1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quy trình xử lý kỷ luật viên chức – lý luận và thực tiễn

65 2,3K 34
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 782,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng “có thể dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức Nhà nước.”1 Tại Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT .

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

NIÊN KHÓA: 2011-2015

Đề tài:

QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT VIÊN CHỨC –

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

TS Phan Trung Hiền Lê Thị Nhã Trúc

Bộ môn: Luật Hành chính MSSV: 5116038

Lớp: Luật Hành chính K37

Cần Thơ, tháng 11/2014

Trang 2

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIÊN CHỨC 5

1.1 Một số khái niệm 5

1.1.1 Khái niệm viên chức và viên chức quản lý 5

1.1.2 Khái niệm về hoạt động nghề nghiệp của viên chức 7

1.1.3 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập 8

1.1.4 Khái niệm kỷ luật và kỷ luật viên chức 11

1.1.5 Khái niệm xử lý kỷ luật viên chức và quy trình xử lý kỷ luật viên chức 13 1.2 Đặc điểm của viên chức 15

1.3 Phân loại viên chức 17

1.3.1 Phân loại theo vị trí việc làm 17

1.3.2 Phân loại theo chức danh nghề nghiệp 17

1.4 Các hình thức kỷ luật viên chức 17

1.4.1 Khiển trách 18

1.4.2 Cảnh cáo 19

1.4.3 Cách chức 20

1.4.4 Buộc thôi việc 20

1.5 Cơ sở quy định việc xử lý kỷ luật viên chức 21

1.5.1 Cơ sở pháp lý 21

1.5.2 Cơ sở thực tiễn 22

1.6 Ý nghĩa của việc quy định xử lý kỷ luật viên chức 22

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUY TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT VIÊN CHỨC 24

2.1 Nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức 24

2.2 Các trường hợp xử lý, chưa xem xét xử lý và các trường hợp miễn xử lý kỷ luật 26

Trang 4

2.2.2 Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật viên chức 26

2.2.3 Các trường hợp miễn xử lý kỷ luật 27

2.3 Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật viên chức 28

2.3.1 Thời hiệu xử lý kỷ luật viên chức 28

2.3.2 Thời hạn xử lý kỷ luật 29

2.4 Thẩm quyền xử lý kỷ luật viên chức 30

2.4.1 Đối với viên chức quản lý 30

2.4.2 Đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý 30

2.4.3 Đối với viên chức biệt phái 31

2.4.4 Đối với viên chức đã chuyển công tác mới phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật mà còn trong thời hiệu quy định 31

2.5 Quy trình xử lý kỷ luật viên chức 32

2.5.1 Tổ chức họp kiểm điểm viên chức có hành vi vi phạm 32

2.5.2 Thành lập Hội đồng kỷ luật 33

2.5.3 Chuẩn bị họp Hội đồng kỷ luật 34

2.5.4 Họp Hội đồng kỷ luật 35

2.5.5 Quyết định kỷ luật 36

2.5.6 Quản lý hồ sơ 37

2.5.7 Khiếu nại quyết định kỷ luật 37

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO THỰC HIỆN VIỆC XỬ LÝ KỶ LUẬT VIÊN CHỨC 40

3.1 Tình hình hoạt động của viên chức 40

3.1.1 Tình hình hoạt động của viên chức cả nước 40

3.1.2 Tình hình hoạt động của viên chức trường Đại học Cần Thơ 43

3.2 Vấn đề xử lý kỷ luật viên chức 45

3.3 Thực tiễn công tác xử lý kỷ luật viên chức tại trường Đại học Cần Thơ 47

3.3.1 Các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức 47

3.3.2 Kết quả xử lý kỷ luật trong thời gian qua 47

3.4 Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện 48

3.5 Những hạn chế trong quá trình thực hiện 49

Trang 5

3.5 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức 52

3.5.1 Những giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức 53 3.5.2 Những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử

lý kỷ luật viên chức 54

KẾT LUẬN 57 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Viên chức, quy định tại Luật Viên chức năm 2010, là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập, theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Bên cạnh những quyền lợi và quyền hạn của mình, thì viên chức phải thực hiện những nhiệm vụ nhất định, “thưởng phạt nghiêm minh” đó là điều tất nhiên Như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã dạy: “Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng, người làm trái kỷ luật thì phải phạt Nếu không thưởng thì không có khuyến khích, nếu không có phạt thì không giữ vững kỷ luật, thưởng phạt nghiêm minh là thế” Khi viên chức có công trạng, thành tích và cống hiến trong công tác hoạt động nghề nghiệp của mình thì được tôn vinh, khen thưởng và ngược lại khi viên chức có hành vi vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý kỷ luật, tùy từng trường hợp mà áp dụng các hình thức

kỷ luật khác nhau như: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý) hoặc buộc thôi việc

Trong những năm qua, đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập của

cả nước nói chung và của Trường Đại học Cần Thơ nói riêng ngày càng được nâng cao

và phát triển cả về số lượng cũng như chất lượng, từng bước đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của nhân dân, việc chấp hành nội quy, quy chế, kỷ luật, kỷ cương của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lâp từng bước đi vào nề nếp Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác quản lý viên chức và đội ngũ viên chức còn nhiều hạn chế và tồn tại Trong nhiều lĩnh vực, hoạt động nghề nghiệp của viên chức còn tình trạng vi phạm về chất lượng, đạo đức và kỷ luật nghề nghiệp, việc đánh giá, phân loại viên chức chưa đảm bảo tính khoa học, khách quan dẫn tới việc tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đánh giá và đào tạo, bồi dưỡng viên chức chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ảnh hưởng đến việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức

Hiện nay, hoạt động nghề nghiệp của viên chức chưa được kiểm soát và quản lý chặt chẽ, thống nhất Các tiêu cực về tác phong, lề lối làm việc của viên chức đã và đang làm giảm chất lượng trong hoạt động nghề nghiệp, trong việc phục vụ người dân và cộng đồng của các đơn vị sự nghiệp công lập Các biểu hiện về thiếu tinh thần trách nhiệm, yếu kém về năng lực và trình độ nghề nghiệp, phiền hà, sách nhiễu người dân vẫn tồn tại trong đội ngũ viên chức, làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta

Từ thực trạng nêu trên, nhằm đáp ứng nhu cầu xây dụng Nhà nước Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của các đơn vị sự nghiệp công lập, xây dựng đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực và

Trang 7

trình độ phục vụ nhân dân thì cần phải xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm kỷ luật nhằm răn đe, giáo dục cũng như phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển chung của đất nước

Xuất phát từ những lý do trên, người viết đã chọn đề tài luận văn cho mình là:

“Quy trình xử lý kỷ luật viên chức – Lý luận và thực tiễn” Ngoài ra, đây là một đề tài

có thể giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về viên chức mà không nhằm lẫn với các đối tượng khác, đồng thời giúp trả lời các câu hỏi: Khi viên chức vi phạm thì sẽ bị xử lý kỷ luật ra sao? áp dụng hình thức kỷ luật nào? Và đặc biệt là quy trình xử lý kỷ luật viên chức diễn ra như thế nào? Đây là một đề tài phù hợp với khả năng nghiên cứu của người viết, tuy đây là một đề tài không mới, nhưng trong bài viết này, người viết sẽ tiếp nhận và tìm hiểu đề tài dưới góc độ mới hơn Do sự hiểu biết còn hạn chế cũng như quá trình tìm kiếm tài liệu còn gặp nhiều khó khăn nên bài viết còn nhiều thiếu sót mong quý thầy cô thông cảm

