Theo qui trỡnh đỏnh giỏ đất đai của FAO thỡ việc xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai là một trong những nội dung cú ý nghĩa rất quan trọng làm cơ sở để so sỏnh với cỏc yờu cầu sử dụng đất của
Trang 1TRẦN THỊ THU HIỀN
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ CHO ĐÁNH GIÁ ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn : PGS TS Đàm Xuân Vận
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2TRẦN THỊ THU HIỀN
“NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ CHO ĐÁNH GIÁ ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN”
Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 0103
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn : PGS TS Đàm Xuân Vận
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hiền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành ch-ơng trình cao học của tôi, tr-ớc hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Tà i Nguyên và Môi tr-ờng, Khoa Sau Đại học - tr-ờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, những ng-ời đã tạo
điều kiện giúp đỡ và dìu dắt tôi trong suốt quá trình học Cao học Đặc biệt, tôi
xin cảm ơn PGS.TS Đàm Xuân Vận đã tận tình h-ớng dẫn cho tôi hoàn
thành luận văn thạc sĩ này
Tôi xin cảm ơn cán bộ, công chức Sở Tài Nguyên và Môi tr-ờng, UBND huyện Đồng Hỷ, nơi tôi xin số liệu thực hiện đề tài đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi rất cảm ơn gia đình, ng-ời thân, bạn bè những ng-ời đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Thái Nguyên, ngày 9 tháng 12 năm 2012
Học viên
Trần Thị Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 10
2.1 Mục đích của đề tài 10
2.2 Yêu cầu của đề tài 10
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và đánh giá đất trên thế giới 11
1.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá đất 11
1.1.2 Một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới 12
1.1.3 Đánh giá đất theo FAO 16
1.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất theo FAO 23
1.2.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai 23
1.2.2 Quy trình xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 24
1.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 25
1.3 Một số kết quả đánh giá đất và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tại Việt Nam 26
1.3.1 Trên phạm vi toàn quốc 27
1.3.2 Trên phạm vi vùng sinh thái và cấp tỉnh 27
1.3.3 Trên phạm vi cấp huyện 29
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tương và phạm vi nghiên cứu 31
2.2 Thời gian nghiên cứu 31
2.3 Nội dụng nghiên cứu của đề tài 31
2.3.1 Thu thập dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng nghiên cứu 31
2.3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của huyện Đồng Hỷ bằng công nghệ GIS 31
Trang 62.4 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.1 Phương pháp điều tra cơ bản 31
2.4.2 Phương pháp xây dựng các bản đồ đơn tính bằng công nghệ GIS 32
2.4.3 Phương pháp chồng xếp bản đồ bằng công nghệ GIS 32
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng công nghệ GIS 45
3.2.1 Xác định chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 47
3.2.2 Xây dựng các bản đồ đơn tính 54
3.2.3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai bằng phương pháp chồng xếp bản đồ 69
3.2.4 Mô tả các đơn vị bản đồ đất đai 75
3.2.5 Định hướng sử dụng và cải thiện các LMU huyện Đồng Hỷ 81
3.2.6 Nhận xét về công nghệ GIS trong việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 84 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Các loại đất sản xuất nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ 36
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 – 2011 37
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ năm 2011 39
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ năm 2011 40
Bảng 3.5: Diễn biến sản xuất ngành chăn nuôi giai đoạn 2009 - 2011 43
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Đồng Hỷ 49
Bảng 3.7: Cấu trúc của bản đồ đất 55
Bảng 3.8: Thuộc tính của bản đồ đất 55
Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ đất 56
Bảng 3.10: Cấu trúc của bản đồ độ cao 58
Bảng 3.11: Thuộc tính của bản đồ độ cao 58
Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ cao 58
Bảng 3.13: Cấu trúc của bản đồ độ dốc 60
Bảng 3.14: Thuộc tính của bản đồ độ dốc 60
Bảng 3.15: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ dốc 60
Bảng 3.16: Cấu trúc của bản đồ thành phần cơ giới 62
Bảng 3.17: Thuộc tính của bản đồ thành phần cơ giới 62
Bảng 3.18: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ thành phần cơ giới 62
Bảng 3.19: Cấu trúc của bản đồ độ dày tầng đất 64
Bảng 3.20: Thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 64
Bảng 3.21: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ dày tầng đất 64
Bảng 3.22: Cấu trúc của bản đồ độ phì 66
Bảng 3.23: Thuộc tính của bản đồ độ phì 66
Bảng 3.24: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ độ phì 66
Bảng 3.25: Cấu trúc của bản đồ chế độ tưới 68
Bảng 3.26: Thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 68
Bảng 3.27: Tổng hợp kết quả thuộc tính của bản đồ chế độ tưới 68
Bảng 3.28: Tổng hợp đặc tính và diện tích các đơn vị đất đai 71
Bảng 3.29: Các loại hình sử dụng đất huyện Đồng Hỷ 80
Bảng 3.30: Định hướng sử dụng và cải thiện các LMU 82
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Các bước chính trong đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất 19
Hình 1.2: Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO 21
Hình 1.3: Các bước xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 24
Hình 3.1: Sơ đồ hành chính huyện Đồng Hỷ 34
Hình 3.2: Cơ cấu các thành phần dân tộc 38
Hình 3.3: Hiện trạng sử đất của huyện Đồng Hỷ năm 2011 38
Hình 3.4: Cơ cấu các loại đất huyện Đồng Hỷ năm 2011 41
Hình 3.5 Năng xuất một số cây trồng chính của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 - 2011 41
Hình 3.6 Cơ cấu kinh tế của huyện Đồng Hỷ năm 2011 43
Hình 3.7: Qui trình GIS trong xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 46
Hình 3.8: Qui trình chồng ghép bản đồ 47
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tớnh cấp thiết của đề tài
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiờn, vừa là sản phẩm của lao động, là nhõn
tố đúng vai trũ cực kỳ quan trọng trong việc quyết định sự tồn tại và phỏt triển xó hội loài người
Đỏnh giỏ đất đai là một nội dung nghiờn cứu khụng thể thiếu được trong chương trỡnh phỏt triển một nền nụng nghiệp bền vững và cú hiệu quả Trong sản xuất nụng nghiệp bền vững theo quan điểm sinh thỏi và phỏt triển lõu bền thỡ cụng tỏc đỏnh giỏ đất đai mang tớnh nền tảng cho cỏc hướng quy hoạch sử dụng đất nụng nghiệp hợp lý
Theo qui trỡnh đỏnh giỏ đất đai của FAO thỡ việc xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai là một trong những nội dung cú ý nghĩa rất quan trọng làm cơ sở để so sỏnh với cỏc yờu cầu sử dụng đất của từng loại hỡnh sử dụng đất (LUT)
