1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với Luật Hợp tác xã năm 2003 (tối thiểu là năm điểm mới

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 48,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hợp tác xã Hợp tác xã là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp lu

Trang 1

Mục Lục

Mục Lục 0

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ 1

1 Khái niệm hợp tác xã 1

2 Đặc điểm của hợp tác xã 2

3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã 3

II MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 SO VỚI LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003 4

1 Về bản chất tổ chức của hợp tác xã 5

2.Tên gọi, điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã 6

3 Về điều lệ của hợp tác xã 7

4 Chấm dứt tư cách thành viên 8

5 Hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã, thành viên hợp tác xã 9

6 Về tổ chức quản lý hợp tác xã 10

7 Quy định lại mức góp vốn tối đa của thành viên khi tham gia hợp tác xã 14

KẾT LUẬN 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Hiện nay, để thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, việc phát triển kinh tế tập thể nói chung và kinh

tế hợp tác xã đã trở thành đòi hỏi bức xúc và là quá trình phát triển tất yếu khách quan Trong những năm qua, trước sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của công cuộc đổi mới đến nền kinh tế hợp tác và phong trào hợp tác hóa, một mặt cho thấy tuyệt đại đa số các hợp tác xã kiểu cũ đã bộc lộ tính không phù phù với yêu cầu mới Xuất phát từ yêu cầu đó, trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Hợp tác xã năm

2003, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý về hợp tác

xã, phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là hệ thốngpháp luật kinh tế, cũng như phù hợp với pháp luật về hợp tác xã

Để hiểu rõ hơn về vấn đề trên em xin chọn đề tài “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Hợp tác xã 2012 so với Luật Hợp tác xã năm 2003 (tối thiểu là năm điểm mới)” làm bài tập lớn học kỳ cho mình.

Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ

1 Khái niệm hợp tác xã

Hợp tác xã là loại hình kinh tế tập thể, do những người lao động và các tổ chức có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp đỡ nhau thực hiện hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội

Theo Điều 1 Luật Hợp tác xã 2003: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do

các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật

Trang 3

chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Hợp tác xã hoạt

động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy của các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật

Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Luật Hợp tác xã năm 2012 thì: “Hợp tác

xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên

cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.

2 Đặc điểm của hợp tác xã

Thứ nhất, về góc độ kinh tế, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế cơ bản và quan

trọng nhất của thành phần kinh tế tập thể, dựa trên sở hữu của các xã viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực

và địa bàn từ đó mới phát sinh các quan hệ tổ chức quản lí và quan hệ phân phối tương ứng Trong hợp tác xã có sự phối hợp, hỗ trọ giúp đỡ lẫn nhau để kêt hợp sức mạnh của tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề sản xuất kinh doanh cũng như đời sống kinh tế và mục tiêu xa hơn nữa là nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi xã viên

Thứ hai, về góc độ xã hội, hợp tác xã mang tính xã hội sâu sắc Tính xã hội

của hợp tác xã thể hiệ ở việc hợp tác xã không chỉ quan tâm đến mục tiêu kinh tế

mà còn chú trọng đến lợi ích, điều kiện sống của các thành viên Điều đó thể hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mình Với việc tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ không những có thể trụ vững trong thị tường cạnh tranh mà còn đẩy mạnh sự phát triển, xóa bớt một số gánh nặng về thất nghiệp, chất lượng cuộc sống, cho xã hội Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, do những người lao động thành lập ra để cùng nhau thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Trong hợp tác xã, những người lao động cùng nhau thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng người, làm cho hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn

Trang 4

Thứ ba, về góc độ pháp lí, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp

nhân Về tổ chức, hợp tác xã bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người nhiều vốn và người ít vốn (thực hiện nguyên tắc đối nhân), cùng góp vốn và góp sức trên

cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lí dân chủ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế được thành lập theo thủ tục pháp lí nhất định, có đăng

kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản tách biệt so với tài sản của các xã viên, có thẩm quyền nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật

Thứ tư, về tổ chức quản lí, hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự

chịu trách nhiệm Hợp tác xã hoạt động lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích của các thành viên hợp tác xã và lợi ích của tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên Hợp tác xã luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ kinh tế của thành viên hợp tác xã Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã không phá vỡ tính độc lập, tự chủ về kinh tế của các thành viên hợp tác xã Khi thành viên hợp tác xã

là một hộ gia đình hay thậm chí là một tổ chức, pháp nhân thì khi trở thành thành viên của hợp tác xã sẽ phải thực hiện những quy định trong điều lệ hợp tác xã và hợp tác xã không có bất kì sự can thiệp nào ngoài những quy định trong điều lệ của mình

Thứ năm, về phân phối, kinh tế hợp tác xã thực hiện phân phối theo lao động,

theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ Hợp tác xã được coi là tổ chức kinh tế hoạt động như doanh nghiệp Hợp tác xã được quyết định không phải bởi số vốn góp mà là yếu tố thành viên của hợp tác xã Việc phân phối trong hợp tác xã không chỉ dựa theo nguyên tắc vốn góp mà còn theo lao động và tùy thuộc mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã

3 Nguyên tắc tổ chức hoạt động của hợp tác xã

Theo Luật Hợp tác xã 2003 thì nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã là:

Tự nguyện: Mọi cá nhân, gia đình, pháp nhân có đủ điều kiện theo quy định của

Luật hợp tác xã, tán thành Điều lệ hợp tác xã đều có quyền gia nhập hợp tác xã và cũng theo đó cá nhân hộ xã viên có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định của Điều

lệ hợp tác xã

Trang 5

Dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên có quyền tham gia quản lý, kiểm tra

giám sát hợp tác xã và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công khai phương hướng sản xuất kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy định trong Điều lệ hợp tác xã

Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết về phân phối thu nhập Mục đích thành lập hớp tác xã nông nghiệp chủ yếu là phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân Vì vậy, sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của hợp tác xã, lãi được trích một phần vào các quỹ của hợp tác xã, một phần chia theo vốn góp và công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho

xã viên theo mức sử dụng dịch vụ của hợp tác xã

Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây

dựng tập thể và hợp tác với nhau trong hợp tác xã, trong cộng đồng xã hội; hợp tác giữa các hợp tác xã trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật

Có tư cách pháp nhân, và bình đẳng trước pháp luật: Đây là một trong những

nguyên tắc nhằm đẳm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình, có tư cách pháp nhân đó

là điều kiện cần để tiến tới việc thành lập và đảm bảo quyề lợi của hợp tác xã như một doanh nghiệp, bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh

II MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 SO VỚI LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003

Luật Hợp tác xã năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004) cùng với các văn bản hướng dẫn (Nghị định 177/2004/NĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 2004, Nghị định 77/2005/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2005, Nghị định 87/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005, Nghị định 88/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 và các văn bản khác có liên quan) đã thể chế hóa một bước quan điểm mới của Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (Khóa IX) về tiếp tục đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể

Trang 6

Sau 9 năm thực hiện, nhìn chung Luật hợp tác xã 2003 đã giúp đạt được một

số kết quả, tạo thuận lợi hơn cho các tổ chức kinh tế tập thể phát triển so với khung pháp luật thời kỳ trước đây, có đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, góp phần vào việc hoàn thiện quan hệ sản xuất,

và vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tuy nhiên, Luật Hợp tác

xã 2003 còn có một số bất cập cần phải sửa đổi, bổ sung nhằm thúc đẩy phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã một cách vững chắc hơn