2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc xử

lý kỷ luật viên chức và đặc biệt là quy trình xử lý kỷ luật viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập Trong bài viết này, nội dung chủ yếu được người viết tập trung nghiên cứu là những vấn đề chung về viên chức, nêu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quy trình xử lý kỷ luật viên chức kể từ khi Luật viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn Luật viên chức ra đời, nêu những ưu điểm, hạn chế trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức và đưa ra hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về viên chức

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Đề tài “Quy trình xử lý kỷ luật viên chức – Lý luận và thực tiễn” chủ yếu

nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về viên chức mà không nhằm lẫn với các đối tượng khác như cán bộ, công chức… giúp cho mọi người nắm được quy trình xử lý kỷ luật viên chức, nắm được pháp luật về xử lý kỷ luật viên chức, nêu lên những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình hoạt động của viên chức, từ đó đưa ra những phương hướng đề xuất nhằm đảm bảo thực hiện việc xử lý kỷ luật viên chức và hoàn thiện hệ thống pháp luật về viên chức

4 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, phương pháp chủ yếu được người viết sử dụng là phương pháp sưu tầm tài liệu từ Luật, giáo trình, sách, báo, tạp chí và các trang web Sau

đó, người viết sử dụng phương pháp phân tích Luật viết, phương pháp đối chiếu, so sánh các tài liệu với nhau và với quan điểm của một số nhà Luật học và cả phương pháp đánh

Trang 8

giá tổng hợp rồi rút ra kết luận Bên cạnh đó, phương pháp trích lọc ý kiến của các nhà Luật học, các nhà chuyên môn cũng được sử dụng cho bài viết thêm sinh động và thu hút người đọc Phương pháp so sánh được sử dụng khi so sánh giữa viên chức với các đối tượng khác để tìm ra sự khác biệt Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để nêu số lượng viên chức, số lượng các trường hợp vi phạm kỷ luật

5 Kết cấu đề tài

Đề tài được nghiên cứu theo bố cục như sau:

Phần mở đầu

Phần nội dung: gồm có 03 chương

Chương 1 Khái quát chung về viên chức

Trong chương này, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu khái quát chung về viên chức, nhằm giúp cho người đọc hiểu rõ hơn về viên chức mà không nhằm lẫn với các đối tượng khác Trước tiên, người viết nêu lên một số khái niệm về viên chức như: khái niệm viên chức, viên chức quản lý; khái niệm hoạt động nghề nghiệp của viên chức; khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập; các khái niệm về kỷ luật viên chức cũng như quy trình xử lý kỷ luật viên chức

Bên cạnh đó, người viết còn nêu đặc điểm của viên chức bằng cách đi so sánh viên chức với công chức để tìm ra những điểm khác biệt giữa công chức và viên chức; phân loại viên chức; nêu các hình thức kỷ luật viên chức để giúp người đọc thấy được sự khác nhau giữa các hình thức kỷ luật áp dụng đối với viên chức quản lý và viên chức không giữ chức vụ quản lý; nêu cơ sở và ý nghĩa của việc quy định xử lý kỷ luật viên chức Trong chương này, người viết chưa đi sâu vào các quy định của pháp luật mà chủ yếu nêu lên các khái niệm để giúp hiểu rõ hơn về đối tượng được nghiên cứu, làm cơ sở cho việc nghiên cứu những chương sau được dễ dàng hơn

Chương 2 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quy trình xử lý kỷ luật viên chức

Trong chương này, người viết chủ yếu tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề xử lý kỷ luật viên chức kể từ khi Luật viên chức năm 2010 ra đời như: nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức, đây là cơ sở quan trọng, là định hướng cho quá trình xử lý kỷ luật viên chức; các trường hợp chưa xem xét xử lý, miễn xử

lý và xử lý kỷ luật viên chức, qua đó giúp mọi người hiểu được không phải mọi trường hợp viên chức có hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý kỷ luật mà có những trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật, thậm chí có những trường hợp được miễn xử lý kỷ luật; nêu thời hiệu cũng như thời hạn xử lý kỷ luật bởi vì thời hiệu, thời hạn có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xử lý kỷ luật, nó giúp cho quá trình xử lý kỷ luật viên chức diễn ra

Trang 9

chính xác và đúng pháp luật; cũng trong chương này, người viết nêu lên chủ thể có thẩm quyền xử lý kỷ luật trong các trường hợp cụ thể và đặc biệt là nêu lên quy trình xử lý kỷ luật viên chức - một nội dung trọng tâm mà người viết tập trung nghiên cứu trong đề tài này

Chương 3 Thực trạng và hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo thực hiện việc xử lý kỷ luật viên chức

Người viết nêu lên tình hình hoạt động của viên chức và vấn đề xử lý kỷ luật viên chức bằng cách thống kê số lượng viên chức và số lượng các đơn vị sự nghiệp công lập, nêu số lượng viên chức bị kỷ luật v.v Đặc biệt, trong chương này, người viết sẽ nêu thực tiễn về viên chức cũng như việc xử lý kỷ luật viên chức tại trường Đại học Cần Thơ Từ

đó nêu ra những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong quá trình xử lý kỷ luật viên chức Cũng trong chương này, người viết nêu nguyên nhân của hạn chế trong việc

xử lý kỷ luật viên chức, cuối cùng người viết nêu lên những kiến nghị, đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế, đồng thời góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về viên chức Phần kết luận

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIÊN CHỨC

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm viên chức và viên chức quản lý

1.1.1.1 Khái niệm viên chức

Trong cuộc sống, bên cạnh những nhu cầu vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, con người còn có những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thông tin… xã hội dần hình thành một bộ phận lao động đảm nhận công việc đó Ban đầu, những người làm công việc này chỉ chiếm một số lượng nhỏ so với lao động tại các ngành nghề sản xuất khác Sự phát triển của xã hội ngày càng cao khiến cho lực lượng này càng ngày càng đông đảo và mang tính chất chuyên nghiệp hơn Tùy từng giai đoạn mà lực lượng này có những tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút trong sử dụng và cung cấp dịch vụ Nhưng tất cả những người này đều có sự tôn trọng nhất định từ phía Nhà nước và xã hội, ngày nay họ được gọi là viên chức

Khái niệm viên chức được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật thay đổi qua từng thời kỳ Điều 8, Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sử dụng cụm từ “cán bộ, viên chức” để chỉ những người làm việc tại các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập Theo đó, viên chức là một khái niệm rất rộng “có thể dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức Nhà nước.”1 Tại Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 cụm từ được sử dụng là “cán bộ, công chức”, khi Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2003 thì viên chức đã được tách riêng thành một nhóm, tại Điểm d, Khoản 1, Điều 1, của Pháp lệnh

2003 quy định về viên chức như sau: “những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”, theo quy định này thì viên chức là một nhóm nhỏ thuộc tập hợp của nhóm lớn hơn là cán bộ, công chức

Trong bài viết “Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật viên chức”, Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ đã khái niệm một cách ngắn gọn về viên chức như sau:

“Viên chức là những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công không thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.” Viên chức là những người làm công việc thuần túy như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám chữa bệnh, cung cấp thông tin… tại các đơn vị sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý Nhà nước2

1

Phạm Hồng Thái: sự điều chỉnh của pháp luật về viên chức, tạp chí tổ chức Nhà nước, số 1, năm 2009, trang 27

2 Xem thêm: Trần Tuấn Anh: tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 5, 2010

Trang 11

Trước khi Luật viên chức năm 2010 ra đời, viên chức chưa có một khái niệm cụ thể, chưa phân biệt rõ ràng với khái niệm cán bộ, công chức, điều này gây rất nhiều khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Đến năm 2008, Luật cán bộ, công chức ra đời chỉ điều chỉnh cán bộ, công chức mà không điều chỉnh viên chức làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập Luật viên chức năm 2010 ra đời và chính thức có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2012, đến lúc này, viên chức đã có một khái niệm cụ thể Theo quy định tại Điều 2, Luật viên chức năm 2010 thì viên chức được khái niệm như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”3