Với cụng nghệ thụng tin đó và đang khụng ngừng phỏt triển mạnh mẽ, thõm nhập hầu hết cỏc ngành khoa học, cỏc hoạt động thực tiễn và quản lý trong mọi lĩnh vực Việc ỏp dụng cụng nghệ thụng tin và hệ thống thụng tin địa lý (GIS) đó trở thành nhu cầu thiết yếu trong cụng tỏc nghiờn cứu khoa học, đào tạo và quản lý, bao gồm quản lý Nhà nước, quản lý kinh doanh và hầu hết cỏc lĩnh vực quản lý cỏc hệ thống tài nguyờn thiờn nhiờn, trong đú cú quản lý đất đai, mụi trường là những lĩnh vực đang được ưu tiờn hàng đầu
Sự ra đời của hệ thống thụng tin địa lý là một bước tiến hết sức to lớn trờn con đường đưa cỏc ý tưởng, kết quả nghiờn cứu địa lý và cỏch tiếp cận hệ thống theo quan điểm của địa lý học hiện đại vào cuộc sống Ngày nay, GIS đó được ứng dụng
ở rất nhiều lĩnh vực khỏc nhau: thành lập bản đồ, phõn tớch dữ liệu khụng gian, đỏnh giỏ tài nguyờn đất, xõy dựng, quy hoạch đụ thị và nụng thụn…
Đồng Hỷ với đặc tr-ng là một huyện trung du miền núi nằm liền kề với thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp, có quốc lộ 1B và con sông cầu chảy qua địa bàn giao thông đi lại thuận tiện cho việc giao l-u hàng hoá, cung cấp và tiêu thụ sản phẩm để phát triển theo h-ớng công nghiệp hoá và đô thị hoá
Trang 11Việc ứng dụng công nghệ GIS vào lĩnh vực đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ
sở cho sử dụng đất một cách hiệu quả và lâu bền, xây dựng một ngành nông nghiệp
đa canh đang là nhu cầu bức thiết trong phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước ta nói chung và ở huyện Đồng Hỷ nói riêng Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự hướng
dẫn của PGS.TS Đàm Xuân Vận tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu xây
dựng bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho đánh giá đất sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu, thu thập các số liệu về đặc điểm và tính chất đất đai của huyện Đồng Hỷ, xác định các chỉ tiêu phân cấp cho bản đồ đơn vị đất đai phục vụ cho mục tiêu đánh giá đất canh tác nông nghiệp của huyện
- Khai thác khả năng ứng dụng của GIS để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên về đất đai, đặc điểm kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
- Xác định hướng phát triển trong sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thông qua yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất
- Trên cơ sở kết quả đánh giá các loại hình sử dụng đất, đề xuất được các loại hình sử dụng đất thích hợp phục vụ sản xuất nông nghiệp huyện Đồng Hỷ
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và đánh giá đất trên thế giới
1.1.1 Sự cần thiết phải đánh giá đất
Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, nó là cơ sở tự nhiên và là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) đất đai được coi là vật mang (Carrier) của hệ sinh thái (Ecosystems) Đánh giá đất đai theo quan điểm sinh thái xuất phát
từ quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững Nông nghiệp bền vững là một hệ thống sản xuất có chọn lọc, đa dạng nhưng cân bằng về sinh thái một cách tự nhiên, trong đó các yếu tố tác động một cách tương hỗ cùng tồn tại và phát triển, đem lại hiệu quả kinh tế cao, môi trường trong lành, sản phẩm an toàn và được thị trường chấp nhận [6, 19]
Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn [4] Mặt khác, hàng năm có khoảng 6 - 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết được nhu cầu về lương thực không ngừng gia tăng con người phải tiến hành thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [25] Bên cạnh đó, việc ngăn chặn được những suy thoái về tài nguyên đất đai gây ra do sự thiếu hiểu biết của con người và hướng tới việc sử dụng và quản lý đất một cách có hiệu quả trong tương lai thì công tác nghiên cứu về đánh giá đất là rất quan trọng và cần thiết
Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu trong hoạt động quản lý tài nguyên đất đai và quy hoạch
sử dụng đất (FAO, 1994) Đánh giá đất đai là một nội dung nghiên cứu không thể thiếu được cho hướng phát triển một nền nông nghiệp bền vững và có hiệu quả vì đất đai là tư liệu cơ bản nhất giúp cho người sử dụng đất có những hiểu biết khoa học về tiềm năng sản xuất của đất đai, những khó khăn và hạn chế trong sử dụng đất đồng thời nắm được những phương thức sử dụng đất thích hợp cho mình [27]
Trang 13Theo Dent D và Young T [42] về cơ bản thì đánh giá đất không có gì xa lạ, vì
từ xa xưa người nông dân đã biết tự quyết định được việc trồng loại cây gì là tốt nhất đối với mảnh đất mà họ có Hoặc trong quá trình tìm nơi định cư, họ đã biết được những vùng đất đai có thích hợp với những cây họ định trồng hay mùa vụ nào
là thích hợp với cây trồng của họ Để có được những kiến thức đó, người nông dân
đã trải qua và tích luỹ những kinh nghiệm truyền lại từ nhiều đời và tất nhiên những kinh nghiệm cũng được rút ra từ không ít những thất bại
Việc đánh giá đất đai trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cần được hiểu như sau: "Một vạt đất được xác định về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như: không khí, đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng tới việc sử dụng vạt đất đó của con người ở hiện tại và trong tương lai” (Christian và Stewart - 1968; Brinkman và Smyth - 1973) [35]
1.1.2 Một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới
Đánh giá đất đai đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất đai có vai trò rất lớn trong việc sử dụng tài nguyên đất đai bền vững
và trở thành công cụ cần thiết cho việc quy hoạch, bố trí sử dụng đất hợp lý [21] Hiện nay, những kết quả và thành tựu về đánh giá đất đai đã được người ta tổng kết
trong phạm vi hoạt động của các tổ chức Liên hợp quốc và coi đó như tài sản trí
thức chung của nhân loại Có thể khái quát một số phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới như sau:
Phương pháp đánh giá đất đai ở Liên Xô cũ
Phương pháp đánh giá được hình thành từ đầu những năm 50, sau đó đã được phát triển và hoàn thiện vào năm 1986 nhằm tiến hành đánh giá và thống kê chất lượng tài nguyên đất đai để phục vụ cho mục đích xây dựng chiến lược quản lý và
sử dụng đất cho các đơn vị hành chính và sản xuất trên lãnh thổ Liên bang Xô viết Phương pháp đánh giá đất ở Liên Xô cũ được ứng dụng theo hai hướng là đánh giá
Trang 14đất chung và riêng (theo hiệu suất cây trồng là ngũ cốc và cây họ đậu) Đơn vị đánh giá đất là các chủng, loại đất Quy định đánh giá đất cho cây có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ thâm canh và đồng cỏ chăn thả Chỉ tiêu đánh giá đất là năng suất, giá thành sản phẩm (rúp/ha), mức hoàn vốn, địa tô cấp sai (phần có lãi thuần tuý) [27]
Nguyên tắc đánh giá mức độ sử dụng đất thích hợp là phân chia khả năng sử dụng đất đai trên toàn lãnh thổ theo các nhóm và các lớp thích hợp
- Nhóm đất thích hợp được phân theo điều kiện vùng sinh thái đất đai tự nhiên trên phạm vi vùng rộng lớn
- Lớp đất thích hợp là những vùng được tách ra theo sự khác biệt về loại hình thổ nhưỡng như điều kiện địa hình, mẫu chất, thành phần cơ giới và chế độ nước Trong cùng một lớp sẽ có sự tương đồng về điều kiện sản xuất, khả năng ứng dụng
kỹ thuật cũng như các biện pháp cải tạo và bảo vệ đất
Việc phân hạng và đánh giá đất đai được thực hiện theo 3 bước:
- Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất
Phương pháp đánh giá đất đai ở Anh
Ở Anh có 2 phương pháp đánh giá đất đai đó là dựa vào sức sản xuất tiềm năng của đất hoặc dựa vào sức sản xuất thực tế của đất
