Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong những quy định về kết hôn, thực hiện quan hệ vợ chồng, ly hôn… Nguyên tắc này là nguyên lý chỉ đạo việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa vợ chồn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HỘI THẢO KHOA HỌC
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
TP Hồ Chí Minh, Tháng 1 năm 2015
Trang 21
MỤC LỤC QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CON NGƯỜI TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT
NAM NĂM 2014 3
Nguyễn Văn Tiến 3
BÀN VỀ NGUYÊN TẮC HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 9
Nguyễn Thị Hoài Trâm 9
BẢO VỆ NGƯỜI YẾU THẾ THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 20
Lê Vĩnh Châu 20
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUYÊN TẮC BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 29
Nguyễn Thị Hoài Trâm 29
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH VỀ VIỆC ÁP DỤNG TẬP QUÁN 45
Nguyễn Thanh Thư 45
CHẾ TÀI ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH 52
Lê Thị Mận 52
NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 66
Ngô Thị Anh Vân 66
ĐỘ TUỔI KẾT HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 79
Phan Nguyễn Bảo Ngọc 79
Huỳnh Quang Thuận 79
CÁC TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 91
Lê Vĩnh Châu 91
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ GIẢI QUYẾT QUAN HỆ TÀI SẢN, NGHĨA VỤ VÀ HỢP ĐỒNG CỦA NAM, NỮ CHUNG SỐNG VỚI NHAU NHƯ VỢ CHỒNG MÀ KHÔNG ĐĂNG KÝ KẾT HÔN 99 Lê Thị Diễm Phương 99
NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 110
Trần Thị Hương 110
Trang 3CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN – KINH NGHIỆM TỪ PHÁP LUẬT
ÚC VÀ HOA KỲ 123
Nguyễn Phương Thảo 123
TRÁCH NHIỆM LIÊN ĐỚI CỦA VỢ, CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 131
Đỗ Văn Đại 131
Nguyễn Nhật Thanh 131
NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 VỀ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG 150
Lê Thị Hồng Vân 150
CHẾ ĐỊNH MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 160
Chế Mỹ Phương Đài 160
MANG THAI HỘ TRONG PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI – KINH NGHIỆM CHO VIỆC HOÀN THIỆN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 166
Nguyễn Ngọc Hồng Phượng 166
QUAN HỆ CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 182
Hoàng Thị Minh Tâm 182
QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 196
Lường Minh Sơn 196
Lê Thị Mận 203
QUYỀN YÊU CẦU TÒA ÁN GIẢI QUYẾT LY HÔN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 217
Đinh Bá Trung 217
Trang 43
QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CON NGƯỜI TRONG LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2014
Nguyễn Văn Tiến Bình đẳng là một quyền quan trọng của con người và là một nội dung của quy định pháp luật Con người sinh ra là bình đẳng và có phẩm giá như nhau cũng như được hưởng các quyền do luật định Tại Điều 1 Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp
năm 1789, khẳng định: “Mọi người sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền; mọi phân biệt xã hội chỉ có thể đặt trên cơ sở lợi ích chung” Ghi nhận về
quyền con người, Tuyên bố Têhêran ngày 13.05.1968 về Hội nghị nhân quyền thế
giới nêu rõ: “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền xác nhận một nhận thức chung của các dân tộc trên thế giới về các quyền bất di bất dịch và không thể bị xâm phạm của mọi thành viên trong gia đình nhân loại và thiết lập nghĩa vụ đối với các thành viên của cộng đồng quốc tế”1 Điều 3 Hiến pháp 2013 khẳng định :
lý như trên, quyền bình đẳng trong hôn nhân và gia đình được tiếp tục khẳng định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và bổ sung những quyền quan trọng mà công dân được hưởng so với Luật Hôn nhân và gia đình trước đây
Quyền bình đẳng của công dân trong việc kết hôn Kết hôn là nhu cầu tự nhiên của con người, là cơ sở của việc xác lập quan hệ hôn nhân và thực hiện các chức năng xã hội của gia đình, với chức năng quan trọng là tái sản xuất ra con người, tạo nên thế hệ tương lai, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội, vì vậy mà kết hôn có vai trò đặc biệt
TS, Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
1 Các văn kiện quốc tế về quyền con người (1997), Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, NXB TPHCM, tr 30
Trang 5quan trọng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng và xã hội nói chung Kết hôn là
sự kiện gắn bó giữa hai chủ thể khác giới dựa trên ý chí tự nguyện của các bên nhằm thiết lập quan hệ vợ chồng và phải tuân thủ điều kiện kết hôn do luật định Kết hôn phải được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, quan hệ vợ chồng chỉ phát sinh khi được cơ
quan nhà nước công nhận nó thông qua thủ tục theo quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật, nam và nữ khi kết hôn phải tuân thủ những điều kiện
do luật định, những điều kiện này được gọi là điều kiện kết hôn Đó là những yêu cầu của pháp luật đặt ra khi kết hôn, nam nữ khi kết hôn bắt buộc phải tuân thủ, chỉ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn mới hợp pháp và được pháp luật công nhận và bảo vệ Điều kiện kết hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là những quy định có tính chất bắt buộc do nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật và nam nữ phải tuân thủ khi kết hôn
Về bản chất kết hôn là hiện tượng xã hội có tính tự nhiên nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng Quyền tự do kết hôn là một nội dung của các nhân quyền cơ bản, đó là quyền của nam và nữ khi đến tuổi kết hôn thì được kết hôn và lập gia đình một cách tự do,
tự nguyện nhưng khi thực hiện quyền này, phải đặt trong khuôn khổ các điều kiện mà pháp luật đã quy định Trong các chế độ xã hội khác nhau, thời kỳ, giai đoạn lịch sử, điều kiện kết hôn được quy định có sự khác nhau, thể hiện sự phát triển và bản chất của xã hội Những quy định về điều kiện kết hôn là cần thiết và là cơ sở pháp lý bảo vệ lợi ích cho các chủ thể của quan hệ này, qua đó bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội
Trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Nhà nước tiếp tục khẳng định hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng nhưng điều kiện kết hôn có những quy định có tính chất cụ thể và mở rộng hơn Thứ nhất, Nhà nước nghiêm cấm lợi dụng việc thực hiện quyền về hôn nhân và gia đình để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi2 Quy định này hướng đến việc xây dựng chế độ hôn nhân bình đẳng, bảo đảm mục đích của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương giữa vợ chồng, loại trừ những hành vi lợi dụng hôn nhân để mưu cầu các mục đích thấp hèn, vụ lợi hoặc xâm phạm quyền con người do pháp luật bảo vệ Nhà nước
2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Trang 65
người, quyền công dân3 Thứ hai, Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính So với pháp luật trước đây, quy định này cởi mở hơn nhiều về việc những người cùng giới tính có sự sống chung Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
2000, luật cấm những người cùng giới tính kết hôn và không thừa nhận sự sống chung giữa họ Nay Luật mới chỉ không thừa nhận hôn nhân giữa họ với nhau chứ không cấm sự chung sống để sẻ chia tình cảm và thực hiện các quyền khác với tư cách là công dân
Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc ly hôn Tiếp tục khẳng định quyền tự do
ly hôn của vợ song mức độ điều chỉnh của luật mới mang tính bình đẳng hơn Ly hôn không chỉ là giải pháp chấm dứt hôn nhân với những người bình thường mà còn là cơ hội cho những người yếu thế mà trong một tình trạng nào đó họ không có điều kiện để tự bảo
vệ mình Về quyền ly hôn trong luật mới, nhà lập pháp đã bổ sung việc ly hôn giữa người mất năng lực hành vi dân sự với vợ hoặc chồng Đây là quy định có ý nghĩa quan trọng với chủ thể này khi mà họ không tự thực hiện được quyền của mình trong khi đó họ bị xâm phạm về quyền an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm mà một công dân
bình thường được hưởng Tại khoản 2 Điều 51 Luật này quy định: “Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ” Theo quy định này, quyền yêu
cầu ly hôn không chỉ của vợ, chồng mà còn bao gồm của chủ thể thứ ba và mục đích của quyền này là đảm bảo cho vợ hoặc chồng không bị xâm phạm khi họ rơi vào tình trạng không thể tự bảo vệ mình Tuy những trường hợp này không phổ biến trong xã hội nhưng vẫn xuất hiện và cần có cơ chế điều chỉnh thích hợp Khi quy định nội dung này, nhà lập pháp hướng đến mục tiêu là quyền con người phải được bảo vệ tối đa và toàn diện, công
lý đảm bảo cho con người được an toàn về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, mọi sự xâm phạm cần có thiết chế hỗ trợ dù đó là sự vi phạm trong hôn nhân
Ngoài nội dung trên, bạo lực gia đình cũng được quy định là căn cứ để giải quyết
ly hôn nếu vợ chồng có hành vi vi phạm quyền của phía bên kia Căn cứ ly hôn này bổ sung trong luật mới nhằm cảnh tỉnh vợ, chồng trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về
3 Điều 3 Hiến pháp 2013
Trang 7hôn nhân và gia đình và những luật khác không được xâm phạm quyền của nhau, tôn trọng và giúp đỡ vợ, chồng trong việc hưởng quyền cũng như giới hạn sự xử sự không đúng pháp luật của một hoặc hai phía Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa
án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc
vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” Có thể nói, đây là quy định tiến bộ, dân chủ, khẳng định quyền tự do hôn nhân của
con người, đề cao phẩm hạnh của vợ chồng, hạn chế bạo hành trong hôn nhân, góp phần giải phóng con người ra khỏi những quan niệm lạc hậu, phong tục cổ hủ và xây dựng đời sống hôn nhân lành mạnh, trong sáng
Quyền bình đẳng của vợ chồng trong chế độ tài sản Chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng là quy định quan trọng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam Tài sản của
vợ chồng không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất của gia đình, mà còn đảm bảo nhu cầu tinh thần của họ trong quá trình xây dựng, duy trì hôn nhân Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng Tài sản chung của vợ chồng là yếu tố cơ bản giúp vợ chồng duy trì cuộc sống hàng ngày của gia đình, tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên với nhau Tài sản riêng đảm bảo quyền bình đẳng, độc lập, quyền tự do cá nhân của mỗi bên
vợ, chồng trong khuôn khổ vì hạnh phúc, ổn định, êm ấm, hòa thuận của gia đình Luật Hôn nhân và gia đình 2014 trên cơ sở kế thừa các quy định của luật trước đó và mở rộng hơn nội hàm của quy định này Thứ nhất, tôn trọng quyền định đoạt của vợ chồng của vợ chồng với việc thỏa thuận về chế độ tài sản giữa họ Nhà lập pháp đưa ra hai chế độ tài sản: Thỏa thuận hoặc pháp định Tùy thuộc vào ý chí của vợ chồng mà họ lựa chọn chế độ tài sản giữa họ với nhau Quy định này tăng tính tự chủ của vợ chồng về chế độ tài sản, tôn trọng quyền tự quyết của họ về tài sản trước khi xác lập hôn nhân Điều 47 quy định:
“Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”
Trang 87
Thứ hai, quyền tự do lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng nhưng phải tuân thủ quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung trong gia đình và với lợi ích của người khác Vợ chồng được phép chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận nhưng thỏa thuận đó không được vi phạm những nội dung quy định tại Điều 50 của Luật này Quy định này nhằm đảm bảo chế độ tài sản của vợ chồng phải xuất phát từ việc đảm bảo lợi ích chung của gia đình và lợi ích của người thứ ba khi vợ chồng là một bên của giao dịch hoặc quan hệ pháp luật khác Đây cũng là cơ hội để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản giữa họ mà mục tiêu là công khai hóa về quan hệ tài sản để đảm bảo hôn nhân được xây dựng trên nền tảng tình yêu thật sự, giải phóng con người khỏi sự lệ thuộc về tài sản làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và bảo đảm sự an toàn về tài sản cho vợ, chồng có nhiều tài sản trước khi kết hôn Chế độ tài sản vợ chồng còn là căn cứ xác định, phân loại tài sản chung, riêng của vợ, chồng Khi pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng về căn cứ này giúp cho vợ, chồng có cơ sở xác định được tài sản mà mình đang có và sử dụng chúng một cách hợp lý Bên cạnh đó, khi tham gia vào các giao dịch dân sự vợ, chồng hoặc người thứ ba đánh giá được mức độ rủi ro khi họ tiến hành các giao dịch dân sự với chỉ một bên vợ, chồng Chế độ tài sản vợ chồng còn là cơ sở khẳng định quyền tự do của con người về tài sản Hôn nhân xuất phát
từ tình cảm yêu thương, gắn bó giữa nam và nữ, nhằm tạo lập và xây dựng gia đình ấm
no, hạnh phúc, không được xuất phát từ mục đích kinh tế, trục lợi Chế độ tài sản vợ chồng trong Luật mới khẳng định quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng, minh bạch hóa quan hệ vợ chồng đối với tài sản và mục tiêu xác lập hôn nhân
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Mang thai hộ là nhu cầu có thực của xã hội hiện nay và đã được luật hóa Cùng với việc xã hội ngày một phát triển, tình trạng vợ chồng hiếm muộn, vô sinh xuất hiện Thực tế đã xuất hiện tình trạng “đẻ thuê” và những
hệ lụy từ tình trạng trên Việc luật hóa việc mang thai hộ là giúp cho vợ chồng hiếm muộn
có cơ hội làm cha làm mẹ, hạnh phúc của gia đình tăng lên và đáp ứng mong mỏi của dòng họ khi mà tập quán ở Việt Nam vẫn còn đề cao sự nối dõi Tuy nhiên, việc mang thai hộ không đồng nghĩa với việc vi phạm hoặc bất chấp pháp luật Mục đích của việc mang thai hộ phải xuất từ nguyện vọng chính đáng, lành mạnh của vợ chồng và tuân theo pháp luật Theo Luật mới, việc mang thai hộ phải xuất phát từ mục đích nhân đạo và đáp ứng các quy định từ Điều 94 đến Điều 99 của Luật này
Trang 9Đây là quy định mới và hướng đến quyền bình đẳng của con người Chức năng xã hội của gia đình là duy trì nòi giống và tái sản xuất ra con người Con người là trung tâm
xã hội, chủ thể duy trì đời sống xã hội và cải tạo thế giới Mơ ước có con là nguyện vọng chính đáng của mọi gia đình và phải được tôn trọng, giúp đỡ Việc Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nội dung này là hiện thực hóa quyền con người, khẳng định sự tiến
bộ, dân chủ của luật, ghi nhận và phản ánh thực trạng nhu cầu xã hội về vấn đề này đặt trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền và nâng cao quyền con người
Quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình So với Luật trước đây Thành viên gia đình và chế độ pháp lý giữa họ đã được bổ sung với nội dung quy định rộng hơn trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Khái niệm thành viên gia đình được quy định tại Điều 3 của Luật này Về mặt chủ thể, các thành viên được xác định là những người có mối quan hệ trong gia đình không chỉ căn cứ vào quan hệ huyết thống Về trách nhiệm, các thành viên gia đình có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tôn trọng nhau Quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản của họ được điều chỉnh bởi các luật liên quan chứ không chỉ có Luật Hôn nhân và gia đình Các thành viên gia đình ngoài việc quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau còn phải giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, dân chủ, hạnh phúc, bền vững
Trên đây là một số quy định mới của Luật Hôn nhân và gia đ
, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật Công dân ngày càng được Nhà nước quan tâm và biểu hiện của sự quan tâm đó là ghi nhận và bảo vệ các quyền cơ bản của con người bằng pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật Đây cũng là xu thế chung của xã hội loài người và Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014 là một trong các biểu hiện đó
Trang 10hệ hôn nhân và gia đình, nhà nước phải xây dựng các quy phạm pháp luật cụ thể Các quy phạm này phải thống nhất với nhau trong một chế định và ngành luật và cơ sở cho sự thống nhất này đó chính là những nguyên tắc cơ bản được quy định trong Luật Hôn nhân
và gia đình Như vậy, có thể nói nguyên tắc này chính là nền tảng của hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là cơ sở cho việc giải thích pháp luật, quy phạm pháp luật
và áp dụng pháp luật trong trường hợp có xảy ra tranh chấp
Trong thực tế cuộc sống hôn nhân và gia đình, nhìn chung nguyên tắc này đã phát huy được vai trò, tác dụng, đó là cơ sở vững chắc để xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, đồng thời chống lại những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân gia đình tư sản Pháp luật của nhà nước tư sản cũng quy định hôn nhân theo nguyên tắc một vợ một chồng nhưng trên thực tế nguyên tắc này đã bị phá vỡ do nạn
Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 11ngoại tình và mại dâm công khai Do đó xét về bản chất “hôn nhân của giai cấp tư sản là chế độ cộng thê” Ngược lại, bản chất hôn nhân xã hội chủ nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng như Ph.Ăngghen đã từng chỉ rõ : “Vì bản chất của tình yêu là không thể chia sẻ cho nên hôn nhân dựa trên tình yêu của nam và nữ do ngay bản chất của nó là một vợ một chồng” Ta có thể thấy,việc thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của kinh tế-xã hội xã hội chủ nghĩa, là cơ sở quan trọng đảm bảo sự bền vững của hôn nhân Việc tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi cá nhân trong xã hội
Để bảo vệ cho chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định: “Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ” Nguyên tắc này được thể hiện cụ thể trong những quy định về kết hôn, thực hiện quan hệ vợ chồng, ly hôn… Nguyên tắc này là nguyên lý chỉ đạo việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng trong gia đình, được quy định trong văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình cụ thể là tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng là: chỉ những người chưa có vợ, chưa có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân đó đã chấm dứt mới có quyền kết hôn Việc kết hôn của họ phải với người đang không có vợ, không có chồng Ngoài ra, để bảo vệ chế độ hôn nhân một
vợ, một chồng, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng còn điều chỉnh cả hành vi chung sống như vợ chồng, chỉ những người đang không có vợ, không có chồng mới có quyền chung sống như vợ chồng với những người đang không có vợ, không có chồng
Theo Mục 1 điểm c.1 Nghị quyết số 02/2002/NQ – HĐTP thì “người đang có vợ có chồng” được hiểu là :
Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa li hôn
Người đang chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày 03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng kí kết hôn