Với xu hướng xã hội hóa cung ứng các dịch vụ công trong những năm gần đây, nhiều đơn vị sự nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cũng từng bước tham gia vào hoạt động này Người lao động trong các đơn vị trên có những tiêu chuẩn và thực hiện hoạt động chuyên môn giống như viên chức Có thể gọi những đối tượng này là “viên chức tư” Hiện nay, thuật ngữ “ viên chức tư” mới được sử dụng ở gốc độ nghiên cứu khoa học chứ chưa được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, do vậy,

“viên chức tư” không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật viên chức

Nói tóm lại, qua các thời kỳ thì viên chức có những tên gọi cũng như những khái niệm khác nhau Nhưng có thể thấy rằng, khái niệm rõ ràng và cụ thể nhất về viên chức chỉ có từ khi Luật viên chức năm 2010 ra đời và ngày nay, chủ yếu các đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng Luật viên chức năm 2010 và các văn bản hướng dẫn Luật viên chức

1.1.1.2 Khái niệm viên chức quản lý

Trong bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào cũng cần phải có người quản lý Trong các đơn vị sự nghiệp công lập cũng không ngoại lệ Một đơn vị muốn giữ vững kỷ luật, nghiêm minh cũng như vươn lên phát triển thì phải có người quản lý giỏi, gương mẫu và

có kiến thức cũng như có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

Viên chức quản lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong các đơn vị sự nghiệp công lập Viên chức quản lý là người chịu trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm

vụ của đơn vị theo thẩm quyền, góp phần giữ gìn sự đoàn kết trong đơn vị, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đồng thời quản lý có hiệu quả cơ sở vật chất của đơn vị

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Luật viên chức năm 2010 thì “Viên chức quản

lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành,

3 Điều 2, Luật Viên chức năm 2010

Trang 12

tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý.”4

Một số ví dụ về viên chức quản lý: trưởng Khoa, phó Khoa, trưởng Phòng… của trường Đại học công lập được bổ nhiệm làm viên chức quản lý

Từ khái niệm trên, ta có thể rút ra điểm khác nhau cơ bản giữa viên chức không giữ chức vụ quản lý và viên chức quản lý:

Thứ nhất, viên chức quản lý thì được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý còn viên chức

không giữ chức vụ quản lý thì không được bổ nhiệm mà chỉ được tuyển dụng theo vị trí việc làm;

Thứ hai, viên chức quản lý được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý còn viên chức

không giữ chức vụ quản lý thì không được hưởng phụ cấp này;

Thứ ba, viên chức quản lý chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc

một số công việc tại đơn vị sự nghiệp công lập còn viên chức không giữ chức vụ quản lý thì không đảm nhận nhiệm vụ này

Viên chức quản lý được bổ nhiệm như sau5

: Việc bổ nhiệm viên chức quản lý phải căn cứ vào nhu cầu của đơn vị sự nghiệp công lập, tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ quản lý và theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục Viên chức giữ chức vụ quản lý được bổ nhiệm có thời hạn không quá 05 năm Trong thời hạn này, viên chức được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý và được tham gia hoạt động nghề nghiệp theo chức danh nghề nghiệp đã được bổ nhiệm

Khi hết thời hạn giữ chức vụ quản lý, phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại Trường hợp không bổ nhiệm lại, cấp có thẩm quyền có trách nhiệm bố trí viên chức vào vị trí việc làm theo nhu cầu công tác, phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức Khi được bố trí sang vị trí việc làm khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ quản lý mới thì viên chức đương nhiên thôi giữ chức vụ quản lý đang đảm nhiệm, trừ trường hợp được giao kiêm nhiệm

Thẩm quyền bổ nhiệm: Do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định theo phâp cấp quản lý

1.1.2 Khái niệm về hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Hoạt động nghề nghiệp của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ Với tính chất công việc như vậy, mọi hoạt động nghề nghiệp của viên chức đòi hỏi tính chuyên nghiệp, chính xác như một chuyên gia Vì vậy, Luật viên chức đã làm rõ, hoạt động nghề nghiệp của viên chức là

4 Khoản 1 Điều 3, Luật viên chức năm 2010

5 Điều 37, Luật viên chức năm 2010

Trang 13

việc viên chức thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật viên chức 2010 và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là yêu cầu tất yếu và cần phải có đối với viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập Một giáo viên đóng vai trò đào tạo ra

cả một thế hệ tri thức trong tương lai nếu không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì sẽ đào tạo ra những lớp người không có tri thức Một bác sĩ mà không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thì có thể gây chết người Chính vì vậy, tính chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò rất quan trọng

Các nguyên tắc trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức6

:

Thứ nhất, tuân thủ pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình thực

hiện hoạt động nghề nghiệp: tuân thủ pháp luật không phải là nghĩa vụ của riêng ai mà là nghĩa vụ của tất cả mọi người, viên chức cũng vậy, trong hoạt động nghề nghiệp của mình, viên chức phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng pháp luật, nếu viên chức vi phạm pháp luật thì phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình;

Thứ hai, tận tụy phục vụ nhân dân: đây là phẩm chất cần phải có của viên chức,

viên chức phải cống hiến sức mình để phục vụ nhân dân, tất cả vì lợi ích của nhân dân chứ không phải vì lợi ích của riêng mình;

Thứ ba, tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp

và quy tắc ứng xử chung: trong hoạt động nghề nghiệp của mình, viên chức phải tuân thủ những quy định, quy tắc ứng xử chung nhằm góp phần tạo nên kỷ cương, phép tắc cũng như khuôn mẫu chung để dễ dàng hoạt động;

Thứ tư, chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

và của nhân dân: nguyên tắc này nhằm thể hiện sự khách quan, công khai trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức, từ đó có thể phát hiện những sai phạm, những sai sót để có biện pháp khắc phục cũng như kịp thời xử lý những hành vi vi phạm pháp luật và nâng cao hiệu quả trong hoạt động nghề nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.3 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập

Trong bài viết “một số suy nghĩ về xây dựng Luật viên chức”, Vũ Khoan nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ đã viết: “Từ trước tới nay ở nước ta, các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động không khác là bao so với các cơ quan hành chính, quản lý Nhà nước Chỉ gần đây các đơn vị này mới từng bước được tách khỏi hệ thống các cơ quan công quyền nói chung, nhưng ngay trong các đơn vị sự nghiệp công lập cũng còn không ít người vẫn tiếp tục được coi là cán bộ, công chức Nếu lấy tiêu chí hưởng hay không hưởng lương từ

6 Xem thêm: Điều 5, Luật viên chức năm 2010

Trang 14

ngân sách Nhà nước thì cũng chưa chuẩn xác vì các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn còn hưởng trợ cấp đáng kể từ ngân sách Nhà nước Còn ý kiến cho rằng, một trong những đặc điểm của viên chức là hoạt động của họ được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật mà bằng các quy chế hay điều lệ của chính nơi họ phục vụ thì cũng không thật thuyết phục vì đối với cán bộ, công chức cũng như vậy Càng không nên quan niệm rằng, hoạt động của

họ có thể được thay thế dễ dàng, vì dịch vụ công đòi hỏi tính chuyên nghiệp rất cao; một bác sĩ, luật sư, kỹ thuật viên giỏi chẳng hạn không dễ được thay thế bởi người khác, trong khi đó để thay thế một cán bộ, công chức hành chính, thậm chí ở cấp lãnh đạo cũng không phải là quá khó.”7

Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại mền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

