Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam MỤC LỤC 3A Cơ sở khoa học 3I Cơ sở lý luận 31 Chủ nghĩa Mác Lê nin 42 Tư tưởng Hồ Chí Minh 7II Cơ sở thực tiễn 71 Thời kỳ trước đổi mới ( 1945 1985) 72 T[.]
Trang 1MỤC LỤC
A Cơ sở khoa học 3
I Cơ sở lý luận 3
1.Chủ nghĩa Mác- Lê nin3
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh 4
II Cơ sở thực tiễn 7
1 Thời kỳ trước đổi mới ( 1945-1985) 7
2 Thời kỳ đổi mới (1986 đến nay) 7
Trang 2Từ trong trường kỳ lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước,nhất là khi cách mạng vượt qua những khúc quanh co, thăng trầm và tiếp tụcphát triển vững vàng đã làm bật lên và sáng ngời chân lý giản dị: "Đoàn kết,đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công" Đó làmột nét son chủ đạo trong hệ thống giá trị phát triển của dân tộc được kháiquát trong câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh tại Đại hội hợp nhất Việt Minh-Liên Việt năm 1951 Theo Người, vì lẽ giản dị là: "Đoàn kết làm ra sứcmạnh" "Đoàn kết là lực lượng mạnh nhất của chúng ta" Đó là bài học lịch sử
vô giá, đối với cách mạng nước ta
Dưới ánh sáng tư tưởng vĩ đại ấy của Người, từ kinh nghiệm hoạt động
và lãnh đạo cách mạng hơn 73 năm, đặc biệt trước yêu cầu phát triển của đấtnước và xu thế thời đại hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh: "Động lực chủ yếu đểphát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa côngnhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo "
Nền tảng của tư tưởng chiến lược đó là sự kết tinh, hun đúc từ bài họcsinh tồn của dân tộc trải mấy nghìn năm được phát triển trên một tầm caomới, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
A Cơ sở khoa học
I Cơ sở lý luận
1.Chủ nghĩa Mác- Lê nin
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,nhân dân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò làlãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở đểxây dựng lực lượng to lớn của cách mạng Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra chocác dân tộc bị áp bức con đường tự giải phóng Lê-nin cho rằng, sự liên kếtgiai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nhân với nông dân là hết sức cầnthiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng vô sản Rằng nếu không có sựđồng tình và ửng hộ của đa số nhân dân lao động với đội ngũ tiên phong của
nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sởkhoa học trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chếtrong các di sản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà
Trang 3yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đóhình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh là một hệ thống nhữngluận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tập hợp và tổ chức cách mạng
và tiến bộ, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sức mạnhthời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xãhội Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố, mở rộng lực lượngcách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóngcon người
a) Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của cách mạng
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu củanhân dân ta Người cho rằng: Muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhândân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng cách mạng vô sản
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phảiđiều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp vớinhững đối tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người coi là vấn đề sống còn của cách mạng
- Đoàn kết không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời mà là tư tưởng cơbản, nhất quán, xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam
- Đoàn kết quyết định thành công cách mạng Vì đoàn kết tạo nên sứcmạnh, là then chốt của thành công Muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải
có lực lượng đủ mạnh, muốn có lực lượng phải quy tụ cả dân tộc thành mộtkhối thống nhất Giữa đoàn kết và thắng lợi có mối quan hệ chặt chẽ, qui môcủa đoàn kết quyết định quy mô,mức độ của thành công
- Đoàn kết phải luôn được nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng
Tại sao Đế quốc Pháp có ưu thế về vật chất, về phương tiện chiến tranhhiện đại lại phải thua một Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu trong cuộc chiến xâmlược? Đó là vì đồng bào Việt Nam đã đoàn kết như Chủ tịch Hồ Chí Minhkhẳng định:
Trang 4“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ Chỉ cómột chí: Quyết không chịu mất nước Chỉ có một mục đích: Quyết khángchiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc Sự đồng tâm của đồngbào ta đúc thành một bức tường đồng vững chắc xung quanh Tổ quốc Dùđịch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm bức tường đó, chúngcũng phải thất bại”.
Chính sức mạnh của lực lượng toàn dân đoàn kết làm nên thắng lợi củaCách Mạng Tháng Tám Như Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích:
“ Vì sao có cuộc thắng lợi đó?
