1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò

149 455 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng đồi gò huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An
Tác giả Lê Vỹ Hoàng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Chính
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Quản lý đất đai
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 28,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

-

LÊ VỸ HOÀNG

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI VÙNG ĐỒI GÒ

HUYỆN NAM ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN CHÍNH

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Tác giả luận văn

LÊ VỸ HOÀNG

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể và cá nhân, đã tạo điều mọi kiện thuận lợi để tôi hoàn thành bản Luận văn này.Tôi xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Văn Chính Giảng viên Khoa Đất và Môi trường- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Đất và Môi trường, Khoa sau Đại học- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện hoàn thành luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê huyện Nam Đàn, đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới người thân trong gia đình bạn

bè và đồng nghiệp đã tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Lê Vỹ Hoàng

Trang 4

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Tổng quan nghiên cứu về vùng đồi gò 3

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và đánh giá đất

trên thế giới 9

2.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá

đất theo FAO 22

2.4 Một số kết quả đánh giá đất và xây dựng bản đồ

đơn vị đất đai ở Việt Nam 26

2.5 Tình hình ứng dụng GIS trong đánh giá đất và cơ

sở ứng dụng cho việc xây dựng bản đồ đơn vị đất

đai 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 41

3.2 Địa điểm nghiên cứu 41

3.3 Nội dung nghiên cứu 41

3.4 Phương pháp nghiên cứu 42

Trang 5

4.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội huyện Nam

Đàn 41

4.2 Phúc tra bản đồ đất vùng đồi gò huyện Nam Đàn

59

4.3.1 Lựa chọn và phân cấp các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

64

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO Food and Agriculture Organisation (Tổ chức nông - lương

thế giới)

LUT Land Use Type (Loại hình sử dụng đất)

LMU Land Mapping Unit (Đơn vị bản đồ đất đai)

GIS Geographic Information System (Hệ thống thông tin địa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

4.1 Hiện trạng sử dụng của huyện Nam Đàn năm 2007 484.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nam Đàn năm

4.6 Cơ cấu diện tích các loại đất vùng đồi gò huyện Nam Đàn 68

4.8 Diện tích và cơ cấu đất theo độ dày tầng đất 704.9 Diện tích và cơ cấu đất theo thànhphần cơ giới 714.10 Diện tích và cơ cấu đất theo phân cấp độ phì 724.11 Diện tích và cơ cấu đất theo phân cấp chế độ tưới 734.12 Đặc tính các đơn vị đất đai vùng đồi gò huyện Nam Đàn 774.11 Các loại hình sử dụng đất vùng đồi gò huyện Nam Đàn 83

Trang 8

2.3 Cấu trúc của phân hạng khả năng thích hợp đất đai 19

4.2 Diễn biến nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm trung bình từ 2003 – 2007 444.3 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Nam Đàn năm 2007 494.4 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Nam Đàn 2007 504.4 Hiện trạng sử dụng đất Nông nghiệp huyện Nam Đàn năm 2007 51

4.6 Diễn biến diện tích các loại cây trồng chính 534.7 Diễn biến năng suất các loại cây trồng chính 544.8 Cơ cấu diện tích các nhóm đất chính vùng đồi gò Nam Đàn 68

4.10 Cơ cấu diện tích đất theo cấp độ dày tầng đất 704.11 Cơ cấu diện tích đất theo thành phần cơ giới 71

4.14 Sơ đồ chồng xếp các bản đồ đơn tính 75

Trang 9

4.20 Cảnh quan LUT Rừng trồng (cây Bạch Đàn ) 86

4.22 Cảnh quan LUT đất trồng cây ăn quả (cây Vải ) 87

Trang 10

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là sản phẩm tự nhiên mà tạo hoá đã ban tặng cho loài người,trải qua hàng triệu năm với những biến động thăng trầm của thiên nhiên, củalịch sử xã hội loài người Đất đai đã trở thành tài nguyên vô cùng quý giá, lànơi tạo ra hầu hết của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống hàng tỷ người trêntrái đất Mặt khác đất đai có những tính chất đặc trưng nên nó được coi là một

tư liệu sản xuất nhưng lại khác với các tư liệu sản xuất khác vì đất đai có hìnhdáng tự nhiên, không thể di dời được hay biến đổi nó theo ý muốn chủ quancủa con người Trong nông nghiệp nó là một tư liệu sản xuất đặc biệt khôngthể thay thế

Xã hội loài người luôn luôn vận động và phát triển Con người ngàycàng khai thác tài nguyên đất đai phục vụ cho các mục đích kinh tế Sức épnặng nề về dân số cùng với việc sử dụng đất đai không hợp lý đã làm cho đấtngày càng giảm đi về chất lượng

Xây dựng và phát triển một nền sinh thái nông lâm nghiệp dựa trên cơ

sở sử dụng đất tổng hợp và bền vững là xu thế của thời đại, đáp ứng chiếnlược toàn cầu cho cuộc sống vững bền và phát triển kinh tế xã hội của đấtnước [9]

Nam Đàn là huyện nằm ở vùng hạ lưu sông Lam Diện tích tự nhiên29.399,38 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 19.971,41ha Nam Đàn làvùng địa linh nhân kiệt, mang nhiều dấu ấn lịch sử đậm nét Nam Đàn còn làcái nôi văn hoá, là vùng đất anh hùng, là nơi sinh ra nhiều nhân tài đất Việt vàđặc biệt là quê hương của danh nhân văn hoá thế giới, nhà cách mạng lỗi lạc

Hồ Chí Minh [35] Nằm cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 20 km về

phía Tây, trên trục đường quốc lộ 46, có sông Lam chảy qua nối liền Nam

Trang 11

Đàn với Bến Thuỷ Với vị trí thuận lợi, Nam Đàn có tiềm năng phát triển mộtnền kinh tế đa dạng: Nông – lâm nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và dulịch Tuy nhiên, Nam Đàn cũng còn có không ít những khó khăn như : Việcđầu tư phát triển các loại cây trồng còn chưa có quy hoạch cụ thể việc bố trícây trồng cũng như đầu tư chăm sóc còn chưa hợp lý và thiếu tính khoa họcnên năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm còn thấp, hiệu quả đầu tưchưa cao Mặt khác, cho đến nay huyện đã có tài liệu về phân loại đất nhưng

đã quá cũ, các tính chất đất đã có những thay đổi nhất định dẫn đến thiếuchính xác trong kết quả đánh giá chất lượng đất, mức độ thích nghi đất đai vàquy hoạch sử dụng đất theo phương pháp của FAO để làm cơ sở cho việchoạch định các chiến lược phát triển kinh tế, nhất là phát triển một nền sảnxuất nông nghiệp hàng hoá, có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái giúpcho việc khai thác tối đa nguồn nội lực về tài nguyên và kêu gọi vốn đầu tưnước ngoài

Xuất phát từ thực tiễn, đề tài: “ Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng đồi

gò huyện Nam Đàn - tỉnh Nghệ An” là mục tiêu để tôi lựa chọn nghiên cứu.

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai làm cơ sở phục vụ quy hoạch sử dụngđất nông nghiệp có hiệu quả vùng đồi gò của huyện Nam Đàn – tỉnh NghệAn

1.2.2 Yêu cầu

- Lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp hợp lý, đầy đủ về số lượng

- Xác định được đặc tính, tính chất và phân bố các đơn vị đất đai trongphạm vi vùng nghiên cứu

Trang 12

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan nghiên cứu về vùng đồi gò

2.1.1 Khái niệm, phạm vi vùng đồi gò.

Vùng đồi gò có nhiều tên gọi khác nhau Có nơi có lúc gọi là vùngtrung du; có nơi có lúc gọi là vùng bán sơn địa Có nước gọi là vùng trước núihoặc vùng đồi (Liên xô cũ), có địa phương gọi là vùng gò (thường gặp ở cáctỉnh phía Nam nước ta) Cây trồng, vật nuôi trên vùng này được gọi tên (danhtừ) kèm theo chữ gò hoặc đồi (tính từ) Ví dụ: bò gò, mì gò …hoặc mía đồi,dâu đồi Mặc dù với nhiều tên gọi khác nhau tuỳ theo mỗi nước, tuỳ theo mỗiđịa phương nhưng cái chung nhất về bản chất của vùng gò đồi là vùng nằmgiữa đồng bằng và miền núi như là bản lề nối liền đồng bằng với miền núi haynói đúng hơn là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi [33]

Trước đây, nói đến vùng đồi gò nhiều người thường chỉ nghĩ đến vùngtrung du Bắc bộ Điều đó có lý do của nó Các nhà địa lý phân chia Bắc bộthành 3 vùng khác nhau: vùng đồng bằng Bắc bộ (thường được gọi là tamgiác châu thổ Bắc bộ); vùng trung du và vùng miền núi (hoặc thượng du).Người ta thường lấy các tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Sơn Tây tiêu biểu chovùng trung du Trên thực tế vùng đồi gò nước ta chạy từ Đông Triều (QuảngNinh) đến Tân Biên (Tây Ninh) kéo dài không liền dải và chia cắt theo cáclưu vực sông

Công trình nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học do Lưu Đức Hồng làm chủnhiệm đã nêu lên những tiêu thức xác định phạm vi vùng gò đồi như sau:

- Vị trí địa lý ở vùng chuyển trống giữa đồng bằng và miền núi

- Ở độ cao 25 – 700m so với mặt nước biển, trong đó trên 80% diệntích lãnh thổ dưới 500m

- Lấy theo ranh giới huyện đối với các huyện có diện tích đất trống đồinúi trọc trên 100ha

Trang 13

- Đối với một số huyện thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên – Huế có ranh giới huyện từ bờ biển đến biên giới Việt Lào có các dạngđịa hình đồng bằng, gò đồi và miền núi, nhưng diện tích gò đồi chiếm tỷ trọnglớn nên vẫn xếp vào phạm vi vùng đồi gò.

