụ, kỷ cương,
kỷ luật hành chính, cải cách thủ tục hành chính, PCTN, thanh tra hành chính, công vụ của UBND tỉnh, Sở Nội vụ tỉnh Ninh Thuận, UBND 7 huyện/thành phố trực thuộc tỉnh Ninh Thuận, Thanh tra tỉnh, Ban Nội chính tỉnh uỷ và các báo cáo công tác hàng năm và chuyên đề về thi hành kỷ luật đảng của Uỷ ban
Trang 16Kiểm tra tỉnh uỷ Ninh Thuận và Uỷ ban Kiểm tra các huyện/thành uỷ trực thuộc Tỉnh uỷ Ninh Thuận từ năm 2010 đến năm 2016…
- Phương pháp so sánh: được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt quy
định về XLKL CC giữa các văn bản pháp luật
- Phương pháp lịch sử: để tìm hiểu quy định của pháp luật về XLKL
CC qua các giai đoạn
- Phương pháp thống kê: để tìm hiểu việc áp dụng hình thức kỷ luật CC
thực tế ở địa phương
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Những thông tin thu thập được từ luận văn sẽ góp phần làm phong phú thêm hệ thống cơ sở dữ liệu cho việc phân tích lý luận về XLKL CC nói riêng và XLKL đối với CBCC, viên chức nói chung
- Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực XLKL CBCC, viên chức
- Phục vụ cho công tác quản lý, sử dụng CBCC nhằm nâng cao hiệu quả và tính pháp chế trong hoạt động của bộ máy Nhà nước và toàn hệ thống chính trị ở nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về XLKL CC trong cơ quan hành
chính nhà nước
Chương 2: Tình hình vi phạm kỷ luật và XLKL CC hành chính trong
cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Ninh Thuận
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm kỷ luật CC hành chính
trong cơ quan hành chính nhà nước từ thực tiễn tỉnh Ninh Thuận
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ KỶ LUẬT CÔNG CHỨC
TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
Khi nghiên cứu quản lý nhà nước bằng pháp luật, một nội dung quan trọng luôn được đề cập, đó là xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ công vụ Điều đó cho thấy, không phải cứ xây dựng, ban hành pháp luật và tổ chức thực hiện là pháp luật sẽ được thực hiện một cách nghiêm minh, đầy đủ mà phải có các hoạt động bảo vệ pháp luật thông qua
các biện pháp cưỡng chế nhà nước Vì vậy, Đảng ta nhấn mạnh “Đổi mới và
hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành luật một cách nghiêm minh” [28, tr.329] XLKL là một trong những biện pháp quan
trọng của cưỡng chế nhà nước, áp dụng trong hoạt động công vụ, thực chất là bảo vệ các giá trị của pháp luật khỏi bị vi phạm trong thực tiễn cuộc sống
1.1 Khái niệm, nguyên tắc, ý nghĩa và điều kiện bảo đảm thực hiện việc xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm công chức
CC là một khái niệm mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc rất nhiều vào quan niệm về hoạt động công vụ, vào chế độ chính trị và nền văn hóa của mỗi quốc gia và phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể của từng nước Do đó, trên thế giới tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về CC Cụ thể:
Theo pháp luật Hoa Kỳ, CC bao gồm tất cả những người được bổ nhiệm vào các ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp trong Chính phủ Hoa
Kỳ
Ở Pháp, CC được coi là những người được bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên, được xếp vào một ngạch trong hệ thống cơ quan hành chính
Trang 18của nhà nước hoặc trong các tổ chức dịch vụ công và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan hành chính
Ở Đức, CC được gọi là người nằm trong quan hệ công vụ nhà nước trên cơ sở lời tuyên thệ trung thành với pháp nhân quản lý công và hoàn thành theo sự ủy thác của pháp nhân đó chức năng pháp luật công
Ở Nhật Bản, Điều 15 Hiến pháp hiện hành ghi nhận CC là công bộc của toàn xã hội mà không phải của một bộ phận riêng nào CC Nhật Bản bao gồm: (1) những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của Chính phủ; (2) những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ, quản lý trong bộ máy hành chính ở địa phương; (3) những người thực thi công vụ tại các tổ chức dịch vụ công hoặc trong ngành lập pháp, tư pháp
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ lịch sử khái niệm CC lại được định nghĩa khác nhau, gắn liền với sự thay đổi của nền hành chính nhà nước Khái niệm
CC được luật hóa lần đầu tiên tại Sắc lệnh số 76/SL ban hành Quy chế CC của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký vào
ngày 20/5/1950, theo đó, “CC Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm
vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ” Tại Điều 1, Sắc lệnh khẳng định “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ chức vụ thường xuyên trong
cơ quan Chính Phủ, ở trong nước hay nước ngoài đều là CC theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định” Sắc lệnh này đã xác
định rõ khái niệm CC mang tính khoa học phù hợp với một nền CC hiện đại đang được thực hiện ở một số nước trên thế giới lúc bấy giờ Tuy nhiên, hoàn cảnh kháng chiến đã không cho phép triển khai thực hiện đầy đủ Sắc lệnh này