“Để xây dựng một cơ chế quản lý hiệu quả đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, trước tiên phải xây dựng khái niệm đúng đắn, hoàn chỉnh về đơn vị sự nghiệp công lập, mang đầy đủ những đặc điểm về tính chất hoạt động, phương thức quản lý Trong những năm qua, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến đơn vị sự nghiệp công lập nhưng lại không đưa ra khái niệm

cụ thể về đơn vị sự nghiệp công lập.”8

Theo báo cáo của Bộ Nội vụ về thể chế quản lý viên chức và đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thì tính đến năm 2009 nước ta có 52.241 (năm mươi hai nghìn hai trăm bốn mươi mốt) đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó, lĩnh vực giáo dục

có 36.637 (ba mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi bảy) đơn vị, lĩnh vực y tế có 7.151 (bảy nghìn một trăm năm mươi mốt) đơn vị còn lại là các lĩnh vực khác Các đơn vị sự nghiệp công lập đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu cho xã hội trên hầu hết các lĩnh vực

Hệ thống cơ quan mà viên chức làm việc là những đơn vị sự nghiệp công lập, được cơ quan có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội thành lập nên và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản Hoạt động trong nhiều lĩnh vực như: giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu

Trang 15

http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-tuyen-dung-khoa học, văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, lao động, thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.9

Theo Khoản 1, Điều 9, Luật viên chức năm 2010 thì đơn vị sự nghiệp công lập được khái niệm một cách ngắn gọn hơn: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản

lý Nhà nước.”10

Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm11

:

Thứ nhất, đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực

hiện nhiệm vụ, tài chính , tổ chức bộ máy, nhân sự;

Thứ hai, đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về

thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy nhân sự

Một số ví dụ về đơn vị sự nghiệp công lập: Bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ (trực thuộc Bộ Y tế), trường Đại học y Hà nội (trực thuộc Bộ Y tế), trường Đại học Lâm Nghiệp (trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn), trường Đại học Kiến trúc Hà nội (trực thuộc Bộ Xây dựng) v.v

Điểm khác biệt lớn nhất giữa đơn vị sự nghiệp công lập với các đơn vị sự nghiệp khác là đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Phần lớn các đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện cung cấp một loại hình dịch vụ công bởi nó là mục đích chính khi thành lập

Cách xác định viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập:

Thứ nhất, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu giữ chức vụ cấp trưởng,

cấp phó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ là công chức còn lại là viên chức

Thứ hai, người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được

ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc các Ban và cơ quan tương đương của Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan Trung ương các

tổ chức chính trị - xã hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là công chức còn lại là viên chức

Thứ ba, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách Nhà nước cấp

kinh phí hoạt động thuộc Tổng cục, Cục và tương đương trực thuộc Bộ, các cơ quan

9

TS Phan Trung Hiền, Lâm Bá Khánh Toàn, Võ Nguyễn Nam Trung: Tài liệu hướng dẫn học tập Luật Hành chính

3, trang 17

10 Khoản 1 Điều 9, Luật viên chức năm 2010

11 Khoản 2 Điều 9, Luật viên chức năm 2010

Trang 16

ngang Bộ, tỉnh ủy, thành ủy, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy, thuộc tỉnh ủy, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện là công chức còn lại là viên chức

Thứ tư, người giữ các vị trí việc làm gắn với nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong

đơn vị sự nghiệp công lập được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước là công chức không phải là viên chức

Điều kiện thành lập, tổ chức lại và giải thể đơn vị sự nghiệp công lập12:

Thứ nhất, điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập: Xác định cụ thể, mục

tiêu, chức năng, nhiệm vụ; phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có); có trụ sở làm việc hoặc đề án quy hoạch cấp đất xây dựng trụ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (trường hợp xây dựng trụ sở mới); trang thiết bị cần thiết ban đầu; nguồn nhân sự và kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật

Thứ hai, điều kiện tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập: Thực hiện việc điều

chỉnh về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị sự nghiệp công lập; phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt (nếu có)

Thứ ba, điều kiện giải thể đơn vị sự nghiệp công lập: Việc giải thể đơn vị sự

nghiệp công lập khi có một trong những điều kiện sau: không còn chức năng, nhiệm vụ;

03 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc hoạt động không có hiệu quả theo đánh giá của cơ quan có thẩm quyền thành lập; theo yêu cầu sắp xếp về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập để phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập

đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

1.1.4 Khái niệm kỷ luật và kỷ luật viên chức

1.1.4.1 Khái niệm kỷ luật

Kỷ luật là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến trong đời sống cũng như trong nhiều lĩnh vực xã hội, nhưng kỷ luật được hiểu như thế nào và được khái niệm ra sao?

Kỷ luật dưới góc độ chung nhất được hiểu là những quy định, quy tắc, những trật

tự mà con người phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động trong một tổ chức, một tập đoàn hay trong một quan hệ cộng đồng Những quy định này có thể được chuẩn hóa trong những văn bản quy phạm pháp luật hoặc có thể là những quy tắc mang tính chất đạo đức hoặc thậm chí có thể là những quy định trong nội bộ một tổ chức Kỷ luật chính

12 Điều 3, Nghị định số 55/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 17

là phương tiện để thống nhất hoạt động chung của con người với nhau nhằm đạt được những mục đích nhất định, là nhu cầu tất yếu để hoạt động xã hội, diễn ra một cách ổn định và đạt được mục tiêu đã đề ra.13

Theo từ điển tiếng Việt, kỷ luật được khái niệm như sau: “Kỷ luật là những quy tắc, là điều quy định bắt buộc mọi người trong tổ chức phải tuân theo.”14

Đúng vậy, kỷ luật là tổng thể những quy tắc, những quy định có tính chất bắt buộc, đòi hỏi các thành viên trong tổ chức phải tuân theo góp phần tạo nên kỷ cương, nề nếp chung, nếu không tuân theo mà vi phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định Trong một cộng đồng dù lớn hay nhỏ cũng phải có kỷ luật hay nội quy cho mọi người nhằm bảo vệ lợi ích chung nếu không có

kỷ luật thì sẽ trở nên rối loạn, không phép tắc

Ví dụ: Kỷ luật quân đội, kỷ luật nhà trường, kỷ luật viên chức

Trên đây là loại kỷ luật bắt buộc, trong cuộc sống còn có thêm một loại kỷ luật mà người ta thường gọi đó là kỷ luật tự nguyện Kỷ luật tự nguyện là loại kỷ luật mà cá nhân mỗi người tự đặt ra kỷ luật cho bản thân mình ví dụ như: Tôi không hút thuốc, không uống rượu, tôi phải đi học đúng giờ, tôi không chơi game, tôi phải thường xuyên tập thể dục v.v đây là kỷ luật không ai bắt buộc phải làm, tự cá nhân đặt ra hoặc được người khác khuyên bảo

Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ nghiên cứu về một loại kỷ luật đó là kỷ luật bắt buộc

Kỷ luật có vai trò rất quan trọng:

Kỷ luật đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích cả về tinh thần và vật chất, lợi ích tinh thần là giúp hoàn thiện nhân cách con người, kỷ luật là thước đo để rèn luyện con người

Có một doanh nhân đã nói: “Nếu không có cái thước thẳng thì sao biết mình có chổ cong,

đã không biết chổ nào mình sai thì làm sao biết sửa mình cho ngay ngắn được” Không chỉ bảo vệ lợi ích bản thân, kỷ luật còn góp phẩn bảo vệ lợi ích cho tập thể, cộng đồng và

xã hội, tạo nên kỷ cương, nề nếp, đem lại kết quả tốt cho mọi công việc

Nói tóm lại, kỷ luật chính là sức mạnh của tập thể, góp phần tạo nên tính thống nhất trong mọi hoạt động, giúp định hướng mọi thành viên trong tập thể tập trung vào giải quyết những công việc mà tập thể đòi hỏi, góp phần tạo nên sự tự giác và thống nhất, giúp huy động có hiệu quả tiềm năng và sự nhiệt huyết của mọi người đóng góp cho tập thể Việc tăng cường kỷ luật không phải là kỷ luật thật nhiều, kỷ luật thật nặng mà phải vì mục đích nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi người tự giác thực hiện nhiệm vụ, chấp hành kỷ luật

Trang 18

1.1.4.2 Khái niệm kỷ luật viên chức

Tùy theo tính chất của các nhóm quan hệ xã hội cũng như yêu cầu, mục đích của các hoạt động chung mà có rất nhiêu loại kỷ luật khác nhau, trong đó có kỷ luật viên chức Hoạt động của viên chức được điều chỉnh không chỉ bằng pháp luật mà còn được điều chỉnh bằng các quy chế hay điều lệ của chính nơi họ phục vụ, cụ thể là kỷ luật viên chức Vậy thế nào là kỷ luật viên chức? kỷ luật viên chức được các đơn vị sự nghiệp công lập đặt ra để làm gì?