Trang 15Theo phương pháp đánh giá đất đai dựa vào thống kê sức sản xuất tiềm năng của đất thì việc xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của đất phụ thuộc vào 3 nhóm yếu tố chính là: nhóm các yếu tố tự nhiên của đất; nhóm các yếu tố đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục được (các công trình tưới, tiêu và rửa mặn ); nhóm các yếu tố đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm như cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất để khắc phục đất
Theo phương pháp đánh giá đất đai dựa vào thống kê sức sản xuất thực tế của đất thì việc đánh giá đất đai căn cứ vào năng suất thực tế trên đất, lấy năng suất trung bình nhiều năm ở loại đất tốt nhất hoặc đất trung bình để so sánh với năng suất thực tế trên đất cần xác định Tuy nhiên, khi đánh giá đất đai theo phương pháp này còn gặp nhiều khó khăn vì năng suất của cây trồng phụ thuộc vào loại cây được chọn, điều kiện đất đai và khả năng đầu tư của người sử dụng đất
Phương pháp đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ
Khái niệm chủ yếu nêu lên trong hệ thống phân loại tiềm năng đất đai của Mỹ
là khái niệm về những hạn chế, đó là những tính chất đất đai gây trở ngại cho việc
sử dụng đất Có những loại hạn chế lâu dài và những loại hạn chế tạm thời Những hạn chế lâu dài là những hạn chế nếu chỉ tác động bằng những cải tạo nhỏ thì không giải quyết được Những hạn chế tạm thời là những hạn chế có thể cải tạo bằng những biện pháp kỹ thuật và quản lý Nghĩa là các yếu tố nào có mức độ hạn chế lớn và khả năng chi phối mạnh đến sử dụng đất là yếu tố quyết định mức độ thích hợp mà không cần tính đến những khả năng thuận lợi của các yếu tố khác có trong đất Hệ thống đánh giá phân loại đất đai theo tiềm năng của Hoa Kỳ được Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) đề xuất vào những năm 1961 và hiện nay có 2 phương
pháp đánh giá đất đai được ứng dụng rộng rãi đó là:
- Phương pháp tổng hợp: đánh giá đất đai được thực hiện dựa trên năng suất cây trồng trong nhiều năm và phân hạng đất đai tập trung chủ yếu vào cây trồng chính như lúa
mỳ để từ đó xác định mối tương quan giữa đất đai và cây trồng trên đất nhằm đưa ra những biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất cây trồng
Trang 16- Phương pháp yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế của đất đai để so sánh lợi nhuận do đất mang lại Phương pháp này sử dụng thang điểm tối đa là 100 điểm để làm mốc so sánh giữa các loại đất khác nhau Như vậy, việc phân hạng thích hợp đất đai theo phương pháp đánh giá đất đai của Hoa Kỳ mới chỉ tập trung vào các loại cây trồng chính mà chưa đưa ra được những yêu cầu của các loại hình sử dụng đất cụ thể nào đang được ứng dụng trong sản xuất Tuy nhiên phương pháp này rất quan tâm đến những yếu tố hạn chế trong quản lý và sử dụng đất có tính đến các vấn đề về môi trường, đây cũng chính là điểm mạnh của phương pháp nhằm mục đích duy trì và sử dụng đất bền vững
Phương pháp đánh giá đất đai ở Ấn Độ và vùng nhiệt đới ẩm Châu Phi
Ở Ấn Độ và một số nước nhiệt đới ẩm Châu Phi thường áp dụng phương pháp tham
biến biểu thị mối quan hệ của các yếu tố dưới dạng phương trình toán học:
Ngoài ra còn một số phương pháp đánh giá cho từng cây trồng cụ thể như đối
với cây lúa theo phương pháp đánh giá đất đai ở Trung Quốc
* Nhận xét về đánh giá đất đai trên thế giới
Đánh giá đất đai làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai hiệu quả
và bền vững Mỗi phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đều có sự khác nhau
Trang 17về mức độ chi tiết, phương thức và hệ thống phân vị, điều kiện và quan điểm Tuy nhiên, chúng đều có những điểm giống nhau như sau:
- Các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới đều nhằm mục đích chung là hướng tới sử dụng và quản lý đất đai thích hợp, hiệu quả và lâu bền
- Hệ thống phân vị khép kín cho phép đánh giá đất từ khái quát đến chi tiết trên quy
mô lãnh thổ quốc gia, vùng, các đơn vị hành chính và cơ sở sản xuất [4]
- Mỗi phương pháp đánh giá đều có những thích ứng linh hoạt trong việc xác định các đặc tính và các yếu tố hạn chế có liên quan trong quá trình đánh giá đất đai, do đó có thể điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng địa phương [10]
- Đối tượng đánh giá đất đai là toàn bộ quỹ đất đai với các mục đích sử dụng khác nhau Các phương pháp đánh giá đều coi đất đai là một vật thể tự nhiên gồm các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu và động thực vật
- Việc nhấn mạnh những yếu tố hạn chế bất lợi của đất và xác định các biện pháp bảo vệ đất theo phương pháp đánh giá đất của Mỹ là rất có ý nghĩa trong việc tăng cường bảo vệ môi trường sinh thái và sử dụng đất bền vững
1.1.3 Đánh giá đất theo FAO
Trước tình hình suy thoái đất diễn ra mạnh mẽ và ngày một tăng, tổ chức FAO
đã có quá trình thử nghiệm đánh giá đất tại nhiều vùng khác nhau trên thế giới và đã
thu được những kết quả nhất định Từ những năm 70, nhiều quốc gia trên thế giới
đã cố gắng phát triển hệ thống đánh giá đất của họ nhằm có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất Các nhà khoa học nghiên cứu về đánh giá đất trên thế giới nhận thấy phải có một sự nỗ lực không chỉ đơn phương ở từng quốc gia riêng rẽ mà phải thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất trên phạm vi toàn cầu Kết quả là Ủy ban Quốc tế nghiên cứu đánh giá đất của tổ chức FAO được thành lập tại Rome (Ý)
đã phát thảo bản dự thảo về đánh giá đất lần đầu tiên vào năm 1972
Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá và phân hạng đất đai, tổ chức FAO với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp kinh nghiệm
ở nhiều nước để xây dựng lên bản: “Đề cương đánh giá đất đai” (FAO - 1976) [38] Tài liệu này được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là
Trang 18phương tiện tốt nhất để đánh giá tài nguyên đất đai, sau đó đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 1983
Theo FAO (1976) thì đánh giá đất đai được định nghĩa như sau: “Đánh
giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt đất, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có” [38]
Tiếp theo tài liệu năm 1976, hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể được ban hành như: Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ nước trời (FAO - 1983) [39]; Đánh giá đất cho nền nông nghiệp được tưới (FAO - 1985) [40]; Đánh giá đất đai vì sự phát triển (FAO - 1986) [41]; Đánh giá đất đai cho phát triển nông thôn (FAO - 1988) [42]; Đánh giá đất cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (FAO - 1989) [43]; Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất (FAO - 1994) [44]
Khi tiến hành đánh giá đất cụ thể cho các đối tượng sản xuất nông, lâm kết hợp thì đất đai được nhìn nhận như là “Một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi
có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trong, bên trên và bên dưới như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, động vật và thực vật, những hoạt động trong quá khứ và hiện tại của con người phát triển ở chừng mực
mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai” Như vậy, đánh giá đất đai phải được xem xét trên phạm vi rộng rãi bao gồm cả về không gian, thời gian và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Đặc điểm đánh giá đất đai của FAO là những tính chất của đất có thể đo lường hoặc ước lượng được Vì vậy cần có sự lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá mà có sự tác động đến vùng đất hay khu vực nghiên cứu [37]
1.1.3.1 Một số khái niệm liên quan đến đánh giá đất của FAO
- Đất đai (Land): đất đai được định nghĩa là một vùng lãnh thổ mà đặc tính của
nó được xem như những thuộc tính tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không và ở mức độ nào đối với vùng đất đó Thuộc tính của đất bao gồm:
Trang 19khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thuỷ văn, giới động, thực vật, những tác động của con người ở hiện tại và quá khứ
- Loại hình sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật được xác định
- Hệ thống sử dụng đất (Land Use System - LUS): là sự kết hợp giữa đơn vị đất đai và các loại hình sử dụng đất, mỗi hệ thống sử dụng đất được coi là một hợp phần của hệ thống canh tác (FAO, 1983)
Mục đích của đánh giá đất đai theo FAO là đánh giá đất nhằm tăng cường nhận thức và sự hiểu biết về phương pháp đánh giá trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm duy trì nguồn tài nguyên đất không bị thoái hoá và sử dụng đất lâu bền
1.1.3.2 Các nguyên tắc cơ bản trong đánh giá đất theo FAO
Để tiến hành đánh giá đất theo quan điểm thích hợp và bền vững, FAO đưa ra các nguyên tắc chính sau:
- Các loại hình sử dụng đất được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển, hoàn cảnh và đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng nghiên cứu
- Các loại hình sử dụng đất cần được mô tả và xác định về các thuộc tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội
- Đánh giá mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá và phân hạng cho các loại hình sử dụng đất cụ thể
- Đánh giá đất đai cần có sự so sánh giữa hai hay nhiều LMU
- Khả năng thích hợp của đất đai cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững, các nhân tố sinh thái trong sử dụng đất phải được cân nhắc để quyết định
- Đánh giá khả năng thích hợp đất đai bao gồm cả sự so sánh về năng suất thu được và đầu tư chi phí cần thiết của loại hình sử dụng đất
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành
Trang 201.1.3.3 Quy trỡnh đỏnh giỏ đất đai của FAO
Trong tài liệu “Đỏnh giỏ đất đai vỡ sự nghiệp phỏt triển” của FAO (1986) đó chỉ dẫn cỏc bước thực hiện đỏnh giỏ đất và quy hoạch sử dụng đất theo hỡnh 1.1
Hỡnh 1.1: Cỏc bước chớnh trong đỏnh giỏ đất và quy hoạch sử dụng đất
Cả quy trỡnh đỏnh giỏ đất đai và quy hoạch sử dụng đất gồm 9 bước, trong
đú bước 7 là bước chuyển tiếp giữa đỏnh giỏ đất đai và quy hoạch sử dụng đất Cuối cựng là việc ỏp dụng đỏnh giỏ đất để triển khai thực hiện vào sản xuất cho vựng nghiờn cứu
1.1.3.4 Cỏc phương phỏp đỏnh giỏ đất theo FAO
Cú 2 phương phỏp đỏnh giỏ đất theo FAO:
- Phương phỏp hai bước: gồm cú đỏnh giỏ đất tự nhiờn (bước thứ nhất) và tiếp theo là phõn tớch kinh tế - xó hội (bước thứ hai) Phương phỏp này hoạt động theo cỏc trỡnh tự rừ ràng, vỡ vậy cú thể linh động thời gian trong việc huy động cỏc nhúm cỏn bộ đỏnh giỏ về điều kiện tự nhiờn và điều kiện kinh tế xó hội
- Phương phỏp song song: cỏc bước đỏnh giỏ đất tự nhiờn tiến hành đồng thời với cỏc phõn tớch kinh tế - xó hội Ưu điểm là nhúm cỏn bộ đa ngành cựng làm việc gồm cả cỏc nhà khoa học tự nhiờn và kinh tế - xó hội Phương phỏp này cú ưu điểm
khả
năng thích hợp
Xác
định hiện trạng
KT-XH -
MT
Xác
định LUT thích hợp
Quy hoạch
sử dụng
đất
áp dụng của việc
đánh giá đất
Xác
định các
Trang 21là các thành viên trong nhóm đánh giá (kể cả tự nhiên và kinh tế - xã hội) có thể trao đổi cùng nhau và dễ dàng đưa ra những kết luận có tính nhất trí cao
Thực tế sự khác nhau giữa 2 phương pháp là không rõ ràng, nên khi áp dụng cần lựa chọn phương pháp thích hợp tùy thuộc vào điều kiện cụ thể
1.1.3.5 Đánh giá khả năng thích hợp
Theo FAO khả năng thích hợp đất đai là thước đo phản ánh mức độ thích hợp như thế nào của một đơn vị đất đai đối với yêu cầu của một loại hình sử dụng đất được xác định Khả năng này có thể xem xét ở điều kiện hiện tại hoặc trong tương lai sau khi áp dụng những cải tạo đối với đất đai [16]
Cấu trúc phân loại khả năng thích hợp đất đai theo FAO gồm 4 cấp như sau:
Cấp thích hợp (Land Suitability Order): phản ánh loại thích hợp, nó chỉ
ra đất đai là thích hợp hay không thích hợp với loại hình sử dụng đất được xem xét Trong đó ký hiệu S: thích hợp và N: không thích hợp
Hạng thích hợp (Land Suitability Class): phản ánh các mức độ thích hợp
đối với các LUT, hạng được ký hiệu bằng chữ số với 3 mức sau:
- S1 (Rất thích hợp): cho thấy các đơn vị đất đai không thể hiện những yếu tố hạn
chế hoặc chỉ thể hiện ở mức độ nhẹ, dễ khắc phục và không làm ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận thu được ở loại hình sử dụng đất đánh giá
- S2 (Thích hợp trung bình): chỉ các đơn vị đất đai có những hạn chế ở mức độ
trung bình đối với loại hình sử dụng đất đánh giá Những hạn chế này sẽ làm giảm sức sản xuất hay lợi nhuận thu được hoặc phải tăng mức đầu tư để đạt được mức lợi nhuận cần thiết khi sử dụng
- S3 (Thích hợp thấp): đặc tính đơn vị đất đai xuất hiện nhiều hoặc một số yếu
tố hạn chế nghiêm trọng khó khắc phục đối với các loại hình sử dụng đất được xác định, lợi nhuận thu được kém và đòi hỏi chi phí đầu tư cao Tuy nhiên chưa đến mức phải loại bỏ các loại hình sử dụng đất đó
* Hạng của cấp không thích hợp được chia ra làm hai loại:
- N1 (Không thích hợp hiện tại): đặc tính của đơn vị đất đai không thích hợp với LUT hiện tại vì có các yếu tố hạn chế nghiêm trọng Tuy nhiên các yếu tố hạn chế đó có thể được khắc phục bằng biện pháp đầu tư rất lớn hay các giải pháp về
Trang 22khoa học và kỹ thuật áp dụng trong tương lai để có thể cải tạo được đất đai nhằm nâng hạng thích hợp lên
- N2 (Không thích hợp vĩnh viễn): đặc điểm của đất có những yếu tố hạn chế rất nghiêm trọng không thể khắc phục được bằng bất cứ biện pháp kỹ thuật hoặc kinh tế nào trong hiện tại cũng như trong tương lai
Hạng phụ (Sub-Class): hạng phụ thích hợp phản ánh các yếu tố đang hạn
chế đến khả năng sử dụng đất của vùng nghiên cứu Các yếu tố hạn chế ở hạng phụ chủ yếu là các điều kiện tự nhiên và đất đai như: khí hậu (lụt, hạn hán…), điều kiện đất đai (địa hình, độ dốc…), tính chất đất (mặn, được tưới…) Hạng phụ thích hợp thường đi kèm các ký hiệu của yếu tố hạn chế đối với kiểu sử dụng đất nào đó (ví dụ: S2i, S2t ) Những hạng thuộc cấp không thích hợp N có thể được chia ra các hạng phụ tuỳ thuộc vào loại hạn chế chẳng hạn như N1i, N1e
Đơn vị thích hợp (Unit): đơn vị đất được phân ra theo các yếu tố hạn chế ở
hạng phụ trong sản xuất và đầu tư sản xuất Các yếu tố hạn chế về quản lý kinh tế phụ thuộc vào các nông hộ/nông trại Để nhận biết các đơn vị thích hợp đất đai, việc quản lý chi tiết có thể được điều tra cụ thể trên đồng ruộng và cho từng nông hộ [27]
Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO được thể hiện ở Hình 1.2
Hình 1.2: Cấu trúc của phân hạng thích hợp đất đai theo FAO
S 1 S2