Trang 19Sau đó, một thời gian khá dài (từ những năm đầu thập niên 60 tới những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước) khái niệm CC đã không được
sử dụng thay vào đó là các khái niệm như: “CB, công nhân, viên chức nhà nước”, “công nhân viên chức”, họ là tất cả những người trong biên chế làm việc trong cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp của Nhà nước, của Đảng, của các tổ chức chính trị - xã hội và các đơn vị kinh tế của Nhà nước Giai đoạn này không có sự rạch ròi giữa các khái niệm “CB”, “CC”, “VC” Đây
là một trong những thiếu sót cơ bản của pháp luật hành chính lúc bấy giờ
Đến năm 1991, Nghị định số 169/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 25/5/1991 về CC nhà nước đã quy định khái niệm CC mang bản
chất như Sắc lệnh 76/SL năm 1950, theo Nghị đinh này thì: “CC Nhà nước
Việt Nam là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công
vụ thường xuyên trong một cơ sở Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài , đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” Nghị định này đã tách bạch khái niệm “CC”,
không lẫn lộn với khái niệm “CB” hay “VC” như thời kỳ trước nữa
Năm 1998, Pháp lệnh CBCC ra đời, đánh dấu một bước tiến đáng kể trong sự nghiệp hoàn thiện pháp luật về CC Tuy nhiên, Pháp lệnh này không đưa ra định nghĩa “CC”, ngay cả trong Pháp lệnh CBCC được sửa đổi năm
2003 cũng không đưa ra định nghĩa này, mà thay vào đó, cả hai Pháp lệnh này lại dùng phương pháp liệt kê các đối tượng là CC Việc dùng phương pháp liệt kê đã không bao hàm hết được các đối tượng là CC, mặt khác, phương pháp liệt kê làm cho văn bản không khoa học, thể hiện sự “bất lực” của người làm luật khi không thể đưa ra một khái niệm bao quát thế nào là
CC
Vì vậy, để khắc phục những hạn chế trên, năm 2008, Quốc hội khóa XII ban hành Luật CBCC đã hoàn thiện khái niệm CC Theo đó, khoản 2,
Trang 20Điều 4 Luật CBCC quy định: “CC là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Theo định nghĩa này, CC có các dấu hiệu sau: (1) Là công dân Việt Nam; (2) Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh; (3) Công việc có tính chuyên nghiệp và thường xuyên; (4) Làm việc trong các cơ quan nhà nước, Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; (5) Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; riêng lương của CC trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì theo quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Như vậy, so với pháp luật các nước thì khái niệm CC theo pháp luật nước ta có điểm riêng biệt, đó là, CC nước ta không chỉ có những người làm việc trong cơ quan hành chính mà còn bao gồm cả những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các tổ chức chính trị như Đảng Cộng sản Việt Nam, hay tổ chức chính trị - xã hội như Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ…
Trang 21So với pháp luật của nước ta qua các giai đoạn lịch sử thì khái niệm
CC được Luật CBCC đưa ra là tiến bộ hơn cả
Thứ nhất, Luật CBCC đã đưa thuật ngữ “CC” ra thành một khái niệm
chứ không gọi đơn thuần là một thuật ngữ chung chung nữa
Thứ hai, dựa vào khái niệm này chúng ta đã có sự phân biệt giữa CC,
Riêng với CB thì CB là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
So với CB thì CC làm việc thường xuyên hơn theo biên chế và hoạt động chuyên môn, nghiêp vụ CB thì được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, còn
CC thì được tuyển dụng CB làm việc có nhiệm kỳ còn CC thì không có nhiệm kỳ mà họ làm việc theo chuyên môn, nghiệp vụ
Thứ ba, Luật CBCC đã tách khái niệm “CC cấp xã” và “CB cấp xã”
thành các khái niệm khác nhau Theo đó, CB cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
Trang 22chính trị - xã hội Còn CC cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Trong khi Pháp lệnh CBCC không trực tiếp gọi đây là CBCC mà chỉ xếp cùng vào một nhóm để quy định biên chế, lương… nên cơ chế quản lý và chế độ chính sách do Nhà nước ban hành vẫn còn những hạn chế, chưa phù hợp với từng nhóm đối tượng
1.1.1.2 Khái niệm xử lý kỷ luật công chức
Thuật ngữ “xử lý” được sử dụng khá phổ biến trong khoa học pháp lý
cũng như trong các văn bản pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về thuật ngữ này Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “xử lý” là một động từ, nó có nhiều nghĩa ứng với từng sự vật, hiện tượng cụ thể Với nghĩa thứ nhất, “xử lý” là làm cho chịu những tác động vật
lí, hóa học nhất định để biến đổi hợp với mục đích Ví dụ như: Xử lý hạt giống bằng thuốc trừ sâu, Xử lý vết thương trước khi đưa tới bệnh viện…
Nghĩa thứ hai, “xử lý” là áp dụng vào cái gì đó những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng Ví dụ như: quá trình xử lý thông tin…
Nghĩa thứ ba, ứng với khoa học pháp lý thì “xử lý” là xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ phạm lỗi nào đó Ví dụ như: Xử lý nghiêm minh những vụ vi phạm pháp luật…
Trong giới hạn bài viết này, từ “xử lý” sẽ được sử dụng với nghĩa thứ