Căn cứ vào các tiêu thức trên, vùng đồi gò nước ta có diện tích tự nhiên75.530 km2, bằng 22,8 % diện tích tự nhiên của cả nước Vùng đồi gò củavùng trung du miền núi bắc bộ có diện tích tự nhiên 7074 km2, bằng 6,8%diện tích tự nhiên của toàn vùng Vùng đồi gò ở đồng bằng sông Hồng có diệntích 2950 km2, bằng 23,7% Vùng đồi gò Bắc Trung Bộ có diện tích 18.628

km2, bằng 36,4% Vùng đồi gò Nam Trung Bộ có diện tích 29.481km2, bằng64,2% Vùng đồi gò Đông Nam Bộ có diện tích 17.425 km2, bằng 74,2% diệntích tự nhiên của toàn vùng Ở đây, chúng ta thấy trừ Tây Nguyên và đồngbằng sông Cửu Long ra, 5 vùng sinh thái khác đều có diện tích gò đồi [33]

Bảng 2.1 Phạm vi và quy mô vùng gò đồi

Sốtỉnh

Sốhuyện

Diện tích

tự nhiên(km2)

Dân số(1000người)Vùng gò đồi

11224,61915,89152843,73967,21773,9

75.53022,870746,8295023,71862836,429.45164,217.42574,2

17.41524,72.57222,82.41618,6466552,7404659,1271534

(Nguồn: Kinh tế gò đồi và phát triển sản xuất hàng hoá Nguyễn Trần Trọng, Đồng Xuân

Trang 14

Ninh, Lưu Đức Hồng, Đào Xuân Cần, NXB nông nghiệp – Hà Nội 1994) [33]

Vùng có diện tích đồi gò lớn nhất là Nam Trung Bộ với 29.481 km2 vàvùng có diện tích gò đồi nhỏ nhất là đồng bằng sông Hồng với 2950 km2 Nhưngvùng có diện tích gò đồi chiếm tỷ lệ lớn nhất so với toàn bộ diện tích của vùng làĐông Nam Bộ (74,2%) và nhỏ nhất là vùng trung du miền núi Bắc Bộ (6,8%) Ởnước ta hiện nay có 27 tỉnh có vùng đồi gò Có nhiều huyện hoàn toàn thuộcvùng đồi gò nhưng cũng có nhiều huyện chỉ có một phần đồi gò

2.1.2 Những đặc trưng chủ yếu của vùng đồi gò

Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử kinh tế xã hội vùng đồi gò cónhững sự khác biệt so với vùng đồng bằng và vùng đồi núi Điều đó được thểhiện qua các đặc trưng sau:

Địa hình: Khác với miền núi, vùng đồi gò không có địa hình phức tạp,

hiểm trở chia cắt mạnh bởi các dãy núi liên tiếp với những đèo cao, hố sâu vớinhững đỉnh núi cao chót vót như đỉnh Hoàng Liên Sơn (3260m) ở miền núiphía Bắc hoặc như đỉnh Ngọc Linh (2600m) ở Tây Nguyên Vùng đồi gò cũngkhông có những cánh đồng bằng phẳng bát ngát như đồng bằng sông CửuLong (Nam Bộ) hoặc như đồng bằng sông Hồng (Bắc Bộ) Ngược lại vùng đồi

gò là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi nên có địa hình chủ yếu làđồi bát úp dốc thoải hoặc đồi lượn sóng Xen kẽ giữa các đồi là các thung lũngdọc theo các sông suối tạo thành những cánh đồng nhỏ hẹp từ vài ba đến hàngtrăm ha Nhìn chung như vậy, nhưng trên thực tế do vùng gò đồi nước ta kéodài từ Bắc chí Nam nên địa hình không đồng nhất mà mang tính đa dạng theocác tiểu vùng khác nhau [33]

Khí hậu: Vùng gò đồi chịu sự ảnh hưởng đặc trưng của địa bàn chuyển

tiếp mang sắc thái của khí hậu địa hình Đặc điểm chung của so với đồng bằngtrong vùng là có biên độ nhiệt lớn hơn do sự giảm tốc độ gió và sự phản chiếubức xạ của sườn đồi núi Nhiệt độ về mùa hè thường thường cao hơn 10 và mùa

Trang 15

đông thấp hơn 1 – 20 Lượng mưa giảm sút cùng với sự hạ thấp của độ ẩm tươngđối Gió địa hình mạnh, ít chịu ảnh hưởng của bão Mỗi tiểu vùng gò đồi nằmtrong các miền khí hậu khác nhau vừa mang dấu ấn đặc trưng chung của vùngtrung du, vừa mang đặc trưng chung của mỗi vùng.

Tài nguyên đất: Qúa trình hình thành đất vùng đồi gò cơ bản là quá trình

feralit hoặc feralit phù sa Đặc điểm chung là tầng đất thường có màu trắng xámbao gồm các loại đất đỏ, đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất phù sa ven sông suối Ở độsâu 1 - 2m thường có lớp đá ong kết von, hoặc tầng đất loang lổ đỏ Đất bị rửatrôi mùn và các chất dinh dưỡng nên thường chua (pH dưới 4,7), nghèo đạm, lân

và kali Nhiều nơi đất bị xói mòn trơ sỏi đá không còn khả năng sản xuất Ởnhững nơi còn rừng và vùng đất đỏ, đất xám như ở Đông Nam Bộ tỷ lệ đạm vàmùn cao, chất lượng đất tốt [33]

So với diện tích tự nhiên, đất nông nghiệp vùng đồi gò đã sử dụng chiếm

tỷ trọng 22,8 % Tiểu vùng gò đồi chiếm tỷ trọng cao là Đông Nam Bộ 35%.Tiểu vùng chiếm tỷ trọng thấp là Nam Trung Bộ 12,7%, Bắc Trung Bộ 21,7 %.Cây lâu năm chiếm tỷ trọng thấp so với đất nông nghiệp 21% trong đó tiểu vùngcao nhất là Đông Nam Bộ 35%, tiểu vùng thấp nhất là Nam Trung Bộ 8,9% Cơcấu cây hàng năm chiếm tỷ trọng lớn 74,1%, trong đó tiểu vùng Bắc Trung Bộ79,1% Cơ cấu đất nông nghiệp không phù hợp với hệ sinh thái vùng đồi gò đấtdốc [33]

2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn của vùng đồi, gò.

* Thuận lợi: Vùng đồi gò có nhiều loại địa hình đất khác nhau có thểthích ứng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau Do đó, cho phépchuyển dịch nền nông nghiệp độc canh ưu tiên sản xuất lương thực sang cơcấu nông nghiệp đa canh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở chuyênmôn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp, tập trung hoá sản xuất đểtạo ra vùng cây công nghiệp ngắn ngày, các vùng cây công nghiệp dài ngày,

Trang 16

các vùng cây ăn quả, các vùng chăn nuôi đại gia súc, các vùng trồng rừng.Điều đó cho phép tạo ra một khối lượng nông lâm sản hàng hoá lớn, một thịtrường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông lâm sản và kéo theo sựphát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ khác Trên cơ sở đó, chuyển nềnkinh tế thuần nông sang cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hoá ngành nghề[33].