Một phần là vì tình hình quốc tế thuận lợi cho ta Nhất là vì lực lượngcủa toàn dân đoàn kết Tất cả các dân tộc, các giai cấp, các địa phương, cáctôn giáo đều nổi dậy theo là cờ Việt Nam để tranh lại quyền độc lập cho Tổquốc.Lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết Không ai thắng được lựclượng đó”
Từ thực tiễn đó, Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận:
“Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thìnước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nướcngoài xâm lấn”
Và Người khuyên dân ta rằng:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
Đây chính là con đường đưa dân ta tới độc lập, tự do
b) Đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng :
Hồ Chí Minh cho rằng “ Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu,nhiệm vụ hàng đầu của đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cảdân tộc” Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là nhiệm vụ của quần chúng, doquần chúng, vì quần chúng Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kếtquần chúng tạo thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lập chodân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho con người
Trang 5c) Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân :
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “dân” chỉ mọi con dân đất Việt, con rồngcháu tiên, không phân biệt dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người khôngtín ngưỡng, không phân biệt già trẻ , gái, trai, giàu, nghèo Nói dến đại đoànkết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp mọi người dân vào một khối trongcuộc đấu tranh chung Người đã nhiều lần nói rõ: “ ta đoàn kết để đấu tranhcho thống nhất và độc lập tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nướcnhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự tổ quốc và phụng sự nhân dânthì ta đoàn kết với họ”
Muốn thực hiện đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyền thống yêunước- nhân nghĩa- đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độlượng với con người Xác định khối đại đoàn kết là liên minh công nông, tríthức Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân Người chorằng: liên minh công nông- lao động trí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kếttoàn dân, nền tảng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càngđược mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đạiđoàn kết dân tộc
d) Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng :
Mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng theo những nguyên tắcsau:
- Trên nền tảng liên minh công nông (trong xây dựng chế độ xã hội mới
có thêm lao động trí óc) dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy việcthống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và khôngngừng mở rộng
- Đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thực sự, chân thành, thân ái giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ Phương châm đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp khácnhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” – Lấy cái chung, đề cao cáichung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt
Trang 6II Cơ sở thực tiễn
1 Thời kỳ trước đổi mới ( 1945-1985)
- Ngay từ khi mới thành lập (3-2-1930) Đảng ta đã đề ra những chủtrương đoàn kết rộng rãi những lực lượng yêu nước, các giai cấp, tầng lớp,các nhân sĩ yêu nước tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêugiành độc lập dân tộc khỏi ách thực dân, đế quốc Trong Cách mạng ThángTám năm 1945, tuy chỉ có 5.000 đảng viên, nhưng do thực hiện đường lốiđoàn kết rộng rãi nên Đảng ta đã tập hợp được đông đảo các tầng lớp nhândân đứng lên đấu tranh và giành thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủnhân dân
- Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đường lốiđoàn kết của Đảng vẫn tiếp tục được phát huy, đã động viên được sức mạnhcủa toàn dân, kể cả những nhân sĩ, trí thức, tư sản mặc dù chưa hoặc khôngtán thành chủ nghĩa cộng sản, vẫn tích cực tham gia kháng chiến.Nhờ pháthuy được truyền thống đại đoàn kết toàn dân, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dânlàm nên những chiến thắng lịch sử, đánh bại những thế lực thực dân, đế quốchung bạo, có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn hơn ta nhiều lần
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, giangsơn thu về một mối, nước nhà thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xãhội, Đảng ta tiếp tục phát huy truyền thống hòa hợp dân tộc, đối xử nhân đạovới những người lầm đường, lạc lối, đưa họ trở về với cộng đồng dân tộc Đạiđoàn kết toàn dân tộc được củng cố trên cơ sở đồng thuận và thống nhất vềmục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trong sự nghiệp đổi mới, trên cơ sở phát huy truyền thống, tiếp tụcnhất quán đường lối chiến lược đại đoàn kết toàn dân, sức mạnh vĩ đại, độnglực to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân đã được huy động và phát huy cao
độ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)
- Hơn 80 năm qua, kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Đảngluôn luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Đặc biệt, từ Đạihội VI - Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới đến nay, nhận thức của Đảng
về đại đoàn kết toàn dân tộc có những phát triển mới Quán triệt tư tưởng “lấydân làm gốc”, Đại hội VI đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó bài học thứnhất là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng
Trang 7“lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân laođộng”.