Trang 1211
Người chung sống với người khác như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kí kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày nghị quyết này có hiệu lực cho đến 01/01/2003)
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, chỉ có những người chưa kết hôn hoặc những người tuy đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã chết hoặc hai người đã li hôn thì mới có quyền kết hôn với người khác Pháp luật cấm những người đang có vợ có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác nhằm xóa bỏ tận gốc chế độ đa thê phong kiến đảm bảo hạnh phúc và sự bền vững gia đình
Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn chế độ một chồng nhiều vợ tồn tại ở Việt Nam và được nhà nước, pháp luật thừa nhận Đó là những quan hệ hôn nhân được xác lập trước Nghị quyết 76 ngày 25/3/1977 của Quốc hội về việc thống nhất hai miền Nam Bắc có hiệu lực thì pháp luật vẫn công nhận một số trường hợp đa thê Đó là đối với trường hợp những người là cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc thì theo Thông tư số 60/TATC ngày 22/2/1978 của TANDTC về việc hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác vẫn có hiệu lực Đây được coi là những tồn tại do thực tế lịch sử và nhà nước vẫn chấp nhận tình trạng đa thê của họ
Một trường hợp đặc biệt là người bị tòa án tuyên bố đã chết theo Điều 91 Bộ luật dân sự 2005 Sau khi tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực thì vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố chết có quyền kết hôn với người khác Trong trường hợp này nếu người bị tuyên
bố chết trở về, tòa án hủy bỏ tuyên bố chết mà vợ hoặc chồng của người đó đã kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân được xác lập sau vẫn có hiệu lực pháp luật; nếu vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục
Về vấn đề chung sống với nhau như vợ chồng, pháp luật quy định đây là việc coi nhau như vợ chồng, chung sống với nhau, chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung Theo TTLT số 01/2001/TTLT – TANDTC – VKSNCTC – BTP ngày 3/1/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội, được coi là nam và nữ đang sống chung với nhau như vợ chống, nếu họ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và thuộc một trong các trường hợp sau:
Trang 13- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình (một bên hoặc cả hai bên) chấp nhận
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia đình
Trên cơ sở nguyên tắc một vợ, một chồng, một loạt các chế định gồm nhiều quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình đã được thiết kế để áp dụng trong thực tế, như: điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng… những văn bản quy phạm khác cũng được ban hành để hướng dẫn áp dụng và quy định cụ thể để thi hành một
số chế định trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Thực chất, đây là sự cụ thể hóa những nội dung của các nguyên tắc cơ bản đã được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình Như vậy, những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam mà trọng tâm là nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng đã thực hiện được vai trò chỉ đạo, định hướng cho ngành Luật Hôn nhân và gia đình trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình 1986, nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng đã được quy định cụ thể và đầy đủ hơn Nguyên tắc một vợ, một chồng được biểu hiện xuyên suốt trong những chế định luật Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng đã trở thành một nguyên tắc của cuộc sống được mọi người tôn trọng và tự giác thực hiện đang dần xóa bỏ tư tưởng đa thê còn rơi rớt lại Chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được thực hiện làm rõ bản chất của tình yêu là “không thể chia sẻ được”, là cơ sở duy trì hạnh phúc gia đình, duy trì sự bền vững của chính quan hệ hôn nhân
Bên cạnh đó, trong thực tế đời sống hôn nhân và gia đình vẫn còn không ít những biểu hiện tiêu cực trái ngược với bản chất tốt đẹp của chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa
mà chúng ta đang xây dựng.Tình trạng kết hôn không đăng ký đang là hiện tượng phổ biến ở vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.Thực trạng này đã gây những khó khăn không nhỏ trong việc kiểm soát của các cơ quan Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân và gia đình Hôn nhân một vợ một chồng đã được xây dựng thành một trong những nội dung của nguyên tắc hiến định về hôn nhân và gia đình và được Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 khẳng định là nguyên tắc cơ bản của chế độ
Trang 1413
hôn nhân và gia đình Tuy nhiên trên thực tế, hiện tượng vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng vẫn xảy ra, biểu hiện ở các trường hợp ngoại tình, ở hiện tượng những người đã có vợ, có chồng chưa ly hôn nhưng đã chung sống với người khác như vợ chồng Đặc biệt có những trường hợp một người đàn ông chung sống như vợ chồng với nhiều người phụ nữ Việc vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng: làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, con cái bị bỏ mặc, thiếu
sự chăm sóc, giáo dục của cha mẹ, con bị khủng hoảng về tâm lý sinh ra những thói hư, tật xấu, kinh tế gia đình sa sút nghiêm trọng… nhưng không phải trường hợp vi phạm nào cũng được xử lý Những hiện tượng này không phải là hiếm gặp mà ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều địa phương và ngoại tình đã trở thành nguyên nhân chính của nhiều cuộc
li hôn Trong công tác xét xử của Toà Án Nhân Dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh năm 2009 cho thấy số vụ ly hôn vì ngoại tình là 36 vụ trên tổng số 323 vụ ly hôn, chiếm 11%
Theo số liệu tìm hiểu được, năm 2000 ở Hà Nội có 152 trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân 1 vợ 1 chồng; Kiên Giang là 1.450 trường hợp và ở Thành Phố Hồ Chí Minh con số này lên tới 4.418 trường hợp Đặc biệt tại các vùng nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có dân trí thấp thì tình trạng đa thê đa thiếp vẫn còn tồn tại ở thế kỷ 21
Điển hình như vụ án đang gây nhiều tranh cãi một ông ba bà Ông N quê ở xã Tân Bửu - Bến Lức - Long An cưới người vợ đầu tiên năm 1994 (có đăng ký kết hôn), sau một thời gian, đường ai nấy đi Năm 1996, khi chưa ly hôn, ông N đã làm đám cưới rồi chung sống không hôn thú với bà vợ hai Một năm sau, họ sinh được một con chung Rồi do mâu thuẫn, họ xin ly hôn Lẽ ra phải xác định đây là hôn nhân trái pháp luật thì năm 1999, TAND huyện Bến Lức lại cho ông N ly hôn bà vợ hai và giải quyết các yêu cầu về tài sản chung, quyền nuôi con, cấp dưỡng Năm 2000, ông N lại tổ chức đám cưới và sống chung với bà vợ ba, có một con chung, đến năm 2004 thì được chính xã Tân Bửu cho đăng ký kết hôn
Theo nội dung của nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, ta có thể thấy những người vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có thể có hai trường hợp sau:
Thứ nhất, người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Trang 15Người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và chưa ly hôn Người đó đang trong tình trạng là đang có vợ hoặc có chồng nghĩa là hôn nhân của họ chưa bị chấm dứt do ly hôn hoặc do một trong hai bên chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết Cơ sở pháp lý để xác định người đang có vợ, có chồng là dựa vào giấy chứng nhận đăng kí kết hôn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp vẫn còn có hiệu lực
Theo Luật Hôn nhân và gia đình, người đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng có thể xảy ra trong hai trường hợp:
- Người đang có vợ, có chồng mà lại kết hôn với người khác
Việc kết hôn của người đang có vợ, có chồng với người khác mặc dù có đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn nhưng đã vi phạm điều kiện kết hôn (Khoản 1 – Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) và thuộc một trong những trường hợp cấm kết hôn tại Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình Do đó, việc kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc đang có chồng với người khác là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
- Người đang có vợ, có chồng mà chung sống như vợ, chồng với người khác
Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ không có đăng kí kết hôn nhưng về chung sống với nhau như vợ, chồng Việc chung sống với nhau như vợ chồng với người đang có vợ, có chồng trong trường hợp này bao gồm: những người đang có vợ, có chồng cùng chung sống với nhau như vợ, chồng (cả hai bên đều trong tình trạng đang có vợ, có chồng); người đang có vợ, có chồng, chung sống với người chưa có vợ, có chồng (chỉ một bên chung sống là người đang có vợ, có chồng) Việc chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc có chồng bất kể là công khai hay không công khai thì đều là vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Thứ hai, nam nữ chung sống như vợ chồng, được coi là có quan hệ vợ chồng nhưng
vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng
Việc nam nữ chung sống như vợ chồng được công nhận là có quan hệ vợ chồng khi
mà cả hai bên nam, nữ chung sống dựa trên cở sở tình yêu thương, muốn chăm sóc, giúp
đỡ nhau và thực sự mong muốn thành vợ chồng, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc; đồng thời họ đã chung sống công khai, cùng nhau thực hiện các quyền và