* Những khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi trên, trong việc khai thácvùng đồi gò còn gặp những khó khăn sau:

- Vùng đòi gò bị khai thác bừa bãi, đất gò đồi bị thoái hoá, khả năngsinh lợi thấp, diện tích đất trống đồi trọc tăng lên, đòi hỏi sự đầu tư cải tạo lớn,lựa chọn phương thức sử dụng phức tạp

- Tổng lượng mưa thấp, 85 % lượng mưa cả năm tập trung vào mùamưa gây nên lũ lụt, xói mòn, thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô Nhiềudiện tích hoa màu đồi không đưa vào sử dụng được Nhiều diện tích đồi câylâu năm bị khô cằn Vì vậy, việc phủ xanh đất trống đồi trọc tạo ra một hệ sinhthái nhiều tầng có ý nghĩa về nhiều mặt đối với môi trường sống

- Thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học – kỹ thuật và quy trình công nghệmới, thiếu kiến thức kinh doanh, thiếu hiểu biết về thông tin thị trường trongđiều kiện nông thôn đang có sự chuyển dịch về cơ cấu và tổ chức sản xuấttheo cơ chế thị trường

- Cơ sở hạ tầng khá hơn miền núi nhưng nghèo nàn thiếu đồng bộ vàyếu kém Giao thông nông thôn còn yếu kém, điện năng mới bắt đầu, thuỷ lợichưa đảm bảo đủ nước tưới Thông tin liên lạc chưa kịp thời, đô thị yếu ớt

- Thảm thực vật và môi trường sinh thái ở vùng gò nói riêng đang thời

kỳ báo động, tỷ lệ che phủ thấp chủ yếu là rừng mới trồng, rừng mới tái sinh

Do đó, việc gìn giữ và điều hoà nguồn nước còn hạn chế, đất đai xói mòn,tầng dày đất canh tác có nguy cơ giảm Việc phục hồi và tái tạo thảm thực vật

Trang 17

để cải tạo môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái là cần thiết.

2.1.4 Tình hình sử dụng đất và những nghiên cứu đánh giá sử dụng

% Trên thế giới vấn đề sử dụng đất đồi núi ngày càng trở nên bức thiết Hội

nghị quốc tế về quản lý đất đồi núi tại Bắc Kinh kêu gọi: “… một tiềm năng

lớn lao đang nằm trong các vùng cao nhiệt đới, các nước phát triển cũng như đang phát triển cần tăng cường đầu tư và nỗ lực tăng sức sản xuất của vùng cao Điều đó sẽ có lợi không chỉ cho nông dân địa phương mà còn cho cả nhân loại nói chung”[31].

Vùng Trung du miền núi của nước ta chiếm hơn 70 % tổng diện tích tựnhiên, chủ yếu sản xuất lâm nghiệp còn sản xuất nông nghiệp chỉ là thứ yếu.Tuy nhiên, trong một số thập kỷ gần đây do sức ép gia tăng dân số nên sảnxuất nông nghiệp đã phát triển khá mạnh ở vùng này với các cây trồng lâunăm, cây công nghiệp hàng năm, trồng cỏ và chăn nuôi

Trong phát triển nông nghiệp trên đất dốc trước hết cần ưu tiên câycông nghiệp dài ngày như chè, cà phê, cao su, hồ tiêu…tuỳ theo điều kiện sảnxuất từng tiểu vùng sinh thái và thị trường tiêu thụ sản phẩm mới có thể pháttriển từng loại cây một cách hiệu quả Những cây công nghiệp ngắn ngày nhưcây họ đậu, mía, cây có sợi…cũng là những cây trồng có ưu thế phát triển ởvùng đất đồi núi Miền đồi núi cũng là nơi có ưu thế phát triển tập đoàn cây

ăn quả tập trung có giá trị kinh tế cao, và chăn nuôi đại gia súc [34]

Theo tổng kết của Trần Đức Viên, Đỗ văn Hoà, Trần Văn Diễn, Trần

Trang 18

Quang Tộ (1998) [34] về mô hình cơ cấu cây trồng thích hợp trên đất dốc vùngcao cho thấy một số mô hình có hiệu quả sau:

- Mô hình canh tác nương rẫy du canh làm chậm quá trình thoái hoá đất

Mô hình này với mục tiêu chính là giải quyết lương thực, thực phẩm tại chỗnhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm cho vùng cao

- Mô hình canh tác cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản có hiệuquả kinh tế cao

- Mô hình canh tác nông lâm kết hợp có tác dụng nâng cao độ che phủ củađất và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất

- Mô hình tổng hợp sử dụng quỹ đất theo quan điểm hệ thống, mục tiêunhằm sử dụng quỹ đất có hiệu quả, kết hợp chăn nuôi, trồng trọt chế biến ở khuvực hạ tầng và điều kiện kinh tế xã hội phát triển

2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu và đánh giá đất trên thế giới

2.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá đất đai

Nhân loại đang sống trên toàn cầu được thiên nhiên ban tặng cho mộttài nguyên vô cùng quý giá, nó quyết định trực tiếp đến sự sống trên trái đất.Tài nguyên đó chính là đất đai Tuy nhiên, con người chỉ biết khai thác, sửdụng và hưởng thụ những lợi ích từ nó mang lại mà ít ai có thể hiểu đượcnhững giá trị của nó để gìn giữ, bảo vệ sử dụng ổn định lâu dài Trong quátrình phát triển sản xuất nông nghiệp, con người đã xây dựng các hệ sinh tháinhân tạo thay thế cho các hệ sinh thái tự nhiên, do đó đã làm giảm dần tính

bền vững của chúng [29] Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có

hiệu quả đã trở thành chiến lược quan trọng có tính toàn cầu

Mặt khác, trong sản xuất nông, lâm nghiệp đất đai là một tư liệu đặcbiệt, là đối tượng lao động độc đáo đồng thời cũng là môi trường sản xuất ralương thực, thực phẩm, là nhân tố quan trọng hợp thành môi trường Đất có vịtrí không thay đổi, chất lượng và hiệu quả của đất phụ thuộc nhiều vào ph-

Trang 19

ương thức sử dụng của con người, nên chiến lược sử dụng đất hợp lý tất yếuphải là một phần hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vữngcủa tất cả các nước trên thế giới cũng như nước ta hiện nay

Kinh tế phát triển, cùng với áp lực của việc sử dụng đất cho các ngànhsản xuất phi nông nghiệp và sự gia tăng dân số đã làm cho diện tích đất nôngnghiệp ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, việc sử dụng hợp lý có hiệu quả và bềnvững là mục tiêu hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp

Đánh giá đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được trongchương trình phát triển một nền nông nghiệp bền vững và có hiệu quả vì đấtđai là tư liệu cơ bản nhất của người nông dân, họ phải tự có những hiểu biếtkhoa học về tiềm năng sản xuất của đất và những hạn chế trong sử dụng đấtcủa mình, đồng thời nắm được những phương thức sử dụng đất thích hợp [29]

2.2.2 Một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới

Đánh giá đất đai được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trở thành mộtkhâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụngđất [23] Tuy nhiên, tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đã đề

ra nội dung và phương pháp đánh giá đất của mình Có nhiều phương phápkhác nhau nhưng nhìn chung có hai khuynh hướng: đánh giá đất theo điều kiện

tự nhiên có xem xét tới những điều kiện kinh tế - xã hội và đánh giá kinh tế đất

có xem xét tới những điều kiện tự nhiên Dù là phương pháp nào thì cũng phải

lấy đất đai làm nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá, phân hạng [16] Có

thể khái quát một số phương pháp đánh giá đất trên thế giới như sau:

2.2.2.1 Phương pháp đánh giá đất đai ở Liên Xô cũ

Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ đầunăm 1950 và sau đó được hoàn thiện vào năm 1986, để tiến hành đánh giá vàthống kê chất lượng tài nguyên đất đai phục vụ cho việc xây dựng chiến lượcquản lý và sử dụng đất trên toàn lãnh thổ Liên Bang Xô Viết Đánh giá đất

Trang 20

chủ yếu dựa trên cơ sở các đặc tính khí hậu, địa hình địa mạo, thổ nhưỡng,

nước ngầm và thực vật (dẫn theo [37]) Ở Liên Xô cũ việc đánh giá đất được

thực hiện theo hai hướng là chung và riêng (theo hiệu suất cây trồng là ngũcốc và cây họ đậu) Đơn vị đánh giá đất là các chủng đất, quy định đánh giáđất cho cây có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ cắt

và đồng cỏ chăn thả Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm

(rúp/ha), mức hoàn vốn và địa tô cấp sai (phần có lãi thuần túy) [29]

Việc đánh giá đất đai theo Liên Xô cũ được thực hiện theo bước chính:

+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tínhchất tự nhiên)

+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợpvới khí hậu, độ ẩm, địa hình )

+ Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại củađất đai)

Tóm lại, Phương pháp đánh giá đất đai này chủ yếu tập trung nghiêncứu cơ bản các yếu tố tự nhiên của đất mà chưa xem xét một cách đầy đủ đếncác mặt kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất Ba mặt, tự nhiên, kinh tế, xãhội luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau không thể tách rời do vậy khôngthể coi trọng mặt này mà xem nhẹ mặt khác Do vậy, phương pháp này khóxác định nhu cầu sử dụng đất của con người và xây dựng kế hoạch sử dụngđất trong tương lai

2.2.2.2 Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh

Ở Anh có hai phương pháp ĐGĐĐ đó là dựa vào sức sản xuất tiềm tàngcủa đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất

- Theo phương pháp ĐGĐĐ đai dựa vào thống kê sức sản xuất tiềmnăng của đất thì việc xác định khả năng cây trồng phụ thuộc vào 3 nhóm yếu

tố chính đó là: Nhóm các yếu tố tự nhiên của đất; nhóm các yếu tố đòi hỏi các

Trang 21

biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục (các công trình tưới, tiêu và rửa mặn );nhóm các yếu tố đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thôngthường hàng năm như cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất đểnâng cao độ phì đất.

