Sécnưsépxki - nhà dân chủ cách mạng Nga trong tác phẩm “Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực” đã nêu quan niệm đúng đắn về văn nghệ: “Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
- -
TÀI LIỆU NGUYÊN LÝ LÝ LUẬN VĂN HỌC
NGUYỄN ĐỨC THĂNG
AN GIANG, THÁNG 11 NĂM 2017
Trang 2Tài liệu giảng dạy “Nguyên lý lý luận văn học”, do tác giả Nguyễn Đức Thăng, công tác tại Khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo khoa thông qua ngày………, và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày………
Tác giả biên soạn
Trang 4
GIỚI THIỆU TÀI LIỆU
Học phần Nguyên lý lý luận văn học mở đầu quá trình học lý luận văn học của sinh viên
ngành sư phạm ngữ văn, có vai trò quan trọng trong toàn bộ chương trình học Nó cung cấp những kiến thức có tính nguyên lý về bản chất đặc trưng của văn học
Tài liệu Nguyên lý lý luận văn học biên soạn nhằm đáp ứng việc đào tạo sinh viên ngữ văn
ở bậc đại học thuộc hệ đào tạo theo hình thức tín chỉ có sự giới hạn ở số tiết và yêu cầu sinh viên chủ động học tập Do vậy, tài liệu xây dựng trình bày những vấn đề cốt yếu của lý luận văn học Tài liệu gồm 9 chương Mỗi chương có các phần: mục tiêu cần đạt, nội dung chương, câu hỏi gợi ý học tập và tài liệu tham khảo
Cơ sở của việc biên soạn tài liệu là hai giáo trình của hai nhóm tác giả:
1 - Hà Minh Đức (chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng,
Nguyễn Văn Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành, Lí Hoài Thu (1995) Lí luận văn
học Nxb Giáo dục
2 - Phương Lựu (chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh (2008)
Lí luận văn học (tập 1- Văn học, nhà văn, bạn đọc) Nxb Đại học Sư phạm
Một số những luận điểm cơ bản, những lập luận chặt chẽ, khoa học từ hai giáo trình trên được giữ lại trong tài liệu giảng dạy này Người viết phân tích thêm những vấn đề chưa được các tác giả trình bày rõ hoặc các dẫn chứng chỉ được đề cập, chưa đi sâu phân tích làm sáng tỏ luận điểm; đồng thời cung cấp và phân tích thêm các dẫn chứng mới giúp người học hiểu rõ các vấn
đề lý luận Tài liệu đưa thêm một số vấn đề mới, nhận định lại một vài vấn đề chưa thật khoa học
Tuy không đưa thêm nhiều vấn đề mới nhưng tài liệu đã đảm bảo tính khoa học, hệ thống
về các vấn đề lý luận cơ bản, đáp ứng nhu cầu của sinh viên học tập phần lý luận đầu tiên của chương trình đào tạo
An Giang, ngày 28 tháng 11 năm 2017
Người soạn: Nguyễn Đức Thăng
Trang 6
- Nội dung đặc thù của văn học là tình cảm xã hội thẩm mỹ
- Tình cảm xã hội thẩm mỹ trong nghệ thuật phải tồn tại trong hình thức ngoại quan Nghệ thuật là hình tượng về tình cảm xã hội thẩm mỹ
* * *
Văn nghệ, trong đó văn học là một bộ phận quan trọng, bắt nguồn và phản ánh đời sống; bày
tỏ lập trường, quan điểm với đời sống Nhưng khác với những hình thái ý thức xã hội khác, văn nghệ tồn tại đặc thù mang tính bản chất, phát huy sức mạnh to lớn của nó Đặc thù của văn nghệ cũng như của một hình thái ý thức xã hội thường biểu hiện ở đối tượng, nội dung, phương thức tồn tại…
1 ĐỐI TƢỢNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ
1.1 Đối tượng là gì?
Tính đặc thù về nội dung của văn nghệ gợi lên tính đặc thù về đối tượng; vì đối tượng là cái được chiếm lĩnh, nhận thức, phản ánh, chuyển hóa thành nội dung Cần phân biệt khách thể và đối tượng Khách thể là toàn bộ thế giới khách quan tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người, là cơ
sở của nhận thức và hoạt động của con người Đối tượng là một phần của khách thể mà con người
có thể chiếm lĩnh tùy theo nhu cầu, năng lực của mình
1.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệ
1.2.1 Giới thuyết
Nhiều nhà văn, nhà lý luận đã từng đưa ra những quan niệm về đối tượng của văn nghệ
Trong đó, N G Sécnưsépxki - nhà dân chủ cách mạng Nga trong tác phẩm “Quan hệ thẩm mỹ của
nghệ thuật đối với hiện thực” đã nêu quan niệm đúng đắn về văn nghệ: “Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và đời sống) làm con người quan tâm; không phải là cái quan tâm của một học giả, mà là của con người bình thường Cái mọi người quan tâm trong đời sống là nội dung của nghệ thuật” “Cái mọi người quan tâm” theo N G
Sécnưsépxki bao gồm toàn bộ thiên nhiên, con người, xã hội nhưng điều quan trọng là chúng phải được nhìn nhận, chiếm lĩnh riêng theo đặc trưng của văn nghệ
1.2.2 Đối tượng đặc trưng của văn nghệ
Nếu khoa học quan tâm đến các “kinh nghiệm sự thực” ghi nhận các sự vật, hiện tượng tự nhiên và xã hội thuần túy thì văn học, văn nghệ khám phá các khía cạnh trong “kinh nghiệm quan hệ”; tức là phản ánh các quan hệ của thế giới hiện thực, mà trước hết là các quan hệ xã hội loài người Cụ thể văn nghệ không phản ánh hiện thực trong ý nghĩa khách quan phổ quát chủng loại của sự vật như cái giếng, ngôi nhà, con đường, đám mây…; nghệ thuật quan tâm chính là quan hệ người kết tinh trong sự vật Đó là cái giếng làm nơi hò hẹn, ngôi nhà nơi mình được sinh ra với bao
kỷ niệm, con đường ra mặt trận ngập tràn niềm vui ngày chiến thắng Đám mây không chỉ là hiện tượng tự nhiên mà là đối tượng gợi nhiều xúc cảm:
“Vì mây cho núi lên trời
Vì chưng gió thổi hoa cười với trăng”
(Ca dao)
Và:
“Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng Ước gì anh lấy được nàng
Thì anh mua gạch Bát Tràng về xây Xây dọc rồi lại xây ngang
Trang 7Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tay Chớ rửa lông mày chết cá ao anh”
(Ca dao) Hoặc:
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cánh phân vân!”
(Thơ duyên - Xuân Diệu)
Khi đại thi hào Nguyễn Du viết :
“Cỏ non xanh tận chân trời, Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
(Truyện Kiều) không chỉ cho ta thấy cảnh mùa xuân ra sao mà còn làm chúng ta rung động với cái đẹp lạ lùng mà tác giả nhìn thấy; rung động với cảnh thiên nhiên mỗi mùa xuân như được tái sinh, sinh sôi nảy nở, tươi xanh tràn đầy sự sống và dường như trong lòng ta cũng có sức sống tươi trẻ luôn tái sinh ấy Văn học miêu tả thiên nhiên không như nhà sinh vật học chỉ nhìn thiên nhiên dưới góc độ tự nhiên
mà nhìn thiên nhiên như hiện thân của cái đẹp, sự nảy nở tươi thắm, sự sống bất tận, bất diệt
Văn học cũng miêu tả con người nhưng không như nhà sinh vật học - giải phẫu xem, tìm hiểu, nghiên cứu cơ thể chỉ là hệ thống các bộ phận có chức năng bảo đảm sự sống; văn học còn nhìn nhận con người như một chỉnh thể sinh động, toàn vẹn trong mọi mặt của đời sống Đó là con người đáng ghét, bị lên án vì lỗ mãng, vô học, gian trá như Mã Gíám Sinh; xảo quyệt, táng tận lương tâm như Hồ Tôn Hiến hoặc đáng thương, đáng trọng vì hiếu thảo, tự trọng, vị tha như nàng Kiều…Ta thấy, văn học miêu tả toàn bộ hiện thực nhưng ở góc nhìn riêng - bình diện các quan hệ
xã hội Chính vì vậy mà các nhà văn, nhà thơ thường chú ý tới những chi tiết gợi nhiều suy tư, xúc cảm hơn những người bình thường Trong các quan hệ xã hội thì con người được đặt ở vị trí trung tâm; đó cũng là điểm tựa để văn học nhìn nhận thế giới Ta hiểu vì sao toàn bộ cảnh sắc trong thơ
đều được tái hiện thông qua cảm nhận của nhân vật trữ tình Trong bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt),
hình ảnh người bà kính yêu vất vả, giàu tình thương và đức hy sinh hiện lên qua dòng hồi ức của người cháu khi đi xa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng - bếp lửa!”
