TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY D ỰNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sự phát triển của các quốc gia cho thấy rằng không có nền kinh tế nào có thể phát triển toàn diện mà không có cơ sở hạ tầng vững chắc Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là yếu tố quyết định chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng Do đó, việc nghiên cứu và phân tích công tác thực hiện đầu tư XDCB nhằm nâng cao chất lượng công trình xây dựng (CLCT) luôn là vấn đề quan trọng Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về CLCT, cần tăng cường kiểm tra và kiểm soát từ các cơ quan quản lý nhà nước đối với các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng Cần phân giao quyền và trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong quản lý dự án, quản lý chất lượng và an toàn xây dựng Mặc dù cơ quan quản lý nhà nước không thể thay thế hoàn toàn chủ đầu tư hay nhà thầu, nhưng cần tăng cường kiểm soát chất lượng thông qua kiểm tra thường xuyên, không chỉ vào những thời điểm nhất định hay khi có sự cố Việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng đang là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2 Ch ất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Theo tiêu chuẩn của tổ chức ISO, chất lượng được định nghĩa là khả năng của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình đáp ứng yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan Đặc điểm của chất lượng sản phẩm bao gồm tính năng, độ bền, độ tin cậy và sự phù hợp với tiêu chuẩn, tất cả đều hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
Chất lượng sản phẩm được xác định bởi mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Nếu sản phẩm không được thị trường chấp nhận, nó sẽ bị đánh giá là có chất lượng kém, bất chấp công nghệ sản xuất hiện đại mà nó sử dụng.
Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần xem xét đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể
Phân loại chất lượng sản phẩm
CLSP được phân ra 6 loại như sau:
Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
CLSP bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng có thể chia thành hai nhóm yếu tố chủ yếu bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong
* Nhóm yếu tố bên ngoài:
Nhu cầu nền kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng sản phẩm (CLSP), không chỉ ở các trình độ khác nhau mà còn tùy thuộc vào mục đích sử dụng CLSP luôn bị chi phối và ràng buộc bởi các hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của nền kinh tế, điều này thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh khác nhau.
+ Nhu cầu của thị trường: là xuất phát điểm của quá trình QLCL;
+ Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất
- Ảnh hưởng của sự phát triển của khoa học - kỹ thuật Xu hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là:
+ Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế;
+ Cải tiến hay đổi mới công nghệ;
+ Cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới
Hiệu lực của cơ chế quản lý có ảnh hưởng lớn đến khả năng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm (CLSP) của mỗi tổ chức Sự hiệu quả trong quản lý quyết định mức độ phát triển và đổi mới của tổ chức, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh và vị thế trên thị trường.
Hiệu lực quản lý nhà nước đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng sản phẩm, góp phần vào sự phát triển ổn định của sản xuất và bảo vệ quyền lợi của cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng Đồng thời, nó cũng thúc đẩy tính tự chủ, độc lập và sáng tạo trong việc cải tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, tạo ra môi trường thuận lợi cho việc huy động nguồn lực và áp dụng công nghệ mới cũng như các phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
Trong một tổ chức, có bốn yếu tố cơ bản nội bộ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (CLSP), được gọi là quy tắc 4M, bao gồm: con người, máy móc, nguyên liệu và phương pháp.
Con người là lực lượng lao động chủ chốt trong tổ chức, bao gồm tất cả các thành viên từ lãnh đạo đến nhân viên thực hiện Năng lực và phẩm chất của từng cá nhân, cùng với mối liên kết giữa họ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công việc của tổ chức.
Phương pháp công nghệ và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa khả năng nguồn lực hiện có của tổ chức Việc áp dụng phương pháp công nghệ phù hợp cùng với quản lý hiệu quả sẽ giúp nâng cao sản lượng sản xuất (SLSP) một cách đáng kể.
Máy móc thiết bị là yếu tố quan trọng phản ánh khả năng công nghệ của tổ chức Trình độ phát triển của máy móc và thiết bị không chỉ ảnh hưởng đến các tính năng kỹ thuật của sản phẩm mà còn góp phần nâng cao năng suất lao động đáng kể.
Nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm (CLSP) của tổ chức Việc quản lý vật tư và nguyên nhiên liệu cần phải đảm bảo chất lượng, cung cấp đúng số lượng và đúng thời hạn Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao CLSP và tối ưu hóa quy trình sản xuất.