Theo phương pháp đánh giá đất dựa vào thống kê sức sản xuất thực tếcủa đất thì việc đánh giá đất đai căn cứ vào năng suất trên đất, lấy năng suấttrung bình nhiều năm ở loại đất tốt nhất hoặc đất trung bình để so sánh vớinăng suất thực tế trên đất cần xác định Tuy nhiên, khi đánh giá đất theophương pháp này còn gặp nhiều khó khăn vì năng suất cây trồng phụ thuộcvào loại cây được chọn, điều kiện đất đai và khả năng đầu tư của người sửdụng (dẫn theo [17])

2.2.2.3 Phương pháp đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ (Mỹ)

Hoa Kỳ đề xuất vào những năm 1961 Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳviệc đánh giá tiềm năng đất đai chủ yếu dựa vào các yếu tố hạn chế, đó lànhững tính chất đất đai gây trở ngại cho việc sử dụng đất Những hạn chế đó

là những hạn chế lâu dài và những hạn chế tạm thời Những hạn chế lâu dài lànhững hạn chế nếu chỉ tác động bằng những cải tạo nhỏ thì không làm chuyểnbiến được như độ dốc, lớp đất mỏng, điều kiện khí hậu khắc nghiệt vv.Những hạn chế tạm thời là những hạn chế có thể cải tạo bằng những biệnpháp chăm sóc, quản lý như hàm lượng dinh dưỡng, điều tiết nước vv Tiềmnăng đất đai được đánh giá trên cơ sở những hạn chế lâu dài rất khó khắcphục của đất, mức độ và biện pháp khắc phục hiệu quả sử dụng của nó

Hiện nay ở Hoa Kỳ 2 phương pháp đánh giá đất ứng dụng rộng rãi đó là:+ Phương pháp tổng hợp: dựa vào năng suất cây trồng trong nhiều nămlàm tiêu chuẩn và phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng (trong đó chọn câylúa Mì là đối tượng chính), từ đó xác định mối tương quan giữa đất đai và câytrồng trên đất để đưa ra các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất cây trồng

Trang 22

+ Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh

tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánhlợi nhuận ở các loại đất khác nhau [24]

Như vậy, việc phân hạng thích hợp đất đai theo phương pháp đánh giá đấtđai của Hoa Kỳ mới chỉ tập trung vào các loại cây trồng chính mà chưa đưa rađược những yêu cầu của các loại hình sử dụng đất cụ thể nào đang được ứngdụng trong sản xuất Tuy nhiên phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tốhạn chế trong quản lý và sử dụng đất có tính đến các vấn đề môi trường, đâycũng chính là điểm mạnh của phương pháp nhằm mục đích duy trì và sử dụngđất bền vững (dẫn theo [17])

2.2.2.4 Phương pháp đánh giá đất đai ở Ấn Độ và vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi

Theo Hội Khoa học đất Việt nam [16] phương pháp đánh giá đất ở Ấn

Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng phương pháptham biến, biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng phương trình toánhọc Kết quả phân hạng được cũng được thể hiện dưới dạng % hoặc cho điểm.Phương trình biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố:

Y = F(A) x F(B) x F(C) x F(X)Trong đó : Y: Biểu thị sức sản xuất của đất

A: Độ dày và đặc tính của tầng đấtB: Thành phần cơ giới lớp đất mặt

C: Độ dốc X: Các yếu tố biến động như tưới, tiêu, độ chua, hàm lượng dinhdưỡng, xói mòn

Ngoài ra, ở nhiều nước Châu Âu phổ biến hai hướng: nghiên cứu các yếu

tố tự nhiên để xác định tiềm năng của đất (phân hạng định tính) và nghiên cứucác yếu tố kinh tế, xã hội nhằm xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân

Trang 23

hạng định lượng) Thông thường là áp dụng phương pháp so sánh tính bằngđiểm hoặc % [29].

* Nhận xét về đánh giá đất đai trên thế gới:

Đánh giá đất đai nhằm đảm bảo tính thích hợp, tính hiệu quả và tính bềnvững cho các loại hình sử dụng đất, là cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất đai hiệu quả bền vững Mỗi phương pháp đánh giá đất trên thế giớiđều có sự khác nhau về phương thức, hệ thống phân vị, điều kiện, mức độ chitiết và quan điểm Song, chúng đều có những quan điểm giống nhau như sau:

- Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đều nhằm mục đíchchung là hướng tới sử dụng và quản lý đất một cách thích hợp, hiệu quả vàbền vững

- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá đất từ khái quát đến chitiết trên quy mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sảnxuất ( Theo Nguyễn Đình Bồng, 1995) [4]

- Mỗi phương pháp đánh giá đất đều có những thích ứng linh hoạt trongviệc xác định các đặc tính và các yếu tố hạn chế có liên quan trong quá trìnhđánh giá đất đai, do đó có thể điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của từngvùng, từng địa phương [14]

- Đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ quỹ đất đai với các mục đích sửdụng khác nhau Các phương pháp đánh giá đều coi đất đai là một vật thể tựnhiên gồm các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu và động thực vật

- Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và xác định cácbiện pháp bảo vệ đất theo phương pháp đánh giá đất của Mỹ là rất có ý nghĩatrong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng đất bền vững

2.2.3 Đánh giá đất theo FAO

Năm 1972, sau 2 năm chuẩn bị của các chuyên gia thuộc FAO và HàLan, Hội thảo quốc tế về đánh giá đất đã được tổ chức tại Wageningen với sự

Trang 24

tham gia của 44 chuyên gia từ 22 nước đã phác thảo đề cương đánh giá đất.Năm 1973 đề cương được công bố Từ ngày 06 đến ngày 08 tháng 01 năm

1975 cuộc hội thảo Rome đã tổng kết kinh nghiệm áp dụng đề cương đánh giá

đất Sau khi bổ sung sửa đổi đề cương được công bố vào năm 1976 (FAO

-Rome 1976)[42] Đề cương đánh giá đất của FAO là phương tiện tốt nhất để

đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và đã được ápdụng thành công ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đangphát triển ở Châu Á, Châu Phi Thực tiễn đã làm phong phú phương phápđánh giá đất được khởi xướng từ đề cương FAO [27]

Tài liệu này đã đưa ra hàng loạt các khái niệm dùng trong đánh giá đấtđai như chất lượng đất đai, đơn vị đất đai và bản đồ đơn vị đất đai, loại hình

sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất (theo Vũ Thị Bình, 1995) [3])

Trong thập kỷ 80, đề cương FAO tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa cùngvới hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản

xuất khác nhau như: đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời (FAO

(1983), Guidelines: Land Evaluation for Rainfed Agriculture, FAO, Rom)

[43], đánh giá đất cho nền nông nghiệp được tưới (Land evaluation irigated

agriculture, 1985)[44], đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive grazing, 1989)[45], đánh giá đất đai cho mục

tiêu phát triển (Land evaluation for development, 1990)[46], đánh giá đất đai

và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (Land

evaluation and farming system analysis for land use planning, 1994)[47]

Đề cương đánh giá đất đai của FAO mang tính khái quát toàn bộ nhữngnguyên tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành quy trình đánh giá đấtđai cùng với những gợi ý và ví dụ minh họa giúp cho các nhà khoa học đất ởcác nước khác nhau tham khảo Tùy theo điều kiện sinh thái đất đai và sảnxuất của từng nước để vận dụng những tài liệu của FAO cho phù hợp và cókết quả tại nước mình (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)[29]

Trang 25

* Một số khái niệm trong đánh giá đất của FAO

- Đất đai (Land): Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và

có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên – kinh tế – xã hội như : thổnhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật, vàhoạt động sản xuất của con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai

- Đánh giá đất đai ( LE- Land Evaluation): Đánh giá đất là quá trình sosánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất khoanh đất cần đánh giávới những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có (FAO

1976 )[42]

- Loại hình sử dụng đất (LUT - Land Use Type): là bức tranh mô tảthực trạng sử dụng đất của mỗi vùng, khu vực đánh giá đất với những thuộctính của các loại hình sử dụng đất và các yêu cầu sử dụng đất của chúng

- Kiểu sử dụng đất: là bức tranh mô tả chi tiết các loại hình sử dụng đấtkhi đánh giá đất cấp huyện, xã, nông trại, nông hộ

- Hệ thống sử dụng đất (LUS - Land Use System): là sự kết hợp giữađơn vị đất đai và các loại hình sử dụng đất (hiện tại hoặc tương lai), mỗi hệthống dụng đất có một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất Hợpphần đất đai là của LUS là các đặc tính của LMU, hợp phần sử dụng đất củaLUS là sự mô tả LUT bởi các thuộc tính [29]

* Mục đích, yêu cầu và nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất theo FAO.