Trang 232.1.3.6 Ưu điểm của phương pháp đánh giá đất theo FAO
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO là sự kết hợp hài hoà giữa hai trường phái đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và của Mỹ Phương pháp đánh giá đất theo FAO khắc phục được những nhược điểm chủ quan trong đánh giá đất vì nó đã đưa ra các chỉ dẫn thích hợp về đất đai cho từng loại hình sử dụng đất cụ thể trong sản xuất, do
đó kết quả đánh giá được thể hiện một cách cụ thể đối với các yếu tố đánh giá
- Việc nhấn mạnh các yếu tố hạn chế trong sử dụng đất có tính đến các vấn đề môi trường và đánh giá riêng rẽ, chi tiết đối với từng loại hình sử dụng đất cho phép phương pháp đánh giá đất của FAO đánh giá các yếu tố được rõ ràng hơn, kết quả đánh giá được khách quan hơn và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ môi trường sinh thái trên những vùng đất dễ bị suy thoái [10]
- Khắc phục được những chủ quan trong đánh giá đất: Trong các phương pháp đánh giá đất của Liên Xô và Hoa Kỳ đều thiếu những giới hạn phân chia giá trị cho các tiêu chuẩn phân loại sử dụng riêng rẽ, điều này sẽ không tránh khỏi ý thức chủ quan trong việc đánh giá đất Phương pháp đánh giá đất của FAO đã xác định được khá rõ các giới hạn về giá trị của các yếu tố đánh giá nên kết quả đánh giá mang tính khách quan và rõ ràng hơn cho các loại sử dụng đất so với hai phương pháp trên [10]
- Phương pháp đánh giá đất của FAO ngoài việc đề cập đến các chỉ tiêu về điều kiện tự nhiên đối với đất đai còn đề cập tới các chỉ tiêu kinh tế xã hội có liên quan đến khả năng sử dụng đất và sinh lợi của chúng Đặc biệt phương pháp đánh giá đất của FAO rất coi trọng và quan tâm đến việc đánh giá khả năng duy trì và bảo
vệ tài nguyên đất đai nhằm tập trung những giải pháp cho mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp bền vững trên phạm vi toàn thế giới
Tóm lại, phương pháp đánh giá đất của FAO là sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng của đất gắn với việc phân tích các khía cạnh kinh tế, xã hội
và môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tốt nhất
Trang 241.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trong đánh giá đất theo FAO
1.2.1 Khái niệm về bản đồ đơn vị đất đai
Theo khái niệm của FAO "Đơn vị bản đồ đất đai (LMU)" là một khoanh/
vạt đất được xác định cụ thể trên bản đồ đơn vị đất đai với những đặc tính và tính chất đất đai riêng biệt, thích hợp đồng nhất cho từng loại hình sử dụng đất,
có cùng một điều kiện quản lý đất và cùng một khả năng sản xuất và cải tạo đất Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng riêng và nó có khả năng thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định (FAO, 1983) Tập hợp các đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực/vùng đánh giá đất được thể hiện bằng bản đồ đơn vị đất đai [27]
Theo đề xuất của FAO, việc xây dựng các LMU phải dựa trên những yếu
tố đất đai có ảnh hưởng rõ đến khả năng thích hợp của các LUT
* Các đặc tính của đơn vị bản đồ đất đai:
- Các đơn vị đất đai được thể hiện trên bản đồ là những vùng với những đặc tính và tính chất đủ để tạo lên sự khác biệt với các đơn vị đất đai khác và đảm bảo
sự thích hợp với các loại hình sử dụng đất khác nhau
- Các đơn vị đất đai có thể được mô tả theo các đặc tính và tính chất của chúng Đặc tính là những thuộc tính phản ánh về mặt chất lượng như độ phì, khả năng
về độ ẩm, khả năng cung cấp không khí Ví dụ: Đặc tính về độ ẩm của đất Đặc tính này có liên quan đến các tính chất của đất như: Lượng mưa, thành phần cơ giới, cấu trúc đất và độ xốp đất Khi sử dụng các đặc tính để xây dựng LMU thì người ta chỉ cần sử dụng số lượng các chỉ tiêu không lớn Tuy nhiên, những đặc tính thường không dễ xác định cho từng loại đất và từng vùng đất cụ thể Các đặc tính thường trả lời trực tiếp cho các yêu cầu của các LUT, chúng thường liên quan đến một vài hay nhiều tính chất
Chất lượng đất đai là tính chất phức tạp, thông thường phản ánh mối quan hệ nội tại của rất nhiều đặc tính đất, tính chất đất là những thuộc tính có thể đo đếm được Ví dụ: PH, thành phần cơ giới, độ dốc, địa hình Trong thực tế, người ta có thể dễ dàng xác định các tính chất đất đai, nhưng nếu sử dụng các tính chất để xây
Trang 25dựng LMU thỡ số lượng cỏc chỉ tiờu tớnh chất đũi hỏi phải khỏ nhiều mới phản ỏnh được chất lượng của cỏc LMU
1.2.2 Quy trỡnh xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai
Qui trỡnh xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai bao gồm 4 bước theo hỡnh 1.3
Hỡnh 1.3: Cỏc bước xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai
Bước 1 Lựa chọn và phõn cấp chỉ tiờu bản đồ đơn vị đất đai
Cơ sở lựa chọn cỏc chỉ tiờu phõn cấp xõy dựng bản đồ đơn vị đất đai phụ thuộc vào phạm vi, mục đớch và yờu cầu cụ thể của chương trỡnh đỏnh giỏ đất, cụ thể là:
- Phạm vi toàn lónh thổ thỡ lựa chọn cỏc chỉ tiờu phõn cấp theo vựng sinh thỏi nụng nghiệp (khớ hậu, hỡnh dạng đất đai, điều kiện thuỷ văn, lớp phủ thổ nhưỡng )
- Phạm vi vựng, tỉnh thỡ lựa chọn phõn cấp theo ranh giới hành chớnh và mục đớch sử dụng đất Cỏc yếu tố chớnh là cỏc đặc tớnh và khả năng sản xuất của khu vực như hệ thống tưới tiờu, thời vụ, chế độ luõn canh…
- Phạm vi huyện thỡ lựa chọn phõn cấp theo mục đớch và điều kiện sử dụng đất Cỏc yếu tố lựa chọn thường là tớnh chất đất, điều kiện thuỷ lợi, luõn canh, thõm canh…
Đơn vị bản đồ đất đai được xỏc định cho từng vựng cụ thể phải đảm bảo cỏc yờu cầu chớnh sau:
- Mỗi LMU phải đảm bảo được tớnh đồng nhất tối đa theo cỏc chỉ tiờu phõn cấp đó được xỏc định
- Cỏc LMU phải mang ý nghĩa thực tiễn cho cỏc LUT được đề xuất lựa chọn
đơn tính
3 Xây dựng bản
đồ đơn vị
đất đai
4 Mô tả bản đồ
đơn vị đất
đai
Trang 26- Các đặc tính và tính chất dùng để xác định LMU phải là những đặc tính hay tính chất khá ổn định vì chúng là cơ sở cho việc so sánh và đối chiếu với các yêu cầu của từng loại sử dụng trong đánh giá thích hợp
- Các LMU phải được xác định một cách đơn giản dựa trên những kết quả điều tra thực tiễn
- Các LMU phải được thể hiện rõ trên bản đồ
Bước 2 Xây dựng các bản đồ đơn tính
Bản đồ đơn tính là bản đồ thể hiện đặc tính, tính chất riêng rẽ theo các mức khác nhau của đất đai Sau khi lựa chọn xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn
vị đất đai phải kết hợp thu thập, điều tra và khảo sát thực địa để xây dựng các bản
đồ đơn tính Trong hệ thống thông tin địa lý (GIS) thì các bản đồ đơn tính được thể hiện dưới dạng bản đồ số, chúng được xây dựng với sự kết hợp của một số phần mềm GIS như: Microstation, Mapinfo và ArcView
Bước 3 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai được tiến hành bằng phương pháp chồng xếp các bản đồ đơn tính để tạo ra các đơn vị đất đai Phương pháp chồng xếp bản đồ
có thể thực hiện bằng phương pháp thủ công (khoanh bằng tay) hoặc bằng máy tính theo công nghệ GIS
Bước 4 Mô tả bản đồ đơn vị đất đai
Việc mô tả các đơn vị bản đồ đất đai nhằm thể hiện được những thuộc tính cơ bản trong mỗi đơn vị đất đai, qua đó nó sẽ giúp cho người sử dụng nhận biết được những sai khác chi tiết về mặt chất lượng giữa các đơn vị bản đồ đất đai trong toàn vùng nghiên cứu Công tác xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là bước đi mang tính kỹ thuật không thể thiếu được trong quá trình đánh giá đất theo FAO và là cơ sở cho toàn bộ quá trình đánh giá đất