ba, tức là, xem xét và giải quyết về mặt tổ chức một vụ vi phạm pháp luật
Kỷ luật, dưới góc độ chung nhất, là tổng thể các quy định nhằm bảo vệ
trật tự, nề nếp hoạt động nội bộ của mọi cơ quan, tổ chức của Nhà nước và của xã hội nói chung, cũng như sự tuân thủ nghiêm chỉnh của quy định đó
Ở một định nghĩa khác kỷ luật là tổng thể nói chung những điều quy định cần phải tuân theo để giữ gìn trật tự Ví dụ như: kỷ luật nhà trường, kỷ luật lao động, phạm kỷ luật…
Trang 23Kỷ luật còn là các hình thức phạt đối với người vi phạm kỷ luật, tức là các hình thức kỷ luật mà CC phải chịu, ví dụ như: hình thức kỷ luật cảnh cáo, khiển trách, buộc thôi việc…
Kỷ luật có nhiều loại, ứng với mỗi chủ thể phải tuân thủ kỷ luật khác nhau, chúng ta có thể phân chia theo khu vực áp dụng thành hai loại chính là
kỷ luật nhà nước (vi phạm các quy định pháp luật về kỷ luật, như kỷ luật CC theo pháp luật về CB, CC; kỷ luật lao động theo pháp luật lao động…) và kỷ luật xã hội (vi phạm các quy định về kỷ luật của các tổ chức xã hội)
Kỷ luật CC là một dạng của kỷ luật nhà nước Kỷ luật nhà nước theo nghĩa rộng là những yêu cầu của nhà nước đối với CC nhà nước mang tính bắt buộc thực hiện và trật tự thực hiện những yêu cầu đó Trong quản lý nhà nước, kỷ luật được đề cập từ nhiều hướng (1) Với ý nghĩa khách quan, kỷ luật là toàn bộ các quy tắc hành vi trong hoạt động của CC do nhà nước ban hành, chứa đựng các quy định về hành vi được thực hiện, cấm thực hiện và
về khuyến khích và xử phạt trong thực hiện hành vi (2) Từ góc nhìn chủ quan, kỷ luật là sự tuân thủ, sử dụng, thi hành, áp dụng đúng các quy tắc hành vi đã ban hành (3) Kỷ luật nhà nước liên hệ với kỷ luật của các tổ chức
mà CC nhà nước tham gia trên nguyên tắc trách nhiệm công vụ và ngoài công vụ Như vậy, nhà nước ban hành các quy tắc hành vi, còn CC phải hiểu
và chấp hành các quy tắc ấy Kỷ luật là sự thống nhất giữa ban hành và thực hiện Có quy tắc thì mới có quy chuẩn để thực hiện CC không tuân theo những quy tắc, kỷ luật thì sẽ bị xem xét XLKL
Vì pháp luật hiện hành không quy định về khái niệm XLKL nói chung cũng như khái niệm XLKL CC nói riêng nên dựa vào phần lý luận nêu trên
về việc diễn giải các khái niệm ta có thể rút ra khái niệm cụ thể như sau:
XLKL CC là việc các chủ thể có thẩm quyền xem xét và giải quyết về việc CC có hành vi vi phạm kỷ luật bằng cách buộc họ phải chịu những hình
Trang 24thức kỷ luật do Nhà nước quy định Đây là biện pháp pháp lý mang tính
cưỡng chế cao và là nội dung rất cơ bản trong việc thiết lập và duy trì kỷ luật
CC của các chủ thể có thẩm quyền khi thực hiện hoạt động quản lý của mình Việc XLKL CC đóng vai quan trọng trong việc duy trì trật tự, kỷ cương, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý ở các đơn vị Ngoài tác dụng trừng phạt, việc XLKL CC còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phòng ngừa, giáo dục những CC khác để họ thực hiện tốt kỷ luật CC
Nói về kỷ luật, trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ tả khuynh, Lênin đã khẳng
định: "Những người Bônsêvích sẽ không giữ vững được chính quyền, tôi không nói được tới hai năm rưỡi, mà ngay cả đến hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thực sự" [62, t.41, tr.6]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về kỷ luật: “Sức mạnh vô địch của Đảng
là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm chỉnh của cán bộ, đảng viên” Bác luôn khẳng định: kỷ luật của Đảng là “kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác”, ai ai cũng phải phục tùng kỷ luật và chịu các hình thức kỷ luật
nếu có khuyết điểm, sai lầm
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ gìn kỷ luật Đảng, xử lý CB đang tiếp tục được Đảng ta kế thừa và thực hiện một cách nghiêm túc Trải qua nhiều giai đoạn cách mạng, qua nhiều kỳ Đại hội, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định quan điểm về kỷ luật đảng, đó là:
"Xử lý nghiêm minh theo pháp luật và Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên,
CC ở bất cứ cấp nào, lĩnh vực nào lợi dụng chức quyền để tham nhũng", đồng thời nhấn mạnh: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời" [30]
1.1.2 Nguyên tắc xử lý kỷ luật công chức
Trang 25Bất kỳ hoạt động nào có tổ chức của con người đều phải được tiến hành dựa trên những nguyên tắc nhất định, nó sẽ giúp hoạt động đó được tiến hành tốt hơn, có hệ thống hơn Hoạt động XLKL CC cũng vậy, cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để tránh tùy tiện của những chủ thể có thẩm quyền, nhằm bảo vệ lợi ích của CC, đồng thời để đảm bảo cho việc XLKL CC được khách quan, đúng pháp luật và phát huy được tác dụng tích cực của kỷ luật CC trong quản lý CC Chính vì vậy, pháp luật về xử lý CC đã quy định về các nguyên tắc XLKL CC Nguyên tắc XLKL CC là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho toàn bộ quá trình XLKL CC Đòi hỏi những chủ thể có thẩm quyền phải nắm rõ những nguyên tắc này, có như vậy mới đảm bảo xử lý khách quan, công minh