- Mục đích của đánh giá đất theo FAO là nhằm tăng cường nhận thứchiểu biết phương pháp đánh giá đất trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đấttrên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới và giữgìn nguồn tài nguyên đất không bị thoái hoá, sử dụng đất được lâu bền

- Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO là gắn liền đánh giá đất vàquy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình qui hoạch sửdụng đất Nghĩa là, phải thu thập được những thông tin phù hợp về tự nhiên,kinh tế, xã hội trong khu vực nghiên cứu, phải đánh giá được sự thích hợp của

Trang 26

vùng đất với các mục tiêu sử dụng khác nhau theo mục đích và nhu cầu của con

người, xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy

hoạch

- Nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất :

+ Mức độ thích hợp của đất được đánh giá, phân hạng cho các loại sử

dụng đất cụ thể

+ Việc đánh giá đất yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và

mức đầu tư cần thiết trên các loại đất khác nhau

+ Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp

+ Việc đánh giá phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của

vùng

+ Khả năng thích nghi đưa vào sử dụng phải dựa trên cơ sở bền vững

+ Đánh giá đất có liên quan tới so sánh với nhiều loại sử dụng đất

* Quy trình đánh giá đất của FAO.

Theo tài liệu “Đánh giá đất vì sự nghiệp phát triển” [40] FAO đã đề ra

các bước đánh giá đất như sau:

sử

dụng

đất

Xác định các đơn

vị đất đai

Đánh giá khả năng thích hợp

Xác định hiện trạng KT-XH MT

Xác định LUT thích hợp nhất

Quy hoạch

sử dụng đất

Áp dụng của việc đánh giá đất

Trang 27

(Nguồn : Đánh giá đất đai vì sư nghiệp phát triển – Viện quy hoạch và thiết

kế nông nghiệp 01/1993)

Theo quy trình đánh giá đất FAO gồm có 9 bước, song từ bước 1 đếnbước 6 là các bước thực hiện công tác đánh giá đất, bước 7 là bước chuyểntiếp giữa đánh giá đất và qui hoạch sử dụng đất

* Các phương pháp đánh giá đất theo FAO

Trong đánh giá đất của FAO có hai phương pháp, phương pháp haibước và phương pháp song song

- Phương pháp hai bước: Gồm có đánh giá đất tự nhiên (bước thứ nhất)tiếp theo là kinh tế - xã hội (bước thứ hai) Phương pháp tiến triển theo cáchoạt động tuần tự, rõ ràng vì vậy có thể linh động thời gian cho các hoạt động

và huy động cán bộ tham gia

- Phương pháp song song: Các bước đánh giá đất tự nhiên đồng thờivới phân tích kinh tế - xã hội Ưu điểm của phương pháp này là nhóm cán bộ

đa ngành cùng làm việc gồm cả các nhà khoa học tự nhiên và kinh tế - xã hội.Phương pháp này thường được đề nghị để đánh giá đất chi tiết và bán chi tiết

Hình 2.2 Các phương pháp hai bước và song song trong tiến trình

đánh giá đất - FAO 1976

(Nguồn : Nguyễn Khang - Đào châu Thu, 1998) [29].

THAM KHẢO BAN ĐẦU Phương pháp

hai bước

Phương pháp song song

bán định lượng

Phân tích kinh tế - xã

hội

Phân hạng thích nghi đất theo định tính

Phân hạng thích nghi đất theo định lượng và định tính

Phân tích kinh tế - xã hội

Bước thứ

nhất

Bước thứ

hai

Trang 28

Trong thực tế, sự khác nhau giữa hai phương pháp không thật rõ nét.Với phương pháp hai bước, thuộc tính quan trọng là kinh tế - xã hội, cần suốtcho cả bước thứ nhất khi lựa chọn các loại hình sử dụng đất trong quá trìnhđánh giá đất [29] Nội dung cơ bản của phương pháp hai bước và phươngpháp song song được thể hiện qua hình 2.2.

Các công đoạn của quá trình đánh giá đất phải được nghiên cứu kỹ vàcần thiết phải trở đi trở lại nhiều lần tiến trình trong sơ đồ cho tới khi nào cácnhà quy hoạch thỏa mãn rằng tất cả các loại hình sử dụng đất được lựa chọn

đã được xem xét đánh giá [3].

* Đánh giá khả năng thích hợp đất đai

Theo FAO, khả năng thích hợp đất đai là sự phù hợp của một đơn vịđất đai đối với một loại hình sử dụng đất (LUT) được xác định Đất đai có thểđược xem xét ở điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai sau khi cải tạo [19].Theo hướng dẫn của FAO, phân hạng thích hợp đất đai được chia thành 4cấp: loại, hạng, hạng phụ và đơn vị Cấu trúc phân loại thích hợp đất đai theoFAO được thể hiện theo hình 2.3

Hạng (Categories)

Bộ Hạng Hạng phụ Đơn vị (Order) (Class) (Subclass) (Unit)

Trang 29

- Loại, bộ (order): Cấp này chỉ ra khả năng thích hợp đối với loại hình sử

dụng đất được nghiên cứu Gồm có 2 loại: S - thích hợp và N - không thích hợp

+ Loại thích hợp “S” nghĩa là LUT sẽ có năng suất cao khi có đầu tư,không chịu ảnh hưởng của các rủi ro hoặc gây thiệt hại đến tài nguyên đất

+ Loại không thích hợp “N” nghĩa là đất có các yếu tố hạn chế khắcnghiệt mà ở loại “S” không có, rất khó hoặc không thể khắc phục được đốivới các LUT

- Hạng (class): Cấp này chỉ ra mức độ thích hợp trong một loại Cấp

này được chia thành:

S1, S2, S3: Các hạng thích hợp đất đai

N1, N2: Các hạng không thích hợp

+ S1 - Hạng rất thích hợp: Đặc tính đất đai không thể hiện những hạnchế hoặc có hạn chế nhưng không đáng kể hoặc chỉ có những hạn chế nhỏkhông làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng Loại đất này dễ chonăng suất và hiệu quả cao

+ S2 - Hạng thích hợp trung bình: Đặc tính đất có những yếu tố hạn chế ởmức độ trung bình, có thể khắc phục được bằng các biện pháp khoa học kỹ thuậthoặc tăng mức đầu tư cho LUT Loại đất này vẫn cho năng suất và hiệu quả caosong mức độ đầu tư sẽ lớn hơn và nếu cải tạo tốt có thể nâng lên hạng S1

+ S3 - Hạng thích hợp kém: Đây là loại đất có nhiều yếu tố hạn chếhoặc một yếu tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục và sẽ làm giảm sảnlượng, lợi nhuận và tăng mức chi phí khi sử dụng Tuy nhiên chưa đến mứcphải loại bỏ LUT đó song muốn có hiệu quả cao hơn hoặc khi cần thiết có thểthay đổi cơ cấu cây trồng khác cho thích hợp

+ N1 - Hạng không thích hợp hiện tại: Đặc tính của loại đất này khôngthích hợp với LUT hiện tại vì có yếu tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiênnhững yếu tố hạn chế đó có khả năng khắc phục được bằng các biện pháp cải

Trang 30

tạo đất trong tương lai để nâng hạng lên thích hợp.