1.1.2.2 Quản lý chất lượng sản phẩm
Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm
Theo TCVN 8402-1994, quản lý chất lượng là tập hợp các hoạt động chức năng nhằm xác định và thực hiện chính sách chất lượng cùng mục tiêu chất lượng thông qua lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, đảm bảo và cải tiến chất lượng trong một hệ thống.
Theo tiêu chuẩn ISO, quản lý chất lượng (QLCL) được định nghĩa là "hoạt động tương tác và phối hợp lẫn nhau nhằm định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng".
Quản lý chất lượng sản phẩm dựa trên hai nguyên tắc chính Nguyên tắc thứ nhất là định hướng bởi khách hàng, đảm bảo rằng mọi hoạt động đều tập trung vào nhu cầu và mong muốn của khách hàng Nguyên tắc thứ hai là sự lãnh đạo, nơi các nhà lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập mục tiêu và định hướng cho quá trình quản lý chất lượng.
Nguyên tắc thứ ba nhấn mạnh sự tham gia của mọi người trong quá trình làm việc Tiếp theo, nguyên tắc thứ tư đề cập đến quan điểm quá trình, giúp nhìn nhận tổng thể các hoạt động Nguyên tắc thứ năm là tính hệ thống, khuyến khích sự liên kết giữa các phần khác nhau Nguyên tắc thứ sáu tập trung vào cải tiến liên tục, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng Nguyên tắc thứ bảy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa ra quyết định dựa trên sự kiện và dữ liệu thực tế Cuối cùng, nguyên tắc thứ tám khuyến khích mối quan hệ hợp tác cùng có lợi với nhà cung ứng, tạo ra giá trị cho cả hai bên.
Các phương pháp quản lý chất lượng sản phẩm a Kiểm tra chất lượng b Kiểm soát chất lượng c Kiểm soát chất lượng toàn diện d Quản lý chất lượng toàn diện
CƠ SỞ PHÁP LÝ
QLCL CTXD được thực hiện dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, đã được đổi mới để phù hợp với sự phát triển kinh tế và tiệm cận với thông lệ quốc tế Điều này thể hiện tính pháp lý rõ ràng hơn và trách nhiệm của các chủ thể trong ngành được phân tích chi tiết Đặc biệt, chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh đã dần tách khỏi chức năng quản lý nhà nước về chất lượng CTXD Chính quyền không can thiệp trực tiếp mà tác động gián tiếp thông qua các công cụ pháp luật vào công tác quản lý sản xuất hàng ngày giữa người đặt hàng.
Chủ đầu tư và nhà thầu hợp tác để tạo ra sản phẩm xây dựng, một loại sản phẩm đặc thù với tính chất đơn chiếc.
Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng mang tính vĩ mô, định hướng và hỗ trợ, đồng thời có tính cưỡng chế từ các cơ quan công quyền Các cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm về tình hình chất lượng công trình xây dựng trong khu vực được phân cấp, chứ không phải về chất lượng cụ thể của từng công trình.
Nội dung quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng (QLNN về CLCT) bao gồm việc tổ chức xây dựng hành lang pháp lý nhằm điều chỉnh hành vi và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng Điều này bao gồm nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật để thiết lập các tiêu chí chuẩn mực cho sản phẩm xây dựng Mục tiêu cuối cùng là đảm bảo chất lượng công trình đạt yêu cầu và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Sau khi thiết lập môi trường pháp lý và kỹ thuật, Nhà nước cần tổ chức hướng dẫn, kiểm tra và cưỡng chế các chủ thể thực hiện đúng quy định pháp luật về công tác đảm bảo chất lượng công trình xây dựng Điều này không chỉ bảo vệ lợi ích của chủ đầu tư và các bên liên quan mà còn cao hơn là bảo vệ lợi ích của toàn cộng đồng.
Cơ sở quản lý chất lượng công trình xây dựng (QLCL CTXD) bao gồm các văn bản của nhà nước, tiêu chuẩn ngành, quy chuẩn quốc gia và các tiêu chuẩn được cấp có thẩm quyền phê duyệt Hồ sơ thiết kế công trình cùng với quyết định phê duyệt là những căn cứ quan trọng để thực hiện QLCL CTXD Những văn bản này luôn được cập nhật để phản ánh tiến bộ xã hội và sự phát triển khoa học, nhằm phục vụ cho pháp luật liên quan đến hoạt động xây dựng.