Hiện nay, chưa có một quy định cụ thể nào về khái niệm kỷ luật viên chức Nhưng qua thực tiễn, cũng như dựa vào những khái niệm có liên quan đặc biệt là dựa vào khái niệm kỷ luật, ta có thể rút ra khái niệm về kỷ luật viên chức như sau:

Thứ nhất, dưới góc độ chung nhất, kỷ luật viên chức được hiểu là trật tự, nề nếp

mà viên chức phải tuân theo khi tham gia vào hoạt động nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập, trường hợp viên chức không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ những nghĩa vụ được giao thì họ phải gánh chịu các hình thức kỷ luật tương ứng với hành

vi của mình

Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, kỷ luật viên chức là tổng thể các quy phạm pháp

luật quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của viên chức đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị và

cả những quy định về nề nếp, lối sống, tác phong, trang phục, cách ăn nói, ứng xử được thể hiện trong luật viên chức và các văn bản có liên quan bắt buộc viên chức trong đơn vị

sự nghiệp phải tuân theo cũng như các biện pháp xử lý đối với người không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ đó

Có thể nói, kỷ luật viên chức là kỷ luật bắt buộc, là những kỷ cương, phép tắc mà viên chức phải tuân theo để tạo nên nề nếp chung cho đơn vị sự nghiệp công lập, nếu viên chức không tuân theo mà để vi phạm thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả nhất định

1.1.5 Khái niệm xử lý kỷ luật viên chức và quy trình xử lý kỷ luật viên chức

1.1.5.1 Khái niệm xử lý kỷ luật viên chức

Viên chức làm việc, được hưởng lương và được hưởng những chế độ nhất định đồng thời viên chức cũng phải tuân thủ những kỷ luật, nề nếp, kỷ cương của đơn vị sự nghiệp công lập được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong nội

quy của đơn vị

Khi viên chức có hành vi vi phạm pháp luật, tùy từng trường hợp mà bị xử lý kỷ luật khác nhau Vậy thế nào là xử lý kỷ luật viên chức? Xử lý kỷ luật viên chức là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền đối với viên chức vi phạm kỷ luật (vi phạm về việc thực hiện nghĩa vụ của viên chức, những việc viên chức không được làm, cũng như việc thực hiện nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng làm việc đã ký kết, vi phạm pháp luật bị tòa

Trang 19

án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật, vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự), viên chức vi phạm kỷ luật phải chịu trách nhiệm

đối với hành vi vi phạm của mình bằng cách bị xử lý kỷ luật, tùy từng trường hợp mà

viên chức vi phạm kỷ luật bị áp dụng các hình thức kỷ luật khác nhau như: khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc Bên cạnh đó còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan

Một số ví dụ về trường hợp viên chức bị xử lý kỷ luật: Ông A là viên chức, A vi phạm pháp luật về phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bình đẳng giới, các tệ nạn xã hội A bị xử lý kỷ luật; Ông B là viên chức, nghỉ 05 ngày làm việc liên tiếp mà không có lý do chính đáng thì ông B cũng bị xử lý kỷ luật

1.1.5.2 Khái niệm quy trình xử lý kỷ luật viên chức

Việc xử lý kỷ luật viên chức phải tuân theo một quy trình nhất định, để hiểu thế nào là quy trình xử lý kỷ luật viên chức, trước tiên ta phải hiểu thế nào là quy trình? Theo

từ điển tiếng Việt thì “quy trình là các bước phải tuân theo khi tiến hành một việc nào đó,

ví dụ như quy trình sản xuất, quy trình xử lý kỷ thuật ngâm giống.”15

Dựa vào khái niệm về quy trình nêu trên, ta có thể hiểu khái niệm quy trình xử lý

kỷ luật viên chức như sau: Quy trình xử lý kỷ luật viên chức là thứ tự, là trình tự các bước tiến hành trong quá trình xử lý kỷ luật viên chức, thứ tự này đã được quy định sẵn

và phải tuân theo Nói cách khác, đó là cách thức cụ thể để tiến hành hoạt động xử lý kỷ luật viên chức, quy trình xử lý kỷ luật viên chức cũng là trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật viên chức, nhưng so với trình tự, thủ tục thì quy trình cụ thể hơn, rõ ràng hơn về thời gian, về địa điểm, về chủ thể cũng như thứ tự các bước tiến hành v.v Quy trình xử lý kỷ luật viên chức giúp ta trả lời các câu hỏi: Việc gì cần phải làm? trình tự, thủ tục ra sao?

do ai làm? làm lúc nào? làm ở đâu cũng như làm như thế nào?

Ví dụ về quy trình thanh tra được tiến hành qua 03 bước cơ bản sau và mỗi bước

có nêu cụ thể về chủ thể tiến hành, thời gian, trình tự thực hiện, địa điểm :

Bước 1: Chuẩn bị thanh tra

Bước 2: Tổ chức thực hiện thanh tra

Bước 3: Kết thúc thanh tra

15 Đại từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản văn hóa - thông tin Hà Nội năm 1999, tác giả Nguyễn Như Ý, trang 1381

Trang 20

1.2 Đặc điểm của viên chức

Đặc điểm của viên chức là những điểm đặc trưng cơ bản nhất của viên chức mà dựa vào đó ta có thể hiểu rõ hơn về viên chức và dễ dàng phân biệt viên chức với các chủ thể khác

Dựa vào khái niệm viên chức được quy định tại Điều 2, Luật viên chức năm 2010,

ta thấy viên chức có những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, về mặt chủ thể, viên chức bắt buộc phải là công dân Việt Nam

Thứ hai, viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm

Thứ ba, nơi làm việc của viên chức là các đơn vị sự nghiệp công lập

Thứ tư, chế độ làm việc của viên chức là theo chế độ hợp đồng làm việc Hợp

đồng làm việc này có thể là có thời hạn hoặc không có thời hạn

Thứ năm,viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập Thứ sáu, hoạt động nghề nghiệp của viên chức không mang tính quyền lực Nhà

nước, chỉ đơn thuần là thực hiện các hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ Đây là một đặc điểm rất dễ phân biệt viên chức với các chủ thể khác

Trong bài viết “Một số suy nghĩ về việc xây dựng Luật viên chức”, Vũ Khoan, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ đã nhận định: “Luật cũng cần nêu ra các tiêu chuẩn thể hiện rõ sự khác biệt giữa viên chức với cán bộ, công chức Có lẽ sự khác biệt rõ nhất là

họ phải được đào tạo có hệ thống về chuyên môn, có tính chuyên nghiệp cao trong lĩnh vực họ cung cấp dịch vụ Một công chức hành chính có thể chưa thành thạo về nghiệp vụ

và dễ dàng được đào tạo, huấn luyện trong công tác nhưng một y tá không được đào tạo

có hệ thống và không có tính chuyên nghiệp cao thì có thể gây chết người! Nói một cách khác, viên chức nhất thiết phải là chuyên gia Điều đó không có nghĩa là cán bộ, công chức không cần có tính chuyên nghiệp cao, nhưng do nhiều nguyên nhân, phần đông các cán bộ, công chức của ta còn đang rất thiếu tính chuyên nghiệp và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng bộ máy công quyền của nước ta kém hiệu quả và thiếu hiệu lực.”