Xuất phát từ mục tiêu khắc phục một số bất cập từ Luật Hợp tác xã 2003, nhằm khuyến khích và phát triển mạnh mẽ mô hình hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kiểu mới, đồng thời định hướng phát triển các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hiện

có hoạt động theo đúng bản chất hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đưa khu vực hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nói riêng và thành phần kinh tế tập thể nói chung trở thành lực lượng to lớn, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta; bảo đảm quyền và lợi ích của hàng chục triệu hộ nông dân, hàng chục triệu người tiêu dùng, hộ kinh doanh cá thể, ngày 20 tháng 11 năm 2012 tại kỳ họp thứ 4 Khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Luật Hợp tác xã năm 2012 (số 23/2012/QH13) Luật Hợp tác xã năm 2012 được xây dựng trên cơ sở tiếp tục thể chế hóa sâu sắc chủ trương của Đảng, tham khảo kinh nghiệm quốc tế về phát triển hợp tác xã nhằm phục vụ nhu cầu, nguyện vọng của thành viên Bên cạnh kế thừa những quy định cũ, Luật Hợp tác xã năm 2012 đã bổ sung nhiều điểm mới so với Luật Hợp tác

xã 2003 ở một số phương diện như sau:

1 Về bản chất tổ chức của hợp tác xã

Luật Hợp tác xã 2003 ngay phần mở đầu đã quy định, “hợp tác xã là doanh

nghiệp…” Đây là một hạn chế cơ bản dẫn đến các cấp, các ngành, lãnh đạo các địa

phương và đặc biệt là người dân chưa có nhận thức đầy đủ về bản chất và tính ưu việt của tổ chức hợp tác xã kiểu mới Sau gần 10 năm thực hiện, mô hình hợp tác xã kiểu mới ở nhiều nơi đã bị biến tướng hoặc bị lợi dụng để trục lợi từ chính sách Phần lớn hợp tác xã mua bán đổi mục tiêu hoạt động, quan tâm kinh doanh để tạo lợi nhuận trả lương cho cán bộ nhân viên là xã viên, ít chú tâm phục vụ người tiêu dùng

là xã viên cũ Vì vậy các xã viên là các hộ dân trước đây không muốn tham gia hợp tác xã, xã viên tự nguyện góp vốn chủ yếu là những cán bộ nhân viên làm việc tại

Trang 7

hợp tác xã Do đó, trong Luật hợp tác xã năm 2012 đã xác định rõ bản chất của hợp tác xã đó là hợp tác xã không phải là Doanh nghiệp, điểm khác nhau cơ bản nhất của hợp tác xã với Doanh nghiệp đó là hợp tác xã là một tổ chức được ít nhất là 07 người thành lập ra phục vụ cho chính mình là đặc điểm lơn nhất của hợp tác xã, Doanh nghiệp được thành lập ra phục vụ cho cộng đồng, cho người khác, mục tiêu hợp tác

xã đó là “ hợp tác xã nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự

chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”; “phân phối của hợp tác xã chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên; theo công sức lao động, phần còn lại chia theo vốn góp” Khẳng định này nhằm

mục đích xóa bỏ tình trạng doanh nghiệp "đột lốt" hợp tác xã Trên thực tiễn, hợp tác

xã và các loại hình doanh nghiệp đều là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân Hai loại hình tổ chức này có đặc điểm giống nhau như được thành lập hợp pháp, có điều lệ, có cơ cấu tổ chức, có tài sản và tự chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản Theo đó, hợp tác xã cũng phải được quản trị như doanh nghiệp nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh của mình có hiệu quả Tuy nhiên, hợp tác xã có những đặc điểm riêng khác với Doanh nghiệp về bản chất Mục đích hoạt động của hợp tác xã là tối

đa hóa lợi ích cho thành viên thông qua việc đáp ứng nhu cầu chung của thành viên

về sản phẩm, dịch vụ hoặc tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho thành viên một cách hiệu quả hơn so với việc để từng thành viên đơn lẻ thực hiện

Hoạt động của hợp tác xã có thể đem lại lợi nhuận cho các thành viên nhưng lợi nhuận chỉ là phương tiện để hợp tác xã thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho thành viên và thông qua lợi ích đó để tối đa hóa lợi nhuận cho từng thành viên Trong khi đó, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp và cổ đông doanh nghiệp là lợi nhuận Hoạt động của Doang nghiệp thông thường không tác động đến hoạt động kinh tế của các cổ đông mà chỉ tác động tới vốn góp nhằm mục tiêu lợi nhuận cho

mỗi cổ đông Vì vậy, Luật Hợp tác xã 2012 bỏ quy định “hợp tác xã hoạt động như

một loại hình doanh nghiệp”