Ví dụ 1: Về phân loại, phân cấp công trình xây dựng
Theo Nghị định số 49/2008/NĐ-CP, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 33/2009/TT-BXD quy định về phân loại và phân cấp công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật đô thị Tuy nhiên, vẫn còn thiếu quy định về phân loại và phân cấp cho các công trình giao thông, thủy lợi và nông nghiệp Do đó, Nhà nước sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy định này trong thời gian tới.
Ví dụ 2: Về công tác QLCL khảo sát xây dựng, thiết kế và thi công XDCT
Theo Nghị định số 209/2004/NĐ-CP và Nghị định số 49/2008/NĐ-CP, trách nhiệm quản lý của chủ đầu tư (CĐT) và các nhà thầu trong xây dựng chưa được quy định rõ ràng Nghị định 209 cũng không đề cập đến hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng (QLCL CTXD) và công tác quản lý chất lượng của nhà thầu giám sát thi công khi được CĐT thuê Để khắc phục điều này, Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số
Thông tư 27/2009/TT-BXD đã chỉ rõ các công việc liên quan, tuy nhiên do tính chất của văn bản quy phạm pháp luật nên hiệu lực pháp lý không mạnh mẽ như Nghị định Hiện tại, Nhà nước đang tiến hành nghiên cứu và sửa đổi, bổ sung Nghị định 209/2004/NĐ-CP và 49/2008/NĐ-CP.
Qua các thời kỳ việc hình thành, phát triển và đổi mới, các văn bản
QLNN về CLCT xây dựng ở nước ta, có thể thống kê như sau:
Trước khi có Luật Xây dựng, nghị định số 232/NĐ-CP ban hành ngày 06/06/1981 là văn bản đầu tiên quy định về quản lý hoạt động xây dựng Sau đó, nghị định số 385/NĐ-HĐBT được ban hành ngày 07/08/1990 nhằm sửa đổi và bổ sung các quy định trong nghị định trước đó.
232/NĐ-CP ngày 06/06/1981; nghị định 177/NĐ-CP ngày 20/10/1994 về
Nghị định số 42/NĐ-CP ngày 16/07/1996, sau đó được sửa đổi thành Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/07/1999, đã thiết lập "Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng", góp phần cải cách hành chính, phân định rõ ràng quản lý nguồn vốn và điều chỉnh vị thế của chủ đầu tư.
Luật Xây dựng, được ban hành vào ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 của Quốc hội khóa XI với số hiệu 16/2003/QH11, đánh dấu sự kiện quan trọng trong việc pháp chế hóa hoạt động xây dựng tại Việt Nam Tiếp theo, vào ngày 19/6/2009, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật số 38/2009/QH12, sửa đổi và bổ sung các nội dung liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản Sau đó, các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn, bao gồm Nghị định, Thông tư và Quyết định, đã được ban hành, cung cấp nội dung chi tiết và đầy đủ cho hoạt động xây dựng.
- Nghị định của Chính phủ: số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 về QLDA đầu tư xây dựng; số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004, số
49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 về QLCL CTXD; số 23/2009/NĐ-CP ngày 27/02/2009 về xử phạt hành chính vi phạm hành chính trong HĐXD
Thông tư của Bộ Xây dựng bao gồm các quy định quan trọng như: Thông tư số 03/2009/TT-BXD ngày 26/03/2009 quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; Thông tư số 27/2009/TT-BXD ngày 31/7/2009 hướng dẫn quản lý chất lượng công trình xây dựng; Thông tư số 22/2009 ngày 06/7/2009 quy định về điều kiện năng lực trong hợp đồng xây dựng; và Thông tư số 22/2010/TT-BXD ngày 03/12/2010 quy định về an toàn lao động trong thi công xây dựng.