Nguyên tắc XLKL được quy định tại Điều 2, Nghị định 34 cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc XLKL phải khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng
Việc XLKL khách quan là quá trình XLKL phải được tiến hành dựa trên cơ sở tôn trọng thực tế khách quan, lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động, không được bóp méo, xuyên tạc sự thật Đảm bảo nguyên tắc khách quan mới giúp cho chủ thể có thẩm quyền xử lý đúng hành vi vi phạm
Tính công bằng là một trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm thiết chế dân chủ Tính công bằng trước hết thể hiện ở chỗ quá trình
Trang 26XLKL phải tránh các hiện tượng vì lợi ích của một cá nhân hoặc của một nhóm người mà làm trái các quy định của pháp luật, như bao che hành vi vi phạm, hay vì thù hằn cá nhân mà XLKL CC nặng hơn Chính vì vậy, cùng một hành vi vi phạm, cùng một điều kiện, hoàn cảnh phải được XLKL như nhau, không bao che, thiên vị hay trù dập CC
XLKL CC phải thật sự nghiêm minh, không “giơ cao đánh khẽ”, thực hiện nguyên tắc này giúp đảm bảo quyền lực nhà nước, nhằm răn đe những
CC khác để họ không có hành vi vi phạm tương tự
Việc XLKL phải đúng pháp luật, tức là mọi chủ thể phải tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về XLKL CC nói riêng một cách tự giác, nghiêm minh, đầy đủ, triệt để, thống nhất…
Việc thực hiện nguyên tắc này không chỉ bảo vệ được quyền lợi của
CC vi phạm mà còn góp phần kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước một cách hữu hiệu, ngăn chặn tình trạng tha hóa quyền lực nhà nước, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
Thứ hai, mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ
luật Đây là một trong những nguyên tắc của việc áp dụng trách nhiệm pháp
lý nói chung (bao gồm cả trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm kỷ luật lao động) Nguyên tắc này xuất phát từ mục đích của việc áp dụng trách nhiệm kỷ luật CC chủ yếu là để giáo dục, thuyết phục chứ không phải để trừng phạt CC và cũng nhằm mục đích bảo vệ CC
Nếu CC có nhiều hành vi vi phạm pháp luật thì bị XLKL về từng hành
vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm phải XLKL bằng hình thức buộc thôi việc
Để tuân thủ nguyên tắc, các chủ thể có thẩm quyền XLKL phải có những nhận định chính xác, xử lý một cách công bằng, nghiêm minh về
Trang 27những hành vi vi phạm của CC Trường hợp cần thiết, phải tiến hành điều tra làm rõ vụ việc với từng hành vi, mức độ vi phạm cụ thể để đảm bảo rằng việc XLKL phải tương xứng với hành vi, mức độ vi phạm đó
Thứ ba, trường hợp CC tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật trong
thời gian đang thi hành quyết định kỷ luật thì bị áp dụng hình thức kỷ luật như sau:
- Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị XLKL ở hình thức nhẹ hơn hoặc bằng so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật đang thi hành
Ví dụ: CC C đang thi hành hình thức kỷ luật cảnh cáo vì sử dụng giấy
tờ không hợp pháp để được dự thi nâng ngạch CC thì lại phải chịu hình thức
kỷ luật khiển trách vì thực hiện hành vi sử dụng tài sản công trái pháp luật Trong trường hợp này CC C phải chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật cảnh cáo đang áp dụng là hình thức kỷ luật hạ bậc lương
- Nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị XLKL ở hình thức nặng hơn so với hình thức kỷ luật đang thi hành thì áp dụng hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật mới
Ví dụ: CC D là CC giữ chức vụ lãnh đạo đang thi hành hình thức kỷ luật cảnh cáo vì cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện mà lại phải chịu hình thức kỷ luật hạ bậc lương vì vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng Trong trường hợp này CC D phải chịu hình thức kỷ luật là giáng chức nặng hơn so với hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với hành vi vi phạm mới Và quyết định kỷ luật đang thi hành chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm quyết định kỷ luật đối với hành vi
vi phạm pháp luật mới có hiệu lực
Trang 28Thứ tư, thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của
CC có hành vi vi phạm pháp luật là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật
Điều này đóng vai trò quan trọng, bảo đảm công bằng, minh bạch trong quá trình định hình thức kỷ luật Việc XLKL CC nhằm mục đích giáo dục
CC, đồng thời góp phần phòng ngừa, đấu tranh và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật của CC Nếu như CC đã có những chuyển biến tích cực về mặt nhận thức thì việc áp dụng hình thức kỷ luật quá nghiêm khắc cũng không cần thiết nữa, lúc này CC sẽ được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật Ngược lại, nếu như CC vẫn tỏ thái độ không tiếp thu, không hợp tác, không sửa chữa khắc phục hậu quả thì việc áp dụng hình thức kỷ luật là cần thiết
Thứ năm, thời gian chưa xem xét XLKL đối với CC trong các trường
hợp quy định tại Điều 4 Nghị định 34 không tính vào thời hạn XLKL