- Đại hội VII (1991), lần đầu thuật ngữ “đoàn kết, đoàn kết toàn dântộc” được đưa vào Văn kiện và Cương lĩnh Cương lĩnh còn nhấn mạnh:
“Đoàn kết là truyền thống quý báu và là bài học lớn của cách mạng nước ta”
và đã nâng tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc thành một chính sách
- Sau 10 năm đổi mới, đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được khẳng định
là bài học lớn của cách mạng nước ta và được trình bày thành một phần riêngvới tư cách là một trong 10 phương hướng lớn của sự nghiệp đổi mới ở ViệtNam: Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân
- Đại hội IX của Đảng (2001) - Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, đạiđoàn kết toàn dân tộc đã trở thành chủ đề của Đại hội: “Phát huy sức mạnhtoàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Trong Báo cáo Chính trị, khi giải trình về con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta, Đảng ta một lần nữa khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộcđược xem là động lực chủ yếu để phát triển đất nước Động lực chủ yếu đểphát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa côngnhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cánhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thànhphần kinh tế của xã hội”; “Kế thừa truyền thống quý báu của dân tộc, Đảng taluôn luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc Đó là đường lối chiếnlược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
- Đại hội X (2006), Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minhgiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạocủa Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sứcmạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắnglợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam với phát huy sức mạnh đại đoàn kếttoàn dân tộc (25/4/2011)
Trang 81 Đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân
a) Giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân là lực lượng tập hợp, đoàn kết và lãnh đạo trong xâydựng đất nước, là giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiến bộ, đại diệncho lượng sản xuất xã hội hóa ngày càng cao; lợi ích của nó thống nhất với lợiích cơ bản và lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc Giai cấp này đóngvai trò chính trong sự phát triển đất nước Giai cấp công nhân đã cùng cả dântộc vượt qua bao khó khăn gian khổ trong quá trình đấu tranh giành độc lập,
tự do cho Tổ quốc và đạt được nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp đổimới Họ là nền tảng vững chắc, không phân biệt dân tộc thiểu số với đa số,người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, không phân biệt già, trẻ,gái, trai, không phân biệt giàu, nghèo
Sau gần 30 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, giai cấp côngnhân Việt Nam có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, vớiđội ngũ công nhân chiếm tỷ lệ khoảng 11% dân số và 21% lực lượng lao động
xã hội Phần lớn công nhân, viên chức, lao động say mê nghề nghiệp, chịukhó học hỏi, vươn lên tiếp cận khoa học, công nghệ tiên tiến, đoàn kết vớigiai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và các tầng lớp nhân dân, nêu cao ư chí tự
Trang 9lực, tự cường, lao động sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh
tế-xã hội của đất nước Giai cấp công nhân là cơ sở chính trị-tế-xã hội vững chắccủa Ðảng và Nhà nước, là nền tảng của khối liên minh công nhân-nông dân-trí thức và khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Tuy nhiên, đội ngũ công nhân viên chức lao động nước ta đang thiếu cácchuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phongcông nghiệp và kỷ luật lao động của một bộ phận công nhân viên chức laođộng còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu của sản xuất công nghiệp
b) Giai cấp nông dân:
Giai cấp nông dân là lực lượng sản xuất chính ở nước ta, và cũng là lựclượng đông đảo nhất trong XH, do nước ta là một nước nông nghiệp với nềnvăn minh lúa nước hàng nghìn năm nay Nông dân thường gắn bó cội nguồndân tộc, có ý thức dân tộc sâu sắc, có truyền thống yêu nước và lực lượng biếttiếp thu khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, phát triển kinh tế thời kìmới Tổng kết quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Trải qua các thời kỳ, Đảng ta đã nắm vững và giải quyết đúng đắn vấn đềnông dân, củng cố được liên minh công nông Đảng ta đấu tranh chống những
xu hướng “hữu khuynh” và “tả khuynh” đánh giá thấp vai trò của nông dân làquân chủ lực của cách mạng, là bạn đồng minh chủ yếu và tin cậy nhất củagiai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựngchủ nghĩa xã hội”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định sự nghiệp cách mạng dân tộcrất cần trí thức Người đã tìm thấy mối quan hệ biện chứng và sức mạnh củakhối đại đoàn kết công - nông - trí thức Trong thời kỳ kiến quốc, mối liênminh này chính là sức mạnh nội sinh, là động lực quan trọng để đẩy nhanhtiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là nguồn vốn trí tuệ