2.Tên gọi, điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã

Theo Luật hợp tác xã năm 2003 thành viên hợp tác xã được gọi là “xã

viên”còn theo Luật hợp tác xã năm 2012 thành viên hợp tác xã được gọi là “thành

Trang 8

viên”, việc thay đổi tên gọi như vậy là phù hợp với mô hình quản lý trong điều kiện

mới

Về điều kiện trở thành thành viên hợp tác xã thì theo Luật hợp tác xã năm

2003 cá nhân Việt Nam từ 18 tuổi thì có thể trở thành thành viên hợp tác xã, còn theo Luật hợp tác xã năm 2012 thì cá nhân Việt Nam phải đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên hợp tác xã Việc quy định cá nhân đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên hợp tác xã là hoàn toàn hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật vì theo quy định của pháp luật Dân sự thì cá nhân từ đủ 18 tuổi mới có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ vì khi đó về mặt pháp lý cá nhân đó mới khả năng nhận thức đầy

đủ về hành vi của mình cho nên có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật

và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình (mặc dù Nghị định số 177/2004/NĐ-CP hướng dẫn Luật hợp tác xã năm 2003 cũng hướng dẫn cá nhân đủ 18 tuổi mới có thể trở thành thành viên của hợp tác xã nhưng đây lại là văn bản dưới luật và so sánh hai văn bản Luật hợp tác xã năm 2003 và 2012 thì đã có quy định khác nhau) Luật hợp tác xã năm 2012 còn cho phép cá nhân là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam và đáp ứng các điều kiện chung thì cũng có thể trở thành thành viên hợp tác xã Quy định này tạo điều kiện cho cá nhân nước ngoài cư trú ở Việt Nam nếu có nhu cầu góp vốn, góp sức có thể tham gia vào hợp tác xã, đồng thời cũng tạo thêm khả năng phát triển của hợp tác xã khi có điều kiện mở rộng giao lưu với người nước ngoài Mặt khác, đối với hợp tác xã tạo việc làm thành viên chỉ có

thể là cá nhân

3 Về điều lệ của hợp tác xã

Luật hợp tác xã năm 2012 có quy định thêm ba nội dung trong điều lệ của hợp tác xã đó là:

Thứ nhất, điều lệ của hợp tác xã phải quy định về “mức độ thường xuyên sử

dụng sản phẩm, dịch vụ; giá trị tối thiểu của sản phẩm, dịch vụ mà thành viên, hợp tác xã thành viên phải sử dụng; thời gian liên tục không sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không quá 03 năm; thời gian liên tục không làm việc cho hợp tác xã đối với hợp tác xã tạo việc làm nhưng không quá 02 năm” (khoản 5 Điều 21) Việc quy định như vậy sẽ nâng cao trách nhiệm của các

Trang 9

thành viên trong việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ đồng thời cũng là căn cứ để chấm dứt tư cách thành viên theo quy định tại Điều 16

Thứ hai, điều lệ của hợp tác xã phải quy định về “nội dung hợp đồng dịch vụ

giữa hợp tác xã với thành viên, giữa liên hiệp hợp tác xã với hợp tác xã thành viên bao gồm nghĩa vụ cung ứng và sử dụng sản phẩm, dịch vụ; giá và phương thức thanh toán sản phẩm, dịch vụ Đối với hợp tác xã tạo việc làm, nội dung hợp đồng dịch vụ giữa hợp tác xã và thành viên là nội dung hợp đồng lao động giữa hợp tác

xã và thành viên” (khoản 12 Điều 21) Việc quy định về nội dung hợp đồng dịch vụ

cũng sẽ nâng cao ý thức của các thành viên trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình

và có căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh

Thứ ba, điều lệ của hợp tác xã phải quy định về “việc cung ứng, tiêu thụ sản

phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra thị trường Tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra thị trường cho từng lĩnh vực, loại hình theo quy định của Chính phủ” (khoản 13 Điều 21) Theo đó Chính phủ sẽ quy định

cụ thể tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, việc làm nhằm tránh tình trạng cung ứng không đủ hoặc thừa không phù hợp với thực tiễn