1.2.3 Ý nghĩa của việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Bản đồ đơn vị đất đai là sự tổng hợp các điều kiện sinh thái và môi trường
tự nhiên của mỗi vùng Các đặc tính và tính chất trong phân cấp xây dựng bản
Trang 27đồ đơn vị đất đai là sự thể hiện rõ nét về các điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu như đặc điểm đất đai, khí hậu, thuỷ văn, địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng Các đặc điểm tự nhiên này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xác định các lợi thế và hạn chế về mặt tự nhiên của vùng nghiên cứu, từ đó đưa ra hướng phát triển nông nghiệp phù hợp với thực tế sản xuất
Việc xây dựng và phân chia ra các đơn vị bản đồ đất đai chính là việc tìm ra những sự khác nhau về mặt chất lượng của các khoanh đất theo đặc tính và tính chất đất đai Chất lượng này chi phối đến khả năng đáp ứng yêu cầu đất đai của các LUT và khả năng sử dụng chúng Chính bởi vậy cần phải lựa chọn được các yếu tố có liên quan mật thiết tới yêu cầu sử dụng của LUT Thực chất trước đây các đặc tính hay tính chất đã được người ta xác định song chỉ theo ý nghĩa tác động độc lập tới yêu cầu của LUT chứ chưa thể hiện một cách là tổ hợp của nhiều yếu tố như trong mỗi một LMU
1.3 Một số kết quả đánh giá đất và xây dựng bản đồ đơn vị đất đai tại Việt Nam
Nghiên cứu về đánh giá đất đai ở Việt Nam mới thực sự được bắt đầu ở những năm đầu của thập kỷ 70, thời kỳ này công tác đánh giá đất đai chủ yếu tập trung vào việc phân hạng đất lúa trong phạm vi hợp tác xã Bùi Quang Toản, Vũ Cao Thái, Đinh Văn Tỉnh, Nguyễn Văn Thân đã thực hiện công tác nghiên cứu đánh giá đất
và phân hạng đất ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh Kết quả bước đầu đã đem lại những thành tựu thiết thực cho công tác tổ chức lại sản xuất [28] Từ kết quả nghiên cứu đó, Bùi Quang Toản đã đề xuất quy trình phân hạng đất đai áp dụng cho các hợp tác xã và các vùng chuyên canh gồm 4 bước, các yếu tố chất lượng đất được chia ra thành yếu tố thuận và yếu tố nghịch, đất đai được chia thành
4 hạng: rất tốt, tốt, trung bình và kém [29]
Năm 1983, Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành dự thảo “Phương pháp phân hạng đất lúa nước cấp huyện” Theo phương pháp này, đất đai được chia làm 8 hạng, chủ yếu dựa vào năng suất cây trồng là chính, ngoài ra còn sử dụng các chỉ tiêu như độ dày tầng canh tác, địa hình, thành phần cơ giới, độ nhiễm mặn và nhiễm phèn [29]
Trang 28Năm 1986 Tôn Thất Chiểu (1986) đã nghiên cứu đánh giá, phân hạng đất khái quát toàn quốc trên tỷ lệ bản đồ 1/500.000, tác giả đã áp dụng đánh giá phân loại khả năng đất đai của Bộ Nông nghiệp Mỹ, kết quả là đã phân lập ra các nhóm khả năng thích hợp đất đai trên toàn quốc Trong đó có 4 nhóm được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, 2 nhóm có khả năng sử dụng cho sản xuất lâm nghiệp và 2 nhóm được sử dụng vào các mục đích sử dụng khác [5]
Phương pháp đánh giá sử dụng đất thích hợp của FAO bắt đầu được nghiên cứu ứng dụng ở Việt Nam vào những năm cuối của thập kỷ 80 Năm 1989 Vũ Cao Thái lần đầu tiên thử nghiệm đánh giá sử dụng đất thích hợp cho một số cây trồng như cà phê, cao su, chè, dâu tằm ở Tây Nguyên [24] Tiếp đó phương pháp đánh giá đất của FAO đã lần lượt được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên các phạm vi đánh giá khác nhau, cụ thể là:
1.3.1 Trên phạm vi toàn quốc
Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng (1995) [13] đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam ở tỷ lệ bản đồ 1/250.000 trên 9 vùng sinh thái Kết quả đã xác định 340 đơn vị bản đồ đất đai, trong đó miền Bắc 144 đơn vị đất đai, miền Nam có 196 đơn vị đất đai Trên bản đồ đánh giá đất đai toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất chính, trong đó có 28 loại hình sử dụng đất được lựa chọn Năm
1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp [11] đã hoàn thành việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai toàn quốc tỷ lệ 1/1.000.000 trên cơ sở xác định 7 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là nhóm đất, độ dầy tầng đất, độ dốc, lượng mưa, thuỷ văn nước mặt, chế độ tưới tiêu và tổng tích ôn
1.3.2 Trên phạm vi vùng sinh thái và cấp tỉnh
- Phạm Quang Khánh, Trần An Phong (1994) [14] nghiên cứu đề tài “Đánh giá
hiện trạng sử dụng đất vùng Đông Nam Bộ trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững” Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng Đông Nam Bộ ở tỷ lệ 1/250.000 xác định được 54 đơn vị đất đai trên cơ sở lựa chọn 6 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm nhóm đất, phân bố mưa, khả năng tưới, độ dốc,
độ dày tầng đất mịn và đá lộ đầu
Trang 29- Nguyễn Văn Nhân (1996) [18] đã tiến hành đánh giá khả năng sử dụng đất đai của vùng đồng bằng sông Cửu Long Theo nghiên cứu này, kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai vùng Đồng bằng Sông Cửu Long ở tỷ lệ 1/250.000 đã xác định được 123 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai là nhóm đất, tình trạng xâm nhập mặn, độ sâu ngập, khả năng tưới, lượng mưa trung bình năm và thời gian canh tác nhờ mưa Theo kết quả này, có 63 đơn vị đất đai ở các vùng đất phèn, 10 đơn vị đất đai ở vùng đất mặn, 22 đơn vị đất đai ở vùng đất phù sa không bị hạn chế và 18 đơn vị đất đai ở vùng đất khác
- Nguyễn Công Pho (1995) [20] đã nghiên cứu “Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền” Theo kết quả nghiên cứu này, vùng Đồng bằng Sông Hồng ở tỷ lệ 1/250.000 có 33 đơn vị đất đai trong đó có
22 đơn vị thuộc đồng bằng và 11 đơn vị thuộc đất đồi núi trên cơ sở xác định 4 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai gồm loại đất, độ dốc mặt đất, chế độ tưới tiêu và tình trạng ngập úng
- Theo nghiên cứu của Phạm Dương Ưng, Nguyễn Khang, Đỗ Đình Đài
(1995) [32]: trên cơ sở xác định 7 chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
ở tỷ lệ 1/250.000 gồm đất và địa chất, địa mạo, độ dốc, độ dầy tầng đất, khả năng tưới tiêu, lượng mưa trung bình năm và tổng nhiệt độ, thì vùng Tây Nguyên có 195 đơn vị đất đai, trong đó có 45 đơn vị đất đai thuộc nhóm đất đỏ bazan, 32 đơn vị đất thuộc nhóm đất bồi tụ và đất đen vùng đồng bằng và thung lũng, 35 đơn vị đất đai
có độ dốc 0 - 150
và tầng dầy > 100 cm
- Kết quả nghiên cứu của Lê Thái Bạt (1995) [1] đã đánh giá và đưa ra đề xuất
sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền cho vùng Tây Bắc Theo kết quả nghiên cứu này, vùng Tây Bắc có 230 đơn vị đất đai trong đó đã xác định
157 đơn vị đất đai thuộc đất trống đồi trọc
- Nguyễn Đình Bồng (1995) [4] đã vận dụng phương pháp đánh giá đất thích hợp của FAO để đánh giá tiềm năng sản xuất nông, lâm nghiệp cho đất trống đồi núi trọc ở Tuyên Quang ở tỷ lệ bản đồ 1/500.000 Kết quả đánh giá đã xác định và đề xuất 153.172 ha đất trống đồi núi trọc có khả năng sử dụng vào sản xuất nông, lâm
Trang 30nghiệp Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai đối với đất trống, đồi núi trọc của tỉnh được phân thành 125 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 5 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là tổ hợp đất, địa hình độ dốc, độ dầy tầng đất, tổng lượng mưa và tổng nhiệt độ/năm Trong 125 đơn vị đất đai được đưa ra, có 70 đơn