Tại Điều 4 Nghị định 34 quy định về các trường hợp chưa xem xét XLKL CC, đó là: (1) đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng được người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cho phép, (2) đang trong thời gian điều trị có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền, (3)
CC nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, (4) đang bị tạm giữ, tạm giam chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật
Các trường hợp trên không tính vào thời hạn XLKL, vì đây là những trường hợp chưa xem xét kỷ luật, thời hạn XLKL chỉ có 2 tháng, nếu chúng ta tính các trường hợp này vào thời hạn XLKL thì trường hợp quá hạn XLKL sẽ xảy ra
Thứ sáu, không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình
thức kỷ luật
Trang 29Theo khoản 1, Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền; c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện được
sử dụng để vi phạm hành chính; đ) Trục xuất
Như vậy, không được áp dụng các hình thức xử phạt hành chính nói trên để thay thế hình thức kỷ luật Sở dĩ có nguyên tắc này là vì:
Chủ thể để áp dụng hình thức xử phạt hành chính khác với chủ thể áp dụng hình thức kỷ luật Hình thức xử phạt hành chính áp dụng cho những người vi phạm pháp luật hành chính, tại khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Còn hình thức kỷ luật áp dụng cho CC vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp trong thi hành công vụ; những việc CC không được làm quy định tại Luật CBCC, CC vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật, CC vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Ý nghĩa của mỗi dạng trách nhiệm pháp lý là khác nhau nên không thể thay thế cho nhau Trách nhiệm hành chính được đặt ra khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức vi phạm hành chính, nhằm trừng trị, lên án đối với người vi phạm cũng như thông qua đó giáo dục họ về mặt nhận thức để có định hướng đúng đắn đối với giá trị xã hội được nhà nước ghi nhận và phòng ngừa vi phạm pháp luật hành chính Còn trách nhiệm kỷ luật đặt ra khi CC vi phạm kỷ luật, là trách nhiệm luôn gắn với hành vi vi phạm kỷ luật, được áp dụng tại cơ
Trang 30quan, đơn vị, tổ chức với mục đích nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự quản
lý, giáo dục CC vi phạm và phòng ngừa vi phạm
Trách nhiệm kỷ luật có thể được áp dụng đồng thời với trách nhiệm hành chính Khi CC thực hiện một hành vi vi phạm kỷ luật mà hành vi này đồng thời vi phạm pháp luật hành chính thì CC đó phải gánh chịu đồng thời trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm hành chính
Thứ bảy, cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm
của CC trong quá trình XLKL
Mục đích của các hình thức kỷ luật CC là nhằm giáo dục, răn đe CC vi phạm kỷ luật, để họ nhận ra sai lầm và sửa chữa chứ không nhằm mục đích trả thù hay trừng phạt
Mặt khác, quyền bất khả xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của con người là một trong những quyền quan trọng của con người được Hiến pháp quy định, theo đó, tại khoản 1, Điều 20 Hiến pháp 2013 nước ta quy định: mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo
hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
Chính vì vậy, khi XLKL CC, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân thủ nguyên tắc này một cách triệt để, phải tôn trọng, không xúc phạm CC vi phạm
1.1.3 Ý nghĩa của việc xử lý kỷ luật công chức
Đối tượng của việc XLKL CC là CC có hành vi vi phạm kỷ luật, họ là những người được đào tạo có hệ thống, có uy tín xã hội nhất định nhưng lại
có những hành vi hành xử không phù hợp dẫn đến phải chịu những hình thức
kỷ luật Việc XLKL CC nhằm xử lý những hành vi vi phạm đó, nó có ý nghĩa về nhiều mặt:
Trang 31- Đối với các chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật công chức:
Có thể nói, việc XLKL CC là "thước đo”, là cơ sở để tiến hành XLKL đúng người, đúng hành vi vi phạm Nếu việc XLKL CC không được pháp luật quy định rõ ràng có thể dẫn tới trường hợp áp dụng tùy tiện, ảnh hưởng đến quyền lợi của CC Chính vì vậy, khi pháp luật quy định rõ các bước trong việc XLKL giúp cho các chủ thể có thẩm quyền có cơ sở pháp lý làm nền tảng để xem xét hành vi vi phạm của CC một cách chính xác
Mặt khác, việc XLKL còn tạo điều kiện cho người có thẩm quyền xem xét kỹ lưỡng hành vi vi phạm kỷ luật của CC trước khi ra quyết định cuối cùng vì đã được sự giúp đỡ, tư vấn từ Hội đồng kỷ luật với nhiều thành viên, nhiều cách nhìn nhận khác nhau Chính vì vậy, việc XLKL CC được pháp luật quy định giúp cho các chủ thể có thẩm quyền dễ dàng hơn trong xử lý
- Đối với công chức: Việc XLKL CC nhằm hướng đến những mục
đích sau:
Giúp CC vi phạm nhìn nhận lại hành vi của mình từ đó giúp CC nhận thức được sai lầm, tìm ra hướng đúng đắn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao mà không vi phạm kỷ luật Bên cạnh đó, việc XLKL còn giúp cho CC nói lên tiếng nói bảo vệ mình cũng như có cơ hội để trình bày những nguyên nhân, lý do vi phạm kỷ luật thông qua các bước kiểm điểm và họp tại Hội đồng kỷ luật