Mặc dù hiện nay, Luật đã quy định rõ ràng, cụ thể về công chức, viên chức nhưng

ta rất dễ nhằm lẫn giữa hai đối tượng này Công chức và viên chức có những điểm khác nhau cơ bản sau giúp ta có thể dễ dàng phân biệt:

Công chức Viên chức Hình thức sử dụng là tuyển dụng,

bổ nhiệm

Hình thức sử dụng là tuyển dụng, là hợp đồng làm việc

Làm việc trong cơ quan Nhà nước, Làm việc trong các đơn vị sự nghiệp

Trang 21

tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, lãnh đạo đơn vị sự nghiệp

công lập

Nghạch công chức: A, B, C, D Không phân thành nghạch, chỉ có hạng

chức danh nghề nghiệp: I, II, III, IV

Làm việc theo biên chế Làm việc theo hợp đồng

Hưởng lương từ ngân sách Nhà

nước hoặc quỹ lương của đơn vị sự

- Buộc thôi việc

Tiêu chí đánh giá công chức dựa

- Tinh thần trách nhiệm và phối

hợp trong thực hiện nhiệm vụ;

- Thái độ phục vụ nhân dân

Tiêu chí đánh giá viên chức:

- Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

- Hiệu quả công việc (số lượng, chất lượng);

- Thái độ phục vụ nhân dân

Tính chất: vận hành quyền lực Nhà

nước, làm nhiệm vụ quản lý, thực

hiện công vụ thường xuyên

Tính chất: thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỷ năng, nhiệm vụ chuyên sâu, thực hiện các nhiệm vụ thần túy mang tính chuyên môn, nghiệp vụ

Trách nhiệm pháp lý: trách nhiệm

pháp lý, trách nhiệm hành chính của

công chức

Trách nhiệm pháp lý: trách nhiệm trước

cơ quan, người đứng đầu tổ chức, cơ quan xét tuyển, ký hợp đồng

Bảng so sánh công chức và viên chức

Trang 22

1.3 Phân loại viên chức

Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại viên chức, theo Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức thì có 02 tiêu chí để phân loại viên chức đó là phân loại viên chức theo vị chí việc làm và phân loại theo chức danh nghề nghiệp

1.3.1 Phân loại theo vị trí việc làm

Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức

để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.16

Theo vị trí việc làm, viên chức được phân thành hai loại như sau17:

Viên chức quản lý: viên chức quản lý bao gồm những người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một

số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý

Viên chức không giữ chức vụ quản lý: viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn, nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.3.2 Phân loại theo chức danh nghề nghiệp

Chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp.18

Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau19:

Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I;

Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II;

Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III;

Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV

Khoản 1 Điều 3, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

18 Khoản 1 Điều 8, Luật viên chức năm 2010

19 Khoản 2 Điều 3, Nghị định số 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức

Trang 23

thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ của mình thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau đây:

Khiển trách;

Cảnh cáo;

Cách chức;

Buộc thôi việc

Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức nêu trên còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan

Riêng hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý

1.4.1 Khiển trách

Khiển trách là hình thức kỷ luật nhẹ nhất trong các hình thức kỷ luật viên chức Theo Điều 10, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức khiển trách được áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

Thứ nhất, vi phạm các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp

công lập đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;

Thứ hai, không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức nghề

nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt nghề nghiệp, đã được người có thẩm quyền nhắc nhở bằng văn bản;

Thứ ba, không chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền hoặc

không thực hiện công việc, nhiệm vụ đã cam kết trong hợp đồng làm việc mà không có lý

do chính đáng;

Thứ tư, có thái độ hách dịch, cửa quyền hoặc gây khó khăn, phiền hà đối với nhân

dân trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao

Thứ năm, gây mất đoàn kết trong đơn vị;

Thứ sáu, tự ý nghỉ việc, tổng số từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc trong một tháng

được tính trong tháng dương lịch hoặc từ 03 đến dưới 05 ngày làm việc liên tiếp, mà không có lý do chính đáng;

Thứ bảy, sử dụng tài sản của đơn vị sự nghiệp công lập và của nhân dân trái với

quy định của pháp luật;

Thứ tám, vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành

tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức

Trang 24

* Chú ý: viên chức bị khiển trách thì thời hạn nâng lương kéo dài 03 tháng; không

thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu luật

1.4.2 Cảnh cáo

Theo Điều 11, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc xử

lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

Thứ nhất, không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức

nghề nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng;

Thứ hai, không chấp hành sự phân công công tác của người có thẩm quyền hoặc

không thực hiện công việc, nhiệm vụ đã cam kết trong hợp đồng làm việc mà không có lý

do chính đáng, gây ảnh hưởng dến công việc chung của đơn vị;

Thứ ba, sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tham gia đào tạo, bồi dưỡng;

được dự thi hoặc xét thay đổi chức danh nghề nghiệp;

Thứ tư, tự ý nghỉ việc tổng số từ 05 đến dưới 07 ngày làm việc trong một tháng

được tính trong tháng dương lịch hoặc từ 05 đến dười 07 ngày làm việc liên tiếp mà không có lý do chính đáng;

Thứ năm, phân biệt đối xử dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo dưới

mọi hình thức

Thứ sáu, lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền chống lại chủ trương,

đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc gây phương hại đối với thuần phong, mỹ tục, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân và xã hội;

Thứ bảy, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tính của người khác trong khi thực

hiện hoạt động nghề nghiệp;

Thứ tám, sử dụng trái phép chất ma túy bị cơ quan công an thông báo về đơn vị sự

nghiệp công lập nơi viên chức đang công tác;

Thứ chín, viên chức quản lý không thực hiện đúng trách nhiệm quản lý để viên

chức thuộc quyền quản lý, phụ trách vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp

Thứ mười, bị phạt tù cho hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ đối với viên

chức không giữ chức vụ quản lý, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 13 Nghị định 27/2012/NĐ-CP quy định về việc xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức;

Trang 25

Thứ mười một, vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng,

chống tham nhũng; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức nhưng đã thành khẩn kiểm điểm trong quá trình xem xét xử lý kỷ luật

* Chú ý: viên chức bị cảnh cáo thì thời hạn nâng lương bị kéo dại 06 tháng; không

thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu luật

1.4.3 Cách chức

Cách chức là hình thức kỷ luật chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý khi viên chức đó không thể tiếp tục đảm nhiệm chức vụ quản lý, không áp dụng đối với viên chức không giữ chức vụ quản lý Theo Điều 12, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức cách chức được áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

Thứ nhất, không hoàn thành nhiệm vụ quản lý, điều hành theo sự phân công mà

không có lý do chính đáng để xảy ra hậu quả nghiêm trọng;

Thứ hai, sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được bổ nhiệm chức vụ;

Thứ ba, bị phạt tù cho hưởng án treo, hoặc cải tạo không giam giữ;

Thứ tư, vi phạm ở mức độ nghiêm trọng quy định của pháp luật về phòng, chống

tham nhũng; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức

* Chú ý: viên chức bị cách chức thì thời hạn nâng lương bị kéo dài 12 tháng, đồng

thời đơn vị sự nghiệp công lập bố trí việc làm khác phù hợp; không thực hiện việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực Viên chức quản lý bị cách chức do tham nhũng hoặc bị Tòa án kết án về hành vi tham nhũng thì được bổ nhiệm vào vị trí quản lý khác

