1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích những điểm mới giữa luật bảo vệ môi trường 2020 và luật bảo vệ môi trường 2014

17 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 101,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG KHOA MÔI TRƯỜNG KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KÌ II, NĂM HỌC 2022 2023 Tên chủ đề bài tập lớn Bằng kiến thức đã học, anhchị hãy phân tích các lý do cần thay đổi Luật bảo vệ môi trường đồng thời phân tích những điểm mới giữa Luật bảo vệ môi trường số 722020QH14 và Luật bảo vệ môi trường số 562014QH12 Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2022 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 2 NỘI DUNG 3 1 Các lý do cần thay đổi Luật Bảo vệ môi trường 3 1 1 Thể chế hóa hành lang pháp lý 3 1 2.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KHOA MÔI TRƯỜNG

KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN HỌC KÌ II, NĂM HỌC 2022-2023 Tên chủ đề bài tập lớn: Bằng kiến thức đã học, anh/chị hãy phân tích các lý do

cần thay đổi Luật bảo vệ môi trường đồng thời phân tích những điểm mới giữa Luật bảo vệ môi trường số 72/2020/QH14 và Luật bảo vệ môi trường số

56/2014/QH12.

Hà Nội, ngày 28 tháng 5 năm 2022

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

NỘI DUNG 3

1 Các lý do cần thay đổi Luật Bảo vệ môi trường 3

1.1 Thể chế hóa hành lang pháp lý 3

1.2 Việt Nam bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 5

1.3 Bối cảnh biến động của hợp tác quốc tế, khai thác và sử dụng tài nguyên 6

1.4 Tác động của biến đổi khí hậu 6

1.5 Diễn biến phức tạp của hiện trạng môi trường 7

1.6 Xuất hiện kẽ hở, nội dung bất cập trong Luật bảo vệ môi trường hiện hành 8

2 Phân tích những điểm mới giữa Luật bảo vệ môi trường 2020 và Luật bảo vệ môi trường 2014 10

2.1 Cộng đồng dân cư là một chủ thể 10

2.2 Quản lý theo tiêu chí môi trường 11

2.3 Sức khỏe môi trường, giải pháp bảo vệ thành phần môi trường 11

2.4 Chất thải là tài nguyên 12

2.5 Quản lý tổng hợp, một việc một cơ quan, phân cấp 12

2.6 Kiểm toán môi trường, thị trường cacbon, biến đổi khí hậu 13

2.7 Bảo vệ di sản thiên nhiên 13

2.8 Khai thác bền vững, phát triển vốn tự nhiên 13

KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) số 55/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 23/6/2014 tại kỳ họp thứ 7 Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện, Luật BVMT đã góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác BVMT Nhận thức về trách nhiệm và hành động trong BVMT đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, thu hút được sự quan tâm của toàn xã hội Phương thức quản lý, giải quyết các vấn đề về môi trường đã có sự thay đổi từ bị động ứng phó sang chủ động kiểm soát, phòng ngừa, kiểm soát các dự án có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững Xu hướng suy giảm nhanh chất lượng môi trường và xu thế tăng mạnh về ô nhiễm môi trường trước đây đang được kiềm chế, giảm dần Nền kinh tế có bước phát triển bền vững hơn, thân thiện hơn với môi trường Tuy nhiên, Luật BVMT đang đứng trước yêu cầu cần phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung

Trang 4

NỘI DUNG

1 Các lý do cần thay đổi Luật Bảo vệ môi trường.

1.1 Thể chế hóa hành lang pháp lý.

Từ Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị khóa IX ban hành

về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT… đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng IX, X, XI, XII và đặc biệt là Đại hội XIII đều đã khẳng định, lấy BVMT sống

và sức khỏe của Nhân dân là mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường…

Cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác BVMT, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành các bộ luật, chỉ thị, nghị định, thông tư… nhằm tạo sự thống nhất, xuyên suốt thực hiện hiệu quả công tác BVMT với từng giai đoạn phát triển của đất nước

Các chính sách của Nhà nước về bảo vệ môi trường được quy định và thể hiện rõ trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trong đó:

- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân tham gia thực hiện, kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ môi trường

- Tuyên truyền, giáo dục kết hợp với biện pháp hành chính, kinh tế và biện pháp khác để tăng cường việc tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng văn hóa bảo

vệ môi trường Chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường di sản thiên nhiên; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch

và năng lượng tái tạo; phát triển hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường

- Ưu tiên xử lý ô nhiễm môi trường, phục hồi hệ sinh thái tự nhiên bị suy thoái, chú trọng bảo vệ môi trường khu dân cư;

- Đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi trường; bố trí khoản chi riêng cho bảo vệ môi trường trong ngân sách nhà nước với tỷ lệ tăng dần theo khả năng của

Trang 5

ngân sách nhà nước và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ môi trường; ưu tiên nguồn kinh phí cho các nhiệm vụ trọng điểm về bảo vệ môi trường

- Bảo đảm quyền lợi của tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân đóng góp cho hoạt động bảo vệ môi trường; ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường; thúc đẩy sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường

- Tăng cường nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ xử lý ô nhiễm, tái chế, xử

lý chất thải; ưu tiên chuyển giao và áp dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường, kỹ thuật hiện có tốt nhất; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực

về bảo vệ môi trường

- Tôn vinh, khen thưởng cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật

- Mở rộng, tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế, và thực hiện cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường

- Thực hiện sàng lọc dự án đầu tư theo tiêu chí về môi trường; áp dụng công cụ quản lý môi trường phù hợp theo từng giai đoạn của chiến lược, quy hoạch, chương trình

và dự án đầu tư

- Lồng ghép, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong xây dựng

và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển kinh

tế - xã hội

Đất nước ngày càng phát triển và hội nhập với thế giới ngày một sâu rộng hơn thì chúng ta cũng phải tham gia nhiều các nhóm và ký các cam kết quốc tế Đặc biệt vấn đề môi trường lại là vấn đề nóng được cả thế giới quan tâm

Ngày 8/6/2020, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 102/2020/QH14 phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Nghị quyết số 72/2018/QH14 ngày 12/11/2018 phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến

bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) Trong đó các yêu cầu về BVMT được hai Hiệp định cam kết ở mức cao với các mục tiêu: Thúc đẩy chính sách hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại và môi trường; đẩy mạnh thực thi pháp luật về môi trường và các điều ước

Trang 6

quốc tế đa phương về môi trường; bảo đảm sự tăng trưởng về thương mại và đầu tư không ảnh hưởng đến chi phí BVMT; nâng cao năng lực của các bên trong giải quyết các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại

Tại hai Hiệp định đều dành một chương riêng quy định về BVMT, phát triển bền vững (Chương 20 về Môi trường của CPTPP với 81 khoản; Chương 13 về Thương mại và Phát triển bền vững của EVFTA với 41 khoản) Theo đó, các quy định yêu cầu các bên tham gia có nghĩa vụ thực hiện cam kết về BVMT, đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu, các thiết chế thực thi và giải quyết tranh chấp phát sinh Để thực hiện 2 Hiệp định nêu trên và các Kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ thực hiện hai Hiệp định, ngày 18/8/2020,

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt Quyết định số 1813/QĐ-BTNMT ban hành

Kế hoạch thực hiện CPTPP và EVFTA, trong đó chú trọng triển khai các cam kết mang tính bắt buộc thực hiện

1.2 Việt Nam bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Công tác bảo vệ môi trường trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang đứng trước những cơ hội khi đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường

cơ bản được hoàn thiện; chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế, hướng tới nền kinh tế cacbon thấp, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững trở thành quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập quốc tế

Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra trên thế giới làm cho xu hướng phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra cơ hội trong việc tiếp cận và ứng dụng các khoa học và công nghệ tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và các công nghệ giám sát môi trường hiện đại, tự động, liên tục Phát triển kỹ thuật số trong Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ hỗ trợ công tác quản lý và cập nhật dữ liệu thông tin về môi trường, phát triển, đẩy mạnh các dịch vụ công trực tuyến trong quản lý môi trường

Cơ hội cho công tác bảo vệ môi trường Việt Nam trong thời đại số dựa vào thu thập, xử lý số liệu để viễn cảnh có thể thành hiện thực về những cánh đồng xanh, môi trường không khí trong lành, không rác thải, không bụi, những dòng sông xanh không bị

Trang 7

ô nhiễm… Mặt khác, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt Việt Nam phải đối mặt với những thách thức như nguy cơ tụt hậu về khoa học, công nghệ, có thể bị bỏ lại xa so với các quốc gia phát triển và đứng trước nguy cơ trở thành bãi thải công nghệ và ô nhiễm của thế giới Những áp lực, thách thức đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo

vệ môi trường trong thời gian tới

1.3 Bối cảnh biến động của hợp tác quốc tế, khai thác và sử dụng tài nguyên.

Thiên nhiên nước ta ngoài bị ảnh hưởng tác động của chiến tranh trước đây, hiện nay còn bị phá hoại bởi hoạt động vô ý thức, thái độ tủy tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Theo thống kê trước năm 1945, rừng bao phủ chiếm tỉ lệ 43,8%, hiện nay chỉ còn hơn 28% (tức là dưới mức báo động 30%) Diện tích đất trồng trọt đang bị sói mòn tăng mạnh lên khoảng 13,4 triệu ha Nguyên nhân chính của tình trạng này là do du canh du cư, khai thác gỗ vô tội

vạ, mở mang giao thông , xây dựng thủy điện …chưa theo quy hoạch thống nhất Vấn đề quy hoạch sử dụng đất chưa hợp lý, đang làm lãng phí nguồn tài nguyên quý giá này của đất nước

Tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái gia tăng đang là vấn đề nan giải hiện nay Nhiều nhà máy xả ra chất thải công nghiệp, sinh hoạt, chất độc hại của quá trình sản xuất không được xử lý nghiêm túc mà đưa trực tiếp vào môi trường, gây tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái, gây bệnh tật cho người dân Theo thống kê của Bộ tài nguyên Môi trường, hiện nay cả nước có hơn 5400 làng nghề, riêng Hà Nội có hơn 1350 làng nghề, tuy nhiên 95% hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường, hơn 50% gây ô nhiễm nghiêm trọng Đây là những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, công nghệ nhìn chung lạc hậu, chưa đầu tư thích đáng vào xử lý ô nhiễm môi trường, chất thải

Bên cạnh đó, vấn đề khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng đá quý… chính thức và

tự do cũng đã và đang làm hủy hoại môi trường sinh thái Việc sử dụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang làm phá hoại sự cân bằng về hệ sinh thái môi trường

Trang 8

1.4 Tác động của biến đổi khí hậu.

Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên Nhiệt

độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương

Những thay đổi trong điều kiện khí hậu và lượng khí carbon dioxide tăng nhanh chóng đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái, nguồn cung cấp nước ngọt, không khí, nhiên liệu, năng lượng sạch, thực phẩm và sức khỏe

Dưới tác động của nhiệt độ, không khí và băng tan, số lượng các rạn san hô ngày càng có xu hướng giảm Điều đó cho thấy, cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước đều đang phải hứng chịu những tác động từ lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, cũng như hiện tượng axit hóa đại dương

Biến đổi khí hậu không chỉ làm mùa màng thất bát; công trình, nhà cửa bị đổ sập; cầu cống, đường giao thông bị phá hủy… thiệt hại nhiều tỷ đồng, mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe và uy hiếp trực tiếp đến tính mạng của con người Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất, dân số lại tiếp tục tăng là những yếu tố dẫn đến bất hòa, gây xung đột giữa các nước trong khu vực và trong vùng lãnh thổ

1.5 Diễn biến phức tạp của hiện trạng môi trường.

Ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay tiếp tục diễn biến phức tạp với nhiều 'điểm nóng'

Thực tế nạn chặt phá rừng đã khiến nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, đồng thời xảy ra ở nhiều khu vực Mất rừng được coi là một thảm họa quốc gia

Những năm gần đây, diện tích rừng tự nhiên ở Việt Nam ngày càng suy giảm nhanh, chất lượng rừng suy thoái nặng nề Trong giai đoạn từ năm 2011 đến nay, tổng diện tích rừng bị thiệt hại ước tính hơn 22.800 ha, trong đó, diện tích rừng bị cháy khoảng 13.700 ha, còn lại do bị chặt phá trái phép Bình quân mỗi năm, Việt Nam suy giảm khoảng 2.500 ha rừng

Sa mạc hóa và suy thoái đất là vấn đề có quy mô toàn cầu, có ảnh hưởng lớn và nghiêm trọng đến phát triển bền vững, an toàn sinh thái, an ninh xã hội và an ninh lương

Trang 9

thực… Sa mạc hóa ngày nay lan rộng không chỉ ở vùng khô hạn mà còn lan ra ở vùng mưa và ẩm, do việc sử dụng tài nguyên đất không hợp lý

Đáng lưu ý, hệ sinh thái thảm cỏ biển là một trong những hệ sinh thái biển quan trọng, nhưng hiện nay đang đứng trước nguy cơ bị tổn thương và suy thoái

Tình trạng ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp, với nhiều điểm nóng, chất lượng môi trường nhiều nơi suy giảm mạnh Đáng lo ngại, các sự cố môi trường tiếp tục gia tăng nghiêm trọng, nhiều vụ ảnh hưởng trên phạm vi rộng, diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho công tác quản lý và khắc phục hậu quả Nhiều vấn đề về vệ sinh môi trường phức tạp đã phát sinh ở các khu vực thành thị, nông thôn