Trang 16vợ chồng cũng nảy sinh quyền và nghĩa vụ đối với nhau nên phải tuân thủ nguyên tắc một
vợ một chồng Do đó, khi họ kết hôn thì lần kết hôn đó là vi phạm nguyên tắc này và được coi là trái pháp luật
Nguyên nhân của các trường hợp vi phạm trên là do trình độ dân trí nói chung và hiểu biết về pháp luật hôn nhân và gia đình nói riêng trong nhân dân còn ở mức độ thấp Thực tế ở nhiều vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, việc thực hiện quan hệ hôn nhân và gia đình chỉ đơn thuần theo phong tục tập quán, trong
đó có những phong tục, tập quán phù hợp, song cũng có những phong tục tập quán lạc hậu, không phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Sự ít hiểu biết
về Luật Hôn nhân và gia đình dẫn đến việc người dân vi phạm những quy định của Luật, bên cạnh đó họ cũng không bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời, chúng ta cũng không phát huy được vai trò hợp tác, giúp đỡ của nhân dân trong việcphát hiện, tố giác kịp thời những hành vivi phạm các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Nguyên nhân của tình trạng này là do điều kiện sinh hoạt vật chất thấp kém, cùng với đó là việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nơi còn mang nặng tính hình thức, chỉ tuyên truyền theo từng đợt hoặc khi có yêu cầu mới tiến hành, chưa có phương pháp và hình thức tuyên truyền phù hợp
Hiện nay, tình trạng nam nữ chung sống với nhau mà không có đăng ký kết hôn diễn
ra ngày càng phổ biến Đặc biệt ở các vùng núi, vùng dân tộc ít người tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng xuất hiện ngày càng diễn biến phức tạp và khó kiểm soát Các trường hợp vi phạm không có chiều hướng giảm mà ngày càng gia tăng, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó một phần là do hoàn cảnh xã hội Tác động từ nền kinh tế thị
Trang 17trường đã hình thành trong xã hội một bộ phận dân cư khá giả, có lối sống tiêu xài, sống thực dụng, buông thả trong tầng lớp thanh niên làm cho các trường hợp vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng xuất hiện ngày càng phức tạp, với nhiều biến tướng như: góp gạo thổi cơm chung, chấp nhận làm vợ hờ không thân phận chỉ để được bao ăn ở…
Trong công tác xử lý, những cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nhất là vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng còn chưa kịp thời, nghiêm minh, thậm chí bị coi nhẹ nên không phát huy được tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa Trên thực tế, những trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng còn xảy ra không ít, tuy nhiên, con số phản ánh những vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết lại quá khiêm tốn Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao về xét xử hình sự đối với hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng năm 2000 ở cấp huyện là 32, ở cấp tỉnh là 3; năm 2006 ở cấp huyện là 139, ở cấp tỉnh là 86 4 Ta có thể thấy các vụ việc vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng trên thực tế xảy ra với số lượng không hề nhỏ, song số vụ được đưa ra xét xử vẫn còn rất hạn chế, thông thường được giải quyết bằng sự thoả thuận giữa các bên hoặc bỏ qua hành vi vi phạm, hai bên vẫn tiếp tục chung sống Sở dĩ có tình trạng này là do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ các cơ quan bảo vệ pháp luật Trong thực tế, có những trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân và gia đình vẫn chưa bị xã hội lên án mạnh mẽ, thậm chí là điều bình thường đối với dư luận xã hội hoặc phù hợp với phong tục tập quán Do đó, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã coi nhẹ việc xử lý đối với những hành vi vi phạm này
Một nguyên nhân khác đó là do trình độ đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã và thẩm phán còn chưa đồng đều, thậm chí có những cán bộ tư pháp, thẩm phán quá kém về pháp luật
và chuyên môn nghiệp vụ, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu giải quyết chính xác, nhanh chóng các yêu cầu của đương sự, thêm vào đó là những tác động của vật chất, của các mối quan hệ xã hội làm cho một bộ phận không nhỏcán bộ tư pháp, thẩm phán đã không thực sự khách quan trong giải quyết công việc Thực tế cho thấy đội ngũ cán bộ tư pháp cấp xã hầu hết chưa qua đào tạo cử nhân, nên thiếu những kiến thức cơ bản về chuyên môn
4 Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2010, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002
Trang 1817
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng bị vi phạm do chính cơ chế của chúng ta tạo ra Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải có các biện pháp nhằm tăng cường hiệu quả điều chỉnh của nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng:
Một là, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật hôn nhân và gia đình một cách sâu rộng cho mọi đối tượng
Nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng chỉ có thể phát huy được hiệu quả điều chỉnh khi được tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi người dân tuân thủ một cách nghiêm túc và triệt để Để đạt được điều đó, việc phổ biến, tuyên truyền, giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình phải được tiến hành trên mọi đối tượng Luật Hôn nhân và gia đình cần sớm đưa vào trong chương trình giáo dục ở phổ thông Việc giáo dục pháp luật đối với những đối tượng này phải kết hợp với việc giáo dục đạo đức, truyền thống trong gia đình, sử dụng những phương pháp giáo dục gần gũi, thiết thực Việc tuyên truyền, phổ biến Luật Hôn nhân và gia đình cần được tiến hành song song với việc vận động nhân dân đấu tranh chống lại những tàn dư của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, tự giác chấp hành những quy định của Luật
Hai là, cải tiến trong công tác đăng ký hộ tịch và đổi mới về tổ chức và hoạt động của Tòaán nhân dân trong việc giải quyết các án tranh chấp hôn nhân và gia đình
Trong công tác đăng ký hộ tịch, việc xem xét các yêu cầu của nhân dân trong hôn nhân và gia đình phải được tiến hành nhanh chóng, chính xác Đối với hệ thống sổ sách, biểu mẫu, một số tờ khai đăng ký hộ tịch cần được thay đổi lại cho phù hợp để hạn chế những sai sót, vướng mắc và những trường hợp vi phạm có thể xảy ra Trong công tác giải quyết, xử lý các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, nên thành lập Tòa chuyên trách về hôn nhân và gia đình Do quan hệ hôn nhân và gia đình có những đặc thù riêng biệt nên đòi hỏi những cán bộ giải quyết các tranh chấp về loại này phải có những phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, có uy tín, am hiểu về tình hình, về phong tục tập quán và có những kinh nghiệm cần thiết
Ba là, việc xử lý những hành vivi phạm nguyên tắc chế độ hôn nhân một vợ một chồng cần được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện nghiêm túc, kịp thời và đúng pháp luật để phát huy tác dụng giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật hôn nhân và gia đình
Trang 19Mục đích của những biện pháp xử lý không phải là trừng phạt, bắt người vi phạm phải chịu chế tài của pháp luật mà nhằm giáo dục đối với người có hành vi vi phạm pháp luật để họ không tiếp tục vi phạm pháp luật, đồng thời giáo dục những cá nhân khác có ý thức tôn trọng pháp luật, để từ đó không vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình Bên cạnh đó, cần tăng cường hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các trường hợp vi phạm, cần sửa đổi các quy định về hình phạt đối với các trường hợp vi phạm nguyên tắc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết các trường hợp vi phạm Có như vậy, pháp luật mới phát huy hết tác dụng và chức năng của mình đó là giáo dục, phòng ngừa, răn đe, ngăn chặn các hành vivi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng trong tương lai Từ đó nâng cao ý thức của người dân trong việc tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng
Bốn là: nâng cao chất lượng công tác hòa giải những tranh chấp về hôn nhân gia đình
Công tác hòa giải ở cơ sở làm được tốt sẽ kịp thời giải quyết được những xích mích trong nội bộ gia đình, giúp cho các thành viên trong gia đình được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, và cũng vì thế mà hạn chế được những hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng Đồng thời cũng có tác dụng quan trọng trong việc giáo dục ý thức trách nhiệm đối với các thành viên của gia đình, thông qua đó Luật Hôn nhân và gia đình cũng được tuyên truyền trực tiếp tới từng người dân.Công tác hòa giải những tranh chấp
về hôn nhân và gia đình phải khách quan, công minh, có lý, có tình, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của hai bên.Bên cạnh đó, cán bộ làm công tác hòa giải phải hiểu được tâm lý của những người có mâu thuẫn, thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên để có thể thực hiện thành công việc hòa giải
Năm là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng một đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu giải quyết kịp thời, chính xác các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Hoạt động của các cán bộ Tư pháp và Thẩm phán là những khâu rất quan trọng trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng Họ vừa là người thay mặt Nhà nước kiểm soát việc thực hiện các quan hệ hôn nhân và gia đình trong xã hội, vừa là người tuân thủ nguyên tắc đó trong quá trình kiểm soát Trong tình hình hiện