03/2011/TT-BXD ngày 06/04/2011 hướng dẫn hoạt động kiểm định, giám định và chứng nhận an toàn chịu lực, sự phù hợp về CLCT xây dựng
Các Bộ, Ngành có chức năng quản lý đầu tư xây dựng công trình (XDCT) đã ban hành nhiều văn bản quản lý quan trọng, bao gồm Thông tư số 84/2011/TT-BNNPTNT ngày 12/12/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quản lý dự án đầu tư XDCT sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, cùng với Quy chế tư vấn giám sát thi công XDCT trong ngành giao thông vận tải theo quyết định số 22/2008/QĐ-BGTVT ngày 20/10/2008 của Bộ Giao thông vận tải.
Các văn bản đã xác định các nguyên tắc cơ bản và quy định chi tiết về quản lý chất lượng công trình xây dựng (QLCL CTXD) cho các tổ chức, cá nhân tham gia Đồng thời, chúng cũng phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể liên quan, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước (CQQLNN), chủ đầu tư (CĐT) và nhà thầu trong hợp đồng xây dựng (HĐXD).
TH ỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH XÂY D ỰNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ
1.3.1 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam
Từ khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện đường lối đổi mới, ngành Xây dựng đã có những thành tựu nhất định
Về cơ chế, chính sách pháp luật có liên quan
Hệ thống văn bản pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện, tạo điều kiện cho việc tổ chức quản lý và kiểm soát xây dựng Các trách nhiệm liên quan đến việc đảm bảo chất lượng công trình đã được phân định rõ ràng giữa cơ quan quản lý nhà nước, chủ đầu tư và các nhà thầu Điều kiện năng lực của các bên tham gia hợp đồng xây dựng, cũng như nội dung và trình tự trong công tác quản lý chất lượng, đã được quy định cụ thể, làm nền tảng cho công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước các cấp Điều này tạo ra hành lang pháp lý nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng.
Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đang được hoàn thiện, tạo ra khung pháp lý cho quản lý chất lượng (QLCL) Mặc dù chưa hoàn chỉnh, nhưng chúng giúp các bên liên quan thực hiện công việc một cách khoa học và thống nhất, từ đó góp phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng (CLCT).
Công tác QLCL dần hoàn thiện
Công tác quản lý chất lượng (QLCL) xây dựng từ Trung ương đến các Bộ, Ngành và địa phương đang được xây dựng và hoàn thiện Nhiều tỉnh, thành phố đã thành lập các phòng QLCL công trình xây dựng (CTXD) để làm đầu mối quản lý chất lượng trên địa bàn Các trung tâm kiểm định chất lượng xây dựng trực thuộc sở Xây dựng cũng đã được hình thành và phát triển, hoạt động hiệu quả, trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc quản lý chất lượng CTXD trên toàn quốc.
Công tác lựa chọn nhà thầu cho các hạng mục khảo sát, thiết kế, thi công, kiểm định chất lượng và chứng nhận sự phù hợp của công trình đã được thực hiện theo đúng quy định của Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu và Nghị định số 85/2009/NĐ-CP, đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu xây dựng.
Trong quá trình thi công, chủ đầu tư và tư vấn giám sát thường xuyên kiểm tra sự phù hợp giữa các đề xuất kỹ thuật trong hồ sơ dự thầu và thực tế triển khai Họ đánh giá biện pháp tổ chức thi công, tiến độ, cũng như việc huy động nhân sự và máy móc Đồng thời, cần có giải pháp xử lý kịp thời đối với các nhà thầu vi phạm về quản lý chất lượng và năng lực theo quy định trong hợp đồng.
Trong các dự án xây dựng, bên cạnh việc tự giám sát chất lượng công trình của nhà thầu, chủ đầu tư và tư vấn giám sát, còn có sự tham gia giám sát từ cộng đồng đối với chất lượng công trình Điều này cho thấy rằng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng ngày càng được xã hội coi trọng và dần trở nên mang tính xã hội hóa.
Chất lượng công trình xây dựng được nâng cao
Chúng tôi đã thiết kế và thi công nhiều công trình lớn và phức tạp như hầm Đèo Ngang, hầm Hải Vân, cầu Bãi Cháy, cầu Mỹ Thuận, và toà nhà Trung tâm hội nghị Quốc gia Ngoài ra, chúng tôi còn thực hiện các hồ chứa nước như Định Bình, Ka La, Tràng Vinh, cùng với các công trình thủy lợi và thủy điện như Cửa Đạt, A Vương, Sơn La Tất cả những dự án này đều được thực hiện bởi bàn tay và khối óc của người Việt Nam, góp phần xây dựng các đô thị mới hiện đại.