4 Chấm dứt tư cách thành viên

So với Luật hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 có thêm hai

trường hợp chấm dứt tư cách thành viên, đó là trong trường hợp: “thành viên, hợp

tác xã thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 03 năm Đối với hợp tác xã tạo việc làm, thành viên không làm việc trong thời gian liên tục theo quy định của điều lệ nhưng không quá 02 năm; tại thời điểm cam kết góp đủ vốn, thành viên, hợp tác xã thành viên không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ” (Điều 16 Luật hợp tác xã năm 2012) Hợp tác xã được thành lập dựa trên việc

góp vốn, góp sức của các thành viên vì vậy khi tham gia vào hợp tác xã các thành viên phải sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã để tăng thêm thu nhập cho hợp tác xã và đây cũng chính là mục tiêu của hợp tác xã, đồng thời việc phân phối

Trang 10

thu nhập cũng chủ yếu dựa vào mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viên

đó Cho nên nếu một thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thì gian dài thì không làm cho hợp tác xã phát triển và cũng không được chia lợi nhuận và cũng không làm đúng nghĩa vụ của mình cho nên sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên Hoặc trong trường hợp đến thời hạn cam kết góp đủ vốn mà thành viên không góp vốn hoặc góp vốn thấp hơn vốn góp tối thiểu quy định trong điều lệ sẽ bị chấm dứt

tư cách thành viên bởi vì thành viên đó không góp hoặc góp không đủ có thể sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã, đồng thời hợp tác xã cũng được thành lập trên việc góp vốn của các thành viên mà lại không góp thì sẽ bị chấm dứt tư cách thành viên (trừ trường hợp không góp vốn nhưng không cam kết góp mà có thể góp sức thì vẫn là thành viên hợp tác xã), hơn nữa đây cũng là hành

vi vi phạm nghĩa vụ của thành viên Như vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 đã bổ sung thêm các hai trường hợp chấm dứt tư cách thành viên trong trường hợp thành viên không góp hoặc không góp đủ vốn hoặc không sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, việc quy định như vậy sẽ giúp cho hợp tác xã có thêm căn cứ pháp lí để có thể chấm dứt tư cách thành viên đối với các thành viên vi phạm Tuy nhiên, Luật hợp tác xã năm 2012 không đề cập đến việc chấm dứt tư cách thành viên trong

trường hợp “xã viên đã chuyển hết vốn góp và các quyền lợi, nghĩa vụ của mình

cho người khác theo quy định của Điều lệ hợp tác xã” (điểm c khoản 1 Điều 20

Luật hợp tác xã năm 2003), trong trường hợp này thì thành viên sẽ đương nhiên chấm dứt tư cách thành viên, tuy nhiên cần quy định trong luật để có căn cứ pháp lí khi giải quyết vụ việc cụ thể

5 Hoàn thiện về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã, thành viên hợp tác xã

Luật hợp tác xã năm 2012 đã quy định rõ và đầy đủ hơn quyền của thành viên HTX với tư cách là người chủ của hợp tác xã Cụ thể tại Điều 14 Luật hợp tác xã năm 2012 đã bổ sung nhiều quyền lợi của thành viên hợp tác xã so với các quy định trong Luật hợp tác xã năm 2003 Theo đó, thành viên hợp tác xã có quyền yêu cầu hợp tác xã cung ứng dịch vụ, sản phẩm theo nhu cầu của mình Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi hợp tác xã được hình thành xuất phát từ nhu cầu đáp ứng các lợi ích của các thành viên, từ nguyên tắc của hợp tác xã là hoạt động để đáp ứng nhu cầu của thành viên, nhiệm vụ của hợp tác xã là phải chăm lo, quan tâm đến thực

Ngày đăng: 07/09/2022, 10:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w