+ N2 - Hạng không thích hợp vĩnh viễn: Đất có những yếu tố hạn chếnghiêm trọng trong hiện tại không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp

kỹ thuật hoặc kinh tế nào để trở thành hạng thích nghi với LUT dự kiến cảtrong điều kiện hiện tại và tương lai Nếu sản xuất sẽ không có hiệu quả thậmchí có thể gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái chẳng hạn như đất có độdốc quá cao việc canh tác chỉ làm cho quá trình xói mòn càng lớn

- Hạng phụ thích hợp (subclass): Phản ánh các yếu tố hạn chế khả

năng sử dụng đất của vùng nghiên cứu hoặc kiểu chính của các biện pháp cầncho các hạng Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ chủ yếu là điều kiện tự nhiên

Ký hiệu của các yếu tố hạn chế là chữ cái Latinh viết thường( ví dụ: m - độ

ẩm, w - độ Oxy, e - thiên tai gây xói mòn )

- Đơn vị thích hợp (unit): Phản ánh sự khác nhau chính cần cho yêu

cầu quản lý trong các hạng phụ Trong đánh giá đất đai ở cấp huyện, xã hạngphụ được phân cấp thành đơn vị đất Tất cả các đơn vị thích hợp đều có cùngmức độ thích hợp và loại hạn chế giống nhau nhưng khác nhau ở mức độ ảnhhưởng của các yếu tố hạn chế Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ ngoài yếu tố tựnhiên của các đơn vị đất còn có các yếu tố hạn chế về quản lý và đầu tư sảnxuất Các yếu tố hạn chế về quản lý, kinh tế phụ thuộc vào các nông hộ hoặccác nông trại [29]

Như vậy, tùy thuộc vào mức độ chi tiết của các dự án đánh giá đất củamỗi quốc gia, mỗi vùng cụ thể, tùy thuộc vào phân cấp tỷ lệ bản đồ mà định

ra các cấp và mức độ phân hạng [29]

* Nhận xét phương pháp đánh giá đất theo FAO.

Khi nghiên cứu đánh giá đất của FAO chúng ta thấy, phương phápđánh giá đất theo FAO là sự tổng hoà của các phương pháp đánh giá đất củacác nước trên thế giới mà điển hình là phương pháp đánh giá đất của Liên Xô

Trang 31

cũ và Mỹ Phương pháp này khắc phục được những chủ quan trong đánh giáđất đai của các nước Nếu các phương đánh giá đất của các nước trên thế giớichỉ quan tâm đến đặc tính, tính chất, những yếu tố hạn chế về mặt tự nhiêncủa đất thì phương pháp đánh giá đất của FAO ngoài những yếu tố đó ra còntính đến vấn đề môi trường, vấn đề kinh tế, xã hội Mục tiêu cuối cùng củaphương pháp đánh giá đất theo FAO nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của

xã hội, phát triển kinh tế và xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trênphạm vi toàn thế giới

2.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất theo FAO

2.3.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai:

Đơn vị Bản đồ đất đai (Land Mapping Unit - LMU) được định nghĩa làmột khoanh/vạt đất được xác định cụ thể, được thể hiện trên bản đồ, có nhữngđặc tính và tính chất đất đai riêng biệt thích hợp đồng nhất cho từng loại hình

sử dụng đất, có cùng điều kiện quản lý đất, cùng một khả năng sản xuất và cảitạo đất Mỗi ĐVĐĐ có chất lượng (đặc tính và tính chất) riêng và nó thíchhợp với một LUT nhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đaitrong khu vực/ vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai

- Có vị trí và diện tích trên bản đồ đất đai

- Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những đặcđiểm quan sát trực tiếp trên đồng ruộng hoặc qua sử dụng kỹ thuật ảnh máy

Trang 32

+ Tính chất đất đai là thuộc tính của đất có thể đo đếm, ước lượng đượcdùng để mô tả các đặc tính của đất (thành phần cơ giới, độ dốc, địa hình ).

2.3.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm có 4 bước theo hình 2.4

Hình 2.4 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Bước 1: Lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp bản đồ đơn vị đất đai

Việc xác định các chỉ tiêu phân cấp của bản đồ ĐVĐĐ rất quan trọng,

nó không chỉ đảm bảo tính chính xác của bản đồ ĐVĐĐ mà còn phản ánhđúng nhu cầu sử dụng đất cho các loại hình sử dụng đất và điều kiện đất trong

hệ thống sử dụng đất của đánh giá đất Tuỳ theo mục đích, yêu cầu mà phạm

vi đánh giá đất mà lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp cho phù hợp cụ thể :

- Phạm vi toàn lãnh thổ ta lựa chọn phân cấp theo vùng sinh thái nôngnghiệp Các yếu tố lựa chọn là khí hậu, đất, nước, thực vật

- Phạm vi vùng ta lựa chọn phân cấp theo ranh giới hành chính và mục đích

sử dụng Các yếu tố lựa chọn là hệ thống tưới, tiêu, thời vụ, chế độ luân canh

- Phạm vi huyện ta lựa chọn phân cấp theo mục đích và điều kiện sửdụng đất đai Các yếu tố lựa chọn là tính chất đất, điều kiện thuỷ lợi, luâncanh, thâm canh

đồ đơn tính

Bước 3: Xây dựng bản đồ đơn vị đất dai

Bước 4: Thống

kê, mô tả các đơn vị bản đồ đất đai.

Trang 33

Các chỉ tiêu lựa chọn phải phù hợp với tỷ lệ bản đồ và phải khớp vớicác chỉ tiêu đã phân cấp ở các bản đồ đơn tính, các chỉ tiêu định tính phải diễngiải cụ thể và chú dẫn đầy đủ.

Bước 2: Xây dựng các bản đồ đơn tính

Bản đồ đơn tính là bản đồ chỉ thể hiện các đặc tính và tính chất đơn lẻkhác nhau của đất, trên cơ sở các chỉ tiêu phân cấp đã lựa chọn kết hợp thuthập tài liệu, số liệu, điều tra khảo sát thực địa để xây dựng các bản đồ đơntính Mỗi một chỉ tiêu xây dựng bản đồ ĐVĐĐ (loại đất, độ dày tầng đất, địahình, độ dốc, lượng mưa, điều kiện tưới, tiêu ) ta xây dựng một bản đồ vớicác ký hiệu, màu sắc và ghi chú khác nhau

Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin

sự hỗ trợ của máy tính việc xây dựng các bản đồ đơn tính được thực hiện trêncác phần mềm chuyên dụng như Microstation, MapInfo, Arcview Các bản đồđơn tính được thể hiện dưới dạng bản đồ kỹ thuật số (Digital Map) là cơ sở đểchồng xếp thành bản đồ đơn vị đất đai

Bước 3: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Để xác định các LMU người tiến hành chồng xếp các bản đồ đơn tính

có cùng tỷ lệ và hệ toạ độ đã được xây dựng Phương pháp chồng xếp đượcthực hiện bằng tay khoanh (thủ công) hoặc bằng máy tính trên các phần mềmchuyên dụng vẽ bản đồ như MapInfo hoặc Acview Đây là phương pháp hiệnđại, đảm bảo chính xác, nhanh chóng và đang được ứng dụng để xây dựng cácbản đồ đất đai trên toàn thế giới Khi xây dựng bản đồ đơn vị đất đai các đơn

vị đất đai được ghi bằng các chữ số Ả Rập vào các khoanh trên bản đồ dướidạng phân số: tử số là số của đơn vị đất đai, mẫu số là diện tích khoanh [7]

Bước 4: Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai

Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai là bước cuối cùng trong quy trình xâydựng bản đồ đơn vị đất đai Mỗi đơn vị đất đai có những đặc tính và tính chấtriêng biệt nhất định, việc mô tả nó nhằm làm cơ sở để xác định các loại hình

Trang 34

sử dụng đất thích hợp nhất cho các vạt/khoanh đất của vùng nghiên cứu, giảiquyết sự tranh chấp của nhiều loại sử dụng trên cùng một vùng đất đai Căn

cứ vào các đặc điểm của các đơn vị đất đai và yêu cầu sử dụng đất của cácLUT để từ đó phân hạng mức độ thích hợp nhất Khi mô tả các đơn vị bản đồđất đai cần phải xác định rõ các vấn đề sau:

+ Số lượng và diện tích các LMU trên bản đồ ĐVĐĐ

+ Số khoanh đất của mỗi LMU và mức độ phân bố của chúng

+ Mô tả các đặc điểm (đặc tính, tính chất) của từng ĐVĐĐ (đặc điểmkhí hậu, địa hình, thủy văn, thực vật, động vật và đặc điểm đất)

2.3.3 Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

Mỗi một vùng, một khu vực khác nhau có điều kiện địa hình, khí hậu,thời tiết, thuỷ văn, lớp phủ thổ nhưỡng khác nhau, đá mẹ khác nhau, ở đó cácđặc tính, tính chất đất đai cũng khác nhau, hệ sinh thái, cây trồng cũng khácnhau Các chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ ĐVĐĐ cũng khác nhau Dovậy, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là để tổng hợp các điều kiện sinh thái môitrường tự nhiên của mỗi vùng Các đặc tính và tính chất trong phân cấp xâydựng bản đồ ĐVĐĐ là sự thể hiện rõ nét về các điều kiện tự nhiên của khuvực nghiên cứu như đặc điểm đất đai, khí hậu thuỷ văn địa hình, lớp phủ thổnhưỡng Các đặc điểm tự nhiên này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xácđịnh các lợi thế và hạn chế về mặt tự nhiên của vùng đất, từ đó đưa ra địnhhướng phát triển nông nghiệp hợp lý