23 trình đang từng bước phục vụ đời sống của nhân dân, góp phần nâng cao năng suất, CLSP, tăng cường năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế
Dưới đây là CTXD tiêu biểu của các bộ, ngành Trung ương và địa phương triển khai xây dựng trong thời gian qua:
Công trình OPERA VIEW ARTEX tại TP HCM, cao 8 tầng với 2 tầng hầm, được thiết kế theo phong cách cổ điển Pháp Dự án được khởi công xây dựng vào tháng 6 năm 2005 và hoàn thành vào tháng 12 năm 2006.
- Trung tâm Hội nghị Quốc gia là tổ hợp công trình đa năng lớn nhất tại
Thủ đô Hà Nội Công trình khởi công ngày 15/11/2004, hoàn thành năm
Năm 2006, công trình này đã trở thành địa điểm tổ chức và đăng cai nhiều cuộc họp, sự kiện lớn cả trong nước và quốc tế Đến nay, nó vẫn duy trì được công năng hiệu quả và đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
Hồ chứa nước Định Bình tại Bình Định có dung tích 14,5 triệu m³, là một công trình quy mô lớn kết hợp giữa thuỷ lợi và thuỷ điện Công trình này được khởi công xây dựng vào tháng 5 năm 2003 và chính thức đưa vào sử dụng vào tháng 6 năm 2009.
- Hồ Ka La (Lâm Đồng) dung tích khoảng 19 triệu m 3
- Hồ Tràng Vinh (Quảng Ninh) dung tích 75 triệu m 3
Chất lượng các công trình xây dựng (CTXD) tại Việt Nam hiện nay cơ bản là tốt, với phần lớn các công trình đảm bảo độ an toàn và công năng sử dụng theo yêu cầu thiết kế Các công trình này đang phát huy hiệu quả tốt trong vai trò của chúng.
CLCT đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội, thể hiện qua việc các hoạt động đầu tư xây dựng từ ý tưởng đến thực hiện và hoàn thiện công trình được thực hiện một cách hiệu quả.
Mặc dù HĐXD đã đạt được nhiều thành tích nổi bật, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại cần được xem xét và quản lý chặt chẽ hơn Điều này nhằm xây dựng các công trình trong tương lai mà không còn tình trạng lãng phí kinh phí đầu tư, giảm thiểu sự cố công trình và tăng tuổi thọ của chúng.
Sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ là một trong những thảm họa nghiêm trọng nhất trong lĩnh vực cầu đường và tai nạn xây dựng tại Việt Nam, xảy ra vào ngày
Vào ngày 26 tháng 9 năm 2007, tại xã Mỹ Hòa, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long, hai nhịp cầu cao khoảng 30 mét đang trong quá trình xây dựng đã bị sập, khiến giàn giáo cùng nhiều công nhân và kỹ sư rơi xuống đất.
SO SÁNH NGH Ị ĐỊNH 15/2013/NĐ-CP VÀ NGHỊ ĐỊNH 209/2004/NĐ-CP VÀ NGHỊ ĐỊNH 49/2008/NĐ-CP
SO SÁNH NGHỊ ĐỊNH 15 VÀ NGHỊ ĐỊNH 209
STT NGHỊ ĐỊNH 209 NGHỊ ĐỊNH 15 NGUYÊN NHÂN SỬA ĐỔI
Để thay thế Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008, sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 209/2004 Ngoài ra, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 cũng quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Vào ngày 06/02/2013, Chính phủ tiếp tục phát hành Nghị định số 15/2013/NĐ-CP để hoàn thiện các quy định liên quan.
Nghị định 15 nhằm tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, giúp quy trình quản lý trở nên chặt chẽ hơn, ngăn chặn tình trạng thất thoát và lãng phí, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng.
Chương I: Những quy định chung
Không có Điều 7: Chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng cho các công trình cấp đặc biệt, cấp I và cấp II, cần được lập riêng trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế khác sau giai đoạn thiết kế cơ sở.