Trang 10quý giá của dân tộc, của Đảng và cách mạng; là động lực trong công cuộc xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Cho dù là giai cấp nào đi chăng nữa, giữa công dân, nông dân và đội ngũtrí thức phải có lợi ích cơ bản thống nhất với nhau và thống nhất với lợi íchcủa toàn dân tộc Công cuộc xây dựng đất nước thời kì mới không thể thànhcông nếu ba lực lượng này tách rời nhau, không được tổ chức lại, dưới sự lãnhđạo đúng đắn của giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản Đảng cộngsản có vai trò to lớn, đề ra mục tiêu, phương hướng xây dựng đất nước
2 Đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta chorằng cần phát huy những yếu tố tương đồng, cố gắng tìm ra mẫu số chung củatất cả các giai cấp, tầng lớp; quy tụ sức mạnh của tất cả các bộ phận cấu thànhdân tộc ta:
“Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làmđiểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giaicấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dântộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung…để tậphợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xãhội”(1)
Cơ sở sâu xa của sự tương đồng xuất phát từ lợi ích chung của các giaicấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội, hay cơ sở của sự đoàn kết phải phản ánhđược lợi ích của các tầng lớp nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb CTQG, H.2011, tr.239-240 (cuối trang)
Trước hết chúng ta cần làm rõ lợi ích cá nhân là gì Ai sinh ra cũngmang trong mình nhu cầu về vật chất và tinh thần Đó là những nhu cầu từ hếtsức cơ bản như thở, ăn uống, nhu cầu tình dục, nghỉ ngơi, trú ngụ, bài tiết, đến những nhu cầu cao hơn là cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm,gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo, và phát triển đến cao nhất là nhucầu được sáng tạo, thể hiện khả năng, bản thân mình trước mọi người, đượcmọi người công nhận Những nhu cầu này là hoàn toàn chính đáng và cầnđược tôn trọng cũng như tạo điều kiện để thỏa mãn
Trang 11Tuy nhiên bên cạnh đó cũng cần phân biệt lợi ích cá nhân khác chủnghĩa cá nhân Bác đã từng nói: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cholợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích của tập thể.”, “miễn làmình béo, mặc thiên hạ gầy” Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tính hư nết xấu như:lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô v.v Nó là
kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng Chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất giangiảo, xảo quyệt; nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Mà ai cũng biết rằngxuống dốc thì dễ hơn lên dốc Vì thế mà càng nguy hiểm Như vậy, chúng tacần phải nhận thức đúng đắn, tôn trọng lợi ích cá nhân nhưng phải tiêu diệtchủ nghĩa cá nhân, không cho nó phát triển
Vậy còn lợi ích tập thể và lợi ích xã hội thì sao? Chúng ta đều hiểu ợiích tập thể là lợi ích chung của một nhóm người, còn lợi ích xã hội là lơi íchcủa toàn bộ xã hội Lợi ích xã hội là cái bao trùm lên lợi ích tập thể, và về mộtkhía cạnh nào đó, nó cũng mang dáng dấp của lợi ích tập thể
Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phảidựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xãhội” Sự kết hợp hài hoà các lợi ích là động lực cơ bản, là nhân tố quyết định
sự phát triển xã hội Nhưng sự kết hợp hài hoà các lợi ích không phải là điềuhoà, bình quân lợi ích, mà phải đảm bảo công bằng trong xã hội Do vậy, vềthực chất, khả năng mở rộng và phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàndân tộc tuỳ thuộc một cách quyết định vào việc giải quyết một loạt các mốiquan hệ lợi ích: lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể; lợi ích gia đình và lợi ích xãhội; lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc; lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế Thông qua đường lối, chính sách, Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện sựđiều chỉnh cơ cấu lợi ích trên nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích, trong đólấy lợi ích xã hội, lợi ích tập thể đặt lên trên lợi ích cá nhân, trên cơ sở tôntrọng và đề cao lợi ích cá nhân
3 Đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội
Ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên chủ trương phát triển
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xãhội Đến nay, quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị cũng như tính thời sự của