1.4.4 Buộc thôi việc

Buộc thôi việc là hình thức kỷ luật nặng nhất trong các hình thức kỷ luật viên chức Theo Điều 13, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức thì hình thức buộc thôi việc được áp dụng đối với viên chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

Thứ nhất, bị phạt tù mà không được hưởng án treo hoặc bị Tòa án kết án về hành

vi tham nhũng;

Trang 26

Thứ hai, không tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vị, đạo đức nghề

nghiệp và quy tắc ứng xử trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

Thứ ba, sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào đơn vị sự nghiệp

công lập;

Thứ tư, nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

Thứ năm, tự ý nghỉ việc tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc

từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà không có lý do chính đáng được tính trong tháng dương lịch; năm dương lịch;

Thứ sáu, vi phạm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng quy định của pháp luật về

phòng, chống tham nhũng nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; kỷ luật lao động; phòng, chống

tệ nạn xã hội và các quy định của pháp luật liên quan đến viên chức

1.5 Cơ sở quy định việc xử lý kỷ luật viên chức

1.5.1 Cơ sở pháp lý

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân” Đúng vậy, viên chức cũng không ngoại lệ, bên cạnh những quyền lợi mà viên chức được hưởng thì viên chức cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định Muốn đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của viên chức thì phải có những quy định về xử lý kỷ luật viên chức Nhằm góp phần xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm pháp luật và giữ gìn kỷ cương, nề nếp cũng như sự nghiêm minh của pháp luật Mặt khác, Điều 8, Hiến pháp năm 1992 cũng quy định: “Các

cơ quan Nhà nước, cán bộ, viên chức Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền.”20 Đúng vậy, Hiến pháp năm 1992 chính là cơ sở pháp

lý quan trọng cho sự ra đời của các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến viên chức

Bên cạnh đó, Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 đã quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức nhưng quy định này so với yêu cầu thực tế còn nhiều bất cập, viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập chưa được phân biệt rõ ràng với cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước cũng như chưa phân biệt rõ ràng về “quyền lực công” và “phục vụ công”, trong các quy định của pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức, những việc không được làm của viên chức giống như cán bộ,

20 Điều 8, Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001

Trang 27

công chức hạn chế việc xây dựng đội ngũ viên chức Đến năm 2008, Luật cán bộ, công chức ra đời chỉ điều chỉnh cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan của Đảng, Nhà nước

và tổ chức chính trị - xã hội mà không điều chỉnh viên chức làm trong đơn vị sự nghiệp công lập đã khiến cho việc xử lý kỷ luật viên chức gặp nhiều khó khăn, thiếu cơ sở pháp

lý cho việc xử lý kỷ luật

Luật viên chức năm 2010 ra đời và những văn bản hướng dẫn Luật viên chức, đặc biệt là Nghị định số 27/2012/NĐ-CP quy định về việc xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức đã quy định cụ thể về viên chức và việc xử lý

kỷ luật viên chức, trật tự, nề nếp của đơn vị sự nghiệp công lập và ý thức tuân thủ kỷ luật của viên chức đã được nâng cao hơn Vì vậy, cần có những quy định của pháp luật rõ ràng, cụ thể để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý kỷ luật viên chức

1.5.2 Cơ sở thực tiễn

Trên thực tế, có nhiều lý do khác nhau dẫn đến viên chức vi phạm kỷ luật Các đơn vị sự nghiệp công lập chỉ tập trung vào hoạt động nghề nghiệp của mình mà chưa chú trọng đến việc trừng phạt cũng như xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật Trong khi đó, việc xử lý kỷ luật viên chức sẽ góp phần tạo nên kỷ cương, phép tắc và tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị sự nghiệp công lập phát triển, bảo vệ lợi ích chung cho cộng đồng và toàn xã hội cũng như góp phần trừng phạt, giáo dục những hành vi vi phạm pháp luật

Hoạt động nghề nghiệp của đội ngũ viên chức hiện nay chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ, thống nhất Các tiêu cực về tác phong, lề lối làm việc của viên chức đã và đang làm giảm sức sáng tạo, cũng như chất lượng trong hoạt động nghề nghiệp Các biểu hiện về thiếu tinh thần, trách nhiệm, yếu kém năng lực và trình độ nghề nghiệp, phiền hà, sách nhiễu người dân vẫn tồn tại trong đội ngũ viên chức Vì vậy, cần có những quy định

rõ ràng, cụ thể về xử lý kỷ luật viên chức nhằm góp phần khắc phục tình trạng nêu trên

1.6 Ý nghĩa của việc quy định xử lý kỷ luật viên chức

Việc quy định xử lý kỷ luật viên chức có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý để xử lý kỷ luật viên chức

Thứ hai, thông qua việc xử lý kỷ luật viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập có thể

bố trí, sắp xếp viên chức làm việc một cách thật hợp lý để ổn định hoạt động của đơn vị

sự nghiệp công lập và trật tự xã hội nói chung

Thứ ba, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của các đơn vị sự nghiệp

công lập, xây dựng đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực và trình độ phục vụ nhân dân

Trang 28

Thứ tư, tuân thủ kỷ luật, viên chức có thể tự rèn luyện mình để trở thành công dân

của xã hội hiện đại, tạo niềm tin cho nhân dân

Thứ năm, kịp thời răn đe, trừng phạt những hành vi vi phạm pháp luật để những

người khác lấy đó làm gương mà từ đó có thể hạn chế những trường hợp vi phạm pháp luật

Thứ sáu, tạo nên kỷ cương, nề nếp nhằm bảo vệ lợi ích chung

Trang 29

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ QUY

TRÌNH XỬ LÝ KỶ LUẬT VIÊN CHỨC

2.1 Nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức là những phương châm, định hướng, là cơ

sở quan trọng trong quá trình xử lý kỷ luật viên chức Những nguyên tắc này thể hiện rõ những chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, khách quan, công minh theo đúng pháp luật, không làm oan người vô tội Vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật về

xử lý kỷ luật viên chức, những nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức cần phải được quán triệt và thực hiện một cách nghiêm chỉnh Các nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức góp phần giúp cho việc xử lý đúng pháp luật, đúng thủ tục và đúng thẩm quyền góp phần hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật

Nhằm bảo vệ lợi ích của viên chức cũng như bảo đảm cho quá trình xử lý kỷ luật được chính xác và phát huy được tác dụng tích cực của việc xử lý kỷ luật viên chức trong quản lý viên chức, pháp luật viên chức đã quy định các nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức

Các nguyên tắc xử lý kỷ luật viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định cụ thể tại Điều 3, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc

xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức, bao gồm 06 nguyên tắc cơ bản sau:

Nguyên tắc thứ nhất, khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng pháp luật;

Ví dụ: Hai viên chức A, B có hành vi vi phạm pháp luật A là con của một nông

dân, B là con của Chủ tịch tỉnh, A và B đều bị xử lý kỷ luật như nhau, đảm bảo sự khách quan, công bằng, không thiên vị, mọi công dân đều bình đẳng với nhau, không phân biệt đối xử

Nguyên tắc thứ hai, mỗi hành vi vi phạm pháp luật chỉ bị xử lý một hình thức kỷ

luật Nếu viên chức có nhiều hành vi vi phạm pháp luật hoặc tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật thì bị xử lý kỷ luật về từng hành vi vi phạm pháp luật và chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hình thức kỷ luật áp dụng với hành vi vi phạm nặng nhất, trừ trường hợp có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc;