Trang 2019
nay, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là cán bộ tư pháp ở cấp xã và Thẩm phán ở tòa án nhân dân cấp huyện là việc làm cần phải được chú trọng Cần tập trung trang bị kiến thức, kỹ năng theo chức danh, vị trí việc làm của cán bộ tư pháp cấp xã; hướng dẫn chuyển giao các kỹ năng, truyền đạt kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, giải quyết các vấn đề thực tiễn trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, các tình huống
cụ thể, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần đảm bảo chất lượng, đúng đối tượng, phù hợp với từng chức vụ của cán bộ tư pháp, đồng thời bám sát những nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra hiện nay về vấn đề hôn nhân và gia đình ở các cấp xã, phường, thị trấn Bên cạnh
đó, cần có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Hội thẩm nhân dân, bởi họ là người đại diện của nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử tại Tòa án
và có quyền ngang với Thẩm phán
Hôn nhân một vợ một chồng là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam Nguyên tắc này một mặt thể hiện tư tưởng chỉ đạo, định hướng hoặc trực tiếp điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, mặt khác góp phần chứng minh rằng Luật Hôn nhân và gia đình là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, thể hiện bản chất chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta quyết tâm xây dựng Do đó, chúng ta cần tìm hiểu làm rõ những vấn đề lý luận về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng để việc áp dụng, tuyên truyền nguyên tắc này cho các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi cá nhân được
cụ thể và triệt để hơn
Trang 21BẢO VỆ NGƯỜI YẾU THẾ THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN
NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Lê Vĩnh Châu
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ năm 2014) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19.6.2014, có hiệu lực từ ngày 1.1.2015 Bao gồm 9 chương và 133 điều, thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Trên cơ sở kế thừa qui định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 về bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình, Luật HNGĐ năm 2014 còn sửa đổi,
bổ sung nhiều qui định cho phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn hiện tại Bài viết này tác giả muốn đề cập đến một số vấn đề như xác định ai là người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những người yếu thế được bảo vệ như thế nào trong Luật HNGĐ năm 2014
1 Khái niệm người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình
Theo giải thích từ ngữ tại điều 3 Luật HNGĐ năm 2014:
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn
Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này
Thành viên gia đình bao gồm vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ
kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp
ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người
ThS, Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh
Trang 22Một là, người chưa thành niên ở trong gia đình
Đây là con, em, cháu của các thành viên khác trong gia đình, là những người chưa thành niên, chưa có được những điều kiện nhất định về sức khỏe, nhận thức, kinh tế để có thể tự chăm lo, tự bảo vệ cho đời sống của mình, nên trong quan hệ với các thành viên khác trong gia đình, họ thường là người phụ thuộc, được các thành viên khác trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
Hai là, những người đã thành niên nhưng ở vào hoàn cảnh không thể tự chăm lo cho bản thân mình được, để duy trì cuộc sống bình thường, cần phải nhờ đến thành viên khác trong gia đình
Với những chủ thể này, do điều kiện về sức khỏe, điều kiện về kinh tế cũng như định kiến xã hội, nên họ cũng rơi vào tình trạng không thể tự chăm lo cho bản thân, chẳng hạn như bị khuyết tật, ốm đau, già yếu Trong cuộc sống hành ngày, cần phải nhờ đến thành viên khác trong gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng
Quan điểm Nhà nước đối với người yếu thế trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
được thể hiện rõ: "Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình"5
Tóm lại, người yếu thế trong quan hệ hôn nhân và gia đình cần được hiểu: Là những người do đặc điểm về độ tuổi, sức khỏe, kinh tế, định kiến xã hội nên ở vào tình thế phải lệ thuộc thành viên khác trong gia đình, bao gồm những người chưa thành niên, người đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự, người không đủ khả năng lao động và không có tài sản để nuôi sống mình
Quyền lợi của những người yếu thế được Luật HNGĐ năm 2014 bảo vệ thông qua các qui phạm pháp luật khác nhau, như: Qui phạm xác định nghĩa vụ và quyền của các
5 Khoản 4, điều 2 Luật HNGĐ 2014
Trang 23thành viên trong gia đình, qui phạm qui định quyền của người yếu thế trong gia đình, qui phạm xác định nghĩa vụ của các thành viên khác trong gia đình trong quan hệ với những thành viên yếu thế và các qui phạm mang tính chế tài
2 Bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong các mối quan hệ cụ thể
Bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong quan hệ cha, mẹ con
Một trong những qui định có tính nguyên tắc được ghi nhận tại khoản 4, điều 68
Luật HNGĐ năm 2014 là: "Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình"
Từ qui định tại các điều: Điều 69, điều 70 - 77, điều 80, 81, 84, 85, 88, 90, 110,
111 Luật HNGĐ năm 2014, có thể rút ra một số nội dung sau:
Thứ nhất: Quyền của người con trong việc xác nhận, xác định cha, mẹ cho mình Đây là quyền thiêng liêng của mỗi con người, mỗi người sinh ra đều có quyền được biết nguồn gốc, cội nguồn của mình Do đó: Những người được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người mẹ có thai trong thời kỳ hôn nhân và sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con chung của hai vợ chồng Với qui định này, người sinh ra đứa trẻ được xác định là mẹ của đứa trẻ và người đang có quan hệ hôn nhân với mẹ đứa trẻ, được xác định là cha của đứa trẻ6 Đối với những người được sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung của vợ chồng
Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định
Đối với những người được sinh ra, nhưng cha, mẹ không được pháp luật thừa nhận
là vợ, chồng, Luật pháp dành cho họ có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc xác định mối quan hệ cha, mẹ, con Theo đó, người con có quyền nhận cha,
6 Tuy nhiên, qui định này bị loại trừ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Vì với các trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, thì người nhờ mang thai hộ mới là cha, mẹ đứa trẻ, chứ không phải người sinh ra đứa trẻ đó
Trang 24- Chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội; Tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; Làm gương tốt cho con về mọi mặt; Phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con; Hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con
- Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; Đảm bảo quyền của con được sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc Trường hợp không sống chung với cha, mẹ hoặc sống chung với cha, mẹ nhưng cha, mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
- Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật; Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; Cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để chấm dứt hôn nhân của người con, khi người con bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của người con gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của con
- Không được lạm dụng sức lao động của con; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
- Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự
Trang 25Thứ ba: Quyền có tài sản riêng; Quyền thể hiện ý chí trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình
Con có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con
Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý Trường hợp cha mẹ có quyền định đoạt tài sản riêng của con, khi định đoạt phải xem xét đến nguyện vọng của con nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên Con từ đủ 15 tuổi đến dưới
18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản
có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ
Thứ tư: Quyền thể hiện ý chí trong việc sống chung với cha hoặc mẹ khi cha, mẹ ly hôn
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Cha, mẹ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha
mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con
Trường hợp tòa án quyết định thay đổi người nuôi con khi có đơn yêu cầu, phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên
Thứ năm: Chế tài đối với cha, mẹ khi xâm phạm quyền lợi của con
Nếu cha, mẹ vi phạm nghĩa vụ hoặc không có điều kiện để đảm bảo quyền lợi về nhân thân và tài sản đối với con, tòa án sẽ ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ với con; Thay đổi người nuôi con
Trang 2625
Chẳng hạn khi cha, mẹ bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Phá tán tài sản của con; Có lối sống đồi trụy; Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc trường hợp cha, mẹ trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Thứ sáu: Nghĩa vụ của con trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng cho cha,