Mặt khác, hiện chất lượng không khí ở các đô thị, nhất là các thành phố lớn như

Hà Nội, TP.HCM có xu hướng giảm và ngày càng nghiêm trọng Với sự gia tăng các nguồn ô nhiễm không khí, chất lượng không khí vượt ngưỡng cho phép đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sức khỏe người dân Trong khi đó, chất thải rắn sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn; Tỉ lệ chôn lấp chiếm hơn 70%, chủ yếu là không hợp vệ sinh; vẫn còn gần 36,5% chất thải sinh hoạt khu vực nông thôn chưa được thu gom, xử lý…

1.6 Xuất hiện kẽ hở, nội dung bất cập trong Luật bảo vệ môi trường hiện hành

Tổng kết gần 5 năm triển khai thực hiện Luật Bảo vệ môi trường 2014 cho thấy, bên cạnh kết quả tích cực, Luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế, cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm phù hợp với thực tế, tháo gỡ khó khăn cho bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và các đối tượng liên quan, cụ thể:

– Cơ chế, chính sách BVMT chưa phù hợp và đồng bộ với thể chế kinh tế thị trường Các loại thuế, phí về môi trường theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” để xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi môi trường, “người hưởng lợi từ giá trị môi trường phải trả tiền” chưa phát huy được vai trò là công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội theo hướng tăng trưởng xanh Các quy định của Luật chưa tạo ra hành lang pháp lý và môi trường thuận lợi để khuyến khích sản xuất, tiêu thụ bền vững, phát triển dịch vụ môi trường, sản phẩm, hàng hoá thân thiện với môi trường, khuyến khích xã hội hóa trong một

số hoạt động BVMT

Trang 10

– Các thủ tục hành chính về môi trường còn có sự phân tán, thiếu liên thông, tích hợp dẫn đến việc cùng một dự án, chủ đầu tư phải thực hiện cácthủ tục hành chính mang tính cho phép về môi trường của nhiều bên, nhiều cơ quan nhà nước (Giấy xác nhận hoàn thành công trình BVMT, Giấy phép xả thải vào nguồn nước, công trình thủy lợi,Giấy phép xả khí thải, Giấy chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu, Giấy phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại, đăng ký chủ nguồn thải,…) Do vậy, cần thiết phải có sự đẩy mạnh cải cách hành chính và hợp nhất, liên thông các thủ tục hành chính về môi trường trong Luật BVMT nhằm thực hiện chủ trươngcải cách hành chính của Chính phủ, đặc biệt

là Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ về nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính tại các Bộ, ngành, địa phương

– Một số vấn đề mới phát sinh về BVMT chưa có hành lang pháp lý để điều chỉnh: Thực tế trong thời gian qua cho thấy phát sinh nhiều sự cố ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn, diễn ra trên diện rộng,bùng phát các điểm nóng về môi trường do xả thải Tuy vậy, hiện nay chưa có cơ sở pháp lý về cơ chế, các tiêu chí sàng lọc, phân loại, phân luồng các

dự án đầu tư theo mức độ rủi ro về môi trường; cơ chế kiểm soát đặc thù đối với các đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm, sự cố môi trường Do đó, cần bổ sung các quy định về sàng lọc, phân loại, phân luồng dự án đầu tư, cơ chế đặc thù tăng cường kiểm soát đối với các đối tượng này để giải quyết thực tiễn quản lý môi trường đang đặt ra bức thiết hiện nay

– Nội dung, trách nhiệm, phân công, phân cấp quản lý nhà nước về BVMT chưa hợp lý, vẫn còn thiếu thống nhất, chồng chéo, mâu thuẫn, chưa đi đôi với tăng cường năng lực, phân định rõ trách nhiệm (một việc vẫn giao cho nhiều cơ quan chủ trì)nhất là đối với việc quản lý rác thải đô thị, nông thôn, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố môi trường Các quy định của pháp luật mới chỉ chú trọng trách nhiệm từ phía Nhà nước, thiếu

cơ chế phù hợp để phát huy hiệu quả sự tham gia của toàn xã hội, từng doanh nghiệp và người dân trong công tác BVMT

– Các nội dung BVMT được quy định trong nhiều luật khác nhau (như Luật đầu tư, Luật đầu tư công, Luật xây dựng, Luật tài nguyên nước, Luật khoáng sản, Luật quy hoạch, Luật thủy lợi,…) Tuy nhiên, giữa các luật này nhiều điểm còn có sự giao thoa,

Ngày đăng: 09/07/2022, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w