Ví dụ: Nếu viên chức A có một hành vi vi phạm pháp luật thì A chỉ bị xử lý với

một hình thức kỷ luật là khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc buộc thôi việc chứ không thể nào A bị áp dụng 02 hình thức kỷ luật

Trang 30

Hoặc viên chức quản lý B có 2 hành vi vi phạm pháp luật, thì B sẽ bị xử lý kỷ luật

về từng hành vi vi phạm pháp luật, trong đó hình thức kỷ luật áp dụng đối với hành vi vi phạm nặng nhất là cảnh cáo, thì B phải chịu hình thức kỷ luật nặng hơn một mức so với hành vi vi phạm nặng nhất và hình thức kỷ luật nặng hơn hình thức cảnh cáo một mức là hình thức cách chức

Nguyên tắc thứ ba, thái độ tiếp thu, sửa chữa và chủ động khắc phục hậu quả của

viên chức có hành vi vi phạm pháp luật là yếu tố xem xét tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi áp dụng hình thức kỷ luật;

Đây là một nguyên tắc thể hiện sự vị tha, đạo đức của pháp luật nước ta, nếu người làm sai mà biết sửa chữa thì nên cho họ cơ hội sửa sai, “đánh kẻ chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại.” Bởi suy cho cùng, pháp luật nước ta là nhằm mục đích tạo nên kỷ cương, ổn đinh, đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân chứ không gì mục đích trừng trị

Ví dụ: Hai viên chức A, B đều bị kỷ luật Nhưng A có thái độ tiếp thu, sửa chữa và

khắc phục hậu quả, còn B thì không có Vậy A có thể sẽ được giảm nhẹ hình thức kỷ luật còn B thì không được xem xét giảm nhẹ mà còn có thể bị tăng nặng hình thức kỷ luật

Nguyên tắc thứ tư, thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với viên chức trong

các trường hợp quy định tại Điều 5, Nghị định số 27/2012/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, hoàn trả của viên chức không tính vào thời hạn

xử lý kỷ luật;

Ví dụ: Thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật cho viên chức A là 30 ngày, thì 30

ngày này không được tính vào thời hạn xử lý kỷ luật của A

Nguyên tắc thứ năm, không áp dụng hình thức xử phạt hành chính thay cho hình

thức kỷ luật;

Ví dụ: Viên chức A vi phạm kỷ luật, A muốn áp dụng hình thức phạt tiền thay cho

các hính thức kỷ luật là không được, bởi vì đã vi phạm nguyên tắc trên

Nguyên tắc thứ sáu, cấm mọi hành vi xâm phạm thân thể, danh dự, nhân phẩm của

viên chức trong quá trình xử lý kỷ luật: Bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm là quyền thiêng liêng của mọi công dân, quyền thiêng liêng ấy đã được Hiến pháp quy định cụ thể

Ví dụ: A vi phạm kỷ luật, trong quá trình xử lý kỷ luật A, nghiêm cấm những

người có thầm quyền xử lý kỷ luật A dùng vũ lực với A hoặc nghiêm cấm mọi người nói xấu, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của A

Việc xử lý kỷ luật hợp pháp phải tuân thủ các nguyên tác nói trên

Trang 31

2.2 Các trường hợp xử lý, chưa xem xét xử lý và các trường hợp miễn xử lý kỷ luật

2.2.1 Các trường hợp xử lý kỷ luật viên chức

Việc quy định các trường hợp xử lý kỷ luật viên chức là cơ sở cho quá trình xử lý

kỷ luật viên chức, nó giúp nhận biết những trường hợp nào thì viên chức bị xử lý kỷ luật, khi viên chức có hành vi vi phạm rơi vào các trường hợp xử lý kỷ luật thì sẽ bị xem xét

xử lý kỷ luật

Viên chức bị xử lý kỷ luật khi có hành vi vi phạm pháp luật trong các trường hợp sau đây21:

Thứ nhất, vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ của viên chức và những việc viên chức

không được làm quy định tại Luật viên chức: nghĩa vụ của viên chức được quy định từ Điều 16 đến Điều 18 của Luật viên chức và những việc viên chức không được làm được quy định tại Điều 19 của Luật viên chức;

Thứ hai, vi phạm các nghĩa vụ khác cam kết trong hợp đồng làm việc đã ký kết

với đơn vị sự nghiệp công lập;

Thứ ba, vi phạm pháp luật bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật Thứ tư, vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; thực hành

tiết kiệm, chống lãng phí; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội và các quy định khác của pháp luật liên quan đến viên chức nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự

2.2.2 Các trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật viên chức

Khi viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập có hành vi vi phạm pháp luật, không phải tất cả mọi trường hợp vi phạm đều bị xử lý kỷ luật ngay, mà có những trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật viên chức Tuy nước ta là một đất nước sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật nhưng tất cả cũng vì lợi ích của nhân dân, vì cuộc sống bình yên của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, Nhà nước ta không phải lúc nào cũng cứng nhắc mà rất khoan dung và độ lượng Cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền chưa xem xét xử lý kỷ luật đối với viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong các trường hợp sau đây22:

Thứ nhất, đang trong thời gian nghỉ hàng năm, nghỉ theo chế độ, nghỉ việc riêng

được người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập cho phép;

Ví dụ: nghỉ hàng năm như: Nghỉ tết âm lịch, nghỉ tết dương lịch, nghỉ lễ 30/4, 1/5 v.v ; nghỉ việc riêng như: Viên chức kết hôn, con viên chức kết hôn v.v

Trang 32

Thứ hai, đang trong thời gian điều trị, chữa bệnh có xác nhận của cơ quan y tế có

thẩm quyền;

chữa bệnh tại bệnh viện X và có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền Vậy trong thời gian A chữa bệnh, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa xem xét xử lý kỷ luật A

Thứ ba, viên chức nữ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con

dưới 12 tháng tuổi;

Ví dụ: Chị A là viên chức đang mang thai, chị có hành vi sử dụng tài sản của cơ

quan, tổ chức, đơn vị và của nhân dân trái với quy định của pháp luật Trong trường hợp này, do A đang mang thai nên A thuộc trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật

Thứ tư, đang bị tạm giữ, tạm giam, chờ kết luận của cơ quan có thẩm quyền điều

tra, truy tố, xét xử về hành vi vi phạm pháp luật

Ví dụ: Viên chức B có hành vi lợi dụng hoạt động nghề nghiệp để tuyên truyền,

chống lại chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước B đang bị tạm giam chờ kết luận của cơ quan điều tra về hành vi này, trong thời gian B bị tạm giam,

cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa xem xét xử lý kỷ lụât B

2.2.3 Các trường hợp miễn xử lý kỷ luật

Khi viên chức vi phạm pháp luật, ngoài những trường hợp xử lý kỷ luật cũng như những trường hợp chưa xem xét xử lý kỷ luật thì trong một số trường hợp, viên chức còn

có thể được miễn xử lý kỷ luật, bởi vì trong một số trường hợp mặc dù viên chức có hành

vi vi phạm pháp luật nhưng viên chức không hề muốn mình vi phạm kỷ luật cũng như không làm chủ được bản thân mình Viên chức được miễn xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau đây23:

Thứ nhất, được cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng mất năng lực hành vi

dân sự khi vi phạm pháp luật: theo quy định tại Khoản 1, Điều 22, Bộ luật Dân sự năm

2005 thì “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của

tổ chức giám định Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân

sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền và lợi ích liên quan, Tòa

án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.”24

Đúng vậy, trong trường hợp mất năng lực hành vi dân sự, viên chức không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nếu họ nhận thức và làm chủ được mình thì họ

Ngày đăng: 03/10/2015, 15:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng so sánh công chức và viên chức - quy trình xử lý kỷ luật viên chức – lý luận và thực tiễn
Bảng so sánh công chức và viên chức (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm