1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những điểm mới của luật lâm nghiệp

152 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những điểm mới của luật lâm nghiệp
Tác giả ThS.NCS. Võ Trung Tín, ThS.NCS. Trần Thị Trúc Minh, ThS. Bùi Thành Luân, ThS. Đoàn Thanh Vũ, ThS. Nguyễn Huyền Ly, ThS.NCS Nguyễn Thị Kiều Oanh, ThS. Ngô Gia Hoàng, ThS.NCS. Nguyễn Lâm Trâm Anh, ThS. Trương Chánh Đức, ThS.NCS. Phan Thị Kim Ngân, ThS. Trần Linh Huân, ThS. Phạm Thị Mai Trang, ThS. Nguyễn Hoàng Phước Hạnh, Nguyễn Thanh Truyền, Bùi Thị Yến Trinh
Người hướng dẫn PGS. TS. Hà Thị Thanh Bình
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Thể loại Tài liệu hội thảo
Năm xuất bản 2019
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ba là, trên cơ sở quy định về các nguyên tắc của Luật BV&PTR, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tác động tích cực đến bảo vệ, phát triển rừng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

TÀI LIỆU HỘI THẢO

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP

TP HỒ CHÍ MINH – 17/04/2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI THẢO NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP

TP HỒ CHÍ MINH – 17/04/2019

Trang 3

…….……

1 Một số điểm mới của Luật Lâm nghiệp – ThS.NCS Võ Trung Tín,

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

01

2 Chủ rừng, quyền sở hữu của chủ rừng theo Luật lâm nghiệp 2017

– ThS.NCS Trần Thị Trúc Minh, Khoa Luật Thương mại, Trường

Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh

Trang

15

3 Những điểm mới về chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân

tộc thiểu số - ThS Bùi Thành Luân, Tòa án nhân dân Quận Gò

Vấp, TP Hồ Chí Minh

Trang

23

4 Bàn về chính sách hợp tác quốc tế về lâm nghiệp theo Luật lâm

nghiệp 2017 – ThS Đoàn Thanh Vũ, Khoa Luật, Trường Đại học

Sài Gòn và ThS Nguyễn Huyền Ly, Đại học Luật - Đại học Huế

Trang

35

5 Những điểm mới của Luật lâm nghiệp về giao đất, cho thuê đất

để trồng rừng – ThS.NCS Nguyễn Thị Kiều Oanh, Khoa Luật

Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

41

6 Những điểm mới của Luật lâm nghiệp về giao đất, cho thuê đất để

trồng rừng – ThS Ngô Gia Hoàng, Khoa Luật Thương mại,

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

48

7 Pháp luật về dịch vụ môi trường rừng theo Luật lâm nghiệp Việt

Nam năm 2017 – ThS.NCS Nguyễn Lâm Trâm Anh, Khoa Luật,

Trường Đại học Sài Gòn

Trang

62

8 Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng từ thí điểm đến luật

hóa – ThS Trương Chánh Đức, Học viện Chính trị Khu vực IV

Trang

72

9 Vấn đề dịch vụ môi trường rừng – nhìn từ góc độ Luật lâm nghiệp

và Nghị Định 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số

Trang

83

Trang 4

Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

10 Những điểm mới của Luật lâm nghiệp về chính sách của nhà nước

về lâm nghiệp – ThS Trần Linh Huân, Khoa Luật Thương mại,

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

95

11 Phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững điểm mới cơ bản của Luật

lâm nghiệp năm 2017 – ThS Phạm Thị Mai Trang, Khoa Pháp

luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang

107

12 Những điểm mới của Luật lâm nghiệp về chế biến và thương mại

lâm sản – ThS Nguyễn Hoàng Phước Hạnh, Khoa Luật Thương

mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

119

13 Những điểm mới của Luật lâm nghiệp 2017 về chế biến và thương

mại lâm sản – Nguyễn Thanh Truyền và Bùi Thị Yến Trinh, Cao

học Luật Kinh tế khóa 30, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang

129

Trang 5

Thời gian: 8h00 đến 11h30, thứ Tư, ngày 17 tháng 4 năm 2019

Địa điểm: Hội trường A.905 Trường Đại học Luật TP HCM, số 2 Nguyễn Tất

Thành, Quận 4, TP Hồ Chí Minh

CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO

7h45 – 8h00 Đăng ký đại biểu

8h00 – 8h10 Chào mừng các diễn giả và khách mời

- TS Đặng Anh Quân - Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

HỘI THẢO KHOA HỌC

“NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP”

Trang 6

9h00 – 9h15

Những điểm mới của Luật Lâm nghiệp về giao đất, cho thuê đất để trồng rừng

NCS Nguyễn Thị Kiều Oanh

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

- TS Đặng Anh Quân - Khoa Luật Thương Mại, Trường Đại học

Vấn đề dịch vụ môi trường rừng – Nhìn từ góc độ Luật Lâm nghiệp

và Nghị Định 156/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp

NCS Phan Thị Kim Ngân

Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Trang 7

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT LÂM NGHIỆP

ThS.NCS Võ Trung Tín Khoa Luật thương mại, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh

Tóm tắt

Ngày 15 tháng 11 năm 2017, Luật Lâm Nghiệp số 16/2017/QH14 đã được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua, thay thế cho Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, với nhiều nội dung cụ thể hơn Luật này có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2019 Bài viết giới thiệu một số điểm mới của Luật Lâm Nghiệp so với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Từ khóa: Lâm nghiệp, luật lâm nghiệp, điểm mới của Luật lâm nghiệp Abstract

The Law on Forestry No 16/2017/QH14 was adopted by the National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam in the 4th meeting session of term XIV, November 15, 2017 The Law on Forestry is the replacement of the Law on Forest Protection and Development 2004 with more specific provisions The Law on Forestry will come into effect on January 1, 2019 The article introduces several new features of the The Law on Forestry with reference to the Law on Forest Protection and Development 2004

Keyword: Forestry, forestry law, new points of the Forest Law

1 Sự cần thiết của việc ban hành Luật Lâm nghiệp

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, Khóa XI ngày 03/12/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2005 Luật đã thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng trong thời

kỳ đầu đổi mới đất nước Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật BV&PTR đã được triển khai tích cực, đi vào cuộc sống, tạo khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hành vi xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, thể hiện ở những mặt cơ bản sau:

Một là, Luật BV&PTR đã thể chế hóa các quan điểm phát triển lâm nghiệp

của Đảng, tạo chuyển biến quan trọng trong phát triển lâm nghiệp

Hai là, trên cơ sở các quy định của Luật BV&PTR, các cơ quan nhà nước có

thẩm quyền ở Trung ương đã ban hành trên 100 văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn, quy định chi tiết thi hành luật, bao quát toàn diện về nhiều nội dung

Trang 8

Ba là, trên cơ sở quy định về các nguyên tắc của Luật BV&PTR, Nhà nước đã

ban hành nhiều chính sách tác động tích cực đến bảo vệ, phát triển rừng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, sử dụng đất, rừng có hiệu quả hơn

Bốn là, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều

chuyển biến tích cực, hệ thống tổ chức ngành lâm nghiệp từng bước được củng cố, tăng cường; chuyển căn bản từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang chủ yếu sử dụng công cụ pháp luật và các chính sách đòn bẩy kinh tế gắn với quy hoạch, kế hoạch, định hướng thị trường

Tuy nhiên, quá trình thi hành Luật đã bộc lộ tồn tại, hạn chế như:

Một là, pháp luật BV&PTR và các pháp luật khác có liên quan quy định còn

thiếu đồng bộ, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn, nhất là những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể quản lý rừng, về phân loại đất, phân loại rừng, quản lý đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng, quản lý hệ thống bảo tồn thiên nhiên

là rừng đặc dụng,… thiếu thống nhất với một số Luật khác (như Luật Dân sự, Luật

Đa dạng sinh học 2008, ) Quốc hội Khóa 13 mới thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, trong đó có nhiều chế định và quy định mới liên quan đến lâm nghiệp (quyền sở hữu rừng, quyền sử dụng rừng và thực hiện các quyền trong mối quan hệ với quyền sử dụng đất; các quy định

về môi trường trong quản lý lâm nghiệp…)

Hai là, Luật BV&PTR chưa quy định rõ, đầy đủ chuỗi sản xuất lâm nghiệp,

từ quản lý, bảo vệ, phát triển rừng đến khai thác, vận chuyển, chế biến, kinh doanh, thương mại lâm sản, dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong hoạch định chính sách, đầu tư phát triển, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và chưa đánh giá đúng thành quả của ngành lâm nghiệp; rừng và đất lâm nghiệp chiếm tới trên 50% diện tích cả nước, nhưng tổng giá trị GDP lâm nghiệp chỉ chiếm chưa đến 1% GDP quốc gia, một phần là do không đưa giá trị chế biến lâm sản và dịch vụ môi trường rừng vào thành quả của ngành lâm nghiệp

Ba là, quy hoạch BV&PTR chất lượng chưa cao, chưa đồng bộ với quy hoạch

sử dụng đất, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chưa sát với thực tế và thường xuyên bị phá vỡ, việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch BV&PTR còn sai mục đích, kém hiệu quả; thanh tra, giám sát thi hành pháp luật chưa nghiêm, trong khi chế tài

xử lý vi phạm pháp luật về BV&PTR còn thiếu và chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm, nên tình trạng phá rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, lấn

Trang 9

chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật còn diễn

ra phức tạp ở nhiều địa phương gây bức xúc trong xã hội và làm suy giảm tài nguyên rừng, nhất là rừng tự nhiên

Bốn là, các quy định về phát triển rừng chưa tạo ra được những bước tiến mới

trong kinh doanh rừng trồng; năng suất, chất lượng, giá trị rừng sản xuất vẫn còn thấp, chủ yếu là trồng rừng gỗ nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu cơ bản về nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu, chưa đem lại hiệu quả kinh tế để có thể giảm cách biệt thu nhập so với các cây trồng và ngành nghề khác; đa số người dân làm nghề rừng còn nghèo, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân miền núi, nên chưa góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người làm nghề rừng

Năm là, các quy định của pháp luật chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền

định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đối với rừng tự nhiên và các quyền, nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân khi được Nhà nước giao, cho thuê rừng

tự nhiên; nên chưa tạo điều kiện phát huy tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ đầu tư vào nghề rừng;cơ chế chính sách hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, chưa tính đến các giá trị dịch vụ môi trường rừng;

Sáu là, Luật chưa quy định toàn diện, đồng bộ hệ thống quản lý nhà nước về

lâm nghiệp, mới chỉ quy định được lực lượng Kiểm lâm, dẫn đến hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp, tổ chức của lực lượng Kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng ở địa phương thiếu thống nhất, không phát huy được hiệu quả tổng hợp và phân định

rõ chức năng quản lý ngành lâm nghiệp trong một đầu mối

Bảy là, Luật chưa quy định cụ thể về hệ thống tổ chức sản xuất và dịch vụ lâm

nghiệp cấp cơ sở Các lâm trường quốc doanh trước đây, sau khi đã sắp xếp lại, chuyển thành công ty lâm nghiệp, chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nhất là chưa tạo điều kiện để công ty phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh; phần lớn đất đai và rừng chưa được rà soát, đo đạc trên thực địa, chưa lập bản đồ địa chính, diện tích đất được cấp sổ đỏ chiếm tỷ lệ thấp, còn có biểu hiện vi phạm pháp luật đất đai với nhiều hình thức khác nhau; nhiều công ty lâm nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh và thu nhập của người lao động thấp

Tám là, Luật chưa có quy định cụ thể về chế biến và thương mại lâm sản, nhất

là cơ chế ưu đãi đầu tư và tín dụng cần thiết cho ngành chế biến gỗ và lâm sản, tạo

Trang 10

động lực phát triển rừng, phát triển nguồn nguyên liệu Trên thực tế, quản trị doanh nghiệp, công nghệ chế biến; chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh thấp; giá trị gia tăng của lâm sản thấp; tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn trên thế giới, nhưng quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa tổ chức liên kết theo chuỗi, kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến yếu kém; công nghệ và quản trị các doanh nghiệp vừa và nhỏ phổ biến còn lạc hậu, nên hiệu quả của sản xuất lâm nghiệp thấp so với khu vực và thế giới Năng suất lao động trong chế biến lâm sản của Việt Nam chỉ bằng 50% so với Philipin, 40% so với Trung Quốc và 20% so với bình quân các nước EU; chất lượng, mẫu mã sản phẩm kém cạnh tranh Thị trường trong nước chưa được quan tâm đúng mức, chưa hình thành hệ thống phân phối lưu thông, thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu

Chín là, Luật chưa có quy định cụ thể về khoa học và công nghệ; đào tạo và

phát triển nguồn nhân lực, hợp tác, hội nhập quốc tế trong lâm nghiệp Trên thực tế, trình độ tay nghề lao động lâm nghiệp thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, trồng rừng vẫn chủ yếu là quảng canh Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vào sản xuất còn nhiều bất cập Công nghệ sinh học và công tác tạo giống chưa được ứng dụng trên quy mô rộng

Mười là, pháp luật BV&PTR còn những quy định chưa phù hợp hoặc thiếu cụ

thể với một số công ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, dẫn đến việc một số khó khăn, hạn chế trong thực thi và hội nhập kinh tế quốc tế1

Tổng kết 12 năm thực hiện Luật BV&PTR năm 2004 cho thấy, từ khi có Luật, rừng đã được bảo vệ và phát triển tốt hơn, đã đóng góp tích cực, có hiệu quả vào phát triển kinh tế - xã hội nước nhà Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực thì Luật BV&PTR năm 2004 đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong ngăn chặn tình trạng phá rừng, suy giảm rừng tự nhiên, lấn chiếm đất rừng, sản xuất lâm nghiệp nhỏ lẻ hiệu quả chưa cao, năng suất và giá trị gia tăng thấp, người trồng rừng và bảo vệ rừng có cuộc sống còn nhiều khó khăn Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn để nâng cao giá trị, hiệu quả quản lý rừng; thúc đẩy phát triển KT-XH, phát triển lâm nghiệp, ngăn chặn tốt hơn tình trạng phá rừng; bảo vệ môi trường, ứng phó với biến

1 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015), Báo cáo thuyết minh đề xuất lập dự án Luật Lâm nghiệp

thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004

Trang 11

đổi khí hậu và bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người làm nghề rừng và xây dựng nông thôn mới2

2 Bố cục

Luật Lâm nghiệp (sau đây gọi là Luật LN) gồm 12 Chương, 108 Điều So với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (sau đây gọi là Luật BV&PTR), Luật LN tăng 4 Chương và 20 Điều3 Đây là sự thay đổi thứ tự theo tính ưu tiên và các nhóm nội dung Bố cục cụ thể của Luật LN như sau:

- Chương I Những quy định chung, gồm 09 điều (từ Điều 01 đến Điều 09),

quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp; chính sách của Nhà nước về lâm nghiệp; phân loại rừng; phân định ranh giới rừng;

sở hữu rừng; chủ rừng; các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp

- Chương II Quy hoạch lâm nghiệp, gồm 04 điều (từ Điều 10 đến Điều 13), quy

định về nguyên tắc, căn cứ lập quy hoạch lâm nghiệp; thời kỳ và nội dung quy hoạch lâm nghiệp; lập, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia; tổ chức tư vấn lập quy hoạch lâm nghiệp

- Chương III Quản lý rừng, gồm 05 mục, 23 điều (từ Điều 14 đến Điều 36),

quy định về nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển loại rừng, chuyển mục đích

sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng; tổ chức quản lý rừng; quản lý rừng bền vững; đóng, mở cửa rừng tự nhiên; điều tra, kiểm kê, theo dõi diễn biến, cơ sở

dữ liệu rừng

- Chương IV Bảo vệ rừng, gồm 07 điều (từ Điều 37 đến Điều 43), quy định

về bảo vệ hệ sinh thái rừng; bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; phòng cháy và chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng của chủ rừng; kiểm tra nguồn gốc lâm sản; trách nhiệm bảo vệ rừng của toàn dân

- Chương V Phát triển rừng, gồm 08 điều (từ Điều 44 đến Điều 51), quy định

về phát triển giống cây lâm nghiệp; biện pháp lâm sinh; phát triển rừng đặc dụng; phát triển rừng phòng hộ; phát triển rừng sản xuất; trồng cấy thực vật rừng, gây nuôi phát triển động vật rừng; trồng cây phân tán; kết cấu hạ tầng phục vụ bảo vệ và phát triển rừng

Trang 12

- Chương VI Sử dụng rừng, gồm 14 điều, 04 mục (từ Điều 52 đến Điều 65),

quy định về sử dụng rừng đặc dụng; sử dụng rừng phòng hộ; sử dụng rừng sản xuất; dịch vụ môi trường rừng

- Chương VII Chế biến và thương mại lâm sản, gồm 07 điều, 02 mục (từ Điều

66 đến Điều 72), quy định về chế biến lâm sản; thương mại lâm sản

- Chương VIII Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, gồm 17 điều, 04 mục (từ

Điều 73 đến Điều 89), quy định về quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng; quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng là ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là tổ chức kinh tế; quyền và nghĩa vụ của chủ

rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là

đơn vị vũ trang; tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

- Chương IX Định giá rừng, đầu tư, tài chính trong lâm nghiệp, gồm 06 điều,

02 mục (từ Điều 90 đến Điều 95), quy định về định giá rừng trong lâm nghiệp; đầu

tư và tài chính trong lâm nghiệp

- Chương X Khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp, gồm 04

điều (từ Điều 96 đến Điều 99), quy định về hoạt động khoa học và công nghệ về lâm nghiệp; chính sách khoa học và công nghệ về lâm nghiệp; hoạt động hợp tác quốc tế

về lâm nghiệp; chính sách hợp tác quốc tế về lâm nghiệp

- Chương XI Quản lý nhà nước về lâm nghiệp và kiểm lâm, gồm 07 điều, 02

mục (từ Điều 100 đến Điều 106), quy định về quản lý nhà nước về lâm nghiệp; kiểm lâm

- Chương XII Điều khoản thi hành, gồm Điều 107 và Điều 108, quy định về

hiệu lực thi hành; quy định chuyển tiếp

4 Chương mới được bổ sung trong Luật LN so với Luật BV&PTR gồm: Chế biến, và thương mại lâm sản (Chương VII); Định giá rừng, đầu tư, tài chính trong lâm nghiệp (Chương IX); Khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp (Chương X); Quản lý nhà nước về lâm nghiệp và kiểm lâm (Chương XI)

3 Một số nội dung mới và sửa đổi

- Về phạm vi điều chỉnh và tên gọi của Luật

Phạm vi điều chỉnh của Luật LN được mở rộng đáng kể Nếu như Luật

BV&PTR quy định phạm vi điều chỉnh là “quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng;

Trang 13

quyền và nghĩa vụ của chủ rừng”4 thì Luật LN còn quy định thêm “chế biến và thương mại lâm sản”5 Từ đó, Luật LN đã có thêm 1 Chương riêng quy định về vấn

đề này Nội dung “quyền và nghĩa vụ của chủ rừng” không quy định trong phạm vi

điều chỉnh của Luật LN như Luật BV&PTR, điều này phù hợp bởi lẽ các quy định về

“quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng” đã bao hàm quyền và nghĩa vụ của các

chủ thể, trong đó có chủ rừng

Tên gọi của Luật được thay đổi từ Luật BV&PTR thành Luật LN Lý giải điều này, Báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật BV&PTR (sửa đổi) cho rằng qua, qua hơn 13 năm thực thi Luật, bằng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, đến nay tỷ lệ che phủ rừng nước ta đã không ngừng nâng cao và đạt trên 41% là ở mức cao của thế giới Lâm nghiệp Việt Nam đã trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật với sản lượng gỗ rừng trồng đạt 17,3 triệu m3 (2016), xuất khẩu các sản phẩm từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ tới trên 100 nước và vùng lãnh thổ với kim ngạch từ 2,8 tỷ USD (2008) lên 7,3 tỷ USD (2016) đã đưa nước ta trở thành nước đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu các mặt hàng này6 Vì vậy, bên cạnh việc bảo vệ và phát triển rừng, phát triển kinh tế lâm nghiệp theo chuỗi giá trị là yêu cầu cấp thiết, là xu hướng phát triển tiến

bộ và hiện đại nên phạm vi điều chỉnh của Luật sửa đổi lần này đã quy định điều chỉnh toàn bộ các hoạt động từ quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý hoạt động lâm nghiệp theo chuỗi giá trị để thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008

của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X là: “ Phát triển lâm nghiệp toàn diện

từ quản lý, bảo vệ, trồng, cải tạo, làm giàu rừng đến khai thác, chế biến lâm sản, bảo

vệ môi trường cho du lịch sinh thái…”7

- Về giải thích từ ngữ

Điều 2 Luật LN về giải thích từ ngữ đã bổ sung và bỏ bớt một số thuật ngữ

Đáng chú ý là bổ sung hai thuật ngữ “lâm nghiệp” và “hoạt động lâm nghiệp” nhằm

cụ thể hóa phạm vi điều chỉnh của Luật LN Thuật ngữ “lâm nghiệp” được hiểu như

là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế

Trang 14

biến và thương mại lâm sản8, “Hoạt động lâm nghiệp” được hiểu là một hoặc nhiều

hoạt động liên quan đến ngành này9 Luật LN bổ sung hai thuật ngữ nêu trên nhằm mục đích điều chỉnh theo hướng liên kết chuỗi, tạo ra rừng, sản xuất và cung cấp lâm sản đáp ứng cho nền kinh tế và xã hội Luật BV&PTR chỉ chú trọng quản lý và bảo

vệ, phát triển rừng nhưng Luật LN đã mở rộng đến vấn đề thương mại lâm sản Đặc biệt là việc thể chế hóa xây dựng chiến lược phát triển kinh tế rừng trong bối cảnh hội nhập sâu sắc hơn

Định nghĩa về “rừng” được diễn đạt cụ thể hơn theo hướng xác định theo 3 tiêu chí: diện tích; chiều cao cây; độ tàn che Nhiều thuật ngữ khác lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật LN như: “rừng tín ngưỡng”, “giá trị rừng”, “giá trị quyền sử dụng rừng”, “mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng”, “dịch vụ môi trường rừng”… nhằm bổ sung thêm các chế định mới

- Về sở hữu đối với rừng

Nếu như Luật BV&PTR chỉ xác định quyền của Nhà nước đối với rừng, chủ rừng chỉ có quyền sử dụng, sở hữu rừng khi được Nhà nước trao và công nhận thông qua quy định về quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng10 thì Luật LN đã quy định

hai nhóm hình thức sở hữu rừng bao gồm: (i) rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, bao gồm rừng tự nhiên, rừng trồng do Nhà nước đầu tư toàn bộ,

rừng trồng do Nhà nước thu hồi, được tặng cho hoặc trường hợp chuyển quyền sở

hữu rừng trồng khác theo quy định của pháp luật và (ii) rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Theo đó, rừng sản xuất là rừng trồng được đầu

tư từ các tổ chức, cá nhân, ai là người đầu tư thì sẽ là chủ sở hữu của rừng Bên cạnh

đó, rừng được nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng từ chủ rừng khác theo quy định của pháp luật cũng thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư11 Việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng nhằm thừa nhận thành quả lao động, kết quả đầu tư của người làm nghề rừng; tạo động lực khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư vào rừng nghèo và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn Từ quan điểm về quyền sở hữu như vậy, một loạt chế định khác

8 Khoản 1 Điều 3, Luật LN

9 Khoản 2 Điều 3 Luật LN

10 là quyền của chủ rừng được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với cây trồng, vật nuôi, tài sản gắn liền với rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê để trồng rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật có liên quan (khoản 5 Điều 3 Luật BV&PTR)

11 Điều 7 Luật LN

Trang 15

từ quản lý cho tới chế độ chính sách đối với các chủ rừng sẽ phải thay đổi trong Luật

LN

- Về quy hoạch lâm nghiệp quốc gia

Luật LN thay thế Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch lâm nghiệp quốc gia Theo Luật BV&PTR, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được lập ở 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã Luật LN đã có thay đổi rất cơ bản là thay thế quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở 4 cấp bằng quy hoạch lâm nghiệp quốc gia Theo đó, quy hoạch lâm nghiệp cấp quốc gia phải căn cứ vào quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia12 Điều này hoàn toàn phù hợp với Luật Quy hoạch năm 201713 Luật LN đã quy định các nội dung quy hoạch lâm nghiệp, trong đó có các nội dung về định hướng phát triển 3 loại rừng, kết cấu hạ tầng lâm nghiệp và phát triển thị trường, vùng nguyên lệu, chế biến lâm sản Do đặc thù của ngành nên trong Luật Lâm nghiệp đã

có các quy định về nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy hoạch; trách nhiệm lập, lấy ý kiến, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch lâm nghiệp quốc gia14

- Về chế biến, và thương mại lâm sản

Luật LN dành hẳn một Chương quy định về chế biến và thương mại lâm sản Luật BV&PTR chỉ quy định đến hình thành rừng, tức là từ quản lý đến bảo vệ, phát triển rừng Luật LN đã mở rộng đến các lĩnh vực chế biến và thương mại, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, coi lâm nghiệp là một ngành kinh tế - xã hội… Luật LN

đã khẳng định lâm nghiệp là ngành kinh tế - xã hội có liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp, từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đến chế biến và thương mại lâm sản; khẳng định ngành lâm nghiệp vừa thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh

tế, vừa phát huy giá trị xã hội là thích ứng với biến đổi khí hậu với đòi hỏi phải quản

lý bền vững Với những quy định của Luật LN, chúng ta có thể hiểu, lâm nghiệp là một ngành kinh tế - xã hội đặc thù, gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hóa và dịch vụ liên quan đến rừng

12 Khoản 2 Điều 10 Luật LN

13 Luật Quy hoạch năm 2017 quy định: “Quy hoạch tổng thể quốc gia là quy hoạch cấp quốc gia, mang tính

chiến lược theo hướng phân vùng và liên kết vùng của lãnh thổ bao gồm đất liền, các đảo, quần đảo, vùng biển

và vùng trời; hệ thống đô thị và nông thôn; kết cấu hạ tầng; sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường; phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế” (khoản 2

Điều 3) “Quy hoạch sử dụng đất quốc gia là quy hoạch cấp quốc gia, cụ thể hóa quy hoạch tổng thể quốc gia

về phân bổ và khoanh vùng đất đai cho các ngành, lĩnh vực và các địa phương trên cơ sở tiềm năng đất đai (khoản 4 Điều 3)

14 Xem các Điều 11, 12, 13 Luật LN

Trang 16

Luật LN đã quy định rõ chính sách phát triển lâm sản theo hướng hỗ trợ doanh nghiệp hợp tác, liên doanh, liên kết với chủ rừng để tạo vùng nguyên liệu, quản lý rừng bền vững, tiêu thụ sản phẩm, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ mới và các giải pháp tăng trưởng xanh, nâng cao giá trị gia tăng,

ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ trong chế biến lâm sản

Luật LN cũng quy định việc chế biến mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật các loài thực vật rừng hoang dã, động vật rừng hoang dã nguy cấp thuộc các phụ lục của Công ước CITES15 Quy định việc xây dựng

và vận hành hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam; ban hành tiêu chí, quy trình, thủ tục, thẩm quyền phân loại doanh nghiệp khai thác, vận chuyển, tiêu thụ, chế biến

và xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Quy định về chính sách phát triển thị trường lâm sản

- Về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Luật LN cụ thể hóa hơn chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số Bên cạnh những chính sách chung đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp,

Luật LN đã quy định rõ đối với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số là: “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ” 16 Điều này thể hiện sự quan tâm của Ban soạn thảo và Quốc hội đối với đồng bào dân tộc thiểu số Xuất phát từ thực tiễn, nước ta có ¾ diện tích tự nhiên đất liền là đồi núi, đây là địa bàn sinh sống chủ yếu của hơn 14 triệu đồng bào các dân tộc thiểu số, những người sống gắn bó với rừng và tạo thu nhập chủ yếu từ nghề rừng, từ sản xuất nương rẫy17 Vì vậy, phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số là những cử tri có ảnh hưởng sâu sắc từ sự điều chỉnh của Luật Quy định của Luật LN về nội dung này là bước tiến quan trọng để đồng bào các dân tộc thiểu số thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với quá trình quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản

15 Công ước quốc tế 1973 về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, được ký kết năm 1973, có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 1975 (Việt Nam tham gia Công ước năm 1994)

16 Khoản 6 Điều 4 Luật LN

17 Báo cáo của Hội đồng dân tộc Số: 396/BC-HĐDT14 ngày 31/10/2017 về Kết quả giám sát việc thực hiện

chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016

Trang 17

Chính sách này đã khẳng định việc bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp Nội dung này được cụ thể hóa trong Điều

14, Chương III của Luật LN Theo đó, nguyên tắc khi tiến hành giao rừng thì các cơ

quan chức năng phải “ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình,

cá nhân, cộng đồng dân cư có phong tục, tập quán, văn hóa, tín ngưỡng, truyền thống gắn bó với rừng, có hương ước, quy ước phù hợp với quy định của pháp luật” Đây

là vấn đề mà cử tri, đồng bào dân tộc thiểu số quan tâm Cùng với đó, quyền của chủ rừng là chủ sở hữu, quyền chủ rừng được giao quản lý hợp pháp theo quy định, sẽ được thực hiện, đảm bảo sự chủ động trong việc sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp, được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng

Cộng đồng các dân tộc thiểu số sinh sống gắn với rừng từ ngàn đời, có những bản sắc văn hóa và phong tục tập quán riêng, theo từng vùng Trong đó, nhiều tập tục

có giá trị rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy rừng Thấy được giá trị của vấn đề này đối với công tác bảo vệ rừng và đối với đời sống kinh tế, văn hóa của đồng bào, Luật LN cũng quy định rất rõ về chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số là được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ Tại điểm

d khoản 2 Điều 5 của Luật LN quy định rừng tín ngưỡng là một trong những loại

rừng đặc dụng, để có cơ chế bảo tồn đặc biệt Cũng tại khoản 8 Điều 14 của Luật LN quy định nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác, thu hồi rừng thì phải tôn trọng không gian sinh tồn, phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư Chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng tại Điều 94 của Luật LN cũng quy định rất cụ thể việc Nhà nước có chính sách hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng của đồng bào dân tộc thiểu

số, cộng đồng dân cư gắn với chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới

- Về nguồn lực tài chính trong lâm nghiệp

Về cơ bản, nội dung này được kế thừa từ Luật BV&PTR Tuy nhiên, để tạo nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài chính trong lâm nghiệp, Luật LN quy định nguồn lực tài chính này đa dạng hơn Nếu như Luật BV&PTR quy định nguồn tài chính để bảo vệ và phát triển rừng từ ngân sách nhà nước cấp; nguồn tài chính của chủ rừng và tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác đầu tư bảo vệ và phát triển rừng và quỹ bảo vệ và phát triển rừng thì Luật LN quy định nguồn lực tài chính trong

Trang 18

lâm nghiệp bao gồm các nguồn từ ngân sách nhà nước; đầu tư, đóng góp, ủng hộ, tài trợ từ tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; thu từ khai thác lâm sản; cho thuê rừng, đất rừng; thu từ thực hiện nghĩa vụ nộp tiền trồng rừng thay thế do chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; thu từ dịch vụ môi trường rừng và cho thuê môi trường rừng; vốn tín dụng từ tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài và các nguồn tài chính khác theo quy định của pháp luật18 Đáng kể, việc Luật LN ghi nhận

chính thức dịch vụ môi trường rừng như một nguồn tài chính trong lâm nghiệp là quy

định rất phù hợp Đó là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu của xã hội và đời sống của nhân dân, bao gồm các loại dịch vụ như bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản19 Việc quy định chi trả dịch vụ Môi trường

rừng trong Luật LN giúp hình thành quan hệ kinh tế giữa người sử dụng các dịch vụ

môi trường rừng trả tiền cho người cung ứng dịch vụ môi trường rừng, xem rừng như yếu tố môi trường, một loại hàng hóa đặc biệt khi khai thác cần phải trả tiền Điều này hoàn toàn phù hợp với pháp luật các nước liên quan đến nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường, khai thác tài nguyên phải trả tiền

- Về quản lý nhà nước về lâm nghiệp và và kiểm lâm

Đối với quản lý nhà nước về lâm nghiệp, Luật LN bổ sung quy định về nguyên

tắc tổ chức hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp20, quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý nhà nước về lâm nghiệp của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang

Bộ, Ủy ban nhân dân các cấp21 Theo đó, vai trò quản lý chuyên ngành về lâm nghiệp được giữ cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như Luật BV&PTR, mặc dù cũng từng có ý kiến về việc chuyển thẩm quyền này cho Bộ Tài nguyên và Môi

Trang 19

trường22 Luật LN quy định các bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về lâm nghiệp

Luật LN quy định cụ thể hơn về cơ quan Kiểm lâm, trong đó làm rõ chức năng

của kiểm lâm không chỉ dừng lại ở việc quy định đây là lực lượng chuyên trách của Nhà nước có chức năng bảo vệ rừng, giúp Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo

vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng như Luật BV&PTR

mà còn là lực lượng chuyên ngành về phòng cháy và chữa cháy rừng23 Theo đó, hệ thống cơ quan kiểm lâm được tổ chức ở Trung ương và Tỉnh (Luật BV&PTR còn tổ chức ở cấp Huyện) Luật LN quy định Kiểm lâm được tổ chức ở cấp huyện trên cơ

sở yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về lâm nghiệp, phòng cháy và chữa cháy rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng, chế biến và thương mại lâm sản tại địa phương24 Sự thay đổi này là phù hợp nhằm Luật hóa các quy định đã áp dụng trong thực tiễn của Chính phủ được ban hành trước đó25

Tài liệu tham khảo

[1] Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

[2] Luật Lâm nghiệp năm 2017

[3] Luật Quy hoạch năm 2017

[4] Nghị định 39-CP ngày 18/5/1994 về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm lâm

[5] Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm

[6] Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

[7] Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số: 26-NQ/TW

ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ Bảy, khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn

22 Về vấn đề này, trong một số bài viết trước đây, chúng tôi từng đề cập cần nghiên cứu chuyển thẩm quyền quản lý chuyên ngành về tài nguyên thiên nhiên cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong đó có rừng để đảm bảo tính thống nhất của môi trường Hiện nay, tài nguyên đất, nước và khoáng sản do Bộ Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý chuyên ngành; còn rừng và nguồn lợi thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông quản lý

23 Điều 103 Luật LN

24 Điều 105 Luật LN

25 Chính phủ đã ban hành Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm Trước đó là Nghị định 39-CP ngày 18/5/1994 về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm lâm

Trang 20

[8] Hội đồng dân tộc, Báo cáo số: 396/BC-HĐDT14 ngày 31/10/2017 về Kết quả

giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư

và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016

[9] Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2017), Báo cáo thẩm tra sơ bộ dự

án Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi)

[10] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo số 194/BC-UBTVQH14 ngày 22/10/2018

về giải trình, tiếp thu chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Trang 21

CHỦ RỪNG, QUYỀN SỞ HỮU CỦA CHỦ RỪNG THEO LUẬT

LÂM NGHIỆP 2017

ThS.NCS Trần Thị Trúc Minh Khoa Luật Thương mại – Trường Đại học Luật TP.HCM

Tóm tắt

Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Lâm nghiệp năm 2017 là sở hữu rừng, liên quan đến chủ rừng, quyền sở hữu rừng, quyền hưởng dụng rừng được đánh giá sẽ tác động đến sự thay đổi của nhiều chế định của Luật Lâm nghiệp, làm thay đổi diện mạo ngành kinh tế đặc thù Bài viết đề cập đến những điểm mới của chủ rừng, quyền sở hữu của chủ rừng, đồng thời có một số ý kiến trao đổi về một số nội dung về quyền sở hữu, quyền hưởng dụng của chủ rừng

Từ khóa: chủ rừng, quyền sở hữu, luật lâm nghiệp

Abstract

One of the important new points of the Forestry Law of 2017 is that forest ownership, related to forest owners, forest ownership, forest tenure is assessed will affect the change of many of Lam's regulations career, changing the face of a particular economic sector The article mentions new points of forest owners, ownership of forest owners, and has some opinions on some contents of ownership and tenure rights of forest owners

Keyword: forest owners, property rights, forestry law

1 Những điểm mới của chủ rừng, quyền sở hữu của chủ rừng

1.1 Chủ rừng

Luật Lâm nghiệp 2017 đã mở rộng đối tượng chủ rừng, đồng thời không tiếp tục quy định “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” là chủ rừng

Kế thừa quy định của Luật Bảo vệ & Phát triển rừng 2004, Luật Lâm nghiệp

2017 bổ sung và hoàn chỉnh định nghĩa về chủ rừng Theo Khoản 9 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định: “Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật”

Trang 22

Theo Điều 8 Luật Lâm nghiệp năm 2017, chủ rừng bao gồm: “ (1) Ban quản

lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ; (2) Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều này; (3) Đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao rừng (sau đây gọi là đơn vị

vũ trang); (4) Tổ chức khoa học và công nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp; (5) Hộ gia đình, cá nhân trong nước; (6) Cộng đồng dân cư; (7) Doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất để trồng rừng sản xuất”

Như vậy, quy định về chủ rừng theo quy định của Luật Lâm nghiệp 2017 có hai điểm mới như sau:

Thứ nhất, “cộng đồng dân cư” lần đầu tiên được công nhận là chủ rừng Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy quản lý rừng cộng đồng, hướng tới bảo vệ bền vững các khu rừng tự nhiên và góp phần cải thiện sinh kế cộng đồng Bởi lẽ, quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở Việt Nam Rừng cộng đồng gắn liền với sinh kế và nền tảng cuộc sống văn hóa xã hội của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số miền núi

Thứ hai, “người Việt Nam định cư ở nước ngoài” không còn được công nhận

là chủ rừng Quy định này trong giai đoạn góp ý dự thảo Luật Lâm nghiệp đã có hai quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng không tiếp tục quy định “người Việt Nam định

cư ở nước ngoài” là chủ rừng với lý do quỹ rừng của nước ta còn rất ít (khoảng 2,7 triệu ha), trong khi nhu cầu được giao đất, cho thuê đất của người dân địa phương là lớn nên cần ưu tiên giao cho người dân tại chỗ để phát triển sản xuất, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống người dân nơi có rừng26

Quan điểm thứ hai không đồng tình với quan điểm thứ nhất, giữ nguyên quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là chủ rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 vì theo Điều 56 Luật Đất đai 2013, chủ thể này được nhà nước cho thuê đất có thu tiền thuê đất hằng năm hoặc thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, 27

26 Anh Phương, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và nhóm hộ gia đình khọng được giao làm chủ rừng,

rung-461616.html , truy cập ngày 29/3/2019

http://www.sggp.org.vn/nguoi-viet-dinh-cu-o-nuoc-ngoai-va-nhom-ho-gia-dinh-khong-duoc-giao-lam-chu-27 Trường Sơn, Cân nhắc về quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là chủ rừng,

https://thanhnien.vn/thoi-su/can-nhac-ve-quy-dinh-nguoi-vn-dinh-cu-o-nuoc-ngoai-la-chu-rung-865853.html , truy cập ngày 29/3/2019

Trang 23

Như vậy, Điều 8 Luật Lâm nghiệp 2017 có hay không sự xung đột với Điều

56 Luật Đất đai 2013?

1.2 Quyền sở hữu rừng của chủ rừng

Thứ nhất, Luật lâm nghiệp đã xác định cụ thể về sở hữu rừng Điều 7 Luật Lâm nghiệp 2017 quy định:

“1 Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân bao gồm:

a) Rừng tự nhiên;

b) Rừng trồng do Nhà nước đầu tư toàn bộ;

c) Rừng trồng do Nhà nước thu hồi, được tặng cho hoặc trường hợp chuyển quyền sở hữu rừng trồng khác theo quy định của pháp luật

2 Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng bao gồm:

a) Rừng do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đầu tư;

b) Rừng được nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng từ chủ rừng khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, Luật Lâm nghiệp 2017 quy định hai nhóm hình thức sở hữu rừng là: Rừng sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và rừng sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư Quy định này chính thức ghi nhận ba hình thức sở hữu đối với rừng theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015: rừng thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, rừng thuộc sở hữu riêng của tổ chức,

hộ gia đình, cá nhân và rừng thuộc sở hữu chung của cộng đồng dân cư

Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai chế độ sở hữu rừng: công hữu (sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể) và tư hữu (sở hữu tư nhân) dưới nhiều mô hình sở hữu khác nhau Mô hình phổ biến nhất là thừa nhận nhiều hình thức sở hữu ở những quốc gia

có diện tích rừng lớn hàng đầu thế giới như Mỹ, Canada, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Autralia, Ấn Độ, đều quy định rừng thuộc sở hữu nhà nước và tư nhân28 Ví

dụ quy định của Trung Quốc về sở hữu rừng khá tương đồng với pháp luật Việt Nam Luật Lâm nghiệp của Trung Quốc ban hành năm 1984 (sửa đổi năm 1998) quy định rừng thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân, nhưng phải đăng ký

28 Phụ lục 2- Thống kê số liệu sở hữu rừng theo hai hình thức của 24 trên 30 quốc gia có diện tích rừng lớn nhất trên thế giới- Andry White & Alejandra Martin (2002), Who owns the world’s forest? - Forest tenue and public forests in transition, USA, pp 5 (phụ lục 2)

Trang 24

với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu rừng và quyền sử dụng rừng29 Bên cạnh đó, mô hình chỉ thừa nhận hình thức sở hữu nhà nước đối với rừng ý nghĩa là hình thức sở hữu duy nhất như Liên bang Nga, Indonesia, Myanmar, Cộng hòa Trung Phi30 Ví dụ Bộ luật về rừng của Liên bang Nga, “Quyền sở hữu của các khối rừng: (1) Các khối rừng trong thành phần của quỹ đất rừng sẽ thuộc quyền sở hữu của liên bang; (2) Các hình thức sở hữu các khối rừng trong thành phần đất thuộc về đất khác các hạng mục sẽ được xác định phù hợp với pháp luật đất đai”31 Rừng có thể thuộc quyền sở hữu tiểu bang, thành phố hoặc liên bang32 Nhìn chung, rừng thuộc về sở hữu nhà nước Rừng có thể được tư nhân hóa nếu nó được trồng trên đất được phân loại là đất của thị xã hoặc đất nông nghiệp Tuy nhiên, đây là một phần diện tích rất nhỏ trong tổng diện tích rừng của Liên bang Nga33

Như vậy, Việt Nam là quốc gia theo mô hình phổ biến nhất là quy định nhiều hình thức sở hữu rừng Mặt khác, việc quy định rõ các hình thức sở hữu rừng liên quan đến quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân; tạo động lực khuyến khích tổ chức,

cá nhân đầu tư vào rừng và hưởng lợi từ rừng; bảo đảm quản lý rừng tốt hơn, hiệu quả hơn34

Thứ hai, phạm vi sở hữu mà Nhà nước với tư cách đại diện sở hữu toàn dân được xác định trong giới hạn khá rõ ràng, gồm có: rừng tự nhiên; rừng trồng do Nhà nước đầu tư toàn bộ và rừng trồng do Nhà nước thu hồi, được tặng cho hoặc trường hợp chuyển quyền sở hữu rừng trồng khác theo quy định của pháp luật Điều này dường như Luật Lâm nghiệp “thu hẹp” phạm vi sở hữu đã được quy định trong Luật Bảo vệ & Phát triển rừng năm 2004? (không có động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng; cảnh quan, môi trường rừng) Tuy nhiên, Điều 3 Luật Lâm nghiệp

2017 đã giải thích như sau:

29 Article 3 The Forest Law of the People's Republic of China (1998),

https://www.unodc.org/res/cld/document/forestry-law_html/Foresty_Law_China_EN.pdf , truy cập ngày 30/2/2019

30 Phụ lục 2- Thống kê số liệu sở hữu rừng theo hai hình thức của 24 trên 30 quốc gia có diện tích rừng lớn nhất trên thế giới- Andry White & Alejandra Martin (2002), Who owns the world’s forest? - Forest tenue and public forests in transition, USA, pp 5 (phụ lục 2)

31 Article 8 The Forest Code of The Russian Federation, 2006,

32 Article 71 The Forest Code of The Russian Federation, 2006,

https://www.wto.org/english/thewto_e/acc_e/rus_e/WTACCRUS58_LEG_255.pdf , truy cập ngày 30/3/2019

33 Nguyễn Thanh Huyền, Pháp luật về quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng ở Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, trang 122

34 Chính phủ, Tờ trình số 68/TTr-CP của Chính phủ ngày 01/3/2017 về Dự án Luật bảo vệ & Phát triển rừng (sửa đổi)

Trang 25

“Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, và các yếu tố môi trường khác ”

“Rừng tự nhiên là rừng có sẵn trong tự nhiên hoặc phục hồi bằng tái sinh tự nhiên trên một phạm vi địa lý nhất định”

Vì vậy, phạm vi sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện vẫn mang tính tuyệt đối (như quy định của Luật Bảo vệ & Phát triển rừng 2004)

Tác giả cho rằng, quy định về sở hữu rừng của Luật Lâm nghiệp 2017 đã kế thừa và ít thay đổi về nội hàm, ý nghĩa của quy định trừ quy định hoàn toàn mới về

sở hữu chung của chủ rừng là cộng đồng dân cư

Thứ ba, về quyền sở hữu, theo Khoản 10 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 quy

định: “Quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng bao gồm quyền chiếm hữu, quyền

sử dụng, quyền định đoạt của chủ rừng đối với cây trồng, vật nuôi và tài sản khác gắn liền với rừng do chủ rừng đầu tư trong thời hạn được giao, được thuê để trồng rừng”

Mặc dù về câu chữ, định nghĩa quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng không thay đổi, Luật Lâm nghiệp 2017 quy định quyền sở hữu của các chủ rừng thông qua chế định quyền và nghĩa vụ của chủ rừng như sau:

(i) Tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước cho thuê rừng sản xuất; giao đất để trồng rừng phòng hộ bằng vốn tự đầu tư, cho thuê đất để trồng rừng sản xuất bằng vốn tự đầu tư;

(ii) Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng sản xuất là rừng trồng; cho thuê rừng sản xuất; giao đất để trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ; cho thuê đất

Trang 26

(ii) Tổ chức kinh tế, ngoài các quyền mới bổ sung của ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, còn có quyền sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp

(iii) Hộ gia đình, cá nhân có quyền chia sẻ lợi ích từ rừng; sở hữu cây trồng, vật nuôi và tài sản khác gắn liền với rừng sản xuất là rừng trồng do chủ rừng đầu tư; chuyển đổi diện tích rừng sản xuất được giao (Nhà nước giao rừng sản xuất); cá nhân được để thừa kế quyền sử dụng rừng (Nhà nước cho thuê rừng sản xuất)

Thứ tư, về quyền hưởng dụng, Điều 73 Luật Lâm nghiệp 2017 có những điểm mới như sau: quyền hưởng lợi từ rừng như được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng do

tự đầu tư vào rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; quyền được cung ứng dịch vụ môi trường và hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng; quyền được

hỗ trợ kinh phí đối với chủ rừng phát triển rừng sản xuất khi bị thiệt hại do thiên tai; hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để bảo vệ và phát triển rừng Có thể nói việc Luật Lâm nghiệp 2017 mở rộng các quyền nêu trên sẽ tác động rất lớn, rất hiệu quả, tư cách của chủ rừng được tôn trọng hơn, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể Nhà nước và chủ rừng, làm thay đổi diện mạo ngành lâm nghiệp

2 Một số vấn đề đặt ra

Luật Lâm nghiệp 2017 đã được ghi nhận nhiều thay đổi nhằm mở rộng quyền

sở hữu của chủ rừng, tuy nhiên, có một số vấn đề đặt ra cần trao đổi/đề xuất như sau:

Thứ nhất, quyền sử dụng của các chủ rừng đối với mỗi loại rừng được sử dụng

với hình thức sử dụng khác nhau là khác nhau Do đó, quy định quyền sử dụng không chỉ của chủ rừng mà còn làm phát sinh quyền sử dụng của các chủ thể không phải chủ rừng như trường hợp bên thuê môi trường rừng; hợp tác, liên kết với chủ rừng, người thừa kế, nên cần phải được hướng dẫn chi tiết để thi hành, tránh những hiện tượng tồn tại trong thời gian qua như giao khoán, chuyển đổi, cho thuê tràn làn35, ảnh hưởng năng lực cạnh tranh36

Thứ hai, Luật Dân sự năm 2015 chưa thừa nhận cộng đồng dân cư thôn là một

pháp nhân Cộng đồng dân cư thôn được giao rừng nhưng không có các quyền như

35 Xem thêm Công Hoan, Hữu Phúc, Tây Nguyên giao rừng tràn lan- Bài 3: Cán bộ đua nhau chiếm đất rừng, https://baogialai.com.vn/channel/1622/201710/tay-nguyen-giao-rung-tran-lan-bai-3-can-bo-dua-nhau-chiem- dat-rung-5553613/, truy cập ngày 30/3/2019

36 Hoàng Thiên Nga – Lữ Hồ, Mơ về một Tây Nguyên xanh mãi- Kỳ cuối: Rừng chỉ còn trong mơ, https://www.tienphong.vn/xa-hoi/mo-ve-mot-tay-nguyen-xanh-mai-ky-cuoi-rung-chi-con-trong-mo-neu- 1181134.tpo, truy cập ngày 31/3/2019: “Theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2017, thì trong 135 quốc gia, Việt Nam được đánh giá cao về Tài nguyên văn hóa và Du lịch công

vụ (hạng 30), Tài nguyên tự nhiên (hạng 34), Sức cạnh tranh về giá (hạng 35)… Tuy nhiên, Việt Nam lại tuột xuống gần chót bảng do Nạn phá rừng (hạng 103), Mức độ bền vững về môi trường (hạng 129)”

Trang 27

các chủ rừng khác, như quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, tặng cho quyền

sử dụng rừng; thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng được giao, đồng thời không được phân chia rừng cho các thành viên trong cộng đồng dân cư Như vậy, quyền của cộng đồng dân cư được Luật Lâm nghiệp quy định khá hạn chế và không hợp lý, chẳng hạn như việc không cho phép chuyển đổi rừng vì hiện nay rừng được giao thường xa các khu dân cư, khó quản lý bảo vệ37 Hơn nữa, Quy chế quản

lý rừng cộng đồng và các chính sách hỗ trợ cần thiết chưa được ban hành nên các địa phương rất khó thực hiện

Thứ ba, quy định quyền sử dụng rừng tự nhiên của hộ gia đình, cá nhân hẹp

hơn so với quyền sử dụng đất, như: hộ gia đình là chủ rừng được chuyển nhượng quyền sử dụng đất38, nhưng lại không được chuyển nhượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất trên mảnh đất đó, trong khi đó rừng luôn gắn liền với đất, đất rừng cũng là một yếu tố cấu thành của rừng39 Đối với rừng tự nhiên là rừng sản xuất thì nên được công nhận tài sản của chủ rừng, thuộc sở hữu riêng hoặc sở hữu chung (cộng đồng) Chủ rừng cần được phép khai thác theo quy trình quản lý và khai thác rừng bền vững, sẽ tạo nên động lực lớn cho phát triển và khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên Đồng thời, giải quyết được bất cập giữa Luật Đất đai và Luật Lâm nghiệp

Thứ tư, quyền sử dụng rừng tự nhiên bao gồm quyền khai thác gỗ và lâm sản

ngoài gỗ cũng như các dịch vụ môi trường rừng đã được đề cập trong Luật Lâm nghiệp, tuy nhiên quyền khai thác gỗ cho đến nay vẫn chưa được thực hiện do rừng được giao là rừng nghèo, do chưa xác định được giá trị tăng thêm của rừng, do lệnh cấm khai thác rừng tự nhiên, do thủ tục xin phép khai thác phức tạp, do không được phép khai thác gỗ thương mại; mức khoán bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng thấp… Nhìn chung cộng đồng, hộ gia đình được giao hoặc khoán rừng chưa thể sống được từ rừng40

Thứ năm, quyền quản lý rừng như giao rừng, cho thuê rừng, chuyển loại rừng,

chuyển muc đích sử dụng rừng , thu hồi rừng… chủ yếu do các cơ quan nhà nước thực hiện thiếu sự tham gia của cộng đồng dân cư và các chủ rừng trong các khâu

37 Đoàn Diễm, Trao quyền cho hộ gia đình và cộng đồng: Rừng cộng đồng, hợp tác quản lý bảo vệ rừng, và quyền hưởng dụng rừng gắn với luật tục và tín ngưỡng ở Việt Nam, Hội thảo “Góp ý Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp” ngày 8-6-2018 tại Đắk Lắk

38 Điều 179 Luật Đất đai 2013

39 Nguyễn Bá Ngải, Thi hành Luật Bảo vệ & Phát triển rừng 2004 và định hướng sửa đổi luật,

https://www.mard.gov.vn/_CONTROLS/ESPORTAL/PubAnPhamTTChiTiet/Service.svc/download/L0FuU GhhbVRUL0xpc3RzL0FuUGhhbVRU/284 , truy cập ngày 28/3/2019

40 Đoàn Diễm, tldđ

Trang 28

chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt và chưa phù hợp với nguyên tắc “ phải bảo đảm công khai, minh bạch, có sự tham gia của người dân”41./

Tài liệu tham khảo

[6] Hoàng Thiên Nga – Lữ Hồ, “Mơ về một Tây Nguyên xanh mãi- Kỳ cuối: Rừng chỉ còn trong mơ”, https://www.tienphong.vn/xa-hoi/mo-ve-mot-tay-nguyen-xanh-mai-ky-cuoi-rung-chi-con-trong-mo-neu-1181134.tpo, truy cập ngày 31/3/2019

[7] Nguyễn Bá Ngải, “Thi hành Luật Bảo vệ & Phát triển rừng 2004 và định hướng

PubAnPhamTTChiTiet/Service.svc/download/L0FuUGhhbVRUL0xpc3RzL0FuUGhhbVRU/284, truy cập ngày 28/3/2019

[8] Anh Phương, “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài và nhóm hộ gia đình khọng được giao làm chủ rừng”, http://www.sggp.org.vn/nguoi-viet-dinh-cu-o-nuoc-ngoai-va-nhom-ho-gia-dinh-khong-duoc-giao-lam-chu-rung-461616.html, truy cập ngày 29/3/2019

[9] Trường Sơn, “Cân nhắc về quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài là chủ rừng”, https://thanhnien.vn/thoi-su/can-nhac-ve-quy-dinh-nguoi-vn-dinh-cu-o-nuoc-ngoai-la-chu-rung-865853.html, truy cập ngày 29/3/2019

41 Khoản 7 Điều 14 Luật Lâm nghiệp 2017

Trang 29

NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHÍNH SÁCH LÂM NGHIỆP ĐỐI VỚI

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

ThS Bùi Thành Luân Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp

Tóm tắt

Luật Lâm nghiệp năm 2017 thay thế Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 được xem là một bước đột phá về nhiều nội dung của luật Trong đó phải kể đến về chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số Việc ban hành chính sách mới để khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ và phát triển rừng là một vấn

đề cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Xuất phát từ tình hình thực tế về vấn đề xây dựng và bảo vệ rừng tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới của đất nước Bài viết tập trung nghiên cứu, phân tích những điểm mới về chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số giữa Luật Lâm nghiệp 2017 (gọi chung là Luật năm 2017) với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 (gọi chung là Luật năm 2004)

Từ khóa: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Luật Lâm nghiệp 2017,

chính sách mới, đồng bào dân tộc thiểu số

Abstract

The Forestry Law of 2017 replaces the Law on Forest Protection and Development in 2004 is considered a breakthrough in many contents of the law It must be mentioned about forestry policies for ethnic minorities The issuance of new policies to encourage ethnic minorities to protect and develop forests is a more urgent and urgent issue than ever Stemming from the actual situation of building and protecting forests in the remote, border and border areas of the country The paper focuses on researching and analyzing new points on forest policy for ethnic minorities between the Forestry Law 2017 and the Law on Forest Protection and Development 2004

Keywords: Law on Forest Protection and Development 2004, Forestry Law

2017, new policies, ethnic minorities

1 Mối quan hệ giữa Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số về chính sách lâm nghiệp

Trang 30

Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân được hiểu trên phương diện hành chính là quản lý, là hoạt động có tính chất chỉ đạo, điều hành, hành chính hay quyền hành chính được thực hiện qua hai hoạt động: lập quy và các hoạt động điều hành,

chỉ đạo thực tiễn

Đối với chính sách lâm nghiệp, mối quan hệ giữa Nhà nước với đồng bào dân tộc thiểu số (gọi chung là người dân) được thể hiện thông qua các hoạt động liên quan đến hoạt động quản lý rừng dưới các hình thức sau:

Thứ nhất, Nhà nước giao rừng Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy định giao rừng thông qua hình thức không thu tiền sử dụng đất, “Nhà nước giao rừng sản xuất

là rừng tự nhiên và rừng sản xuất là rừng trồng không thu tiền sử dụng rừng đối với

hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó trực tiếp lao động lâm nghiệp phù hợp với việc giao đất để phát triển rừng sản xuất theo quy định của Luật đất đai” 42 Nhà nước giao rừng cho người dân đang sinh sống tại khu vực rừng trồng chứ không giao đồng bộ cho các hộ gia đình Đây cũng là chính sách khuyến khích đồng bào đang sinh sống tại chỗ dựa vào rừng để sống

Đến Luật năm 2017 đã có sự điều chỉnh trong việc giao rừng đối với hộ gia

đình, cá nhân đó là“Cộng đồng dân cư đối với khu rừng tín ngưỡng mà họ đang quản

lý và sử dụng theo truyền thống; Hộ gia đình, cá nhân cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có rừng phòng hộ đối với rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cư trú hợp pháp trên địa bàn cấp xã nơi có diện tích rừng” 43 Luật năm

2017 thêm đối tượng được giao rừng mới đó là cộng đồng dân cư đối với khu rừng tín ngưỡng mà họ đang quản lý, sử dụng Điều chỉnh tăng thêm chủ thể được nhà nước giao rừng đối với những vùng có hệ thống rừng tín ngưỡng thuộc cộng đồng địa phương nhất định mà thực tế hiện nay đang tồn tại

Việc giao rừng không thu tiền sử dụng đất là một chính sách khuyến khích người dân bám rừng, tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn

Thứ hai, về việc cho thuê rừng “Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân trong nước thuê rừng sản xuất trả tiền hàng năm để sản xuất lâm nghiệp, kết hợp sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp, kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái - môi trường”44

42 Điều 24 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004

43 Điều 16 Luật Lâm nghiệp 2017

44 Khoản 3 Điều 25 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

Trang 31

Luật năm 2017 Nhà nước thay đổi chính sách thuê rừng phù hợp với Luật Đất đai, đó là việc cho thuê trả tiền một lần hoặc hằng năm, trong khi đó Luật 2004 chỉ quy định là trả tiền hàng năm Bên cạnh đó, Nhà nước còn bổ sung việc cho phép người dân khai thác kinh doanh loại hình giải trí từ rừng Được quy định cụ thể tại

Điều 17 Luật Lâm nghiệp “Nhà nước cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân thuê rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng trả tiền thuê rừng một lần hoặc hằng năm để sản xuất lâm nghiệp; sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí”

Thứ ba, chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác Luật năm 2004

quy định việc chuyển đổi tại Điều 27, trong đó nêu rõ việc chuyển đổi phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này; Việc chuyển rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác phải dựa trên tiêu chí và điều kiện chuyển đổi do Chính phủ quy định Thẩm quyền chuyển đổi do Thủ tướng chính phủ hoặc Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh quyết định

Luật năm 2017 đã quy định chi tiết hơn về vấn đề chuyển đổi từ rừng sang mục đích khác khi đáp ứng các điều kiện tại Điều 19 luật này Tuy nhiên, về thẩm quyền quyết định chủ trương cho chuyển đổi đó là Quốc hội, Thủ tướng chính phủ

và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Đồng thời phải trồng rừng thay thế Đây là quy định mới so với Luật năm 2004

Thứ tư, thu hồi rừng Điều 22 Luật Lâm nghiệp bỏ quy định đối với việc trong

thời gian 24 tháng mà chủ rừng không tiến hành các hoạt động phát triển rừng đã được phê dyệt thì Nhà nước sẽ thu hồi rừng Thay vào đó áp dụng quy định chung là

sẽ thu hồi sau 12 tháng nếu chủ rừng không tiến hành hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, trừ trường hợp bất khả kháng và được cơ quan nhà nước xác nhận

Bỏ quy định về việc thu hồi để phục vụ cho quốc phòng, an ninh, công cộng

mà thay vào đó quy định chung về việc nhà nước sẽ hỗ trợ, bồi thường khi thu hồi mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Ngoài ra Luật Lâm nghiệp bỏ quy định về những trường hợp không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng

Những chính sách thay đổi giữa Luật Lâm nghiệp với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được quy định cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của hoạt động quản lý hành chính nhà nước đối với sự phát triển gắn liền với điều kiện kinh tế của

Trang 32

chủ rừng, đặc biệt là những chủ rừng là cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có hệ thống rừng thượng nguồn quan trọng trong hoạt động bảo vệ môi trường, hệ thống sinh thái rừng

2 Sự thay đổi về chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số

từ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến nay

Mối quan hệ giữa đồng bào dân tộc thiểu số với hệ thống rừng của nước ta có

vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát triển hệ thống rừng Chính những chính sách của Nhà nước đối với người dân tộc thiểu số tại các vùng thượng nguồn chiếm vị trí cốt lõi đối với hệ thống rừng tại các vùng núi Mỗi giai đoạn, Nhà nước

ta lại có những chính sách khác nhau đối với đồng bào dân tộc thiểu số trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng

Chính sách lâm nghiệp được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội và những cam kết của mỗi quốc gia, đảm bảo các tiêu chí: Bảo vệ

và phát triển diện tích, chất lượng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học, chống suy thoái môi trường; Duy trì và phát triển nguồn cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển kinh

tế và đáp ứng nhu cầu của nhân dân; Giải quyết các vấn đề về xã hội như việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo ở các nước kém phát triển

Ở Việt Nam, chính sách phát triển lâm nghiệp được Nhà nước rất quan tâm, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Bởi rừng được trồng và chủ yếu phát triển

ở vùng núi, vùng cao nơi tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số Nơi mà điều kiện kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp, chất lượng cuộc sống không cao

Về chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, từ khi xác định được tầm quan trọng của rừng và được cụ thể hóa tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng thì

“Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc; ưu tiên phát triển trồng rừng nguyên liệu phục

vụ các ngành kinh tế; mở rộng các hình thức cho thuê, đấu thầu đất để trồng rừng;

có chính sách miễn, giảm thuế đối với người trồng rừng; có chính sách đối với tổ chức tín dụng cho vay vốn trồng rừng với lãi suất ưu đãi, ân hạn, thời gian vay phù hợp với loài cây và đặc điểm sinh thái từng vùng” 45 Tại thời điểm này Nhà nước chỉ khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhận đất phát triển rừng ở những vùng đất trống, đồi núi trọc Khi mà vấn đề về môi trường nói chung và môi trường rừng

45 Khoản 4 Điều 10 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004

Trang 33

nói riêng còn được đảm bảo, hay độ bao phủ của rừng còn chiếm tỷ lệ lớn thì Nhà nước chỉ khuyến khích người dân

Bên cạnh đó thì từng địa phương, Nhà nước lại có những chính sách riêng để giao rừng, khoán rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số nhằm bảo vệ và phát triển rừng bền vững Có thể kể đến Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ Tướng Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Mục tiêu chính là tạo điều kiện ổn định và cải thiện đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên Bên cạnh việc bảo vệ và phát triển rừng thì Nhà nước có những chính sách đảm bảo quyền lợi của người được giao rừng

và trồng rừng sản xuất được kể đến như: “Được hưởng toàn bộ sản phẩm thu hoạch trên diện tích rừng được giao; Được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông của nhà nước…” (Theo Điều 5 quyết định này) Còn đối với người nhận khoán bảo vệ rừng thì được: “Được hưởng tiền khoán bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha/năm; Được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp theo quy trình trồng rừng sản xuất (nếu có nhu cầu trồng rừng, làm giầu rừng nhận khoán) và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông của nhà nước…”

Tại Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông ngiệp và Phát triển nông thôn – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy Trong

đó quy định về mức trợ cấp tương đối cụ thể và thời gian khá dài: “Bắt đầu từ khi ngừng canh tác nương rẫy để chuyển sang trồng rừng đến khi có thu nhập thay thế, nhưng tối đa không quá 7 năm” 46

Tiếp đến phải kể đến Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vừng và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020 Trong đó, đối tượng áp dụng được quy định rõ là hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn…Chính sách hỗ trợ về trồng rừng, tiền, chính sách tín dụng và trợ cấp gạo khi dùng đất để trồng rừng thay thế nương rẫy Và đặc biệt là về chính sách hỗ trợ gạo còn được thực hiện tiếp sau giai đoạn 2020 nhưng không quá 7 năm

46 Khoàn 1, Mục III Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008

Trang 34

Từ khi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được ban hành, thì Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều chính sách mới để nhằm khuyến khích người trồng rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ và phát triển nguồn rừng cho đất nước ta

Nhưng đến Luật Lâm nghiệp 2017 thì vấn đề này đã được nhìn nhận một cách thực tế khi mà tỷ lệ bao phủ rừng của nước ta đang giảm ở mức báo động thì Nhà

nước ta có sự thay đổi chính sách trong việc phát triển rừng, cụ thể: “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp; được hợp tác, liên kết bảo vệ và phát triển rừng với chủ rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng; được thực hành văn hóa, tín ngưỡng gắn với rừng theo quy định của Chính phủ” 47 Ở đây được hiểu là Nhà nước có chính sách hỗ trợ để kết hợp, chia sẻ lợi ích từ rừng và được phát triển nền văn hóa mang bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số tại từng địa phương Đó là nhằm nâng cao cuộc sống của người dân tại vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, để họ khai thác được lợi ích khác từ rừng mà không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng Luật Lâm nghiệp 2017 đã khẳng định “Nhà nước bảo đảm cho đồng bào dân tộc thiểu số, cộng đồng dân cư sinh sống phụ thuộc vào rừng được giao rừng gắn với giao đất để sản xuất”, chứ không chỉ là khuyến khích nữa

Ngày 21/12/2018 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định 1804/QĐ-TTg về việc

hỗ trợ lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La Trong đó, sẽ cấp gạo 8.073 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho Sơn La để thực hiện đề án hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn tình Sơn La

Quy định trên của Luật Lâm nghiệp cũng thể hiện sự đồng bộ so với các luật

có liên quan, đặc biệt là phù hợp với quy định tại Luật Đất đai 2013 là: “Có chính sách tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp” 48 “Tạo điều kiện” nghĩa là có điều kiện

thì giao, không có điều kiện thì không giao, không mang tính bắt buộc

So với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2014 thì chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số có sự thay đổi về nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên Nhà nước vẫn giữ nguyên chính sách quan tâm đến cuộc sống của đồng bào

47 Khoản 6 Điều 4 Luật Lâm nghiệp 2014

48 Khoản 2, Điều 27 Luật Đất đai 2013

Trang 35

dân tộc thiểu số, mục đích nhằm nâng cao đời sống kinh tế đối với người trồng rừng, người được giao rừng Bên cạnh đó Luật năm 2017 có sự thay đổi về hoạt động đào tạo nhân lực thực hiện dịch vụ môi trường rừng, ứng dụng khoa học công nghệ Đặc biệt là sự thay đổi từ công nghệ thành công nghệ cao, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trồng rừng, hợp tác quốc tế về lâm nghiệp

3 Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng

Cả Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với Luật Lâm nghiệp đều có quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Luật Lâm nghiệp ghi nhận 09 quyền, trong khi

đó Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ghi nhận 08 quyền Về nghĩa vụ, Luật Lâm nghiệp ghi nhận 06 nghĩa vụ, Luật Lâm nghiệp ghi nhận 07 nghĩa vụ Về mặt hình thức thì Luật Lâm nghiệp ghi nhận quyền và nghĩa vụ chung của chủ rừng nhiều hơn Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Thực tế, tại nội dung điều luật cũng có sự điều chỉnh cả thu hẹp và mở rộng một số quyền của chủ rừng Đây là ghi nhận chung về những quyền và nghĩa vụ của chủ rừng nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng

Theo Luật lâm nghiệp 2017 thì chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; giao đất, cho thuê đất để trồng rừng; tự phục hồi, phát triển rừng; nhận chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế rừng theo quy định của pháp luật

Còn chủ rừng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 là tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, cho thuê đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; nhận chuyển nhượng rừng từ chủ rừng khác

Vậy ngay ở khái niệm thì Luật Lâm nghiệp đã có sự thay đổi về chủ thể là chủ rừng, được bổ sung thêm là cộng đồng dân cư, được quyền tặng cho, thừa kế và được quyền tự phục hồi và phát triển rừng Luật Lâm nghiệp đã mở rộng chủ thể và quyền của chủ rừng

Luật Lâm nghiệp mở rộng chủ thể là chủ rừng mà trước đây không được ghi nhận trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Sở dĩ có sự thay đổi này, bởi nó phù hợp với thực tế hiện nay mà trước đó luật chưa ghi nhận Việc bổ sung chủ thể rừng được coi là cần thiết cho sự giữ gìn và phát triển hệ thống rừng của nước ta hiện nay

3.1 Quyền của chủ rừng

Về cơ bản thì quyền của chủ rừng có sự thay đổi, tuy nhiên một số nguyên tắc

cơ bản của chủ rừng thì vẫn được tiếp tục giữ lại trong Luật Lâm nghiệp như được sự

Trang 36

công nhận của Nhà nước, về thời hạn sử dụng, về hướng dẫn hỗ trợ kỹ thuật…(Điều

73 Luật Lâm nghiệp) Tuy nhiên, các quyền này ít nhiều có sự thay đổi khi được giữ lại

Trước đây, tại Điều 59 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, về quyền của chủ rừng cũng thể hiện những quyền cơ bản nhất của chủ rừng chung Khi thay đổi từ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sang Luật Lâm nghiệp đã có những sửa đổi, bổ sung rất thiết thực, trong đó có những quy định mới dưới đây:

Thứ nhất, đó là phải kể đến việc được hưởng lâm sản tăng thêm từ rừng mà

luật năm 2004 quy định đó là hưởng thành quả lao động Đây là vấn đề rất chung chung, không cụ thể hóa Những sản phẩm được tăng thêm từ rừng thì chủ rừng được hưởng thành quả này mà có thể không phải do chủ rừng tạo nên

Thứ hai, đó là việc được cung ứng dịch vụ môi trường rừng và hưởng lợi từ

dịch vụ rừng Đây cũng là điểm mới được bổ sung tại luật này, đó là dịch vụ môi trường rừng Nhà nước cho khai thác dịch vụ từ rừng mà không làm ảnh hưởng đến

hệ sinh thái, giúp cho chủ rừng có khả năng làm kinh tế từ việc trồng rừng ngoài thu thành quả của việc trồng rừng Trong khi đó luật năm 2004 chỉ liệt kê một số loại hình dịch vụ cụ thể và những loại hình này phải được Nhà nước phê duyệt

Thứ ba, đó là được Nhà nước hỗ trợ kinh phí đối với chủ rừng phát triển rừng

sản xuất khi bị thiệt hại do thiên tai Đây là vấn đề rất nhân văn và thực tế, bởi lẽ một năm nước ta hứng chịu cộng trừ 20 trận bão, áp thấp nhiệt đới kéo theo đó là lũ lụt, sạt lở đất, thêm vào đó là nạn cháy rừng triền miên Những yếu tố khách quan này được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để đảm bảo cuộc sống, đồng thời có khả năng phục hồi rừng, khắc phục thiệt hại do thiên tai gây ra Đảm bảo cho chủ rừng an tâm trồng rừng để thực hiện công cuộc bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế lành mạnh Đây

là điểm mới được bổ sung tại Luật Lâm nghiệp mà trước đó chưa quy định

Thứ tư, đưa ra quyền mở cho chủ rừng đó là được đảm bảo các quyền và lợi

ích khác Đây là điểm mới được bổ sung tại Luật Lâm nghiệp, đây là quy định sẽ được hướng dẫn bởi quy định khác có liên quan đến chủ rừng Đồng thời sẽ khắc phục được thiếu sót nếu trong quá trình áp dụng có xảy ra sự kiện mà luật chưa quy định Ngoài ra cũng phù hợp với quy định chung của Bộ luật Dân sự hiện hành

3.2 Nghĩa vụ của chủ rừng

Về nghĩa vụ của chủ rừng, trên nguyên tắc có sửa chữa, bổ sung và loại bỏ một vài quy định Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được quy định tại Điều 60 so với

Trang 37

Điều 73 Luật Lâm nghiệp thì có bớt đi một điểm Tuy nhiên, trong nội dung từng điểm thì nhà làm luật cũng có sự chỉnh sửa, bổ sung Trong đó có những quy định mới như sau:

Thứ nhất, thực hiện theo dõi về diễn biến rừng được thay thế quy định về tổ

chức bảo vệ và phát triển rừng theo phương án đã được phê duyệt Nếu như Luật Bảo

vệ và Phát triển rừng chỉ quy định theo dõi những phương án đã được phê duyệt, còn tại Luật Lâm nghiệp đã quy định là có nghĩa vụ theo dõi mọi diễn biến của rừng Trong trường hợp có những biến biến động về thiên tai, dấu hiệu nguy hiểm như hỏa hoạn…thì phải có trách nhiệm báo cáo để có phương án giải quyết kịp thời Tránh được những thiệt hại có thể xảy ra

Thứ hai, bảo tồn đa dạng sinh học rừng, thực vật rừng, động vật rừng Nạn

khai thác rừng trái phép tạo ra rất nhiều hệ lụy xấu, trong đó có việc dẫn đến tiệt chủng hoặc gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của chúng Khi danh sách các loài động vật được liệt kê vào sách đỏ ngày càng nhiều thì vấn đề đặt ra là bảo tồn tự nhiên rất quan trọng để đảm bảo cân bằng hệ sinh thái Trước đó, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng chưa ghi nhận điều này Điều này dẫn đến việc chủ rừng chỉ quan tâm tới rừng mà không bảo tồn sự đa dạng sinh học vốn có của hệ thống rừng Đây là quy định mới đầy thuyết phục, không giới hạn đối với phương thức bảo vệ và phát triển rừng thông qua các hệ thống sinh học rừng, giúp cho rừng được bảo vệ tốt hơn

Thứ ba, Phòng cháy và chữa cháy rừng; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng Để

đảm bảo chữa cháy kịp thời thì đây là nghĩa vụ quan trọng của chủ rừng Vì hơn ai hết, chủ rừng là người thường xuyên kiểm tra, gần gũi với rừng nên việc đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao trách nhiệm của chủ rừng rất quan trọng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro xảy ra Với nghĩa vụ mới này của chủ rừng đã nâng cao trách nhiệm của chủ rừng đối với những nguyên nhân gây hại đến sự phát triển an toàn của hệ thống sinh thái rừng, tạo điều kiện cho rừng được đa dạng, phong phú Mỗi người dân là một người lính cứu hỏa, chỉ có chủ rừng mới là người nắm bắt được bản đồ, vị trí của rừng do họ quản lý Do đó vai trò của chủ rừng rất quan trọng trong việc kiểm soát, hạn chế thiết thiệt hại xảy ra nếu có

Thứ tư, chấp hành sự quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền Quyền này đã được sửa đổi và thay thế bởi quy định chung

tại Luật Bảo vệ và Phát triển rừng khi đó chỉ quy định “thực hiện nghĩa vụ theo luật này và các quy định của pháp luật” Luật Lâm nghiệp quy định chi tiết cụ thể nghĩa

Trang 38

vụ chấp hành pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là những quyền nào được liệt kê cụ thể, rõ ràng Xuất phát từ thực tiễn hiện nay, có rất nhiều vụ việc diễn

ra về việc khai thác rừng và các vấn đề liên quan tới rừng một cách bất hợp pháp, vấn

đề trách nhiệm của cơ quan Nhà nước thì bên cạnh đó vẫn có trách nhiệm của chủ rừng đối với hệ thống rừng do họ quản lý

4 Một số vấn đề đặt ra về chính sách lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số

Chính sách lâm nghiệp được Nhà nước quan tâm và đặt ra hiện nay nhằm mục tiêu phát triển nền lâm nghiệp nói riêng và hệ thống kinh tế - xã hội nói chung Hiện nay Nhà nước có nhiều chính sách về hỗ trợ, đảm bảo cuộc sống của người dân tộc thiểu số trồng rừng Tuy nhiên, có những chính sách chưa thực hiện được một cách toàn diện, do đó nhận diện những vấn đề còn tồn tại để đưa ra những giải pháp là hết sức cần thiết cho sự phát triển về lâm nghiệp Những vấn đề đặt ra cần phải được xem xét một cách chi tiết, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của người dân đối với tầm

quan trọng của rừng trong hệ thống sinh thái, môi trường sống của chúng ta Nhằm mục đích nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người trồng rừng để đảm bảo an toàn cho hệ sinh thái rừng Vì vậy công tác giáo giục nhằm nâng cáo ý thức của đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay được xem là rất cần thiết, vậy việc đó đã đạt được kết quả tốt hay chưa, hay còn những hạn chế nhất định Có thể thấy, hằng năm tình trạng thiệt hại về rừng rất lớn, có nguyên nhân chủ quan và khách quan, và hậu quả là đã gây thiệt hại rất lớn đến đời sống của người trồng rừng và nền kinh tế, môi trường của nước ta Đáng tiếc hơn nữa có nhiều nguyên nhân từ việc đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng làm nương rẫy, khai thác rừng bừa bãi Vậy trong công tác tuyên truyền, giáo dục đã đạt được hiểu quả tốt không Vì vậy tăng cường hơn nữa các hoạt động giáo dục tại địa phương để cho dân hiểu được tầm quan trọng của hệ thống rừng đối với môi trường sống của chúng ta Bởi hơn hết hậu quả từ việc mất rừng đó là ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống xã hội và cộng đồng khu vực nơi đồng bào đang sinh sống Đặc biệt hơn khi vấn đề biến đổi khí hậu xảy ra ngày càng phức tạp như hiện nay Tăng cường công tác giáo dục để đạt hiểu quả tốt nhất là vấn đề đặt ra cho chính quyền địa phương tại nơi có rừng

Thứ hai, về chính sách pháp luật, trách nhiệm quản lý nhà nước của cơ quan

chức năng có thẩm quyền đối với việc quản lý, xử lý những hoạt động liên quan đến

Trang 39

lâm nghiệp Hoạt động xử lý trách nhiệm nhiều nhưng hiệu quả đã đạt được như mong muốn đặt ra hay chưa! Vấn đề đặt ra là cần phải cụ thể hóa hơn nữa quy định của pháp luật đối với đặc điểm kinh tế, xã hội của từng địa phương để đạt được hiểu quả tốt hơn Bởi vì, mỗi vùng miền có những phong tục, tập quán khác nhau đã được thừa nhận và bảo tồn, vậy thì chính sách về lâm nghiệp cũng phải đảm bảo được những phong tục, tập quán từ lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số được bảo tồn

Bên cạnh đó, việc cụ thể hóa chính sách pháp luật của cơ quan nhà nước vào đời sống dân cư thể hiện trong việc tuyên truyền pháp luật, vận động cư dân sinh sống hay là chính sách dân vận của cán bộ, cơ quan chức năng đã đạt hiệu quả tốt hay chưa

Thứ ba, về chính sách khuyến khích đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ và phát

triển rừng Vậy để được điều đó vấn đề đặt ra là nhà nước phải đảm bảo cuộc sống cho họ Thực tế hiện nay có rất nhiều chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại các vùng cao có trồng rừng và được Nhà nước giao rừng Nhưng vấn đề là vấn nạn

về rừng vẫn xảy ra rất lớn Vậy thực tế nguyên nhân đó từ đâu, có xuất phát từ việc cuộc sống vật chất quá thiếu thốn hay vì những lợi ích trước mắt mà người dân không nhìn nhận được Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ như những chính sách hỗ trợ

về gạo…vậy những chính sách đó của Nhà nước đã đáp ứng được nhu cầu cuộc sống của họ hay chưa Khi mà nước ta là một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới nhưng tình trạng thiếu ăn vẫn xảy ra thường xuyên và chiếm tỷ lệ không hề nhỏ Cần phải cụ thể hóa hơn nữa các chính sách, tạo điều kiện để người dân làm giàu từ rừng một cách hợp pháp Thường xuyên có những chương trình thúc đẩy người dân trồng rừng và bảo vệ rừng để từ đó phát triển nền kinh tế hơn là việc hỗ trợ tạm thời

hộ gia đình, cá nhân cụ thể Tạo điều kiện họ phát triển kinh tế song song với việc bảo tồn và phát triển hệ thống rừng hiện nay

Trang 40

Với phương châm không để cho đồng bào dân tộc thiểu số lâm vào tình trạng đói nghèo, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn thu nhập chính từ rừng, đảm bảo cho họ cuộc sống ổn định, làm giàu từ rừng Xây dựng hành lang pháp

lý cụ thể để cho hoạt động quản lý và phát triển rừng được đảm bảo Tạo điều kiện thuận lợi cho người được giao, khoán rừng thực hiện quyền của chủ sở hữu rừng theo quy định của pháp luật trong hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế hàng hóa

Tài liệu tham khảo

[1] Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004

[2] Luật Lâm nghiệp năm 2017

[3] Luật Đất đai năm 2013

[4] Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vừng và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020

[5] Thông tư liên tịch số 52/2008/TTLT-BNN-BTC ngày 14/4/2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Bộ Tài chính về việc hướng dẫn trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại nơi ở miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy

[6] Quyết định 1804/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La

[7] Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng

là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Ngày đăng: 20/04/2021, 16:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w