vị có nhiều hạn chế đối với sản xuất nông, lâm nghiệp về chế độ dốc và tầng dày và
55 đơn vị còn lại hạn chế ít hơn Việc khai thác diện tích đất trống đồi núi trọc có ý nghĩa rất lớn về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường
1.3.3 Trên phạm vi cấp huyện
- Vũ Thị Bình (1995) [2] nghiên cứu đề tài “Đánh giá đất đai phục vụ định
hướng quy hoạch nâng cao hiệu quả sử dụng đất huyện Gia Lâm, vùng đồng bằng
sông Hồng” Kết quả xây dựng bản đồ đơn vị đất đai cho huyện Gia Lâm tỷ lệ
1/25.000 gồm 20 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là loại đất, thành phần cơ giới, độ phì đất, điều kiện tưới, điều
kiện tiêu và ngập úng
- Theo nghiên cứu của Đoàn Công Quỳ (2000) [22]: Tổng diện tích được điều
tra đánh giá của huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên là 48.801,20 ha, bao gồm 680 khoanh và 52 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 8 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai là nhóm đất, thành phần cơ giới, địa hình tương đối, độ dốc, độ cao, độ dày tầng đất, chế độ tưới và tiêu
- Đỗ Nguyên Hải (2000) [10] đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá đất và hướng sử dụng đất bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh” Trong nghiên cứu này, đất canh tác huyện Tiên Sơn được phân chia thành 25 đơn vị đất đai ở tỷ lệ bản đồ 1/25.000 trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu phân cấp là loại đất, thành phần cơ giới, địa hình, độ phì đất, điều kiện tưới, và ngập úng Kết quả đánh giá sử dụng đất thích hợp hiện tại và tương lai đã cho thấy bằng biện pháp cải tạo thủy lợi và cải thiện độ phì đất có thể làm thay đổi mức độ thích hợp của các LUT Những đề xuất sử dụng đất thích hợp có thể khai thác một cách có hiệu quả thế mạnh tiềm năng đất đai và duy trì khả năng sử dụng đất bền vững cho huyện Tiên Sơn
Trang 31- Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thông (2002) [26]: Kết quả xây dựng bản
đồ đơn vị đất đai cho đất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định tỷ lệ 1/25.000 gồm 40 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 7 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là loại đất, thành phần cơ giới, độ phì đất, địa hình tương đối,
độ nhiễm mặn, chế độ tưới và tình trạng ngập úng
- Theo nghiên cứu của Lê Quang Vịnh (1998) [34]: Kết quả xây dựng bản đồ
đơn vị đất đai cho đất nông nghiệp huyện Xuân Trường - tỉnh Nam Định ở tỷ lệ 1/25.000 gồm 33 đơn vị đất đai trên cơ sở xác định 6 chỉ tiêu phân cấp để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai là loại đất, thành phần cơ giới, độ phì đất, địa hình, khả năng tưới nước và độ nhiễm mặn đất
Tóm lại, các nghiên cứu đánh giá đất ở tầm vĩ mô của nhiều tác giả đã có những đóng góp lớn trong việc hoàn thiện dần quy trình đánh giá đất ở Việt Nam Đối với việc xây dựng bản đồ đơn vị đất đai thì việc lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai ở các vùng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu và cấp tỷ lệ bản đồ cần xây dựng Các chỉ tiêu và yếu tố được lựa chọn cho xây dựng bản đồ đơn vị đất đai chủ yếu là các chỉ tiêu thể hiện về tính chất của đất đai (địa hình, độ dốc, thành phần cơ giới…) còn các chỉ tiêu thể hiện đặc tính còn ít
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tương và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài chỉ tập trung trong các loại đất sản xuất nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2011 đến tháng 9 năm 2012
2.3 Nội dụng nghiên cứu của đề tài
2.3.1 Thu thập dữ liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của vùng nghiên cứu
- Các dữ liệu về điều kiện tự nhiên đất đai bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, chế độ thuỷ văn, điều kiện địa chất và thổ nhưỡng
- Các dữ liệu về điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm: hiện trạng dân số, lao động và cơ sở hạ tầng liên quan đến sản xuất nông nghiệp
- Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
2.3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai của huyện Đồng Hỷ bằng công nghệ GIS
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra cơ bản
Để thu thập các thông tin, số liệu cần thiết cho nghiên cứu đề tài, các phương
pháp điều tra cơ bản sau được áp dụng:
- Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, tình hình sử dụng đất), điều kiện kinh tế xã hội (cơ sở kinh tế, cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, định hướng thị trường) của vùng nghiên cứu tại Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Phòng Kinh tế - hạ tầng, Phòng Kế hoạch, Trạm Khí tượng Thuỷ văn của huyện Đồng Hỷ và một số cơ quan khác liên quan
Trang 33- Phương pháp khảo sát, điều tra dã ngoại: Căn cứ vào bản đồ hiện trạng và bản đồ thổ nhưỡng, tiến hành điều tra, kiểm tra lại đặc tính và tính chất đất đai trên thực địa theo tuyến lát cắt địa hình từ Tây sang Đông
- Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp nông hộ về tình hình sản xuất, các đặc tính và tính chất đất đai nhằm lựa chọn các chỉ tiêu phân cấp xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Tiến hành qua điều tra phỏng vấn các nông hộ canh tác trên các đơn vị đất đai khác nhau theo 3 tiểu vùng (chọn 3 xã) đại diện cho các địa hình khác nhau về đặc điểm, điều kiện đất đai và khả năng sản xuất nông nghiệp cụ thể:
- Tại xã Văn Lăng đại diện cho tiểu vùng địa hình cao, có tỷ lệ diện tích đất sản xuất/người thấp và nằm ở vị trí gần đầu nguồn tưới
- Tại xã Tân Long đại diện cho tiểu vùng có địa hình vàn, có tỷ lệ diện tích đất sản xuất/người trung bình và nằm ở vị trí trung gian chuyển tiếp giữa địa hình cao
và thấp trong hệ thống tưới
- Tại xã Linh Sơn đại diện cho tiểu vùng có địa hình thấp, trũng nhất trong vùng, có tỷ lệ diện tích đất sản xuất/người cao nằm ở vị trí gần cuối nguồn tưới
2.4.2 Phương pháp xây dựng các bản đồ đơn tính bằng công nghệ GIS
Ứng dụng phần mềm Microstation số hoá bản đồ nền, sau đó chuyển sang phần mềm MapInfo để biên tập các bản đồ đơn tính (bản đồ loại đất, độ dốc, độ cao, thành phần cơ giới, độ phì, độ dày, chế độ tưới) theo các mức chỉ tiêu đã phân cấp
2.4.3 Phương pháp chồng xếp bản đồ bằng công nghệ GIS
Ứng dụng phần mềm Arcgis để chồng xếp các bản đồ đơn tính theo phương pháp cặp đôi nhằm tạo ra bản đồ đơn vị đất đai
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Exel để tổng hợp số liệu và xác định đặc tính chính của các đơn vị bản đồ đất đai
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiờn, kinh tế xó hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thỏi Nguyờn
3.1.1 Điều kiện tự nhiờn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thỏi Nguyờn
3.1.1.1 Vị trớ địa lý
Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía bắc của tỉnh Thái Nguyên, với 15 xã
và 3 thị trấn
Tổng diện tích tự nhiên của Đồng Hỷ là 45.524,44 ha
- Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn
- Phía Nam giáp huyện Phú Bình, thành phố Thái Nguyên
- Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía tây giáp huyện Phú L-ơng, thành phố Thái Nguyên