Việc phân chia các đơn vị bản đồ đất đai nhằm tìm ra sự khác biệt vềmặt chất lượng của các khoanh đất về đặc điểm tự nhiên để từ đó lựa chọn cácyếu tố liên quan đến yêu cầu sử dụng đất của các LUT đảm bảo mỗi LUT đượclựa chọn là hợp lý và lâu bền và có hiệu quả cao Trước đây, việc xác định cácđặc tính hay tính chất của đất chỉ mang tính đơn lẻ, theo kinh nghiệm truyềnthống, chỉ dựa vào các đặc tính tốt hay các yếu tố hạn chế của đất để đưa ra cácloại hình sử dụng đất mà chưa tổng hợp được các đặc tính, tính chất của đất để

Trang 35

xác định yêu cầu sử dụng đất một cách khoa học và lựa chọn các loại hìnhthích hợp do vậy các LMU được lựa chọn mang tính truyền thống

Xây dựng bản đồ ĐVĐĐ là công việc không thể thiếu trong quy trình

đánh giá đất theo FAO Đây là nội dung thứ 2 trong công tác nội nghiệp củaquá trình đánh giá đất, là cơ sở để lựa chọn các loại hình sử dụng đất và phânhạng mức độ thích hợp đất đai

2.4 Một số kết quả đánh giá đất và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở

Việt Nam

2.4.1 Trên phạm vi toàn quốc

Ở Việt Nam, khái niệm đánh giá, phân hạng đất đã có từ lâu đời quaviệc phân chia “Tứ hạng điền, lục hạng thổ “ để thu thuế Công tác đánh giáđất, phân hạng đất đai được nhiều cơ quan khoa học nghiên cứu và thực hiệnnhư : Viện Thổ nhưỡng - Nông hoá, Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp,Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Tổng cục địa chính - Bộ tài nguyên vàMôi trường), các trường đại học Nông nghiệp và các tỉnh thành Đặc biệt,Viện Quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp trong nhiều năm qua đã thực hiệnnhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai Công tácđược triển khai rộng rãi trên toàn quốc từ phân hạng đất tổng quan toàn quốc(Tôn Thất Chiểu – Hoàng Ngọc Toàn 1980 - 1985) đến các tỉnh thành và cácđịa phương, với nhiều loại đối tượng cây trồng, nhiều vùng chuyên canh vàcác dự án đầu tư của cả trong và ngoài nước [16]

Từ đầu năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Việnnghiên cứu Thổ nhưỡng - Nông hoá như : Vũ Cao Thái, Nguyễn Văn Thân,Đinh Văn Tính… đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất và phânhạng đất ở 23 huyện, 286 HTX và 9 vùng chuyên canh Các kết quả bước đầu

đã phục vụ thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất [16] Từ kết quả

nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp

Trang 36

dụng cho các HTX và các vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chấtlượng đất đai được chia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được

chia thành 4 hạng: rất tốt, tốt, trung bình và kém [32]

Năm 1984 Tôn Thất Chiểu và cộng tác viên đã nghiên cứu đánh giá,phân hạng đất khái quát toàn quốc trên tỷ lệ bản đồ 1/500.000, tác giả đã ápdụng nguyên tắc đánh giá phân loại khả năng đất đai (Land CapabilityClassification) của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, chỉ tiêu dùng là đặc điểm thổnhưỡng và địa hình, được phân cấp nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp,kết quả đã phân ra 7 nhóm đất đai Trong đó, cho sản xuất Nông nghiệp (4nhóm đầu), Lâm nghiệp (2 nhóm kế tiếp) và mục đích khác (1 nhóm cuối

cùng) [6]

Năm 1995, Viện quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp đã hoàn thành việctổng kết kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên toàn quốc trên cơ sở xácđịnh 7 chỉ tiêu phân cấp (thổ nhưỡng, tầng dày đất, độ dốc, lượng mưa, thuỷvăn nước mặn, tưới tiêu, nhiệt độ) Các đơn vị đất đai trên toàn quốc đượctổng hợp từ đơn vị đất đai của 9 vùng sinh thái nông nghiệp tỷ lệ 1/250.000lên cấp miền tỷ lệ 1/500.000 và từ cấp miền tổng hợp lên toàn quốc tỷ lệ1/1000.000 Theo nguyên tắc trên, kết quả tổng hợp được đơn vị đất đai trêntoàn quốc tỷ lệ 1/1000.000 là 373 đơn vị đất đai; trên tỷ lệ bản đồ 1/500.000

miền Bắc có có 270 đơn vị đất đai, miền Nam có 196 đơn vị đất đai [16]

Nguyễn khang, Phạm Dương Ưng (1995) đã tiến hành nghiên cứu đánhgiá tài nguyên đất Việt Nam ở tỷ lệ bản đồ 1/250.000 trên 9 vùng sinh thái.Kết quả đã xác định được 340 đơn vị bản đồ đất đai, trong đó miền bắc 144đơn vị đất đai, miền Nam có 196 đơn vị đất đai (dẫn theo Phan Thị ThanhHuyền [17])

2.4.2 Trên phạm vi vùng

- Vùng đồng Bằng sông Cửu Long với nghiên cứu của Trần An Phong,

Trang 37

Nguyễn Văn Nhân (1995), các kết quả nghiên cứu cho thấy vùng này có 123đơn vị đất đai trong đó: 63 đơn vị đất đai thuộc vùng đất phèn, 20 đơn vị đấtđai thuộc vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai thuộc vùng đất phù sa, 18 đơn vịđất đai thuộc vùng đất khác (dẫn theo Vũ Xuân Trường [36])

- Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Cao Duy Thái vànhóm tác giả (1988), đề tài 48C- 06 - 03 chương trình điều tra Tây Nguyên,Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Phạm Văn Tuyên Cáckết quả cho thấy vùng Tây Nguyên có 3 vùng, 18 tiểu vùng, 54 đơn vị sinhthái nông nghiệp và 195 đơn vị đất đai.(dẫn theo Vũ Xuân Trường [36])

- Vùng đồng bằng sông Hồng với đề tài nghiên cứu ”Đánh giá đất

vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền”

trên bản đồ tỷ lệ 1/250.000 của Nguyễn Công Pho (1995) [22] Tác giả đã chọn 4 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là loại đất (9 loại), độ dốc (3cấp), chế độ tưới tiêu và ngập úng (4 cấp) Kết quả đã xác định được 33

đơn vị đất đai trong đó, có 22 đơn vị đất đai vùng đồng bằng và 11 đơn vị đấtđai vùng đồi núi

- Vùng Tây Bắc Lê Thái Bạt (1995) [1] đã tiến hành nghiên cứu đánhgiá đất thích hợp theo FAO trên quan điểm sinh thái bền vững đã xác địnhđược 230 đơn vị đất đai, trong đó có 157 đơn vị đất đai trên đất trống đồi trọc,

về địa hình có 114 đơn vị đất đai được phân bố ở độ dốc < 250 và có tầngcanh tác dày > 50 cm, các đơn vị đất còn lại có độ dốc > 250

2.4.3 Trên phạm vi cấp tỉnh

Theo Nguyễn Đình Bồng, kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùngđất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang xác định được 125 đơn vị bản đồ đất;với 5 chỉ tiêu được xác định để phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai: Tổhợp đất (G) từ G1 - G7; độ dốc (SL) từ SL1 - SL4; độ dày tầng đất (D) từ D1 -D3; tổng lượng mưa hàng năm từ R1 - R3; tổng nhiệt độ (T) từ T1 - T3 (dẫn

Trang 38

theo Vũ Xuân Trường [36]).