mẹ
Một trong những điểm mới của Luật HNGĐ năm 2014 so với Luật HNGĐ năm
2000 là điều chỉnh mối quan hệ giữa bố, mẹ chồng và con dâu; bố, mẹ vợ và con rễ Theo
đó, trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên
có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật HNGĐ năm 2014
Con đã thành niên, có đầy đủ khả năng lao động, trong quan hệ với cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành
vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ; Khi không sống chung với cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha, mẹ trong trường hợp cha, mẹ không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình
Bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong quan hệ vợ chồng
Về nguyên tắc, khi xác lập quan hệ vợ chồng, trong quan hệ với nhau, vợ chồng đều bình đẳng về mọi phương diện Tuy nhiên trong thực tế, một số trường hợp chồng/vợ lại rơi vào tình trạng khó khăn, yếu thế hơn so với vợ/chồng của họ Để bảo vệ cho vợ/chồng ở vào tình trạng này, tại các điều 51, điều 59 Luật HNGĐ năm 2014 qui định:
- Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi Qui định này xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà
mẹ và trẻ em, tránh những ảnh hưởng xấu đến người mẹ, thai nhi, đứa trẻ
- Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập Trong
Trang 27quan hệ vợ chồng, nhiều trường hợp một bên vợ/chồng chỉ làm các công việc trong gia đình, như nội trợ, chăm sóc con cái, họ không trực tiếp tham gia lao động ngoài xã hội, do vậy không trực tiếp tạo ra thu nhập cho gia đình, tuy nhiên đây là những công việc có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, đảm bảo để bên chồng/vợ còn lại yên tâm tham gia các công việc ngoài xã hội, trực tiếp tạo ra thu nhập cho gia đình, vì vậy, lao động trong gia đình của chồng/vợ được đánh giá ngang với lao động của vợ/chồng họ trong việc tạo ra thu nhập, tạo dựng khối tài sản chung của vợ chồng
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người vợ trong trường hợp phân chia tài sản chung của vợ chồng
Khi ly hôn nếu vợ/chồng khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì chồng/vợ của họ có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình
Bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong quan hệ anh chị em
Điều 105, điều 112 Luật HNGĐ năm 2014 qui định:
Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
Trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên không sống chung với
em có nghĩa vụ cấp dưỡng cho em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc
em đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Em đã thành niên không sống chung với anh, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh, chị không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
Bảo vệ người yếu thế trong quan hệ ông bà nội, ông bà ngoại và cháu
Quan hệ về trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu được ghi nhận tại điều 104, điều 113 Luật HNGĐ năm 2014, theo đó:
- Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên,
Trang 2827
cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều
1057 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu
- Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng
- Ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người cấp dưỡng theo quy định tại Điều 112 của Luật này
- Cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho ông bà nội, ông bà ngoại trong trường hợp ông bà không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này
Bảo vệ người yếu thế trong quan hệ cô, dì, chú, bác, cậu và cháu
Luật HNGĐ năm 2000 không qui định nghĩa vụ của cô, dì, chú, bác, cậu với cháu,
do đó trong quan hệ giữa những người này với cháu của họ chỉ mang yếu tố tình cảm, đạo đức, phong tục tập quán, không có tính pháp lý Với qui định tại các điều 106, điều 114 Luật HNGĐ năm 2014, sẽ tạo cơ sở pháp lý để đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho các chủ thể này:
- Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật này hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng
- Cô, dì, chú, cậu, bác ruột không sống chung với cháu ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả
7 Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
Trang 29năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này
- Cháu đã thành niên không sống chung với cô, dì, chú, cậu, bác ruột có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cô, dì, chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người khác cấp dưỡng theo quy định của Luật này
3 Kết luận
Người yếu thế là những người thường gặp thiệt thòi so với các chủ thể khác trong đời sống xã hội và gia đình Trong phạm vi gia đình, họ thường là nạn nhân của bạo lực gia đình, vì vậy để bảo vệ quyền lợi cho người yếu thế, ngoài hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh về vấn đề này, cần phải có cơ chế để đảm bảo những qui định đó được thực thi tốt trong thực tế cuộc sống, đồng thời kịp thời phát hiện, xử lý những hành vi xâm phạm quyền lợi của những người yếu thế, có như vậy mới ngăn ngừa, hạn chế tình trạng bạo lực trong gia đình, đảm bảo thực chất là gia đình: No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững
Bảo vệ quyền lợi người yếu thế trong gia đình là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi thành viên trong gia đình, đây cũng là nghĩa vụ của mỗi quốc gia đối với công dân của nước mình Sự phát triển, thịnh vượng của mỗi quốc gia không thể tách rời việc đảm bảo quyền lợi cho người yếu thế về phương diện luật pháp và thực tế cuộc sống
Trang 3029
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGUYÊN TẮC BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ
TRẺ EM TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
Nguyễn Thị Hoài Trâm
Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam điều chỉnh các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình nhằm mục đích xây dựng, củng cố và bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình mới phù hợp với yêu cầu cách mạng Để thể hiện quan điểm pháp luật của Đảng và Nhà nước ta đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ nghĩa, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đưa ra những nguyên tắc cơ bản của Luật được quy định tại Điều 2 Kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm
2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
tại Khoản 4 Điều 2 như sau: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình” Như vậy khác với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014 đã gộp chung các đối tượng cần bảo vệ vào một khoản, tuy nhiên nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em vẫn cần xác định là một nguyên tắc độc lập
I Những vấn đề chung về nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
1 Về nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em
Nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quán triệt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp Luật HN&GĐ Những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014
Có thể khái quát lại những nguyên tắc được ghi nhận trong Luật HN&GĐ Việt Nam là:
- Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 31- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ
- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình
- Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình
Như vậy có thể thấy, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ
Luật HN&GĐ năm 2014 đã xác định nguyên tắc này là một nguyên tắc cơ bản xuyên suốt trong các chương, các điều khoản của Luật HN&GĐ Đặc biệt được nhấn mạnh tại khoản 4 Điều 2 với nội dung khái quát là Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo
vệ, hỗ trợ trẻ em thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ
Có thể hiểu một cách khái quát rằng bảo vệ bà mẹ là bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ như quyền sinh con; quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con cái; bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp về nhân thân cũng như tài sản của người phụ nữ…
Trẻ em theo quy định của Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 là tất cả công dân dưới 16 tuổi Theo đó, bảo vệ trẻ em là bảo vệ quyền của trẻ em trong các vấn
đề như xác định quan hệ giữa cha mẹ và con cái; bảo vệ quyền được sống trong gia đình của trẻ em; bảo vệ quyền được giám hộ của trẻ em… Mục đích của việc bảo vệ là để chăm sóc, nuôi dưỡng đặc biệt là những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em
2 Khái quát nội dung nguyên tắc trong chế định ly hôn
Trong chế định ly hôn, nguyên tắc bảo vệ bà mẹ trẻ em đã được thể hiện rõ nét thông qua những quy định cụ thể Xuất phát từ nguyên tắc này, để bảo vệ quyền lợi chính đáng
Trang 3231
của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai và thai nhi, tại khoản 3 Điều 51 Luật
HN&GĐ 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Cũng theo quy định này
thì trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng với người chồng mà không áp dụng đối với người vợ Bên cạnh đó, nhằm bảo vệ sự phát triển toàn diện của trẻ em, pháp Luật HN&GĐ cũng quy định tại các Điều 81, 82, 83 như sau:
Điều 81 Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
1 Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không
có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan
2 Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con
3 Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha
mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con
Điều 82 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
1 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi
2 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
3 Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
mà không ai được cản trở
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó
Điều 83 Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
Trang 331 Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình
2 Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con
Những quy định này luôn quan tâm bảo vệ đến quyền và lợi ích của người vợ và các con chưa thành niên trong các vấn đề như: vấn đề cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi
ly hôn hay vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp ly hôn v.v…
Tóm lại, các điều khoản trong chế định ly hôn đã thể hiện sâu sắc tính nhân văn và tiến bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp luật về hôn nhân gia đình nói riêng Quyền lợi của bà mẹ và trẻ em - những người yếu đuối hơn - được pháp luật tôn trọng, đề cao và bảo vệ chặt chẽ
3 Tính cần thiết tất yếu của việc ghi nhận nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em trong luật hôn nhân gia đình
Lịch sử đã chứng minh rằng, phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay đã có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu được trong gia đình cũng như xã hội Người phụ nữ là người chăm sóc, giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình, sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình… Trẻ em là tương lai của đất nước Bảo vệ trẻ em là bảo vệ quyền con người, là trách nhiệm của gia đình và toàn xã hội Việc đầu tư cho công tác bảo vệ trẻ em là đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước Do vậy, trẻ em phải được quan tâm, chăm sóc, bảo vệ cả về thể chất, trí tuệ và đạo đức để nối tiếp sự nghiệp cha ông
Qua đó, ta thấy phụ nữ và trẻ em có vai trò to lớn trong cuộc sống gia đình và xã hội Nhưng những tàn dư của chế độ phong kiến, sự ảnh hưởng trực tiếp của tư tưởng Nho giáo mà hiện nay quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em chưa thật sự được quan tâm và bảo vệ Vì vậy, một đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia trong đó có Việt Nam là
phải bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em Như một nhà lí luận đã từng nói: “Việc ghi nhận nguyên tắc sẽ là cơ sở vững chắc cho việc xóa bỏ tận gốc rễ những tàn dư còn lại của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến đồng thời chống lại ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân và gia đình tư sản để củng cố chế độ hôn nhân và gia đình xã hội chủ
Trang 34là vấn đề có tính nguyên tắc mang tính toàn cầu Nguyên tắc này được thế giới công nhận
và bảo vệ, thể hiện trong Công ước quốc tế về trẻ em, Công ước Cedaw về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và được nội luật hóa trong nhiều đạo luật quan trọng của Việt Nam như: Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em… Vì vậy việc ghi nhận nguyên tắc này thông qua một loạt các quy định liên quan đến quyền bình đẳng vợ chồng, các quan hệ về nhân thân và tài sản, quyền bình đẳng giữa các con trong gia đình, quyền thừa kế của con đã thành thai, việc hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng trong trường hợp vợ đang có thai, quy định về trách nhiệm của vợ chồng trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn, việc giao con dưới 3 tuổi cho người mẹ trực tiếp nuôi giữ khi vợ chồng ly hôn, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên trong việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong Luật HN&GĐ là vô cùng cần thiết và phù hợp… Chính vì lẽ đó, việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em được ghi nhận thành một nguyên tắc trong Luật HN&GĐ Việt Nam là điều tất yếu
II Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em thể hiện qua chế định ly hôn trong các văn bản pháp luật từ sau Cách mạng tháng Tám đến năm 2014
Chế độ hôn nhân ở nước ta thời phong kiến rất hạn chế quyền lợi của người phụ nữ Chẳng hạn như cho phép đàn ông lấy nhiều vợ và thiếp trong khi phụ nữ chỉ được lấy một chồng,… kể từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945, sau khi được xác lập là một nước dân chủ cộng hòa, chế độ hôn nhân của nước ta mở rộng hơn về vấn đề đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ trong hôn nhân đặc biệt là khi ly hôn Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 của chủ tịch nước ấn định các điều khoản về ly hôn Trong đó nhà nước đã ghi nhận một nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, phụ nữ có thai và thai nhi thông qua chế định ly hôn
như sau: “Nếu người vợ có thai thì người vợ có thể xin tòa án hoãn đến kỳ sinh nở mới xử
lý ly hôn” (Điều 5) Tuy nhiên, về mặt pháp lý quyết định này chưa thực sự chặt chẽ để
bảo vệ bà mẹ và thai nhi vì ở đây mới chỉ nói có thể xin hoãn chứ không phải hoãn, do
Trang 35vậy vợ hay chồng vẫn có thể kiện ly hôn Mặt khác, quy định hạn chế đến kỳ sinh nở là không phù hợp vì lúc này người vợ chưa thực sự phục hồi sức khỏe sau kỳ sinh đẻ Luật HN&GĐ năm 1959 – đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình được Quốc Hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Khóa thứ I, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 29/12/1959 đã ghi nhận
một nguyên tắc chung “Nhà nước đảm bảo thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi cú phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ hòa thuận trong đó mọi người đoàn kết, yêu thương nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ” Và để đảm bảo nguyên tắc này trong chế
định ly hôn, trên cơ sở Điều 5 của Sắc lệnh 159/SL Luật HN&GĐ 1959 cũng đã đề ra
điều kiện hạn chế ly hôn của người chồng tại Điều 27 như sau: “Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm Điều kiện hạn chế này không áp dụng việc xin ly hôn của người vợ”
Ở đây, nhà làm luật đã gắn trách nhiệm của người chồng đối với người vợ đang mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ Đây cũng là cơ sở để giúp các bà mẹ thực hiện tốt chức năng tái suất - sinh con của mình, giúp họ thực hiện thiên chức của một người mẹ và đảm bảo cho sự ra đời của đứa trẻ Về điều kiện hạn chế ly hôn này thì Luật HN&GĐ 1986 cũng
đã khẳng định lại một lần nữa tại Điều 41 như sau: “Trong trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm Điều hạn chế ly hôn này không
áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ” Như vậy, ở đây Nhà nước không chỉ đảm
bảo quyền lợi của bà mẹ và trẻ em về điều kiện hạn chế ly hôn của người chồng mà thông qua chế độ phân chia tài sản trong ly hôn, quyền lợi của người phụ nữ cũng được bảo
đảm Về vấn đề này, ngay từ khi ra đời, Luật HN&GĐ năm 1959 đã quy định: “Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất
Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản
xuất.” (Điều 29)
Như vậy, về nguyên tắc phân chia tài sản để đảm bảo về kinh tế cho người phụ nữ mới sinh nhà nước ta luôn đặt trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ khi ly hôn Đây là quyền lợi và người phụ nữ có quyền được hưởng và hơn hết điều đó đảm bảo
Trang 36và các con thường là những người gặp khó khăn hơn về kinh tế cũng như về mặt tình cảm
Vì vậy vấn đề bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của người phụ nữ và các con được quan tâm và đặt lên hàng đầu
Bởi vậy, trên cơ sở kế thừa và phát huy Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm
1986 đã quy định tại điểm d – Điều 43 như sau: “Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và các con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và
nghề nghiệp” Hơn nữa theo Nghị quyết số 01/NQ – HĐTP ngày 20/1/1988 hướng dẫn áp
dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 cũng có quy định: “Khi chia tài sản phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và co cái chưa thành niên đồng thời phải bảo vệ lợi
ích của sản xuất và lợi ích về nghề nghiệp của mỗi bên” Quy định này nhằm đảm bảo
cho cuộc sống của người vợ và con nhỏ được đầy đủ vầ vật chất cũng như tạo điều kiện
về kinh tế để bà mẹ nuôi con một cách tốt nhất và cũng nhằm giúp đứa trẻ được sống đầy
đủ và phát triển toàn diện về thể chất
Như vậy, ngay từ khi Sắc lệnh 159/SL ra đời sau đó là Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986, việc đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ và trẻ em đã được pháp luật chú trọng Và hơn hết, pháp luật luôn tạo điều kiện tốt nhất cho người phụ nữ sau khi ly hôn để họ thực hiện thiên chức của người mẹ đối với đứa trẻ một cách tốt nhất Nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em còn được kế thừa và phát triển ở chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 và luật HN&GĐ năm 2014
Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại khoản 4 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2014: “Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ”
Luật HN&GĐ năm 2014 vừa có sự kế thừa vừa có sự phát triển các quy định của pháp luật trước đó về bảo vệ quyền của bà mẹ và trẻ em
Trang 37Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” (Khoản 3