nó Vậy tại sao phải phát triển kinh tế nhiều thành phần? Xây dựng và pháttriển kinh tế nhiều thành phần nhằm xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp vớitrình độ lực lượng sản xuất thấp kém: đa dạng hình thức sở hữu dẫn đến đa
Trang 12dạng thành phần kinh tế Một lý do nữa là thời gian chuyển đổi, từ kinh tế kếhoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước
ta vấp phải nhiều khó khăn, tốn nhiều thời gian và công sức, cần phải huyđộng mọi thành phần kinh tế để sớm vực dậy nền kinh tế trì trệ bị kìm hãmsuốt bao nhiêu năm Mỗi thành phần kinh tế gắn với 1 giai cấp ảnh hưởng đếnlợi ích của các giai cấp, việc đa dạng hóa các thành phần kinh tế tạo điều kiệncho mọi tầng lớp đều phát triển theo ưu thế sẵn có của mình Ngoài ra, đâycũng là một chính sách của chính phủ :” công tư đều có lợi, chủ thợ đều cólợi, công nông giúp nhau lưu thông trong ngoài”
Các thành phần kinh tế đều có những lợi thế riêng, như khu vực có vốnđầu tư về nước ngoài có lợi thế về vốn và công nghệ, khu vực kinh tế nhànước được ưu đãi về thuế và các chính sách hỗ trợ về sử dụng tài nguyênquốc gia, ngân sách nhà nước, kinh tế tư nhân linh hoạt khai thác tốt cácnguồn lực trong nước, Kết hợp lại thì có thể giải phóng năng lực sản xuất,
hổ trợ thúc đẩy cạnh tranh lẫn nhau Như vậy có thể thấy mỗi thành phần kinh
tế có quan hệ chặt chẽ tới lợi ích của giai cấp, tầng lớp đó nên việc đảm bảohài ḥa lợi ích tạo cơ sở cho việc thống nhất mục tiêu, lợi ích xã hội
a) Kinh tế nhà nước:
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ở "làm đòn bẩy mạnh tăngtrưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mở đường, hướng dẫn, hỗtrợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm lực lượng vật chất đểNhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng chochế độ xã hội mới"( Đại hội VIII của Đảng)
b) Kinh tế hợp tác xã:
Kinh tế hợp tác và hợp tác xã là con đường để giải quyết mâu thuẫn giữasản xuất nhỏ manh mún với sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng yêu cầu của nềnkinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm cả thể nhân vàpháp nhân (người lao động, hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp vừa vànhỏ…), cả người ít vốn và người nhiều vốn không bị giới hạn bởi quy mô,lĩnh vực và địa bàn, hoàn toàn tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và tự chịutrách nhiệm trong cơ chế thị trường
c) Kinh tế tiểu chủ, cá thể:
Quy mô của kinh tế cá thể, tiểu chủ vừa và nhỏ nên dễ tổ chức sản xuất,kinh doanh, ít tốn kém, dễ thích nghi Nó có khả năng huy động mọi nguồn
Trang 13lực phân tán như vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹthuật nên giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng thu nhập,tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;góp phần tích cực xóa đói giảm nghèo, nâng cao mặt bằng kinh tế – xã hội,cải thiện đáng kể bộ phận đông đảo dân cư ở thành thị và nông thôn.
d) Kinh tế tư bản nhà nước:
Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh
tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước trong việc khaithác các nguồn vốn, máy móc, thiết bị, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tổchức sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường v.v , để mang lại lợi ích thiếtthực cho đất nước
e) Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài:
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra một khối lượng đáng kể năng lựcsản xuất, đã tiếp nhận được một số kỹ thuật, công nghệ tiên tiến trong một sốngành kinh tế như thông tin viễn thông, thăm dò dầu khí, sản xuất phụ tùng,lắp ráp xe máy, hóa chất, trồng trọt theo công nghệ tiên tiến, nuôi tôm nước lợtheo công nghệ mới, xây dựng khách sạn cao cấp, sản xuất một số mặt hàngtiêu dùng, thực phẩm có chất lượng cao… Đồng thời khi làm việc với cácdoanh nghiệp, chủ đầu tư nước ngoài, chúng ta đã tiếp thu được một sốphương pháp quản lý tiến bộ, một số kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, kinhdoanh cũng như tác phong làm việc của họ
Trong môi trường đầy biến động ngày nay việc phát huy tối đa nguồn lực
và tiềm năng của xã hội là việc cần thiết nhằm tăng năng suất lao động cũngnhư tạo ra khả năng cạnh tranh Vì thế, kết hợp tối ưu nhân lực, vật lực, côngnghệ của cá nhân và tổ chức trong xã hội là phương hướng tốt để phát triểnkinh tế
Tóm lại, để tăng cường, củng cố và phát huy vai trò của khối đại đoàn kếttoàn dân tộc trong thời kỳ mới, chúng ta cần tập trung vào những vấn đề cơbản sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với việc xây dựng, phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Có thể nói, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước có ý nghĩaquan trọng hàng đầu đối với việc tăng cường, củng cố, phát huy vai trò của