Huyện Đồng Hỷ có vị trí khá thuận lợi, nằm sát trung tâm thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp lớn của tỉnh, với hệ thông giao thông đ-ờng bộ khá phát triển (Quốc lộ 1B, tỉnh lộ 259 nối huyện với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang ) tạo điều kiện thuận lợi cho Đồng Hỷ trong việc giao l-u kinh tế, văn hoá, xã hội cũng nh- việc tiếp cận các thành tựu khoa học, kỹ thuật và góp phần thu hút vốn đầu t- của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài n-ớc Đó chính là động lực để Đồng Hỷ
có thể phát triển kinh tế đa dạng với các ngành: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, th-ơng mại, dịch vụ, du lịch và nông lâm nghiệp
3.1.1.2 Điều kiện khí hậu
Do nằm ở chí tuyến bắc trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, nên khí hậu của huyện Đồng Hỷ mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa nóng (m-a nhiều) từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa lạnh (m-a ít) từ tháng 11 tới tháng 3
- Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22o C, tổng tích ôn trong năm khoảng 8000o C, nhiệt độ tối cao trung bình 27,2o C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 20,2o C Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất (28,5o C), tháng 1
Trang 35là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất (15,6o C), số giờ nắng trong năm là 1628 giờ, năng l-ợng bức xạ đạt khoảng 115 Kcal/ cm2
- Về chế độ m-a, ẩm:
Cũng nh- các huyện khác trong tỉnh, mùa m-a ở Đồng Hỷ th-ờng tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, l-ợng m-a trong tháng này chiếm tới 91,6% tổng l-ợng m-a trong năm L-ợng m-a đạt 410 – 420 mm trong tháng và số ngày m-a th-ờng là 17- 18 ngày /tháng Tháng 12 và tháng 1 là tháng có l-ợng m-a ít nhất (khoảng 24 – 25mm/tháng)
Với đặc điểm khí hậu, thời tiết của huyện nh- trên, trong định h-ớng bố chí sử dụng đất của huyện cần lợi dụng chế độ nhiệt cao, độ ẩm khá để bố trí nhiều loại cây trồng trong năm
Hỡnh 3.1: Sơ đồ hành chớnh huyện Đồng Hỷ
Trang 363.1.1.3 Địa hỡnh
- Về địa hình: Địa hình của huyện thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ cao trung bình so với mặt n-ớc biển là 80m, cao nhất là núi Bồ Câu (539m), thấp nhất là khu vực Nam Hoà (20m) Vùng Đông Bắc có địa hình núi cao chia cắt phức tạp tạo ra nhiều khe suối hiểm trở, độ cao trung bình của vùng núi cao khoảng 120m Vùng Tây Nam địa hình núi thấp, đồi bát úp, xen kẽ những cánh đồng t-ơng
đối bằng phẳng
Vùng ven Sông Cầu: Địa hình t-ơng đối băng phẳng, nhiều cánh đồng rộng, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp
3.1.1.4 Điều kiện thủy văn, thủy lợi
Nhìn chung sông suối của huyện đều bắt nguồn từ khu vực núi cao phía Bắc Mật độ sông suối bình quân 0,2 Km/1 Km2 Trên địa bàn có mạng l-ới sông suối sau:
- Sông cầu: Chảy từ phía bắc xuống theo đ-ờng ranh giới của huyện dài 47
Km Đây là nguồn cung cấp n-ớc chính cho xản suất của vùng
- Suối Linh Nham: Suối này bắt nguồn từ huyện Võ Nhai chảy qua Văn Hán, Khe Mo, Hoá Th-ợng, Linh Sơn rồi đổ ra sông Cầu
- Suối Thác Dạc: Suối này chảy từ Trại Cau vào sông Cầu, dài 14 Km Ngoài các sông, suối chính trong huyện còn 117 ha ao hồ, là nơi chứa n-ớc cho nhu cầu sản suất và đời sống của huyện
3.1.1.5 Điều kiện thổ nhưỡng
Huyện Đồng Hỷ cú tổng diện tớch tự nhiờn là 45.524,44 ha, trong đú diện tớch đất sản xuất nụng nghiệp là 15.262,48 ha (chiếm 33,53 % tổng diện tớch đất tự nhiờn)
Phõn loại đất sản xuất nụng nghiệp trờn địa bàn toàn huyện theo nguồn gốc phỏt sinh gồm 10 loại:
Trang 37Bảng 3.1: Các loại đất sản xuất nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ
(Nguồn: Bản đồ thổ nhưỡng huyện Đồng Hỷ)
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động
Theo số liệu thống kê toàn huyện năm 2011 có khoảng 59.230 lao động, chiếm 45,95% dân số Trong đó, lao động phi nông nghiệp chiếm gần 15% tổng số lao động; lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu chiếm trên 85% tổng số lao động Qua điều tra hàng năm lao động huyện mới chỉ sử dụng hết 78% quỹ thời gian lao động
do thiếu việc làm Hiện nay, có khoảng 3,6% lao động thường xuyên không có việc làm và khoảng 30% lao động nông nghiệp nhàn rỗi Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ gần 85% tổng số lao động Có thể nói nguồn lao động của huyện khá dồi dào song trình độ còn hạn chế Trong thời gian tới cần có các chính sách phát triển việc làm cho người dân Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân huyện Đồng Hỷ trong những năm qua đã được cải thiện Mức thu nhập của người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ được thể hiện qua bảng sau:
Trang 38Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của người dân trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 – 2011
513.000 12,520
568.000 14,369
814.000 17,551
565
27.611
1.368 4,95
345
28.177
7.027 24,94
360
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ năm 2011)
Nhìn chung, tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của cộng đồng các dân tộc trong huyện còn ở mức thấp so với mức bình quân chung của cả nước Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2011 đạt 17.600.000 đồng và mức thu nhập phân
bố cũng không đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn với thành thị
Tài nguyên nhân văn: Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc với bản sắc đa
dạng, khác nhau cùng sinh sống, hiện nay có 8 dân tộc anh em trên địa bàn huyện; trong đó: Kinh chiếm 62,80%; Nùng chiếm 13,6%; Sán Dìu chiếm 21,7%; H’Mông chiếm 1,7%; Hoa chiếm 0.17% và một số dân tộc khác
Trang 39Hình 3.2: Cơ cấu các thành phần dân tộc
3.1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Đồng hỷ năm 2011
Hình 3.3: Hiện trạng sử đất của huyện Đồng Hỷ năm 2011
Theo kết quả thống kê đất đai năm 2011, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện tính đến hết 12/2011 là 45.524,44 ha được phân bố theo 15 đơn vị hành chính xã và
03 thị trấn, diện tích đất trung bình của một đơn vị hành chính cấp xã là 2.529,13
ha Trong đó diện tích đơn vị nhỏ nhất là 307,33 ha (thị trấn Chùa Hang); diện tích lớn nhất là 6.546,90 ha (xã Văn Hán) Cụ thể như sau:
2.991,48 6.57%
4.843,32 ha 10.64%
37.689,64 ha 82.79%
Đất nông nghiệp Đất p
i nông nghiệp
Trang 40Đất nông nghiệp: 37.689,64 ha, chiếm 82,79% diện tích tự nhiên; Đất phi nông nghiệp: 4.843,32 ha, chiếm 10,64% diện tích tự nhiên; Đất chưa sử dụng: 2.991,48 ha, chiếm 6,57% diện tích tự nhiên
Như vậy, hiện tại quỹ đất đai của huyện đã được đưa vào sử dụng các mục đích phát triển kinh tế - xã hội khá triệt để chiếm 93,33%
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đồng Hỷ năm 2011)
Hộ gia đình, cá nhân sử dụng với diện tích 27.268,32 ha, chiếm 72,35 % diện tích đất nông nghiệp toàn huyện; Các tổ chức kinh tế sử dụng với diện tích 10.421,32ha (chiếm 27,65% diện tích đất nông nghiệp toàn huyện) Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 40,49% đất nông nghiệp và 33,53% diện tích
tự nhiên Các xã có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn là xã Văn Hán (2.471,29ha), xã Khe Mo (1.561,88ha) (đất trồng cây hàng năm có 8.806,39ha,