Điều 51) Bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, nhà làm luật chỉ hạn chế quyền xin ly hôn của người chồng mà không áp dụng điều kiện hạn chế đối với người vợ Do vậy, người vợ trong quá trình mang thai và nuôi con hoặc đang nuôi con nhỏ dưới mười hai tháng tuổi,
dù người vợ có thai với ai hoặc đứa con sinh ra là con của người nào thì người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn Trong mọi khoảng thời gian, dù người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình đến mức sâu sắc, mục đích hôn nhân không đặt được; nếu duy trì sẽ bất lợi cho quyền lợi của người vợ, ảnh hưởng tới sức khỏe của người vợ hoặc thai nhi hay trẻ sơ sinh mà người vợ có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết vụ việc Đây là một trong những quy định thể hiện sâu sắc tính nhân bản và tiến
bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung của pháp luật nước ta nói chung và pháp luật hôn nhân gia đình nói riêng Quyền lợi của bà mẹ và trẻ em được pháp luật tôn trọng,
Để bảo vệ quyền lợi của bà mẹ, nhìn chung Luật HN&GĐ tại các thời điểm còn
quy định quyền “ưu tiên đối với việc nuôi con cho phía người mẹ” trong trường hợp ly hôn: “Về nguyên tắc, con dưới ba tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, nếu các bên không có thỏa thuận khác” Như vậy, pháp luật đã mặc nhiên thừa nhận người mẹ là
người có thể trực tiếp chăm, sóc, nuôi dưỡng con trong giai đoạn con dưới ba tuổi Độ tuổi của người con để người mẹ nhận nuôi con đã được quy định cao hơn so với trước
đây: “Về nguyên tắc, con còn bú được giao cho người mẹ nuôi dưỡng” (Điều 45 Luật
HN&GĐ năm 1986) Quy định này đã góp phần mở rộng quyền của người mẹ nhằm bảo
vệ tốt hơn quyền lợi của người con Qua tìm hiểu ta thấy, pháp luật hôn nhân gia đình trước năm 1945 và pháp luật của chính quyền miền Nam đều không quy định vấn đề này
Trang 3837
Việc ưu tiên người mẹ nuôi con khi ly hôn chỉ được quy định trong Luật HN&GĐ năm 1959: người mẹ sẽ nuôi con nếu con còn bú Kế thừa Luật HN&GĐ năm 1959, Luật HN&GĐ năm 1986, 2000 cũng có quy định tương tự Tuy nhiên, ta thấy quy định của
Luật HN&GĐ năm 2014 qui định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” Bởi vì
thiên chức làm mẹ gắn liền với quyền được nuôi con Hơn nữa, người phụ nữ với thiên chức làm mẹ của mình sẽ mang đến cho đứa trẻ sự chăm sóc tốt nhất Ttuy nhiên luật còn qui định trường hợp ngoại lệ, là khi mẹ không có đủ điều kiện chăm sóc giáo dục thì cần phải xem xét đến trường hợp có lợi nhất cho con Đây là một điểm hết sức tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014
Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014, để bảo vệ quyền lợi của trẻ em, pháp
luật quy định trong trường hợp cha mẹ ly hôn: “nếu con đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” để xem xét giao con cho ai nuôi Với quy định này Luật hôn nhân
gia đình đã trao cho con quyền tự chủ, quyền được bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình Các văn bản luật trước đây cũng quy định về vấn đề hỏi ý kiến của người con khi cha mẹ
ly hôn như: “Khi nào đứa con ấy đã tới 15 tuổi, nếu không có cớ gì ngăn trở tùy ý chúng
nó muốn ở với người cha hay ở với người mẹ sẽ giao cho người ấy trông coi.” (Bộ dân
luật Trung Kỳ) Tuy nhiên, độ tuổi hỏi ý kiến trẻ theo quy định của Luật HN&GĐ năm
2000 phù hợp hơn Bởi vì, trẻ từ đủ 9 tuổi trở lên đã có năng lực hành vi dân sự một phần,
có thể tự quyết định những vấn đề liên quan đến nhu cầu của bản thân Tuy nhiên, Luật hôn nhân gia đình năm 2014 hạ độ tuổi ấy còn 7 tuổi, đây là một qui định phù hợp với thực tế hiện nay khi ma điều kiện phát triển của trẻ em được nâng lên một bước, và trẻ 7 tuổi đã có nhận thức tốt để bày tỏ nguyện vọng các nhân một cách rõ ràng Thực tiễn cho thấy, khi cha mẹ ly hôn, con cái mất đi một điểm tựa quan trọng nhất là mái ấm gia đình Việc hỏi ý kiến để các con nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình là hoàn toàn chính đáng
Ý kiến của con tuy không có ý nghĩa quyết định cuối cùng nhưng cũng là một trong những cơ sở cần thiết để Tòa án xem xét lựa chọn người nuôi con, bảo đảm cho trẻ sự
phát triển tốt nhất Khoản 2 Điều 81 qui định rõ: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa
Trang 39thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” Việc hỏi ý kiến của con giúp con nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình cũng như
thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với ý kiến của trẻ em Quy định nà y rất phù hợp
với pháp luật quốc gia và Điều 12 Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “1 Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do bày tỏ những quan điểm đó về tất cả mọi vấn đề có tác động đến trẻ em, những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng phù hợp với
độ tuổi và độ trưởng thành của trẻ em
2 Vì mục đích đó, trẻ em phải được đặc biệt tạo cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có tác động đến trẻ em, hoặc trực tiếp hoặc thông qua một người đại diện hoặc một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy tắc tố tụng của pháp luật quốc gia.”
Như vậy, qua việc đi tìm hiểu các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi của bà
mẹ và trẻ em trong chế định ly hôn qua các thời kỳ, đặc biệt là trong Luật HN&GĐ năm
2014 ta thấy các quy định về bảo vệ bà mẹ và trẻ em ngày càng được hoàn thiện Thực tiễn áp dụng các quy định về chế định ly hôn thể hiện nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em Trong quá trình đưa nguyên tắc này vào cuộc sống có những thuận lợi nhất định thể hiện trong nhiều mặt khác nhau Hôn nhân là cơ sở hình thành nên tế bào của gia đình và
xã hội, Luật HN&GĐ Việt nam điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình nhằm mục đích xây dựng và củng cố bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình mới phù hợp với yêu cầu của xã hội, yêu cầu của cách mạng Việc thực hiện các nguyên tắc, đặc biệt là nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em đặc biệt được quan tâm, được quy định tại khoản 4 Điều 2, không chỉ trong khi hôn nhân đang tồn tại mà nguyên tắc này còn được thể hiện khi hôn nhân không tồn tại, thể hiện ở các chế định ly hôn Việc thực hiện nguyên tắc này trong chế định ly hôn được thực hiện tốt nhờ có những điều kiện nhất định:
Trong xã hội ngày càng phát triển, nhận thức của mỗi công dân về pháp luật cũng như những vấn đề xã hội ngày càng cao Đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, người chồng trong gia đình hiện đại đã nhận thức đúng đắn và coi trọng hơn vai trò của người phụ nữ, người vợ, cũng như tôn trọng quyền và lợi ích của con cái họ Việc phổ biến
Trang 4039
tuyên truyền pháp luật cùng với những thay đổi trong cách nhìn nhận về vai trò và quyền lợi của phụ nữ và trẻ em đã xóa bỏ những định kiến vốn là yếu tố cản trở việc đảm bảo nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong quá trình áp dụng pháp luật nói chung và chế định ly hôn nói riêng Việc hoàn thiện và nâng cao nhận thức của người dân đặc biệt là ở người chồng, người cha trong gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng chế định ly hôn vào cuộc sống
Đánh giá của xã hội về vai trò của người phụ nữ và trẻ em đã có sự thay đổi lớn so với thời kỳ trước Yếu tố này thúc đẩy sự quan tâm, giúp đỡ, tài trợ của những tổ chức, đoàn thể, hiệp hội trong việc đảm bảo quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em Hội liên hiệp phụ nữ và các cơ quan đoàn thể từ trung ương địa phương đang thể hiện vai trò ngày càng quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi cho phụ nữ- phái yếu trong gia đình Bên cạnh
đó, sự xuất hiện và tham gia của những tổ chức nhân đạo, tổ chức phi chính phủ về vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em đang tạo động lực lớn cho việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc trong thực tiễn
Sự hoàn thiện của pháp luật cũng là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi để nguyên tắc này được thực hiện Những quy định về lĩnh vực này trong Luật hiến pháp, Luật dân sự, Luật HN&GĐ, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật bình đẳng giới… cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành đang ngày càng được hoàn thiện để đảm bảo thống nhất nguyên tắc bảo vệ phụ nữ và trẻ em trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Điều này giúp cho hoạt động tư pháp hiệu quả hơn Việc quán triệt nguyên tắc này đã và đang có những hiệu quả tích cực, cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc quan tâm quan tâm chăm sóc bảo vệ bà mẹ bà mẹ và trẻ em ở Việt
Nam được Đảng và Nhà nước ta chú ý từ rất sớm Đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng đề cập tới vấn đề này, trong đó đều thống nhất khẳng định đây là trách nhiệm to lớn của Đảng, toàn dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của xã hội ta Trên thực tế, từ khi đổi mới tới nay, công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em trẻ em đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, các tổ chức đoàn thể như hội Liên hiệp phụ nữ việt nam, trung tâm bảo vệ bà mẹ trẻ
em và kế hoạch hóa gia đình đã hoạt động có hiệu quả, giúp cho công tác giải quyết li hôn
để đảm bảo được nguyên tắc trên được thực hiện tốt Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành đưa ra những quy định cụ thể, rõ ràng về mặt pháp lí đề cao quyền bình đẳng