Thông qua việc XLKL được pháp luật quy định còn giúp cho việc bảo
vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của CC một cách tốt hơn, khi mà pháp luật quy định vấn đề này chặt chẽ sẽ không còn cơ hội cho các chủ thể có thẩm quyền sách nhiễu, bao che hay trù dập CC
- Đối với Nhà nước:
Việc XLKL mang tính khách quan và khoa học sẽ giúp nhà nước xử lý kịp thời sai phạm của CC, tránh những tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật
Trang 32gây ra Thông qua đó, khôi phục nhanh chóng trật tự quản lý nội bộ của các
cơ quan, tổ chức, đơn vị và tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan này
1.1.4 Các điều kiện bảo đảm thực hiện xử lý kỷ luật công chức trong
cơ quan hành chính nhà nước
Để việc XLKL CC đạt được ý nghĩa, mục đích, hiệu quả theo yêu cầu, nhất là trong việc giáo dục, phòng ngừa CC vi phạm pháp luật thì cần có các yếu tố bảo đảm sau:
Thứ nhất, cần có sự quan tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị,
CBCC viên chức và toàn dân, nhất là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác XLKL CC, quyết tâm của các cơ quan nhà nước cả về hoàn thiện hệ thống pháp luật và kịp thời XLKL đới với CC có vi phạm một cách nghiêm túc, đúng người, đúng hành vi lỗi phạm
Thứ hai, cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, cả về trách nhiệm kỷ
luật và quy định về XLKL CC để làm cơ sở cho CC thực hiện đúng trách nhiệm của mình, đồng thời cấp có thẩm quyền có cơ sở trong việc xem xét trách nhiệm kỷ luật và tiến hành XLKL CC vi phạm pháp luật một cách công khai, minh bạch, không oan, sai
Thứ ba, cần thường xuyên và có biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao ý
thức trách nhiệm của CC trong thực thi công vụ, chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về XLKL CC, giảm thiểu tình trạng vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ Mặc khác, CBCC và cơ quan có thẩm quyền XLKL
CC cần phát huy tốt trách nhiệm, công tâm trong việc XLKL CC vi phạm, tránh tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm hoặc lợi dụng việc XLKL để trù dập CC
Thứ tư, cần thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
rộng rãi trong xã hội, trong đó có pháp luật về trách nhiệm kỷ luật và XLKL
CC nhằm nâng cao nhận thức và tăng cương vai trò giám sát của nhân dân và
Trang 33toàn xã hội đối với CC trong thực thi công vụ và công tác XLKL CC của các
cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền
1.2 Điều chỉnh pháp luật về xử lý kỷ luật công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
Pháp luật về XLKL CC là một bộ phận trong pháp luật về CC, do vậy, việc nghiên cứu cơ sở pháp lý về XLKL CC phải gắn liền với pháp luật về
CC Kế thừa và phát triển Pháp lệnh CBCC, cũng như việc ghi nhận một số nội dung liên quan đến CBCC ở các nghị định hướng dẫn thi hành, tại kỳ họp thứ 4 ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thống nhất ban hành Luật CBCC, những nội dung liên quan đến XLKL CC được quy định tại Điều 7,
Điều 79 đến Điều 83 Hướng dẫn thi hành những quy định về XLKL đối với
CC theo quy định của Luật CBCC, Chính phủ ban hành Nghị định số 34/201/NĐ-CP ngày 17/5/2011 quy định về XLKL đối với CC, đang có hiệu lực thi hành
Việc điều chỉnh XLKL đối với CC cấp xã thực hiện theo Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn Tuy nhiên hầu hết nội dung phần XLKL CC cấp xã đều giống và dẫn chiếu áp dụng theo Nghị định 34; do đó trong khuôn khổ đề tài, tác giả chủ yếu tập trung phân tích phần điều chỉnh pháp luật theo Nghị định 34 Ngoài ra, trong một số văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác cũng có quy định
về trách nhiệm kỷ luật và XLKL CC vi phạm, như Nghị định 107; Nghị định
157 và một số quy định chuyên ngành khác cũng đang có hiệu lực thi hành
Để hiểu rõ hơn quy định pháp luật về XLKL CC, cần đi sâu phân tích một số nội dung sau:
1.2.1 Nội dung và hình thức xử lý kỷ luật công chức
1.2.1.1 Về nội dung xử lý kỷ luật công chức
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 34 thì các hành vi CC bị XLKL
Trang 34bao gồm: “Vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ, đạo đức và văn hóa giao tiếp của
CC trong thi hành công vụ, những việc CC không được làm quy định trong Luật CBCC Vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật Vi phạm quy định về PCTN; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” Để làm
rõ hơn mỗi loại hành vi vi phạm nêu trên, tác giả đi sâu tìm hiểu và phân tích một số vấn đề trên cơ sở quy định của pháp luật như sau:
Thứ nhất, về nghĩa vụ của CC trong thi hành công vụ được quy định cụ
thể tại Điều 9 Luật CBCC, đó là: “Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong
cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải báo cáo kịp thời bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải thi hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định ” Khi thi hành công vụ, nếu CC vi phạm một trong những nghĩa vụ kể trên, tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị XLKL