- Còn lại lập riêng hoặc chung trong thuyết minh thiết kế xây dựng
Nghị định 48/2010/NĐ-CP quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng, yêu cầu chủ đầu tư hoặc tư vấn biên soạn Tiêu chuẩn dự án Tiêu chuẩn này được áp dụng cho các dự án đầu tư xây dựng công trình cụ thể, nhằm làm căn cứ nghiệm thu.
Nghị định 209/2004/NĐ-CP và Nghị định 49/2008/NĐ-CP chưa đưa ra quy định chi tiết về chỉ dẫn và yêu cầu kỹ thuật (specification) để làm căn cứ cho việc kiểm soát thiết kế, thi công và nghiệm thu.
Không có Điều 8: Công khai thông tin về năng lực của các tổ chức cá nhân hoạt động XDCT Thẩm tra, thí nghiệm GS, kiểm định
- Khảo sát, thiết kế, thi công công trình cấp đặc biệt, cấp I cấp II được xây dựng bằng vốn NSNN
Các thông tin này sẽ là cơ sở để lựa chọn tổ chức và cá nhân tham gia vào các hợp đồng xây dựng Cần tăng cường kiểm tra năng lực và hành vi của các nhà thầu, vì trước đây họ có quyền tự do kinh doanh và đăng ký hành nghề, dẫn đến khó khăn trong việc thẩm định năng lực làm việc của họ.
STT NGHỊ ĐỊNH 209 NGHỊ ĐỊNH 15 NGUYÊN NHÂN SỬA ĐỔI
Hội đồng Nghiệm thu nhà nước (HĐNTNN) đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra và kiểm soát chất lượng các công trình xây dựng quan trọng quốc gia, từ khảo sát, thiết kế đến thi công và nghiệm thu Tuy nhiên, HĐNTNN hiện chỉ được thành lập qua Quyết định của Thủ tướng Chính phủ mà chưa được quy định trong Nghị định Việc đưa HĐNTNN vào Nghị định sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc lập dự toán và tính toán tổng mức đầu tư cho các công trình.
II Chương II: Quản lý chất lượng khảo sát xây dựng
Điều 6 quy định nhiệm vụ khảo sát xây dựng, trong khi Điều 7 nêu rõ phương án kỹ thuật cho khảo sát Nội dung báo cáo kết quả khảo sát được trình bày tại Điều 8, và Điều 9 đề cập đến việc bổ sung nhiệm vụ khảo sát khi cần thiết Trách nhiệm của nhà thầu khảo sát xây dựng về bảo vệ môi trường và các công trình trong khu vực khảo sát được quy định tại Điều 10 Giám sát công tác khảo sát xây dựng được nêu tại Điều 11, và Điều 12 quy định về nghiệm thu kết quả khảo sát Trình tự thực hiện và quản lý chất lượng khảo sát xây dựng được đề cập tại Điều 12, trong khi trách nhiệm của chủ đầu tư được quy định ở Điều 13 Điều 14 nêu rõ trách nhiệm của nhà thầu khảo sát, và Điều 15 quy định trách nhiệm của nhà thầu thiết kế Cuối cùng, Điều 16 xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân giám sát khảo sát xây dựng.
Các quy định trong Nghị định 209/2004/NĐ-CP và 49/2008/NĐ-CP chưa làm rõ công tác quản lý chất lượng khảo sát xây dựng công trình của chủ đầu tư và các nhà thầu Mặc dù Thông tư số 27/2009/TT-BXD đã nêu rõ các công việc mà chủ đầu tư cần thực hiện để quản lý chất lượng khảo sát và thi công xây dựng, nhưng do hiệu lực pháp lý của thông tư không mạnh bằng nghị định, việc cụ thể hóa các quy định này trong nghị định sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.
STT NGHỊ ĐỊNH 209 NGHỊ ĐỊNH 15 NGUYÊN NHÂN SỬA ĐỔI
II Chương III: QLCL TK XDCT
1 Điều 13:TKKT; Điều 14: TKBVTC; Điều 15: Yêu cầu quy cách hồ sơ thiết kế xây dựng công trình; Điều
Trong quá trình nghiệm thu hồ sơ thiết kế xây dựng công trình, cần tuân thủ trình tự thực hiện và quản lý chất lượng thiết kế theo quy định tại Điều 17 Chủ đầu tư có trách nhiệm đảm bảo chất lượng hồ sơ thiết kế, theo Điều 18, trong khi nhà thầu thiết kế cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo Điều 19 Việc phân định rõ trách nhiệm giữa các bên liên quan là yếu tố quan trọng để đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình.