Các tác giả Nguyễn Chiến Thắng, Cấn Triển (1995) xây dựng bản đồĐVĐĐ cho toàn tỉnh Bình Định, sử dụng 5 chỉ tiêu là: Nhóm đất (G) 7 nhóm,

độ dốc (S) 4 cấp, tầng dày (D) 3 cấp, chế độ tưới (I) 2 cấp, lượng mưa (RF) 3cấp; đã xác định được 45 ĐVĐĐ, trong đó: 9 ĐVĐĐ có độ dốc trên 150, tầngdầy dưới 50 cm; 28 ĐVĐĐ có độ dốc dưới 80, tầng dày hơn 50 cm, có khảnăng phát triển nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp; 8 đơn vị có độ dốc từ 80 -

150, tầng đất mỏng, chỉ phát triển trồng màu và nông lâm kết hợp

2.4.4 Trên phạm vi cấp huyện

Năm 1995 Vũ Thị Bình [3], đã nghiên cứu đề tài ”Đánh giá đất đai

phục vụ định hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Gia Lâm vùng đồng bằng sông Hồng” Trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu

phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: loại đất (3 loại); thành phần cơgiới (3 cấp); điều kiện tưới (3 cấp); điều kiện tiêu (2 cấp); ngập úng (3 cấp); độphì (3 cấp) Kết quả đã xây dựng bản đồ ĐVĐĐ tỷ lệ 1/25.000 huyện Gia Lâm,với 20 đơn vị đất đai trong đó có 4 đơn vị đất đai ngoài bãi (2515 ha) và 16 đơn

vị đất đai nội đồng (6.649 ha)

Theo Đoàn Công Quỳ (dẫn theo Vũ Xuân Trường [36]), kết quả xây

dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên: toàn huyện Đại Từ

có 52 đơn vị đất đai với tổng diện tích là 48801,2 ha Xác định 8 chỉ tiêu phâncấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm: loại đất (G) 8 loại; độ dốc (SL) 4 cấp;địa hình tương đối (E) 3 cấp; độ cao (H) 4 cấp; độ dầy tầng đất (D) 3 cấp; thànhphần cơ giới (T) 3 cấp; chế độ tưới (I) 3 cấp; chế độ tiêu (F) 2 cấp

- Năm 2006 Vũ Xuân Trường đã nghiên cứu và xây dựng bản đồ đơn vịđất đai phục vụ đánh giá đất huyện thạch thất tỉnh Hà Tây Kết quả đã xâydựng dược bản đồ đơn vị đất đai tỷ lệ 1/20.000, trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêuphân cấp là loại đất (8 loại), địa hình tương đối (4 cấp), thành phần cơ giới (3

Trang 39

cấp), độ dày tầng đất (3 cấp), khả năng tưới (3 cấp), khả năng tiêu (2 cấp), đãxác định được 53 đơn vị đất đai và đề xuất các loại hình sử dụng đất trongtương lai [36].

Như vậy, tuỳ từng điều kiện tự nhiên khác nhau mà việc xác định cácchỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho các vùng khác nhau

là khác nhau, tuỳ vào mục đích, yêu cầu, phạm vi của từng vùng nghiên cứu

mà xác định tỷ lệ bản đồ cần xây dựng và các chỉ tiêu phân cấp cho phù hợp

2.5 Tình hình ứng dụng GIS trong đánh giá đất và cơ sở ứng dụng cho

việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai

2.5.1 Khái quát về GIS

Trong những năm gần đây, hệ thống thông tin địa lý (Geographic

Information System - GIS), đã trở thành một ngành khoa học rất được quan tâm

trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng trên toàn cầu GIS đã trở thànhmột yếu tố quan trọng trong hệ thống công nghệ thông tin và trở nên không thể

thiếu trong quá trình ra mọi quyết định quan trọng của loài người [26]

Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin đã đưa tin học thâmnhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống, mở ra một giai đoạn mớitrong quá trình phát triển khoa học Hệ thống thông tin địa lý (GIS) đã trởthành một khung công cụ tổng hợp rất hiệu quả nhằm quản lý các hoạt độngcủa cả con người và thiên nhiên bởi vì nó giúp ta tổng hợp và phân tích mọi

dữ liệu phức tạp, đưa ra kết quả để tất cả mọi người, từ các nhà khoa học, nhànghiên cứu, nhà quản lý …vv và công chúng đều có thể cảm nhận được GIScòn có thể thực hiện được nhiều điều như vẽ bản đồ, xây dựng mô hình, hỏiđáp, truy vấn và phân tích một lượng lớn dữ liệu [26]

Mặc dù tồn tại nhiều cách tiếp cận không đồng bộ về GIS ở nhiều tổchức, nhưng những ứng dụng thành công từ GIS đã chứng minh lợi ích của nó

và mở ra những hứa hẹn cho nhiều tổ chức khác Ở mức độ cơ bản nhất việc

Trang 40

tin học hóa quy trình làm bản đồ đã mang lại những kết quả tức thì.

Theo Đỗ Nguyên Hải [15]: Hệ thống thông tin địa lý (GIS) là chữ viếttắt (Geographic Information System) Đây là một hệ thống bao gồm các phầnmềm, phần cứng, dữ liệu để trợ giúp con người trong việc tính toán, phân tíchthể hiện các thông tin được gắn với từng vị trí không gian trên bề mặt đất

Theo Cục Bảo vệ môi trường: Hệ Thông tin địa lý (GIS) là một công cụ

máy tính để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất.Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu thông thường (như cấu trúchỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phân tích địa lý, trong đó phép phântích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từ các bản đồ Những khảnăng này phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác và khiến cho GIS cóphạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện,

dự đoán tác động và hoạch định chiến lược) [10].

BURROUGHT " GIS như là một tập hợp các công cụ cho việc thunhập, lưu trữ ,thể hiện và chuyển đổi các dữ liệu mang tính chất không gian từthế giới thực để giải quyết các bài toán ứng dụng phục vụ các mục đích cụ thể

" (Burrought (1986), [41].

Michaael Zeiler (2001)[48] Hệ thống thông tin địa lý GIS là sự kết hợpgiữa con người thành thạo công việc, dữ liệu mô tả không gian, phương phápphân tích, phần mềm và phần cứng máy tính - tất cả được tổ chức quản lý vàcung cấp thông tin thông qua sự trình diễn địa lý

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về GIS song chúng ta có thể

hiểu GIS là một hệ thống thông tin tổng hợp có khả năng nhập dữ liệu (các

bản đồ, ảnh hàng không, vệ tinh vv), lưu trữ, truy nhập và hỏi đáp, xử lý,

chuyển đổi các dữ liệu, phân tích và mô hình hoá, tra cứu, hiển thị, khai tháccập nhật các thông tin, số liệu địa lý Khái niệm về GIS có thể được mô tảtheo hình 2.5 dưới đây:

Ngày đăng: 28/11/2013, 10:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Phạm vi và quy mô vùng gò đồi - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 2.1. Phạm vi và quy mô vùng gò đồi (Trang 13)
Hình 2.1.  Các bước đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Hình 2.1. Các bước đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất (Trang 26)
Hình 2.2. Các phương pháp hai bước và song song trong tiến trình  đánh giá đất - FAO 1976 - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Hình 2.2. Các phương pháp hai bước và song song trong tiến trình đánh giá đất - FAO 1976 (Trang 27)
Hình 2.3.  Cấu trúc của phân hạng khả năng thích hợp đất đai  (FAO, 1976, 1983) - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Hình 2.3. Cấu trúc của phân hạng khả năng thích hợp đất đai (FAO, 1976, 1983) (Trang 28)
SƠ ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2007 HYỆN NAM ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
2007 HYỆN NAM ĐÀN – TỈNH NGHỆ AN (Trang 52)
Hình 4.1.  Mô hình 3D huyện Nam đàn - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Hình 4.1. Mô hình 3D huyện Nam đàn (Trang 54)
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng  của huyện Nam Đàn năm 2007 - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.1. Hiện trạng sử dụng của huyện Nam Đàn năm 2007 (Trang 60)
Bảng 4.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của  huyện Nam Đàn năm 2007 - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.2. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Nam Đàn năm 2007 (Trang 62)
Bảng 4.3.  Diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng chính qua  các năm 2005, 2006, 2007 - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.3. Diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng chính qua các năm 2005, 2006, 2007 (Trang 65)
Hình 4.7. Diễn biến năng suất các loại cây trồng chính - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Hình 4.7. Diễn biến năng suất các loại cây trồng chính (Trang 66)
Bảng 4.7.  Cơ cấu diện tích các loại đất vùng đồi gò huyện Nam Đàn - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.7. Cơ cấu diện tích các loại đất vùng đồi gò huyện Nam Đàn (Trang 80)
Bảng 4.8. Diện tích và cơ cấu đất theo cấp độ dốc - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.8. Diện tích và cơ cấu đất theo cấp độ dốc (Trang 83)
Bảng 4.9. Diện tích và cơ cấu đất theo độ dày tầng đất - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.9. Diện tích và cơ cấu đất theo độ dày tầng đất (Trang 85)
Bảng 4.10. Diện tích và cơ cấu đất theo thành phần cơ giới - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.10. Diện tích và cơ cấu đất theo thành phần cơ giới (Trang 87)
Bảng 4.11. Diện tích và cơ cấu đất theo phân cấp độ phì - Luận văn xây DỰNG bản đồ đơn vị đất ĐAI VÙNG đồi gò
Bảng 4.11. Diện tích và cơ cấu đất theo phân cấp độ phì (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w