Thứ hai, về đạo đức và văn hóa giao tiếp của CC được quy định tại
Luật CBCC, theo đó: “CBCC cần phải thực cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư trong hoạt động công vụ Trong giao tiếp ở công sở, CBCC phải có thái
độ lịch sự, tôn trọng đồng nghiệp; ngôn ngữ giao tiếp cần phải chuẩn mực, rõ
Trang 35ràng, mạch lạc CBCC phải lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp; công bằng, khách quan, vô tư khi nhận xét, đánh giá; thực hiện dân chủ và đoàn kết nội
bộ Khi thi hành công vụ, CBCC phải mang phù hiệu hoặc thẻ CC; có tác phong lịch sự, giữ gìn uy tín cho cơ quan, tổ chức, đơn vị và đồng nghiệp CBCC cần phải gần gũi với nhân dân; có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm tốn; ngôn ngữ giao tiếp phải chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc CBCC không được hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho nhân dân khi thi hành
công vụ” Trong khi thi hành công vụ, nếu CC vi phạm việc thực hiện chuẩn
mực đạo đức và văn hóa giao tiếp kể trên thì có thể bị xem xét XLKL
Thứ ba, về những việc CC không được làm, bao gồm: “Trốn tránh trách
nhiệm, thoái thác nhiệm vụ được giao; gây bè phái, mất đoàn kết; tự ý bỏ việc hoặc tham gia đình công Sử dụng tài sản của Nhà nước và Nhân dân trái pháp luật Lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ, quyền hạn; sử dụng thông tin liên quan đến công vụ để vụ lợi Phân biệt đối xử dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo dưới mọi hình thức Không được tiết lộ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước dưới mọi hình thức CC làm việc ở ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 05 năm, kể từ khi
có quyết định nghỉ hưu, thôi việc, không được làm công việc liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đã đảm nhiệm cho tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài Không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật PCTN, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những quy định khác theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền”[46]
Thứ tư, vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực
pháp luật là việc CC vi phạm pháp luật đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự
và bị Tòa án tuyên án phạm vào một tội cụ thể theo quy định của BLHS, đồng thời bản án có hiệu lực pháp luật
Trang 36Thứ năm, vi phạm pháp luật về PCTN; thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí; bình đẳng giới; phòng chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình
sự Ví dụ: CC có một trong các hành vi như tham ô tài sản; lập, thẩm định, phê duyệt phân bố và giao dự toán không đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung
và thời gian, không đúng đối tượng, vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ [50]; vận động hoặc ép buộc người khác nghỉ học vì lý do giới tính [45]; cưỡng bức bán dâm nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo mức độ vi phạm mà CC đó có thể bị kỷ luật bằng một trong các hình thức kỷ luật CC theo quy định
1.2.1.2 Hình thức kỷ luật công chức
Hình thức kỷ luật CC được quy định tại khoản 1, Điều 79 Luật CBCC, theo đó, CC vi phạm quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm phải chịu một trong những hình thức kỷ luật sau đây: Khiển trách; Cảnh cáo; Hạ bậc lương; Giáng chức; Cách chức; Buộc thôi việc
Việc giáng chức, cách chức chỉ áp dụng đối với CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Điều này là hợp lý, vì chỉ khi “có chức” thì mới có thể giáng chức, cách chức còn “không có chức” thì không thể cách chức, giáng chức được
Nhằm hướng dẫn Luật CBCC, Nghị định 34 đã có quy định cụ thể hơn
về các hình thức XLKL đối với CC
Luật CBCC và Nghị định 34 quy định về hình thức XLKL đối với CC
có một số điểm mới so với Nghị định 35 Theo Pháp lệnh CBCC và Nghị định
35 thì quy định 6 hình thức kỷ luật chung cho cả CB và CC, đó là: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, hạ ngạch, cách chức, buộc thôi việc Còn theo quy định của Luật CBCC và Nghị định 34 thì quy định riêng cụ thể:
Trang 37Đối với CB, có 04 hình thức kỷ luật là: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và bãi nhiệm Việc cách chức chỉ áp dụng đối với CB được phê chuẩn giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
Đối với CC, có 04 hình thức kỷ luật đối với CC không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, buộc thôi việc; đối với CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có 06 hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc
Như vậy, Luật CBCC và Nghị định 34 đã quy định rõ các hình thức kỷ luật phù hợp đối với CC không giữ và có giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý Đồng thời còn bổ sung thêm hình thức kỷ luật giáng chức, đây là hình thức kỷ luật được bổ sung đối với CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý bị xuống chức ở mức thấp hơn khi chưa đến mức bị cách chức nhằm tạo điều kiện cho công chức giữ chức vụ khi vi phạm kỷ luật tiếp tục phấn đấu, khắc phục sai phạm Luật CBCC còn bỏ đi hình thức kỷ luật hạ ngạch vì ngạch chỉ là sự phân loại thuần túy mang tính chất chuyên môn, tuy nhiên, bỏ đi hình thức kỷ luật này vẫn còn cần phải cân nhắc, vì có những trường hợp áp dụng hình thức kỷ luật hạ ngạch hợp lý hơn
- Hình thức kỷ luật khiển trách
Khiển trách là hình thức kỷ luật được sử dụng phổ biến và cũng là hình thức kỷ luật ít nghiêm khắc nhất Hình thức kỷ luật này chủ yếu mang tính nhắc nhở và không có ảnh hưởng trực tiếp về mặt vật chất của CC
Về mặt lý luận cũng như pháp lý có nhiều khái niệm khác nhau về hình thức kỷ luật này “Khiển trách” là phê phán và chê trách khuyết điểm (một hình thức kỷ luật nhẹ hơn cảnh cáo) Luật CBCC và Nghị định 34 đã quy định
cụ thể các hành vi vi phạm nào là bị XLKL khiển trách Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với CC có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
Trang 38Có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với
cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong thi hành công vụ; không thực hiện nhiệm vụ được giao mà không có lý do chính đáng; gây mất đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc trong một tháng; sử dụng tài sản công trái pháp luật; xác nhận giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện;
Vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống
tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến công tác
Việc quy định các hành vi vi phạm cụ thể đã giúp cho CC nhận biết được hành vi nào là vi phạm để có thể tránh tình trạng vi phạm cũng như giúp các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý vi phạm biết được và phát hiện hành vi vi phạm để xử lý kịp thời, đúng pháp luật
- Hình thức kỷ luật cảnh cáo
Hình thức kỷ luật cảnh cáo là hình thức kỷ luật nặng hơn khiển trách, là một trong những hình thức được áp dụng đối với CC vi phạm kỷ luật “Cảnh cáo” là báo cho biết phải từ bỏ thái độ hoặc việc làm sai trái, nếu không sẽ bị
xử trí, trừng phạt Nghị định 34 đã quy định cụ thể các trường hợp vi phạm pháp luật và phải chịu hình thức kỷ luật cảnh cáo cụ thể như sau:
Cấp giấy tờ pháp lý cho người không đủ điều kiện; sử dụng thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị để vụ lợi; không chấp hành quyết định điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền; sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng; được dự thi nâng ngạch CC; tự ý nghỉ việc, tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng; sử dụng trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo
về cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi CC đang công tác; bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với CC không giữ chức vụ lãnh đạo,
Trang 39quản lý;
Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét XLKL
- Hình thức kỷ luật hạ bậc lương
Hình thức kỷ luật hạ bậc lương đã chính thức tác động trực tiếp đến kinh tế của CC vi phạm, nó có tính chất nặng hơn hình thức kỷ luật cảnh cáo Tại Điều 11, Nghị định 34 quy định hình thức kỷ luật hạ bậc lương áp dụng đối với CC có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
Không thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không có lý do chính đáng, gây ảnh hưởng đến công việc chung của cơ quan, tổ chức, đơn vị; lợi dụng vị trí công tác, cố ý làm trái pháp luật với mục đích vụ lợi;
Vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC
Các hành vi trên nếu kỷ luật cảnh cáo thì không tương xứng với mức độ
vi phạm nhưng nếu buộc thôi việc thì quá khắt khe, việc quy định hình thức
kỷ luật hạ bậc lương là phù hợp nhất, nó tác động trực tiếp đến kinh tế của
Trang 40áp dụng đối với CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật cụ thể sau đây:
Không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả nghiêm trọng;
Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét XLKL;
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong phạm vi phụ trách mà không có biện pháp ngăn chặn
Theo khoản 3, Điều 23 Nghị định 34 thì trường hợp CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý mà không còn chức vụ lãnh đạo thấp hơn chức vụ đang giữ nếu có hành vi vi phạm pháp luật bị xem xét ở hình thức kỷ luật giáng chức thì giáng xuống không còn chức vụ
- Hình thức kỷ luật cách chức
“Cách chức” là không cho giữ chức vụ đang làm nữa Tại Điều 13 Nghị định 34 quy định hình thức kỷ luật cách chức áp dụng đối với CC giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:
Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ; không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà không có lý do chính đáng, để xảy ra hậu quả rất nghiêm trọng; bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ;
Vi phạm ở mức độ rất nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn mại dâm và các quy định khác của pháp luật liên quan đến CC