NĐ 15 quy trách nhiệm cho chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn thiết kế trong khi đó NĐ209 hướng dẫn quản lý chất lượng của công tác thiết kế
2 Điều 13 (khoản 4), Điều 18 Nghị định 12: Thẩm định TKBVTC của báo cáo kinh tế kỹ thuật; thẩm định
TKKT, TKBVTC đối với 2 và 3 bước Điều 20: Tổ chức thẩm định và phê duyệt các bước thiết kế xây dựng công trình sau TKCS
Theo Nghị định 209, chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định hồ sơ thiết kế và có thể thuê đơn vị tư vấn thẩm tra nếu không đủ năng lực Để nâng cao vai trò quản lý nhà nước, Nghị định 15 giao nhiệm vụ thẩm tra thiết kế cho cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đối với các công trình cấp III sử dụng vốn nhà nước và cấp II đối với các công trình sử dụng nguồn vốn khác.
Không có Điều 21: Giao việc thẩm tra thiết kế cho
CQQLNN quy định xây dựng đối với các công trình cấp III sử dụng vốn nhà nước và cấp II đối với các công trình sử dụng nguồn vốn khác Điều này nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong quản lý dự án xây dựng, đồng thời tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định hiện hành Các tiêu chí đánh giá và quy trình thực hiện sẽ được áp dụng chặt chẽ để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn vốn.
Nghiệm thu thiết kế cần được thực hiện sau khi cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) đã thẩm tra Điều này khẳng định vai trò quan trọng của cơ quan QLNN trong việc kiểm soát chất lượng công trình ngay từ giai đoạn thiết kế.
III Chương IV: Quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình
1 Điều 8 ND 49 và điều 28 NĐ209:
Quy định về kiểm tra sự phù hợp về chất lượng công trình xây dựng
Bỏ: - Sự độc lập, khách quan của tổ chức chứng nhận là không đảm bảo
- CTXD là một sản phẩm hàng hóa đặc biệt Mọi công việc đã được kiểm soát trong quá trình xây dựng
- Tổ chức chứng nhận chịu trách nhiệm gì trước cộng đồng khi công trình xảy ra sự cố: Nên giao cho đơn vị
QL chuyên trác h của nhà nước
- Gây tốn kém, không năng cao CLCT xây dựng
STT NGHỊ ĐỊNH 209 NGHỊ ĐỊNH 15 NGUYÊN NHÂN SỬA ĐỔI
2 Điều 30 nghị định 12: QLATLĐ trê n công trường xây dựng:
Nhà thầu thi công xây dựng cần thiết lập các biện pháp an toàn nhằm bảo vệ người lao động và công trình trên công trường Theo Điều 29, việc quản lý an toàn trong quá trình thi công xây dựng công trình là vô cùng quan trọng.
- Trước khi khởi công phải lập và phê duyệt biện pháp thi công theo quy định
- CQQLNN về xây dựng phải hướng dẫn, kiểm tra việc đảm bảo an toàn trong quá trình thi công
3 Điều 23: Tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng: Quy định giống khoản 1 điều 31 chia nghiệm thu thành + Nghiệm thu công việc; +
Nghiệm thu bộ phận và nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình là những bước quan trọng trong quy trình xây dựng Điều 24 quy định chi tiết về nghiệm thu công việc xây dựng, trong khi Điều 25 đề cập đến nghiệm thu bộ phận và nghiệm thu giai đoạn thi công Theo Điều 31, khoản 2, hợp đồng thi công xây dựng cần quy định rõ các công việc cần nghiệm thu và bàn giao, cùng với căn cứ, điều kiện, quy trình, thời điểm, tài liệu, biểu mẫu, biên bản và thành phần nhân sự tham gia trong quá trình nghiệm thu và bàn giao hạng mục công trình hoàn thành.
Kết quả nghiệm thu, bàn giao phải được lập thành biên bản
Như vậy, mẫu biên bản và thành phần nghiệm thu giữa CĐT và Nhà thầu là do
2 bên tự toàn quyền quyết định và phải được nêu rõ trong hợp đồng