Tương tự, trong tác phẩm truyện; mọi sự vật, sự việc, hiện tượng…đều được tái hiện qua nhân vật,
người kể chuyện Trong tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh), tác phẩm được xây dựng
qua hai lớp cấu trúc gắn liền với người kể chuyện - nhân vật chính Kiên Đó là dòng hồi ức liên tục, phức tạp về tuổi thơ, gia đình; sự ray rứt ghê gớm đan xen với những ẩn ức kinh hoàng về chiến tranh, cùng sự mê đắm, tuyệt vọng của tình yêu tuổi trẻ và ý thức sáng tạo của một nhà văn đầy trách nhiệm Ở lớp cấu trúc thứ hai, người kể chuyện xưng “tôi” - lớp cấu trúc bao trùm tác phẩm -
là câu chuyện về Kiên hiện diện với hai vai trò : một cựu chiến binh làm công việc quy tập hài cốt đồng đội và một nhà văn thời hậu chiến Câu chuyện được tái hiện có vẻ tùy tiện theo dòng tâm tưởng với những ký ức, cảm xúc phức tạp, có phần ám ảnh điên loạn của nhân vật chính Sự độc đáo trong hình thức kể chuyện góp phần quan trọng tạo nên thành công của tác phẩm Như vậy, miêu tả con người là phương thức để miêu tả toàn thế giới Mức độ nhận thức về con người, thế giới quyết định cách thức, mức độ thể hiện hiện thực trong tác phẩm
Con người trong văn học không chỉ được phản ánh ở một góc độ nhìn nhận đời sống, một chỗ đứng để khám phá hiện thực mà điều quan trọng là họ còn được xem xét như những hiện tượng tiêu biểu cho các quan hệ xã hội nhất định; cụ thể văn học nhìn nhận con người cá nhân như những tính
Trang 8cách, phẩm chất tiêu biểu cho một nhóm người, tầng lớp, giai cấp - những kiểu quan hệ xã hội: hiền
lành - hung tợn, dũng cảm - hèn nhát, vị tha - vị kỷ…Nhân vật bà cụ Tứ trong truyện ngắn “Vợ
nhặt” (Kim Lân) hoặc nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”
của nhà văn Nguyễn Minh Châu là hiện thân của những người phụ nữ, người mẹ Việt Nam nhân
hậu, giàu đức hy sinh, thấu hiểu lẽ đời Nhân vật Nghị Quế trong tác phẩm “ Tắt đèn” (Ngô Tất Tố), Bá Kiến trong “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao đại diện cho tầng lớp thống trị gian ác, thủ
đoạn… ở nông thôn Việt Nam trước năm 1945
Con người mà văn học nhận thức bao giờ cũng mang một nội dung đạo đức nhất định Nếu đạo đức học chỉ nhìn con người gắn liền với những chuẩn mực, nguyên tắc xử thế đúng đắn, cao đẹp thì văn học xem xét con người với lăng kính toàn vẹn hơn Tính cách trong văn học cụ thể, sinh động từ suy nghĩ, hành động, lối sống trong từng tình huống, quan hệ đời sống Nhân vật Quản
ngục trong truyện ngắn “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân được đặt trong tình huống
phải lựa chọn giữa việc bảo vệ lý tưởng về cái đẹp, thiên lương và sinh mạng, tiền tài, địa vị bản thân bị đe doạ Ông đã phải trải qua những đêm suy tư, trăn trở; phải nghi ngại, đối phó với những người dưới quyền và sự khinh thường, xa lánh của Huấn Cao…Tác giả cũng đặt nhân vật trong nhiều mối quan hệ: cá nhân, gia đình, xã hội (với triều đình, thuộc cấp…); công việc, ước mơ, lý tưởng…để từ đó làm nổi bật tính cách, số phận nhân vật Con người trong văn học có những phẩm chất phù hợp với chuẩn mực đồng thời cũng có những tính cách phi hoặc phản chuẩn mực Từng chuẩn mực cũng đựợc đánh giá theo lập trường xã hội thời đại; thậm chí còn chịu ảnh hưởng quan điểm cá nhân của tác giả Văn học cũng thường khám phá tính cách đạo đức trong những tình huống đặc biệt, éo le, phức tạp góp phần tạo nên sự độc đáo của nhân vật, tác phẩm
Văn học cũng miêu tả những nhà chính trị, những con người trong đời sống chính trị nhưng không phải là con người mang bản chất giai cấp, lập trường chính trị thuần túy, trừu tượng; mà là
những con người cụ thể, sống động, cá biệt có cá tính “Văn học tìm thấy xung đột đích thực của
mình khi người tá điền bị tên địa chủ lường gạt và họ ý thức được sự lường gạt đó, tỉnh ngộ ý thức được nhân phẩm, trở lại làm người tá điền có danh dự” (Về văn học và nghệ thuật - Bêsơ) Nhân
vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao trước khi gặp Thị Nở đã sống tha hóa đến tận cùng: đốt nhà, rạch mặt, ăn vạ, đâm thuê chém mướn ngập ngụa trong những cơn say bất tận Từ khi gặp Thị Nở, Chí Phèo được đánh thức lương tâm, muốn trở về con đường lương thiện với ước mơ hạnh phúc đời thường; quan trọng là nhân vật nhận ra kẻ thù của mình chính là Bá Kiến, để từ đó có ý thức phản kháng triệt để, quyết liệt, từ bỏ con đường bất lương, tìm lại bản chất tốt đẹp của con người: giết Bá Kiến và tự sát Qua nhân vật chúng ta cũng thấy được bức tranh xã hội chính trị Việt Nam, đặc biệt ở nông thôn giai đoạn 1930-1945 Như vậy văn nghệ thể hiện bản chất xã hội thông qua số phận, tính cách nhân vật Qua đó, văn nghệ có thể làm sống lại cuộc sống chính trị của con người trong bão táp chính trị thời đại Chẳng hạn như nhân vật Pavel Korchagin (tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn N Ostrovsky), một thanh niên - đảng viên trẻ tuổi mơ ước hiến dâng trọn cuộc đời cho lý tưởng bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho nhân dân Anh đã sôi nổi, nhiệt thành cống hiến cho đất nước Xô Viết những ngày đầu sau Cách mạng tháng Mười: tham gia xây dựng con đường sắt nối khu rừng với thành phố trong những ngày tuyết giá, ra mặt trận, đấu tranh với những phần tử tiêu cực ở nông trường, can đảm vượt lên nghịch cảnh bệnh tật, hy sinh tình yêu cá nhân ích kỷ để bảo vệ lý tưởng cao cả Hình ảnh Pavel Korchagin đại diện cho bao thế
hệ thanh niên Xô Viết, đặc biệt thế hệ cùng thời với anh, bằng tình yêu và nghị lực đã sống những ngày tháng thanh xuân tươi đẹp nhất vì nhân dân, lý tưởng Tác phẩm còn tái hiện không khí nóng bỏng, sôi sục Cách mạng giai đoạn chính quyền Xô Viết non trẻ
1.2.3 Kết luận
Cần nhận rõ tính đặc thù về đối tượng của văn học, văn nghệ để hiểu sâu bản chất của nó trong tương quan với các hình thái ý thức xã hội khác; từ đó có cái nhìn, hướng tiếp cận phù hợp, đúng đắn Văn học, văn nghệ phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người xã hội Văn học, văn nghệ không miêu tả thế giới như những khách thể tự nó mà tái hiện chúng trong tương quan với lý tưởng, khát vọng, tình cảm của con người Văn học cũng không phản ánh hiện thực dưới dạng trừu tượng mà tái hiện nó trong sự toàn vẹn, cụ thể, sinh động Trong đó, trung tâm của
Trang 9đối tượng văn học là những con người cụ thể với tính cách, số phận, đời sống tình cảm, lối sống mang bản chất xã hội, lịch sử
Đối tượng đặc trưng của văn học, văn nghệ cũng quy định nội dung đặc trưng của văn học, văn nghệ Đó là tình cảm xã hội - thẩm mỹ và phương thức phản ánh bằng những hình tượng nghệ thuật
2 NỘI DUNG ĐẶC TRƢNG CỦA VĂN NGHỆ - TÌNH CẢM XÃ HỘI THẨM MỸ
2.1 Khái quát
2.1.1 Là một hình thái ý thức xã hội nhưng ý thức trong văn nghệ đã chuyển hóa thành
những tình cảm mãnh liệt Đại văn hào L N Tolstoy đã từng nhận định: “Nghệ thuật là một hoạt
động của con người bắt đầu khi một người tự giác truyền đạt những tình cảm mình đã thể nghiệm cho người khác bằng các dấu hiệu bên ngoài, lan truyền cho người khác những tình cảm ấy và thể nghiệm chúng” (Nghệ thuật là gì) Nhưng cần chú ý rằng không phải mọi tình cảm mãnh liệt cũng
có thể trở thành nội dung của nghệ thuật Chẳng hạn một cô gái than khóc buồn khổ vì bị người yêu phản bội; một người mẹ đớn đau, khủng hoảng vì đứa con vừa mất…những con người này bộc lộ những tình cảm mãnh liệt đến tận cùng nhưng tất cả những cái đó không phải là nghệ thuật; trừ phi những điều này được miêu tả trong tác phẩm nghệ thuật
2.1.2 Nghệ thuật cũng cần chất liệu từ những tình cảm cá nhân nhưng nó phải mang ý nghĩa khái quát Tình cảm trong nghệ thuật là tình cảm mang sắc thái xã hội, là một loại “tình cảm thông minh” (từ dùng của nhà tâm lý học nghệ thuật nổi tiếng L X Vygotski)
2.1.3 Nghệ thuật là tấm gương phản ánh hiện thực, không phải bản thân hiện thực Do vậy, nghệ thuật chỉ gợi lên những ước mơ thưởng thức, thưởng ngoạn, chiêm ngưỡng chứ nghệ thuật không kích thích khát khao, chiếm lĩnh hiện thực Không phải ngẫu nhiên mà thị giác, thính giác, trí tưởng tượng là những cảm quan thích hợp nhất với nghệ thuật Đối với văn học, một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, cũng là một loại hình nghệ thuật tổng hợp gián tiếp, được thưởng thức chủ yếu qua trí tưởng tượng Bên cạnh đó, đến với nghệ thuật, con người còn cần sự chân thành, hồn nhiên, vô vị lợi, thoải mái trong thưởng thức, tìm hiểu, nghiên cứu; phải hòa nhập tâm hồn tình cảm, những phút giây vui buồn, sướng khổ trước số phận nhân vật, vận mệnh nhân dân, đất nước, nhân loại, biến động lịch sử - đó chính là những vấn đề xã hội lớn lao, liên quan tới hàng triệu người, thuộc nhiều thế hệ Đó chính là tính chất xã hội của nội dung tình cảm văn nghệ Cũng chính vì tâm hồn vô tư trong sáng mà con người dễ vươn tới sự hoàn thiện, cao đẹp - đó chính
là tính chất thẩm mỹ của nội dung tình cảm nghệ thuật
2.2 Cơ sở của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Tình cảm xã hội thẩm mỹ, tất nhiên bắt nguồn từ xã hội nhưng trước hết, trực tiếp là từ tâm hồn nghệ sĩ, với tư cách một con người xã hội Trong xã hội, trước cái đẹp, cái tốt; họ đồng tình ủng
hộ, ca ngợi…; trước cái xấu, cái ác, họ chê trách, phê phán…Do vậy, khi những nội dung này được thể hiện trong nghệ thuật thì thông thường chúng sẽ hiện lên nổi bật, sắc nét và tất yếu mang ý nghĩa mỹ học
2.2.1 Đặc trưng của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Tình cảm xã hội thẩm mỹ là tình cảm; vì vậy,trước hết phải chân thành bởi đây là đặc trưng
bản chất của tình cảm Trang Tử trong sách “Ngư phu” đã từng viết: “Cường khốc giả, tuy bi bất
ai; cường nộ giả, tuy nghiêm bất uy; cường thân giả, tuy tiếu bất hòa…Chân bi vô thanh nhi ai, chân nộ vị phát nhi uy; chân thân vị tiếu nhi hòa” (Người giả khóc tuy buồn mà không đau; người
giả giận tuy nghiêm mà không có uy; người giả thân tuy cười mà không hợp…Buồn thật tuy không than nhưng đau; giận thật tuy chưa lộ ra nhưng đã có uy; tình thân thật tuy chưa cười đã thấy hợp) Tình cảm thông thường đã vậy, tình cảm xã hội thẩm mỹ là mức độ cao của tình cảm lại càng cần
sự chân thành, hơn thế ở mức độ cao Tình cảm dù chân thành, trung thực nhưng không cao đẹp, cao thượng cũng không phải tình cảm xã hội thẩm mỹ mà là tự nhiên chủ nghĩa Như vậy chân thành mới chỉ là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ Tình cảm xã hội thẩm mỹ còn phải cao đẹp, cao cả, cao thượng trong mọi cung bậc, sắc thái, hoàn cảnh: buồn rầu, đau khổ, yêu thương, ca ngợi…; thậm chí cả trong căm ghét, giận dữ, phẫn nộ, phê bình, phán xét…Hay nói khác đi, tình cảm xã hội thẩm mỹ phải gắn liền với đạo đức, lý trí K H Marx đã từng lưu ý phê bình phải là “lý trí của phẫn nộ” chứ không phải “phẫn nộ của lý trí” thì trong sáng tạo nghệ thuật lại càng như vậy
Trang 10Trong kiệt tác “Tấn trò đời” của nhà văn H D Balzac, ông đã phê phán, phủ định gay gắt cả một
xã hội và con người Pháp dưới thể chế tư sản đầu thế kỷ XIX với tất cả những tiêu cực, xấu xa Cũng từ đây, những nỗi đau khổ, những tấn bi kịch liên tục xảy ra trong xã hội đồng tiền là sức mạnh vạn năng, chân lý tối thượng Về tình cảm qua tác phẩm của H D Balzac, F Angels có đưa
ra khái niệm “sự phán xét đầy chất thơ” hay “sự phán xét thi vị” Sự phán xét đối với cái xấu, ác,
mặt trái, tiêu cực ở đây thoát ra khỏi sự giận dữ, chê trách, mạt sát thường tình mà vươn tới sự châm
biếm, đả kích bộc lộ tiếng cười phê phán với chiều sâu triết lý Cũng có thể lấy bài thơ “Năm mới
chúc nhau” của nhà thơ Trần Tế Xương làm ví dụ tiêu biểu:
“Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu Phen này ông quyết đi buôn cối Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này chắc hẳn gà ăn bạc Đồng rụng, đồng rơi lọ phải cầu
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thời mua tước, đứa mua quan Phen này ông quyết đi buôn lọng Vừa bán vừa la cũng đắt hàng
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con Sinh năm, đẻ bảy được vuông tròn Phố phường chật hẹp, người đông đúc Bồng bế nhau lên, nó ở non
Bắt chước ai, ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước Sao được cho ra cái giống người”
Nghệ thuật gắn liền với hiện thực; hơn thế, nghệ thuật phải nâng tâm hồn con người lên trên tình cảm trong mọi lĩnh vực của đời sống hàng ngày Đứng trước cái chết sinh ly tử biệt, ai mà
không đau xót, bi thương; nhưng trong tác phẩm “Những người không chết”, tác giả Tố Hữu không
chỉ thể hiện sự hy sinh mất mát mà hơn thế còn bộc lộ niềm tin mãnh liệt vào sự bất tử, vào tương lai của cách mạng:
“Không! Không! Không! Anh không chết Trong tôi
Ý đời anh đã nẩy lộc đâm chồi Trong cân não của một loài cơ cực Anh đương sống với bao nhiêu sinh lực Của thân cây đương buổi nhựa lên cành Kim nam châm đã hướng dẫn đời anh Tôi sẵn có trong tay từ thuở ấy
… Tôi cứ lái cho đến ngày mệt lử Một chiều kia, dù lại cũng như anh Trở về đây trong mạn ván tan tành Giữa lúc những thuyền kia lướt tới”
Trong bài thơ “Sông lấp”, nhà thơ Trần Tế Xương đã bộc lộ tình cảm trước một hiện thực
khá phổ biến nhưng thi phẩm lại tạo dư ba sâu lắng của một nỗi xót xa, cay đắng, nuối tiếc bởi hình
Trang 11ảnh dòng sông lấp gắn liền với sự đổi dời, biến thiên của lịch sử - đất nước Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX Bài thơ ngắn nhưng giá trị tình cảm xã hội thẩm mỹ lại sâu sắc, lớn lao! Hãy hòa điệu hồn mình vào tâm trạng thi nhân để thấy rõ điều này:
“Sông kia rày đã nên đồng Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”
2.2.2 Ý nghĩa, vai trò của tình cảm xã hội thẩm mỹ
Đối với cái tiêu cực, xấu xa, thấp hèn, tình cảm xã hội thẩm mỹ không tránh né mà trực diện đối sánh nó theo một lý tưởng, ước mơ cao đẹp Khi một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật, làm xúc động lòng người, khơi gợi nơi bạn đọc những gì đúng đắn, cao đẹp hoặc lánh xa những gì xấu xa, thấp hèn; thì xét đến cùng cũng là gắn bó với cái đẹp, cái tốt; điều đó cũng đồng nghĩa với việc giúp họ hiểu thêm việc đời (chân) và thấm thêm lẽ đời (thiện) với những hình thức và mức độ nào đó Tình cảm xã hội thẩm mỹ, do đó tuy không đồng nhất nhưng thống nhất với chân lý và đạo
lý Nó sẽ gián tiếp hay trực tiếp bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cho con người biết khao khát vươn tới cái cao đẹp, hoàn thiện, hoàn mỹ Đó là ý nghĩa to lớn, vai trò quan trọng không thể thay thế của văn học nghệ thuật đối với đời sống Nói “không thể thay thế” vì không có lĩnh vực nào sáng tạo ra những giá trị tình cảm thẩm mỹ dồi dào cho xã hội như vậy Nói “to lớn” bởi những giá trị ấy sẽ góp phần xây dựng nền móng tinh thần làm nền tảng cho mỗi thành viên trong xã hội nhìn nhận, đánh giá con người, cuộc đời đúng đắn, sâu sắc hơn
3 HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT - PHƯƠNG THỨC TỒN TẠI CỦA VĂN NGHỆ
Nói đến con người là nói đến những biểu hiện phong phú và quan hệ đa dạng, từ đó nảy sinh tình cảm Nói đến tình cảm xã hội - thẩm mỹ là nói đến đặc trưng của văn nghệ về các phương diện đối tượng và nội dung Do vậy, con người và tình cảm xã hội - thẩm mỹ luôn gắn liền, đan xen với nhau Khi những con người trong hiện thực đi vào tác phẩm nghệ thuật bao giờ cũng được chọn lọc, khái quát, bình giá theo tiêu chuẩn những tình cảm xã hội - thẩm mỹ nên nó cao đẹp, lý tưởng Cần chú ý rằng khi nói tới tình cảm thì phải cụ thể nghĩa là nó gắn với con người, hoàn cảnh cụ thể với những sắc thái, cung bậc cảm xúc và được đặt trong những hình thức thể hiện; chẳng hạn đau buồn thì rơi lệ, giận dữ thì trừng mắt, vui sướng thì tươi cười…Tất nhiên tình cảm xã hội - thẩm mỹ cũng không là biệt lệ Tình cảm xã hội - thẩm mỹ trong nghệ thuật không thể trừu tượng mà phải tồn tại trong một hình thức ngoại quan Nói cách khác một cách ngắn gọn: nghệ thuật là hình tượng về tình cảm xã hội - thẩm mỹ Tất nhiên sự hình thức hóa, hình tượng hóa theo những mức độ khác nhau Nhà ký hiệu học - văn hóa nổi tiếng người Đức, E.Cassirer đã từng khẳng định tầm quan trọng của
tính chất tạo hình trong nghệ thuật: “Nghệ thuật quả thực là biểu hiện tình cảm nhưng nếu không
tạo hình thì nó không thể biểu hiện Quá trình tạo hình này được tiến hành trong những vật môi giới cảm tính” (Bàn về con người) Ngay cả với âm nhạc, một loại hình nghệ thuật khó cảm nhận
tính hình tượng nhất, nhưng khi bàn về “Bản giao hưởng số 9” của L.V Beethoven, ông nói:
“Chúng ta nghe được toàn bộ giai điệu từ thấp đến cao nhất của tình cảm loài người Nó là sự vận động và rung động của toàn bộ sinh mệnh chúng ta” (Phương Lựu, 2008, tr.65) Hiểu được vấn đề
này giúp chúng ta đánh giá đúng đắn một số tác phẩm vốn thuộc về lịch sử, triết học…; chúng cũng
có thể được coi là tác phẩm văn học bởi chúng chứa đựng tình cảm phong phú và được hình tượng
hóa ở một mức độ nào đó Có thể lấy áng “thiên cổ hùng văn” “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi)
làm ví dụ minh họa Tác phẩm là kết tinh lòng yêu nước tha thiết của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn và nhân dân Đại Việt Điều đó thể hiện ở lòng tự hào về truyền thống dân tộc, lòng căm thù giặc sâu sắc, những phương thế khắc phục khó khăn; chiến lược, sách lược tài tình; đặc biệt
ý chí quyết tâm cao độ chiến đấu và chiến thắng; ngay cả triết lý nhân nghĩa cũng ngời sáng tinh thần yêu nước Về tính hình tượng, nhiều câu, đoạn văn đạt tới cấp độ sâu sắc:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn;
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
… Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;
…
Trang 12Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội;
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi
… Tuấn kiệt như sao buổi sớm;
Nhân tài như lá mùa thu
… Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào
… Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật;
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay
… Gươm mài đá, đá núi cũng mòn;
Voi uống nước, nước sông phải cạn
… Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường;
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước”
Hoặc như tác phẩm lịch sử vốn viết về những con người thực, vớl bản chất xã hội lịch sử tiêu biểu của nó nhưng nếu tác giả lại phóng bút miêu tả những biểu hiện sinh động của nó từ hành
động, ngôn ngữ đến nội tâm, tình cảm, tính cách…thì tác phẩm đã bước vào lĩnh vực văn học “Sử
ký” (Tư Mã Thiên) không chỉ là tác phẩm quý giá về lịch sử Trung Quốc mà còn xứng đáng là một
tác phẩm văn học đặc sắc của văn học Trung Hoa và nhân loại Khi tác giả viết về Hạng Võ, ta thấy nhân vật hiện lên thật sống động với ngôn ngữ, thái độ, tình cảm Đó là một con người kiêu ngạo vì phần nào đã tiên đoán được khả năng võ nghệ cao cường thiên phú của mình; đúng hơn là thái độ tự tin, dự báo tương lai của một danh tướng, một cuộc đời với những chiến công oanh liệt; dù lúc này
Hạng Võ mới chỉ là một cậu bé học hành kém cỏi: “Học chữ chỉ đủ ký tên, học kiếm chỉ đủ địch
một người Phải học được cách địch nổi vạn người” Chỉ hai câu nói, độc giả đã thấy nhân vật hiện
lên cụ thể, lôi cuốn Đến cuối đời, khi bị quân của Lưu Bang bao vây ở Cai Hạ, dù có thể vượt qua
Ô Giang trở về quê cũ Giang Đông thoát nạn, Hạng Võ cũng từ bỏ, đúng với tính cách của một võ
tướng: “ Trời hại ta rồi, còn vượt qua sông mà làm gì? Huống hồ ta vốn đã cùng tám ngàn con em
Giang Đông vượt sông đi về phía Tây, nay không còn một ai cùng trở về Giá thử các bậc cha anh ở Giang Đông còn thương ta và đưa ta lên làm vua, ta cũng không mặt mũi nào mà nhìn họ Dù họ không nói, ta há không biết thẹn với mình ư? (Hạng Võ bản kỷ) Mấy câu nói cuối đời càng tô đậm
tính cách của một dũng tướng vừa cao ngạo lại vừa biết rõ giới hạn khả năng của mình, nắm rõ quy luật và rất giàu lòng tự trọng…Dẫn chứng vừa nêu đã góp phần xác nhận con người với những biểu hiện phong phú, quan hệ đa dạng cùng tình cảm xã hội cao đẹp là đặc trưng cơ bản của nghệ thuật
về mặt đối tượng, nội dung Như vậy, hình tượng nghệ thuật với tư cách là phương thức tồn tại của nghệ thuật với hai thành tố cơ bản, không thể tách rời vừa nêu, đã xác định đặc trưng trọn vẹn của nghệ thuật Nói khác đi, qua những hình tượng nghệ thuật sống động, các mặt đối tượng, nội dung chính sẽ bộc lộ một cách trọn vẹn trong sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau
3.1 Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù
Đặc điểm cơ bản của tác phẩm văn nghệ (văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo, sân khấu…) là
chúng được coi là những khách thể tinh thần Gọi là khách thể (tinh thần) bởi chúng là thế giới (tinh
thần) được khách thể hóa thành hiện tượng xã hội tồn tại khách quan (không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người nghệ sĩ hoặc người thưởng thức) Ai cũng có thể tìm hiểu, thưởng thức tác
phẩm như một đối tượng, một khách thể độc lập Gọi là (khách thể) tinh thần vì theo K H Marx, F Angels, chúng là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” Đó chính là “cái vật chất được
chuyển vào đầu óc con người và được cải tạo ở trong đó” Hiện thực được phản ánh như một hoạt
động cảm tính của con người, như một thực tiễn đáp ứng nhu cầu của đời sống Những cái tinh thần
đó được lưu truyền qua những phương tiện vật chất nhất định và trở thành những khách thể trong đời sống xã hội Những nhân vật lịch sử, văn học như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương, Thánh
Trang 13Gióng, bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Quang Trung…đều đang tồn tại như những khách thể tinh thần trong đời sống tâm linh của người Việt
Có thể phân biệt những khách thể tinh thần trong những lĩnh vực khác nhau: sinh hoạt thực tiễn hoặc văn hóa tín ngưỡng Điều quan trọng là phải hiểu hình tượng nghệ thuật như một khách thể nghệ thuật tác động vào con người với tất cả tính thực tại của chúng Hình tượng tinh thần phải được thể hiện qua hình vẽ, ký hiệu, phương tiện tạo hình…và quan trọng là chúng phải truyền được cái thần, cái khí… của khách thể tinh thần Cũng không nên cứng nhắc quy chiếu cấu trúc của hình tượng nghệ thuật vào những hình ảnh, hình tượng so sánh, ẩn dụ… Hình ảnh, hình tượng so sánh,
ẩn dụ…chỉ trở thành hình tượng nghệ thuật khi chúng gắn liền với ngữ cảnh, hoàn cảnh xã hội, văn
hóa dân tộc Trong tác phẩm “Đoạn trường tân thanh”, khi đại thi hào Nguyễn Du miêu tả cảnh vật
xung quanh lầu Ngưng Bích và tâm trạng nàng Kiều:
“Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
… Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
Người đọc dễ dàng liên tưởng đến hoàn cảnh nghiệt ngã, số phận chìm nổi vô định và tâm trạng lo lắng tột cùng đến khủng hoảng của nàng Kiều giữa một môi trường xa lạ đầy cạm bẫy hiểm nguy Nếu chúng ta tách chúng khỏi ngữ cảnh, cốt truyện… thì những sự suy diễn sẽ trở nên võ đoán, áp đặt
Tóm lại, hình tượng tinh thần là một khách thể tinh thần, mọi phương tiện biểu hiện chỉ có ý nghĩa khi nó làm sống lại các khách thể đó; và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào thâm nhập vào thế giới tinh thần đó mới có thể thưởng thức trong sự thấu hiểu, đồng cảm sâu sắc về tác phẩm
3.2 Tính tạo hình và tính biểu hiện của hình tượng
3.2.1 Hình tượng nghệ thuật là cái được sáng tạo, khái quát Tạo hình là việc làm cho khách thể có được sự tồn tại cụ thể, cảm tính bên ngoài qua chất liệu; là làm cho thế giới những hình tượng khái quát một hình thức, dáng vẻ, hình hài Nó bao gồm việc tạo cho hình tượng một không gian, thời gian, sự kiện, các mối quan hệ; đặc biệt là tạo dựng những con người có ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, nội tâm, tính cách, số phận X M Âyanhxtanh - đạo diễn sân khấu,
điện ảnh, nhà nghiên cứu lý luận có viết: “Trước cái nhìn bên trong, trước cảm giác của tác giả,
hiện lên một hình tượng nào đấy, thể hiện được một cách xúc động đề tài của anh ta và anh ta đặt
ra một nhiệm vụ - biến hình tượng ấy thành vài ba hình ảnh riêng biệt, những chi tiết mà trong sự tổng hợp và đối chiếu với nhau, chúng lại gợi lên trong ý thức và tình cảm của người cảm thụ đúng cái hình tượng xuất phát đã được khái quát ấy” Như vậy, không có tạo hình thì không có hình
tượng; bởi vì hình tượng nghệ thuật về bản chất là một hiện tượng tinh thần, nó không thể được
“đưa cho mà làm nảy sinh, xuất hiện” Tạo hình nghệ thuật chỉ chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhưng
giàu sức biểu hiện nhất, tiêu biểu nhất cho một tình huống, hoàn cảnh, tính cách, số phận Giá trị và
ý nghĩa của tạo hình là thể hiện chỉnh thể Những nhà văn tài năng thường sáng tạo được những
“chi tiết biết nói”, đó chính là những tạo hình đắt giá trong nghệ thuật Thử điểm qua một số chi tiết trong văn học Việt Nam chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tính tạo hình trong nghệ thuật Trong tác phẩm đặc
sắc “Chí Phèo”, nhà văn Nam Cao đã sáng tạo rất nhiều chi tiết ấn tượng sâu sắc xoay quanh nhân
vật chính góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm như: tiếng chửi đa thanh phức điệu ẩn chứa nhiều triết lý; nước mắt của Chí Phèo gắn liền với sự tự nhận thức và thức tỉnh lương tâm; bát cháo hành hiếm hoi, quý giá của Thị Nở; câu nói đầy dư âm đau đớn, uất nghẹn tận đáy lòng một kẻ bất lương muốn
trở về con đường lương thiện: “Tao muốn làm người lương thiện !”…Hoặc trong truyện ngắn “Vợ
nhặt” (Kim Lân), tác giả đã xây dựng được những chi tiết độc đáo góp phần tạo thành công cho tác
phẩm: bốn bát bánh đúc giữa chợ, bữa cơm ngày đói, nước mắt của bà cụ Tứ, hình ảnh đám người đói cầm cờ đỏ sao vàng đi phá kho thóc Nhật…Về bản chất, tạo hình trong nghệ thuật là sự cấu tạo tập trung, dồn nén, có phần ước lệ ở những mức độ khác nhau
3.2.2 Biểu hiện là đặc trưng cơ bản của tạo hình Biểu hiện là khả năng bộc lộ cái bên trong, bản chất của sự vật, hiện tượng, con người; phần nào hé mở những nỗi niềm thầm kín, xung đột nội tâm, tính cách…của nhân vật Biểu hiện gợi lên sự trọn vẹn, đầy đặn của hình tượng; nhất là
Trang 14thể hiện khuynh hướng tư tưởng, tình cảm của con người, tác giả trước hiện thực Chính vì vậy, trong hình tượng nghệ thuật, mọi chi tiết đều có ý nghĩa, chức năng của nó, không có chi tiết thừa Hơn thế, chi tiết trong hình tượng thường mang tính đa nghĩa; vừa gợi không gian, thời gian; vừa gợi tình huống, tính cách, số phận nhân vật; vừa gợi thái độ, tình cảm của tác giả đối với chúng G
W F Hegel gọi các chi tiết trong tác phẩm là những “con mắt” - qua đó chúng ta thấy được thế giới
tinh thần, nhất là thấy được “một tâm hồn tự do trong cái vô hạn của nó” (Phương Lựu (chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa và Lê Lưu Oanh, 2008, tr 71)
Cơ sở của tạo hình là sự tương đồng của nó so với cái được miêu tả, dù cái được miêu tả có trong hiện thực hay tưởng tượng Cơ sở của biểu hiện là khác biệt Sự kết hợp giữa tạo hình và biểu hiện làm cho hình tượng có một hình thức nghệ thuật độc đáo, hấp dẫn Đó là một thể thống nhất sinh động giữa hiện thực và hư ảo, trực tiếp và gián tiếp, ổn định và biến hóa, thống nhất và đa dạng…chứa đựng nội dung cuộc sống phong phú; tư tưởng, cảm xúc sâu sắc
đặc trưng của hình tượng vừa là tồn tại khác lại vừa phản ánh, khái quát “Nếu ký hiệu thiên về việc
chỉ ra cái đã được quy ước ổn định thì hình tượng nghệ thuật luôn chỉ ra cái mới, phát hiện cái độc đáo” (Phương Lựu và cs, 2008,tr 72) Chẳng hạn khi Xuân Diệu viết:
“Tôi muốn tắt nắng đi
Của yến anh này đây khúc tình si,
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi sáng sớm, thần Vui hằng gõ cửa
Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội vàng) thì các chi tiết: nắng, gió, ong, bướm, hoa, lá, đồng nội, cành tơ, yến anh, ánh sáng…đều là các ký hiệu tự nhiên và chính niềm khát khao mãnh liệt giao cảm với thiên nhiên, con người, cuộc đời của nhân vật trữ tình đã hòa nhập tình yêu cuộc sống trong thiên nhiên tuyệt mỹ; qua đó thể hiện cảm quan mới về cuộc đời Các chi tiết ký hiệu đóng vai trò phương tiện khái quát, còn hình tượng là bản thân sự khái quát; cũng giống như từ ngữ là ký hiệu, còn lời phát biểu là thái độ, tình cảm, quan niệm, tư tưởng…
Các chi tiết ký hiệu nói trên là ký hiệu thẩm mỹ Mỗi hình ảnh tạo hình vừa tái hiện một hiện tượng thực tại, vừa mã hóa một nội dung cảm xúc do hiện tượng gợi lên trong những cảnh huống nhất định Chẳng hạn, trong cổ thi Trung Hoa thì hình ảnh lá ngô đồng rụng là tín hiệu thu sang:
“Ngô đồng nhất diệp lạc Thiên hạ cộng tri thu”
nhưng không chỉ thế, nó còn chứa đựng nhiều nội dung tình cảm thẩm mỹ khác nữa Thử điểm qua một vài dẫn chứng, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó:
“Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”
(Bích Khê - Tỳ bà)
Trang 15Như vậy hình ảnh lá ngô đồng rụng còn thể hiện cảnh mùa thu buồn vương hiu hắt, mênh mang; đặc biệt với thân phận lữ thứ tha hương:
“Ngô đồng rụng lá phương nao?
Mà trang thơ cổ xạc xào lá rơi Vàng thu thấp thoáng phương trời
Lá khô thao thức cùng tôi phương này Bóng thơ cùng chữ lay bay
Ấy ai thiên cổ đêm nay xao lòng Tiếng ngô đồng…
tiếng ngô đồng Tiếng ngàn thu trước rơi cùng tiếng thơ Hồn tôi rụng với thu xưa
Lòng ai phương nọ, vàng chưa thu này?”
(Phạm Ngọc Lư - Tiếng ngô đồng) Cũng vậy, hoa sen tươi đẹp từ đặc điểm sinh học là mọc giữa ao đầm bùn lầy nên gợi vẻ đẹp trong trắng, mộc mạc, chân chất; lối sống thanh cao, coi thường danh lợi; sự yêu kính, ngưỡng mộ…Do vậy khi đọc những bài thơ viết về hoa sen, đa số người Việt Nam có kiến thức đều hiểu nội dung tác phẩm mà các tác giả thể hiện:
“Lấm nhơ chẳng bén, tốt hòa thanh Quân tử kham khôn, được thửa danh Gió đưa hương đêm nguyệt tĩnh Trinh làm của, có ai tranh”
(Nguyễn Trãi) Và:
“Một vùng kim bích giữa hồ đầm Thần múa, tiên cười trước gió nam Tròn lửng bóng in trăng đầy nước Hồng tươi sắc thiếp ráng chiều hôm Trên tay Phật Thích càng thêm thánh Dưới gót Phan Thi chẳng kể phàm Quân tử hay hoa ai biết chẳng Ngàn thu ruột đắng với lòng thơm”
(Phan Bội Châu - Hoa sen)
Ta thấy, trong các chi tiết tạo hình luôn có sự mã hóa các tư tưởng, cảm xúc xã hội thẩm mỹ Mỗi thời kỳ lịch sử, văn học nghệ thuật các dân tộc, các loại hình, thể loại, tác giả đều có cách mã hóa khác nhau tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật riêng cho từng trường hợp Chẳng hạn trong văn học dân gian Việt Nam thì hình ảnh “thuyền” tượng trưng cho sự ra đi (thường là người con trai), như trong bài ca dao:
“Thuyền về có nhớ bến chăng?
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Hoặc số phận nổi nênh, cuộc đời vô định của con người (đặc biệt là người phụ nữ):
“Lênh đênh một chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước gửi mình vào đâu?”
Nhưng trong văn học phương Tây, “thuyền” lại mang ý nghĩa là sự phiêu du của linh hồn sang thế
giới bên kia Hiểu như vậy, chúng ta mới giải mã được hình ảnh “thuyền hồn” trong bài thơ “14
tháng 7” của nhà thơ Tố Hữu:
“Thuở oanh liệt của muôn đời tắt nghỉ!
Ta nhắm mắt để thời gian trên mí Chở thuyền hồn lên những bến bờ qua Cửa nay ta lại tới cắm thuyền ta Giữa những tiếng reo hò dân nước Pháp”
Hoặc trong những câu thơ sau của Huy Cận:
Trang 16“Da chiều mới tỏ sao hôm Màu thanh thiên đã và ôm giữa hồn Giữa trời hình lá con con Trời xa sắc biển, lá thon mình thuyền Gió qua là ngọn triều lên
Hiu hiu gió đẩy thuyền lên biển trời Chở thuyền lên tận chơi vơi Trăm chèo của nhạc, muôn lời của thơ Quên thân như đã quên giờ
Tê mê cõi biếc, bến bờ là đâu”
(Trông lên) Như vậy, muốn hiểu, nhất là hiểu đúng đắn, sâu sắc hình tượng nghệ thuật thì người đọc phải có một vốn văn hóa nhất định mới có thể giải mã, chiếm lĩnh ngôn ngữ nghệ thuật vốn không đơn giản Hình tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống; lại vừa là một hiện tượng ký hiệu giao tiếp Bản chất của hiện tượng ký hiệu giao tiếp có xu hướng cố định hóa; trở thành công thức sáo mòn Bản chất sự phản ánh nhận thức có xu hướng tìm tòi cái mới, phát hiện cái độc đáo
Từ đó diễn ra quá trình thường xuyên đổi mới và cắt nghĩa lại ký hiệu, sáng tạo ký hiệu mới Chẳng hạn hình ảnh cây đa trong ca dao Việt Nam thường tượng trưng cho sự ổn định, lâu dài, bền vững:
“Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ”
Và:
“Trăm năm đành lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ, con đò khác đưa”
Nhưng cũng có khi hình ảnh cây đa lại mang ý nghĩa hoàn toàn trái ngược:
“Cây đa trốc gốc trôi rồi
Đò đưa bến khác, anh ngồi đợi ai?”
Chính sự thay đổi, sáng tạo ký hiệu mới là nguồn gốc tạo ra mối quan hệ giữa cái lặp lại và cái không lặp lại, cái như thật và cái ước lệ trong nghệ thuật Quy trọn bản chất nghệ thuật vào ký hiệu
là hạ thấp vai trò nhận thức và sáng tạo của nó Điều cần thiết là đi vào đời sống mới làm cho thế giới nghệ thuật phong phú và luôn luôn đổi mới, hấp dẫn
3.4 Hình tượng nghệ thuật là một quan hệ xã hội thẩm mỹ
Nghệ thuật là sự kết tinh những kinh nghiệm quan hệ của con người; do đó cấu trúc của hình tượng là một quan hệ xã hội thẩm mỹ Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật không giản đơn chỉ là
sự thống nhất giữa cái cá biệt, cụ thể, cảm tính và cái chung, khái quát, lý trí mà chính là ở chỉnh thể các quan hệ xã hội thẩm mỹ được thể hiện Trước hết là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh; thứ đến là quan hệ của tác giả với cuộc sống trong tác phẩm, quan hệ giữa tác giả với người tiếp nhận, quan hệ giữa hình tượng và ngôn ngữ; cuối cùng là quan hệ giữa các yếu tố trong bức tranh đời sống Chính cái phức hợp quan hệ này tạo thành hạt nhân cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật
Bức tranh nghệ thuật bắt đầu từ cái khung, vở diễn bắt đầu từ bục lên sân khấu, tác phẩm văn học bắt đầu từ những câu chữ đầu tiên Khung là giới hạn phân biệt hình tượng và đời sống nhưng
cũng vì vậy mà tạo nên sự đối chiếu cái được miêu tả và sự miêu tả “Truyện Kiều”, trước hết là
truyện được lưu truyền trong nhân gian:
“Cảo thơm lần giở trước đèn Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh”
nhưng khi sáng tạo, Nguyễn Du đã kể lại trong tương quan chuyện đời người, nhất là phận hồng nhan; gợi nhiều suy tư, trăn trở, đớn đau, nhức nhối:
“Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng
Lạ gì bỉ sắc tư phong,
Trang 17Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”
Đó là câu chuyện cụ thể về cuộc đời đầy bi kịch của nhân vật chính Vương Thúy Kiều Chính quan
hệ giữa truyện “cổ lục” và quan hệ đời người “những điều trông thấy” đan xen vào nhau làm cho cấu trúc tác phẩm được nâng lên một tầm cao mới so với tác phẩm “Kim Vân Kiều truyện” của
Thanh Tâm Tài Nhân Nguồn gốc tác phẩm từ truyện Trung Hoa năm Gia Tĩnh triều Minh nhưng
sự hiểu đời, hiểu người đã giúp Nguyễn Du biến câu chuyện tình khổ thành khúc bi ca tân khổ thương người bạc mệnh; qua đó trình bày “những điều trông thấy”, đặc biệt những đau đớn, phẫn
nộ về giai đoạn lịch sử đầy biến động cuối Lê - đầu Nguyễn Đem một tiểu thuyết chương hồi dung lượng nhỏ (20 hồi) về tài tử giai nhân mang đậm truyền thống mỹ học phong kiến chính thống, phổ vào hình thức truyện thơ Nôm lục bát giàu chất tiểu thuyết và tính trữ tình, nhà thơ đã tạo một quan
hệ giữa hai dòng văn hóa Các quan hệ đó thể hiện vào các quan hệ bên trong của các tuyến nhân vật, các tình tiết cụ thể tạo nên nghệ thuật đặc trưng của hình tượng tác phẩm Nguyễn Du đã dụng công lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, sự báo oán tàn nhẫn, một số chi tiết dung tục trong tác phẩm
“Kim Vân Kiều truyện”; thay đổi thứ tự kể, sáng tạo thêm một số chi tiết mới để tạo ra một thế giới
nhân vật sống động như thật; biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng để bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật và người kể; chuyển trọng tâm của truyện từ kể sự việc sang biểu hiện nội tâm nhân vật, làm cho các nhân vật cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn rất nhiều Tất cả những điều
đó đã góp phần tạo nên thành công của kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” Như vậy, ta thấy không
thể hiểu đúng đặc trưng nghệ thuật, tư tưởng nếu đóng khung sự quan sát trong phạm vi cốt truyện Bởi nếu chỉ thế thì tác phẩm của Nguyễn Du khác gì, giá trị gì hơn truyện của Thanh Tâm Tài Nhân? Mặt khác, chính các quan hệ trên chi phối sự tạo thành bộ mặt cụ thể của các hình tượng nhân vật Các nhân vật chính diện được giới thiệu như những đại diện của lý tưởng, ước mơ, khát vọng; của những “đấng, bậc ” trong xã hội phong kiến (Đạm Tiên là đấng “tài hoa”, Thúy Kiều là
“bậc bố kinh”, Kim Trọng là “bậc tài danh”, Từ Hải là “đấng anh hùng”…) nhưng thực ra họ được thể hiện như những người rất gần gũi đời thường Nàng Kiều dù rất muốn trao duyên cho Thúy Vân nhưng khi duyên vừa trao đi thì nàng lại rơi vào tâm trạng khủng hoảng, ngổn ngang trăm nỗi đau đớn, bẽ bàng Nàng khổ đau, nuối tiếc bội phần khi so sánh cuộc đời mình và em gái, nàng cảm thấy mình là người mệnh bạc, cảm thấy mình rất thiệt thòi, đáng thương ( mất người yêu, giờ mất luôn kỷ vật và tưởng tượng tương lai khi sang thế giới bên kia, nàng trở nên như một oan hồn không
dễ gì giải kiếp, giải nỗi oan tình ):
“Chiếc vành với bức tờ mây, Duyên này thì giữ, vật này của chung
Dù em nên vợ nên chồng, Xót người mệnh bạc, ắt lòng chẳng quên!
Mất người còn chút của tin, Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa
Mai sau dù có bao giờ, Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây, Thấy hiu hiu gió, thì hay chị về
Hồn còn mang nặng lời thề, Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai
Dạ đài cách mặt khuất lời, Rảy xin chén nước cho người thác oan”
Hoặc nhân vật Từ Hải hiện lên là sự tổng hợp của những tính chất vừa xuất chúng vừa lại rất đời thường Đó là một võ tướng với:
“Râu hùm, hàm én, mày ngài, Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao
Đường đường một đấng anh hào, Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài
Đội trời, đạp đất ở đời,
Họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông
Trang 18Giang hồ quen thói vẫy vùng, Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”
Ta thấy, từ ngoại hình, tính cách, võ nghệ tới tài năng, khí phách, sự nghiệp…Từ đều thể hiện mình
là đấng anh hùng - tất cả đều phi thường Bởi lẽ, chàng là hiện thân của lý tưởng, khát vọng tự do, công bằng, bác ái cho những người bé mọn, bị áp bức Chàng tôn thờ chính nghĩa, không chịu khuất phục trước cường quyền, bạo lực; coi khinh triều đình mục ruỗng, thối nát đương thời Nhưng ở một khía cạnh nào đó, Từ lại rất gần gũi, đời thường của một khách đa tình, cũng nghiêng ngả trước
vẻ đẹp khuynh thành của trang quốc sắc thiên hương, đúng là anh hùng cũng không thể qua ải mỹ nhân Chàng đã “bấy lâu nghe tiếng má đào” và ghé đến lầu xanh, khi gặp mặt thì:
“Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa”
Nàng Kiều tuyệt mỹ có “tấm lòng nhi nữ” đã làm “xiêu anh hùng” trong giây phút “ban đầu lưu
luyến ấy” Nguyễn Du đã miêu tả Từ thật sinh động, bình dị như bao người đàn ông khác trong cuộc sống hằng ngày Ta thấy, chính các quan hệ phong phú, phức tạp bên trong, bên ngoài đã xác
lập tính hình tượng độc đáo và tính khái quát của nhân vật trong “Truyện Kiều” nói riêng, tác phẩm
nói chung
Trong bài thơ “Tiếng hát sông Hương”, Tố Hữu lại thể hiện mối quan hệ giữa nhà thơ và cô
gái giang hồ có quá khứ nhơ nhuốc, đầy mặc cảm:
Bài thơ mở đầu từ dòng Hương Giang:
Trên dòng Hương Giang,
Em buông mái chèo”
cuối cùng mở rộng ra viễn cảnh toàn thế giới với “gió mới ngàn phương”, với đổi thay triệt để từ
trong đến ngoài và cuối cùng quy lại về dòng sông Hương với một hy vọng mới:
“Răng không, cô gái trên sông, Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài
Thơm như hương nhụy hoa lài, Sạch như nước suối ban mai giữa rừng
Ngày mai gió mới ngàn phương,
Sẽ đưa cô đến một vườn đầy xuân
Ngày mai trong giá trắng ngần,
Cô thôi sống kiếp đày thân giang hồ
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
Cô ơi, tháng rộng ngày dài,
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng
Trên dòng Hương Giang…”
Tính hình tượng nghệ thuật không bao giờ thể hiện qua việc tái hiện cái giản đơn, cụ thể, cảm tính mà thể hiện qua quan hệ phong phú, phức tạp, lý tính, chồng nén, đối xứng; thông qua những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, trùng điệp…tạo thành những phức hợp quan hệ mang nội dung khái quát Chỉ trong quan hệ đời sống thì chi tiết mới phơi bày ý nghĩa kín đáo của nó
Chẳng hạn bài “Tiến sĩ giấy”, tác giả đã mô tả rất chi tiết hình ảnh ông nghè tháng tám:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai Cũng gọi ông nghè có kém ai
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, Nét son điểm rõ mặt văn khôi
Trang 19Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế chéo, lọng xanh, ngồi bảnh chọe”,
Đọc bài thơ, ta liên tưởng đến một thứ đồ chơi của trẻ em Việt Nam ngày xưa Vào những ngày Tết, nhất là Tết Trung Thu, cha mẹ thường mua cho trẻ em hình tiến sĩ bằng giấy màu Đây không chỉ đơn thuần là đồ chơi mà nó còn có ý nghĩa giáo dục trẻ em cố gắng học hành để mai sau có thể ghi danh trên bảng vàng tiến sĩ Đó là tầng nghĩa đen của bài thơ Điều hấp dẫn chính là ý nghĩa đa tầng thâm thúy của thi phẩm Tầng nghĩa bóng thứ nhất gợi liên tưởng đến loại tiến sĩ “bằng xương bằng
thịt”, có học hàm, học vị hẳn hoi nhưng họ khác gì tiến sĩ giấy bởi “thân giáp bảng”, “mặt văn
khôi” chẳng qua cũng chỉ là kết quả của gian trá “chạy chọt” bằng thế lực, tiền bạc…Ở tầng nghĩa
bóng thứ hai, tác phẩm gợi liên tưởng đến những ông tiến sĩ có bằng cấp thật sự, mang danh tiến sĩ,
áo mão xênh xang nhưng tài năng, đức độ chẳng ra gì; do vậy bằng tiến sĩ của họ chẳng giá trị gì;
họ cũng khác gì “tiến sĩ giấy” Ý thơ còn gợi liên tưởng tới tầng nghĩa bóng thứ ba về những người khoác trên mình xiêm áo ông nghè nhưng họ không biết hoặc không thể đem tài, đức ra giúp ích cho dân nước thì bằng cấp của họ cũng thành vô dụng; đó cũng là một kiểu “tiến sĩ giấy” Trong số quan lại triều đình nhà Nguyễn cuối thế kỷ XIX không thiếu loại “tiến sĩ giấy” này Đó là những kẻ
sợ giặc, trốn tránh hay hèn nhát đầu hàng; những kẻ ham danh lợi, muốn “vinh thân phì gia” ngoan ngoãn làm tay sai cho Pháp Nếu những tầng nghĩa vừa nêu gợi tiếng cười hướng ngoại chế giễu, đả kích thì đến tầng nghĩa thứ tư, tứ thơ lại gợi tiếng cười tự trào hướng nội chua xót, đắng cay của Tam Nguyên Yên Đổ: dù học hành, đỗ đạt bằng chính thực tài của mình; nhiệt huyết cống hiến cho dân nước luôn cháy bỏng; nhưng Nguyễn Khuyến sau một thời gian làm quan cho nhà Nguyễn cũng đành lui về ở ẩn, vui thú điền viên trong khắc khoải, đắng cay lúc vận nước nguy ngập, điêu linh Ngẫm kỹ, ông tự xếp mình cũng là một dạng “tiến sĩ giấy” Và hình tượng nổi lên từ câu cuối càng
tô đậm nỗi buồn, niềm đau như những trí thức thanh cao vì cảm thấy mình bất tài, vô dụng:
“Nghĩ rằng đồ thật, hóa đồ chơi”
Ta thấy, phức hợp quan hệ làm cho hình tượng nghệ thuật mang một nội dung hàm súc, đa nghĩa, nhiều dư ba mà cổ nhân thường nói: ý tại ngôn ngoại, lời hết mà ý vô cùng, điểm - diện, nhất điểm - vạn điểm hay như nhà văn E Hemingway đã từng đề cập đến vấn đề này trong nguyên lý
“Tảng băng trôi” đối với sáng tác và tiếp nhận tác phẩm văn chương: “…bảy phần tám của tảng
băng chìm dưới nước, chỉ có một phần tám là nổi lên Mọi điều anh biết anh có thể loại bỏ nó đi và
nó chỉ có thể củng cố thêm cho tảng băng của anh Đó là phần không nổi lên Nếu nhà văn bỏ sót một cái gì đấy bởi vì anh ta không biết thì sẽ có một lỗ hổng trong tác phẩm” Theo nguyên lý này,
phần nổi là những trang sách tác giả viết, phần chìm được hiểu theo nhiều cách Có thể hiểu phần chìm là nghệ thuật tổ chức tác phẩm, từ các đơn vị cấu thành tác phẩm như một chỉnh thể sẽ xuất hiện “ý tại ngôn ngoại”, sẽ tạo ra một mạch ngầm văn bản, một dòng chảy đa nghĩa dưới bề mặt văn bản ngôn từ Cũng có thể hiểu phần chìm là toàn bộ kho dự trữ kiến thức của tác giả hoặc là những
cách đồng sáng tạo tích cực của người đọc Iu Lotman đã từng khẳng định: “Tính đa nghĩa là điều
kiện để văn bản văn học hoạt động một cách thẩm mỹ” Tạo được hệ thống phức hợp quan hệ
phong phú, chặt chẽ sẽ quyết định mức độ hấp dẫn, thành công của tác phẩm nghệ thuật
Đối với hình tượng nghệ thuật trong văn học cần chú ý một số khía cạnh sau đây Thứ nhất, hình tượng văn học là thế giới đời sống do ngôn từ gợi lên trong tâm trí người đọc Cách nói này nêu một số khía cạnh khác với cách nói hình tượng là bức tranh hiện thực Nói là bức tranh hiện thực thì người ta liên hệ ngay với hiện thực, coi nhẹ đặc điểm ngôn từ; còn nói thế giới do ngôn từ gợi lên thì người ta phải khai thác ngôn từ để nắm bắt hình tượng Thứ hai, hình tượng văn học là phương tiện giao tiếp đặc thù, truyền cảm, diễn đạt ý nghĩa nhằm giao lưu giữa người với người Với ý nghĩa này, hình tượng không giản đơn chỉ là sự phản ánh đời sống mà còn là hệ thống ngôn ngữ - ký hiệu có giá trị biểu đạt nội dung tư tưởng, thẩm mỹ
3.5 Tính nghệ thuật của hình tượng
Tóm lại, hình tượng nghệ thuật khác hình tượng phi nghệ thuật hay giả nghệ thuật ở sức truyền cảm mạnh mẽ, sự thức tỉnh tư tưởng lớn lao, ở khả năng lôi cuốn con người tham gia vào đời sống xã hội Hấp dẫn là một dấu hiệu quan trọng của hình tượng nghệ thuật D Diderot đã từng nói
với nghệ sĩ: “Trước hết, anh phải làm cho tôi cảm động, kinh hoàng, đê mê; anh phải làm cho tôi
Trang 20sợ hãi, run rẩy, rơi lệ hay căm hờn” (Bàn về hội họa) Sức hấp dẫn lâu dài, đích thực không bao giờ
là kết quả của những hình thức tiểu xảo rẻ tiền, những pha gay cấn, mâu thuẫn giả tạo Nó gắn liền với chân lý đời sống, lý tưởng cao đẹp và sự thể hiện tài năng của người nghệ sĩ
Không phải ngẫu nhiên mà ngôn ngữ nước nào cũng gọi đặc trưng nghệ thuật bằng các từ
“sống”, “sinh động”, “tự nhiên”…Đó là vì nó chứng tỏ sự phù hợp cao nhất giữa hình thức nghệ thuật với nội dung cuộc sống bên trong Cái khó nhất của nghệ thuật là làm sao để sự sống hiện hình qua pho tượng nhưng không chết cứng cùng khối đá; hiện hình qua bức tranh nhưng không bị đóng khung trên mặt vải; hiện hình qua bài thơ nhưng không chấm hết cùng con chữ…Tính sinh động bắt đầu ở khả năng từ một số chi tiết hữu hình ít ỏi mà có thể gợi lên rõ ràng một chỉnh thể Sự thống nhất giữa ẩn - hiện, thực - hư…rất quan trọng Nhiều trường hợp ở chỗ những phần im lặng,
để trống…lại quan trọng, có nhiều ẩn ý, nói được rất nhiều Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân
đã có chủ ý khi cho nhân vật Tràng và nhất là nhân vật bà cụ Tứ có nhiều lúc im lặng, nhiều khoảng lặng (tác giả dùng những dấu ba chấm) góp phần thể hiện tính cách nhân vật, thể hiện chủ đề tác phẩm Đối với bạn đọc những khoảng trống này sẽ gợi nhiều suy tư, xúc cảm; biến độc giả thành những chủ thể đồng sáng tạo cùng tác giả Trong tác phẩm, nhân vật Tràng biết việc mình “nhặt vợ” đưa về nhà một cách bất ngờ, chưa được phép của mẹ là việc sai trái, dễ làm bà cụ Tứ nổi giận; nên anh đã rụt rè, thanh minh một cách chân thành, có phần tội nghiệp:
“- Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ! Chúng tôi phải duyên phải kiếp với nhau…Chẳng qua nó cũng là cái số cả…
Bà lão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì…Trong khóe mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt…Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?
Bà lão khẽ thở dài ngẩng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà
áo đã rách bợt Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được…Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con…May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?”
Tính sinh động của hình tượng nghệ thuật không chỉ là hiệu quả của việc tái hiện giản đơn
mà gắn liền với sự khơi gợi cảm xúc, khái quát tư tưởng, truyền đạt nhân sinh quan, thế giới quan
của tác giả Trong bài thơ “Vịnh khoa thi hương”, Trần Tế Xương đặc tả thành công sự nghênh
ngang, lố bịch…của những nhân vật đại diện cho kẻ thù xâm lược:
“Lọng cắm rợp trời quan sứ đến, Váy lê quét đất mụ đầm ra”
Theo lịch sử, kỳ thi năm đinh dậu 1897 có vợ chồng toàn quyền Đông Dương và vợ chồng công sứ Nam Định đến dự Những kẻ xâm lược thống trị được tác giả miêu tả sinh động qua khung
cảnh đón tiếp trang trọng, rầm rộ (lọng…rợp trời) Nhưng qua cách dùng từ rất đắt của Tú Xương,
chúng ta càng thấy rõ tư tưởng, cảm xúc mà tác giả gửi gấm: “quan sứ” - cách gọi thoạt nghe thì tôn
kính nhưng nghĩ kỹ lại có vẻ gì bất kính; đặc biệt ông dùng từ “mụ đầm ” để gọi vợ quan lớn lại càng thể hiện sự tầm thường, coi khinh (nhất là khi kết hợp với hai từ “váy lê ” phía trước) Tú
Xương đã chửi rủa chúng một cách sắc bén, sâu cay Bọn thực dân thống trị hiện lên là một lũ Tây Dương mà ông khinh bỉ, căm ghét tận cùng Hình ảnh khoa thi hương Đinh dậu chính là hiện thân một góc xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX mà Tú Xương muốn miêu tả, chế giễu; vừa nực cười, vừa đau đớn trong cái nhìn sắc sảo hiếm có
Theo G W F Hegel, “sự vật sinh thành vừa là chính nó, vừa là cái khác; còn sự vận động
thì vừa ở một chỗ, vừa không ở chỗ đó” Miêu tả con người, sự vật như là nó, lại vừa không phải là
nó; vừa giống lại vừa không giống là phương tiện vô cùng quan trọng của tính sinh động Chẳng
hạn khi Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ “Dáng đứng Việt Nam”:
“Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhứt, Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng lên xác trực thăng
Và Anh chết trong khi đang đứng bắn
Trang 21Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng
Chợt thấy Anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn
Bởi Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm, Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công
Anh tên gì hỡi Anh yêu quý, Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng, Như đôi dép dưới chân Anh giẫm lên bao xác Mỹ,
Mà vẫn một màu bình dị sáng trong
Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ, Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường, Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ
Anh là chiến sĩ giải phóng quân
Tên Anh đã thành tên Đất Nước
Ôi Anh giải phóng quân!
Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt
Tổ Quốc bay lên bát ngát mùa xuân”
thì Anh giải phóng quân không chỉ là hình ảnh người chiến sĩ hy sinh ở phi trường Tân Sơn Nhứt trong chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 mà hình tượng đã chuyển hóa thành
biểu tượng của những anh hùng liệt sĩ trong thời chống Mỹ; hơn thế, trở thành bức tượng đài “dáng
đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ” rất đỗi tự hào! Cũng như Phạm Tiến Duật viết “Nhớ”:
“Cái vết thương xoàng mà đi viện, Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến, Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo”
thì không chỉ đặc tả nỗi nhớ, niềm đau của người chiến sĩ lái xe vì bị thương không được ngồi sau tay lái, chở những chuyến hàng tiếp tế cho tiền tuyến; đằng sau đó là tinh thần trách nhiệm cao độ, nỗi khát khao hoàn thành nhiệm vụ, tình thương đồng đội sâu sắc của một thương binh giàu lòng
yêu nước Ta chợt liên tưởng đến bài thơ “Đêm trắng” của nhà thơ - liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc với
những vần thơ đầy tâm trạng:
“Đêm của anh xếp kín đầy bom đạn Pháo sáng chập chờn trộn trạo với sao sa …
Đêm của anh trong tầm bom rơi Không thể ngủ nên đêm thành đêm trắng Đêm bão thép chất chứa nhiều sâu lắng
Bà mẹ sinh con trai trong mờ tối căn hầm
Những ban đêm thành cột mốc tháng năm Đêm xanh vợi cũng trở thành đêm trắng
Đêm thao thức đón chờ ánh sáng
Đêm của chúng ta ấp ủ những mặt trời”
Với người lính trẻ, đêm trắng là những đêm dài thao thức, không chỉ đơn thuần là bóng tối với những đêm không ngủ; mà ở tầng sâu, đó chính là những đêm khốc liệt của chiến tranh hủy diệt, ngập tràn cảm xúc với nhiều cung bậc, sắc thái phức tạp của tình riêng - lòng chung: lo lắng, sợ hãi, căm thù…, hy vọng vào một ngày chiến thắng và ẩn chứa cả sự khắc khoải, nhớ thương người yêu
bé nhỏ phương xa khó lòng gặp lại Đúng như Tề Bạch Thạch đã từng viết về nghệ thuật “hay ở
chỗ vừa giống vừa không giống; không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời” Nhân vật hấp
dẫn, sống động không bao giờ một chiều, cứng ngắc mà biến hóa bất ngờ, thậm chí khó lường
Người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu), lúc đầu
hiện lên là một người yếu đuối, nhẫn nhục, cam chịu khi bị người chồng vũ phu đánh đập tàn nhẫn:
“Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của
Trang 22lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống, lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!” Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục, không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy” Nhân vật càng hiện lên khó hiểu hơn khi chánh án Đẩu mời lên tòa án huyện mà bà đoán là bắt mình bỏ chồng, bà hết lời van xin: “Con lạy quý tòa…Quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó” Càng về sau, người đàn bà càng trở nên mạnh mẽ, nhanh nhẹn, sâu sắc, có phần sắc sảo: “Chị cám ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cám ơn các chú Lòng các chú tốt nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ khó nhọc…” Đặc biệt
khi trình bày nguyên nhân mình không muốn bỏ chồng thì nhân vật càng thể hiện cái nhìn đúng đắn, thấu hiểu (của một người bình dân, ít học; tất yếu có phần thiếu sót, thiển cận theo suy nghĩ
của chúng ta), thương con vô bờ, đáng quý! Bà nói sau khi ngẫm nghĩ hồi lâu: “Mong các chú cách
mạng thông cảm cho, đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sấp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được! Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu Các chú đừng bắt tôi bỏ nó!” Không chỉ ở
nhân vật này, chúng ta có thể thấy nhiều nhân vật được tác giả xây dựng cụ thể, sinh động như vậy
Kiên cường như Pavel Korchagin (Thép đã tôi thế đấy – N Ostrovsky) cũng có phút giây chĩa họng súng đen ngòm lên thái dương muốn tự tử trong cơn bế tắc Mỵ (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài), tưởng chỉ biết cúi đầu câm lặng “như con rùa nuôi trong xó cửa”, như bóng ma trong nhà thống lý bỗng
mạnh mẽ vùng lên cắt nút dây mây cứu thoát cho A Phủ cũng như giải thoát cho chính cuộc đời mình…
Chân lý nghệ thuật là chân lý về quan hệ, nó không khách quan lạnh lùng như chân lý khách thể Đó là chân lý làm ngạc nhiên, sững sờ, khao khát Không phải vô cớ mà Chế Lan Viên viết về những cảm xúc này:
“Tinh mơ là trận đánh công đồn Nhà xa, trận lớn, hành quân gấp Chợp mắt bay về hôn mặt con”
(Đêm ra trận)
“Chỉ một nhành hoa Tôi sững sờ”
“Đất này xưa giặc chiếm không hoa Tôi vui lòng đổi trăm người khác Lấy nhánh hồng đây, nở chậm mùa”
(Cành hoa nhỏ)
“Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”
(Xuân) “Chao ơi! Thu đã tới rồi sao?
Thu trước vừa qua mới độ nào!
Mới độ nào đây hoa rạn vỡ Nắng hồng choàng ấp dãy bàng cao
… Thu đến đây! Chờ, mới nói răng?”
(Thu)
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét”
(Tiếng hát con tàu)
Ta thấy, Chế Lan Viên thường dùng những từ cảm thán hoặc những từ ngữ, dấu hiệu bộc lộ rõ sắc thái biểu cảm như: giật mình, sững sờ, chao ôi, chao ơi, rồi sao, bỗng; những dấu chấm than, chấm
Trang 23hỏi… đã làm cho sự thể hiện sinh động hơn, nhất là phần cảm xúc; đồng thời ghi đậm dấu ấn tác giả
Nghệ thuật là sự khắc phục khó khăn Nó thống nhất được trong mình những mâu thuẫn loại trừ tưởng như không khắc phục nổi: cá biệt và khái quát, tự nhiên và nhân tạo, vật chất và sự sống, tình cảm và lý trí, hợp lý và nghịch lý Nghệ thuật là sự hài hòa trong cái hỗn tạp, là cái thống nhất giữa sự đa dạng Tính nghệ thuật làm tích cực hóa khả năng cảm thụ của con người, nâng họ lên hàng nghệ sĩ; khẳng định vai trò chủ thể của con người trước thế giới Vì vậy, đó là một đặc tính tiêu biểu của văn nghệ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội - thẩm mỹ Tính nghệ thuật đa dạng như bản thân nghệ thuật Tiêu chuẩn cuối cùng của nghệ thuật là sự thống nhất hoàn mỹ giữa nội dung và hình thức, là sức gây ấn tượng mang tính tư tưởng của hiện tượng đời sống, phản ánh được hiện thực đa dạng của vận động tiến hóa không ngừng của nó
Trang 24
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Đặc trưng của văn nghệ thể hiện ở đối tượng, nội dung như thế nào?
2 Trình bày hiểu biết về hình tượng nghệ thuật
3 Mối liên hệ hữu cơ giữa đối tượng, nội dung, phương thức tồn tại của văn học nói riêng, văn nghệ nói chung
4 Phân tích mối liên hệ giữa hiện thực khách quan - hình tượng nghệ thuật và nghệ sĩ
5 Cảm nhận về hình tượng nghệ thuật trong một tác phẩm văn học yêu thích
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hà Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn
Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành & Lí Hoài Thu (1995) Lí luận văn học (Xuất bản lần
thứ hai) Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục
2 Heghen (2005) Mỹ học (Phan Ngọc giới thiệu và dịch) Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học
3 Khrapchenko, M.B Sáng tạo nghệ thuật hiện thực con người
4 Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa & Lê Lưu Oanh (2008) Lí luận
văn học (Tập 1, Xuất bản lần thứ hai) Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
5 Phương Lựu Tiếp nhận văn học (Tài liệu lưu hành nội bộ)
Trang 25
Chương 2
Mục tiêu cần đạt:
Người học cần nắm vững:
- Lý luận về phản ánh theo thuyết phản ánh của V I Lenin
- Tương quan giữa phản ánh với nhận thức, phản ánh với biểu hiện và phản ánh với sáng tạo
1 VĂN HỌC GẮN BÓ VỚI HIỆN THỰC CUỘC SỐNG
Cuộc sống vận động, phát triển là quy luật tất yếu của tồn tại Do vậy, khi gắn bó, phản ánh
cuộc sống; vô hình trung văn học đã đem đến cho cuộc sống những lợi ích vô giá Từ thời cổ đại,
vào thế kỷ thứ I, Vương Sung - nhà tư tưởng duy vật (Trung Quốc) đã khẳng định: “Có ích dụng
cho đời thì trăm thiên cũng vô hại; không có ích dụng cho đời thì một chương cũng vô bổ Còn như đến có ích dụng cả thì nhiều là hơn, ít là kém” Tư tưởng của Vương Sung cũng đồng thời là
nguyên tắc sáng tác của nhiều tác giả nổi tiếng thời Trung Quốc cổ đại Các tác phẩm như: “Xuân
thu” (Khổng Tử), “Mạnh Tử” (Mạnh Kha), “Hàn Phi Tử” (Hàn Phi), “Tân thư” (Lục giả), “Tân luận” (Hoàn Đàn) đều viết về “hữu vi” chính là vì nhu cầu xã hội, vì cuộc sống con người Lịch sử
văn học Trung Quốc thời điểm trước Công nguyên là văn học Tiên Tần Qua những công trình khai quật khảo cổ có thể khẳng định con người đã xuất hiện ở lưu vực Hoàng Hà khoảng 40-50 vạn năm
về trước Trải qua các triều đại Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ thì xã hội phân hóa; đến đời nhà Hạ (2200-1800 tr CN), xã hội chuyển sang chế độ nô lệ; sau nhà Hạ là nhà Thương (1800-1100 tr CN), nhà Chu (1100-770 tr CN), thời Xuân thu (770-403 tr CN), Chiến quốc (403-221 tr CN) Văn hóa Trung Quốc đến đời Thương có văn “Giáp cốt” (văn mai rùa và xương thú) Từ thế kỷ thứ II tr CN trở về trước là thời kỳ phôi thai của văn hóa - văn minh Trung Quốc với những thành tựu xuất sắc
về triết học và văn học Từ thế kỷ thứ II trở về sau, văn học Trung Quốc dần trưởng thành, được
đánh dấu bằng tập thơ “Kinh thi” “Kinh thi” là tập thơ đầu tiên, tác phẩm nổi tiếng trong văn học
cổ đại Trung Quốc, cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả Trung Quốc học và văn học
Nghiên cứu “Kinh thi”, Khổng Tử viết: “Thơ có thể làm phấn khởi ý chí, có thể giúp quan sát
phong tục, hòa hợp với mọi người, bày tỏ nỗi sầu oán; gần thì thờ cha, xa thì thờ vua; lại biết được
nhiều tên chim muông, cây cỏ” (Dương hóa- Luận ngữ) Những công trình nghiên cứu “Kinh thi”
ghi nhận sự phản ánh phong phú cuộc sống, nhằm thể hiện tình ý của con người thuộc nhiều tầng
lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội Những giá trị lớn lao của “Kinh thi” còn ảnh hưởng đến nhiều
tác giả, tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực sau này ở Trung Quốc nói riêng, các nước đồng văn nói chung Tình yêu thương con người, tinh thần phản kháng áp bức bất công đã hun đúc tinh hoa làm nên tư tưởng ưu quốc ái dân, chống cường quyền bạo lực; đặc biệt giai cấp thống trị tham tàn bạo
ngược như trong “Sở từ” của Khuất Nguyên Giá trị hiện thực trong “Kinh thi” cũng được thể hiện,
nâng lên thành chuẩn mực để Trần Tử Ngang, Lý Bạch - những nhà thơ đời Đường đấu tranh chống lại phong cách thơ diễm lệ, phù hoa tú Lục Triều (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI)
Trong lịch sử văn học Việt Nam, nền văn học viết xuất hiện khá muộn sau văn học dân gian Văn học viết Việt Nam thời trung đại (từ đầu thế kỷ thứ X - hết thế kỷ thứ XIX) còn gọi là văn học Hán Nôm đã thể hiện khá rõ dấu ấn hiện thực Những tác phẩm nổi tiếng ở giai đoạn đầu (từ đầu thế
kỷ thứ X - nửa đầu thế kỷ XV) như: bài thơ Thần (Lý Thường Kiệt?), Hịch tướng sĩ văn (Trần Quốc Tuấn), Cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi) và nhiều tác phẩm văn học sau này…được viết bằng chữ Hán -
một văn tự Việt Nam vay mượn của Trung Quốc Sau này, dựa vào chữ Hán các nhà ngôn ngữ Việt Nam đã sáng tạo ra chữ Nôm - thứ chữ Việt Nam đầu tiên nhằm ghi âm tiếng Việt; từ đó chúng ta
Trang 26có bộ phận văn học chữ Nôm với nhiều thành tựu rực rỡ: Chinh phụ ngâm (tác giả Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm), Đoạn trường tân thanh (Nguyễn Du), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia
Thiều), nhiều sáng tác thơ Nôm của nữ sĩ Hồ Xuân Hương Thế kỷ XVI, một số giáo sĩ người Âu cùng một số người Việt sáng tạo ra chữ quốc ngữ; và đến đầu thế kỷ XX, chúng ta có văn học quốc ngữ Ba bộ phận văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm và văn học chữ quốc ngữ hợp thành văn học viết Việt Nam; cùng với văn học dân gian đã gắn bó mật thiết với lịch sử, xã hội, con người Việt Nam trong suốt chiều dài thăng trầm của lịch sử dân tộc Đó là lịch sử dựng nước và giữ nước trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau; đặc biệt là lịch sử bi hùng trường kỳ chống ngoại xâm khi chúng ta phải đương đầu với những kẻ thù hùng mạnh vào bậc nhất trong lịch sử nhân loại Trong những thời khắc sinh tử đầy khó khăn, thử thách chúng ta càng thấy rõ giá trị hiện thực vô giá của
những áng văn chương bất hủ như: bài thơ Thần (Lý Thường Kiệt?), Hịch tướng sĩ văn (Trần Quốc Tuấn), Tụng giá hoàn kinh sư (Trần Quang Khải), Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu), Tuyên ngôn độc lập và Lời kêu
gọi toàn quốc kháng chiến của tác giả Hồ Chí Minh…
Trong lịch sử văn học phương Tây thời cổ đại Hy Lạp - La Mã, đại diện cho quan niệm duy
tâm là Platon Platon quan niệm “cái đẹp chính là do sự hồi tưởng của con người về một tiền kiếp
còn chung sống với thần linh, còn nghệ thuật chính là sự tái hiện lại cái đẹp vĩnh cửu tuyệt đối đó”
(Phương Lựu và cs, 2008, tr 31) Như vậy Platon quan niệm cái đẹp và cứu cánh của nghệ thuật tìm đến thế giới siêu hình - chúng không thuộc phạm vi hiện thực Nhưng người học trò xuất sắc của
ông là Aristote lại có quan niệm khác - thể hiện qua tác phẩm “Nghệ thuật thơ ca” Đây là tác phẩm
kinh điển về lý luận và thơ ca không chỉ của Aristote mà còn của cả văn chương nhân loại đề cập
đến nhiều vấn đề cơ bản, giá trị Hạt nhân quan điểm của Aristote là “nghệ thuật mô phỏng”: “Sử
thi, bi kịch thi cũng như hài kịch và thơ ca tụng tửu thần…tất cả những cái đó, nói chung đều là những nghệ thuật mô phỏng…” (Aristote,1999, tr 15) Như vậy Aristote quan niệm nghệ thuật bắt nguồn, gắn bó sâu sắc với hiện thực Tuy nhiên việc mô phỏng không phải là sao chép y nguyên mà
có thêm, có bớt, có sự sáng tạo Ông nghiên cứu Homère, Sophocle, Aristophane và nhận ra Homère giống với Sophocle vì cả hai ông đã mô phỏng, tái hiện những con người tốt hơn, những con người rất đáng kính Còn Sophocle lại giống Aristophane vì hai ông cùng trình bày về những
con người hành động, nhất là hành động có kịch tính Aristote cho rằng: “Sự mô phỏng vốn có
trong con người từ thuở nhỏ, mô phỏng là thiên tính của con người; nhờ mô phỏng con người thu nhận được những kiến thức đầu tiên” (Aristote,1999, tr 15) Rõ ràng Aristote không hề đơn giản khi quan niệm nghệ thuật là mô phỏng, sự mô phỏng không đơn điệu mà lồng vào đó là lý tưởng thẩm mỹ của người nghệ sĩ Bởi vì những nhà thơ trang nghiêm hơn đã tái hiện những hành vi cao thượng hơn nữa, lại là các hành vi của vĩ nhân Như vậy sự mô phỏng này là hành vi sáng tạo nhằm thăng tiến con người, giúp con người rèn luyện nhân cách, trau dồi trí tuệ
Chủ nghĩa cổ điển ra đời (thế kỷ XVII); đại biểu là nhà thơ - nhà phê bình N Boileau - Despréaux đã kêu gọi nhà văn hãy “mô phỏng tự nhiên” và do ảnh hưởng triết học duy lý của
Descartes - ông cho rằng “cái đẹp phải gắn liền với cái thực” Ông lập luận: “Chỉ có thực mới đẹp,
chỉ có thực mới đáng yêu”
Đến thời khai sáng (thế kỷ XVIII), nhà văn - triết gia D Diderot, trong phần VII “Tùy bút về
hội họa” có nhan đề “Một hệ luận nhỏ từ những vấn đề trên” như một đúc kết khái quát những
luận bàn, ông khẳng định mạnh mẽ: “Cái thực, cái tốt và cái đẹp rất khăng khít với nhau” (Phùng Văn Tửu dịch, 2006, tr 20) Theo D Diderot, để đạt được cái thực, nghệ sĩ không được xa rời tự
nhiên vì “tự nhiên chẳng làm cái gì sai quy tắc” Do vậy, giá trị của tác phẩm phải quy chiếu nó về
với tự nhiên” và D Diderot đã dồn tâm lực cho vấn đề này Quan điểm của D Diderot nếu nói theo quan điểm duy vật chính là khẳng định vai trò của tồn tại khách quan luôn chiếm vị trí hàng đầu trong tương quan với tư tưởng, tinh thần, nghệ thuật Nói cách khác là vật chất quyết định ý thức; tự nhiên là cảm hứng, cội nguồn và đối tượng của sáng tác nghệ thuật
Luận bàn vấn đề này, D Diderot không nói chung chung mà đã tỉ mỉ phân tích Ông nêu rõ
vì sao nghệ sĩ phải bám sát việc mô phỏng tự nhiên? Tự nhiên, ông đề cập được hiểu theo nghĩa thế giới khách quan bao gồm thiên nhiên và con người G E.Lessing cũng khẳng định như thế và ranh giới nghệ thuật được mở ra không giới hạn Nó bắt chước toàn bộ tự nhiên Sau này G W F Hegel
Trang 27đã làm rõ hơn nguyên lý bắt chước tự nhiên “Danh từ bắt chước ở đây là khả năng sao phỏng các
hình ảnh của tự nhiên phù hợp với hình thức như chúng thực sự tồn tại Người ta cho rằng một sự thể hiện thành công việc miêu tả sự tương ứng này với tự nhiên khiến người ta hoàn toàn thỏa mãn” (Heghen, Phan Ngọc dịch, 2005, tr 73). Nguyên lý ấy đòi buộc sự bắt chước tự nhiên “mô
phỏng tự nhiên một cách sinh động, hoàn hảo đến mức tạo cảm giác bị mắc lừa như bức tranh chùm nho trong Zơxit” (Heghen, Phan Ngọc dịch, 2005,tr 79) đã khiến bầy chim sống lao xao sà
xuống hay chú vượn của Buytnơ đã gặm mất con bọ hung ở trong quyển sách “Những lạc thú của
côn trùng” của Rơnxen (Heghen, Phan Ngọc dịch, 2005, tr 80) Dù vậy, sự hoàn hảo ấy không phải
là đích đến cuối cùng Câu chuyện khi Giêmxơ Bruxơ trên đường đi đến nước Abitxini chỉ cho người Thổ Nhĩ Kỳ những con cá được vẽ ra, người này lúc đầu sửng sốt nhưng sau đó trả lời ngay:
“Vào ngày phán xử cuối cùng, khi con cá này lên tiếng tố cáo các anh và nói anh đã cấp cho tôi một xác thịt nhưng không cấp cho tôi một linh hồn sống; lúc đó anh biết nói gì để bào chữa cho mình?” (Heghen, Phan Ngọc dịch, 2005, tr 80) Nhìn từ góc độ khác, ta có thể khẳng định nghệ thuật mô phỏng phải phản ánh hiện thực Cái “linh hồn sống” của con cá chính là hơi thở, sức sống hoặc một khoảnh khắc nào đó của hiện thực Nó phản ánh nội dung, tư tưởng hay một thông điệp nào đó từ hiện thực
Như vậy, từ thời cổ đại và tiếp nối các thời kỳ sau đó, con người đã ý thức khẳng định nghệ thuật gắn bó với hiện thực cuộc sống Nghệ thuật với hiện thực là vấn đề lớn, bao trùm; trong đó vấn đề phản ánh hiện thực của nghệ thuật đặc biệt quan trọng
2 VẤN ĐỀ PHẢN ÁNH LUẬN CỦA V I LENIN TRONG NGHỆ THUẬT
Phản ánh là một trong những khái niệm cơ bản của nhận thức luận duy vật Chủ nghĩa duy vật biện chứng phân biệt sự phản ánh tâm lý với tư cách là đặc tính của vật chất có tổ chức cao Đặc tính của phản ánh là cơ sở vật lý của quá trình con người nhận thức thế giới xung quanh và là lý lẽ quan trọng nói lên con người có thể nhận thức được thế giới Lý thuyết phản ánh này đồng thời là nền tảng của lý thuyết nghệ thuật chính thống tồn tại ở các nước xã hội chủ nghĩa trong một thời gian nhất định Ở Nga, nó lưu hành trong khoảng thời gian 1930-1990; ở Trung Quốc trong khoảng
từ 1949-1990 Sau đó, lý thuyết phản ánh này không còn tồn tại ở Nga như một lý thuyết chủ đạo;
và ở Trung Quốc, sau năm 1990 vị thế của nó cũng đã thay đổi theo chiều hướng suy yếu
Nội dung quan trọng của học thuyết duy vật biện chứng khẳng định phản ánh là đặc điểm quan trọng của nhận thức Phản ánh tái hiện các đặc điểm, tính chất của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan, độc lập với ý thức của chủ thể Kết luận này là tổng kết và phát triển lý
luận nhận thức của K H Marx và F Engels, nó mang tên mới là “Phản ánh luận Lenin” Đánh giá một cách tổng quát: “Thuyết phản ánh của V I Lenin đúng đắn, biện chứng, duy vật, tính đến tính
phức tạp, năng động của nhận thức và nó cũng khẳng định ý thức không chỉ phản ánh mà còn sáng tạo ra thế giới” (Trần Đình Sử, Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam, https://trandinhsu.wordpress.com/2015) Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, quan niệm của
V I Lenin còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, mâu thuẫn nghiêm trọng, cụ thể như sau:
- Luận điểm cơ sở của ông xem phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi hình thức vật chất, cũng như luận điểm xem cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan - cho đến nay đều chưa được các khoa học hữu quan xác nhận
- Luận điểm cái được phản ánh không phụ thuộc bởi sự phản ánh cũng tỏ ra không thuyết phục
Lý thuyết phản ánh của V I Lenin được các nhà triết học I P Pavlov (người Bulgari làm việc ở Nga), các học giả A Lunacharski, M Lifshitz, M Rosental…cổ súy và là những người đầu
tiên đưa phản ánh luận của V I Lenin vào văn học Xô Viết Từ đó, các mệnh đề “văn học phản
ánh hiện thực”, “cảm giác của chúng ta là hình tượng chủ quan của thế giới khách quan”, “văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực”, “phản ánh là thuộc tính phổ biến của vật chất” trở thành
các nguyên lý chi phối, chỉ đạo mọi hoạt động của văn hóa, văn nghệ Quan niệm này cũng đã thống trị văn nghệ Việt Nam trong nhiều thập kỷ Thời điểm đó, văn nghệ sĩ và công chúng văn học
luôn nghe nhắc đi nhắc lại các mệnh đề “văn học là sự phản ánh hiện thực”, “nhiệm vụ chủ yếu
của văn học là phản ánh hiện thực”, “vinh dự lớn lao nhất của nhà văn là phản ánh cho được đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân”…Việc nhấn mạnh quá mức bản chất phản ánh và nhiệm
Trang 28vụ mô tả hiện thực là nguyên nhân dẫn đến tình trạng “suy tư tưởng” của khá nhiều tác phẩm văn học Việt Nam trong những thập niên 1945-1975
Nhiệm vụ phản ánh hiện thực của văn học được coi là chân lý thiêng liêng bất di bất dịch nói trên bắt nguồn từ đâu? Về phương diện lịch sử, ở Việt Nam có hai nguồn trực tiếp: tư tưởng văn nghệ Diên An (Trung Quốc) và cách hiểu nghệ thuật một cách dung tục trong mỹ học và lý luận văn học Xô Viết Còn về phương diện nhận thức, chủ trương này gắn liền với hàng loạt quan niệm thiếu chính xác về lý luận nghệ thuật
Quả vậy, trong quan hệ văn học với hiện thực, văn học là sự phản ánh hiện thực, phụ thuộc vào đề tài, chủ đề Nhiệm vụ quan trọng của văn học là phản ánh bản chất đời sống, các hiện tượng tiên tiến cũng như khuynh hướng vận động của xã hội Từ đó các nguyên mẫu của đời sống có vai trò lớn lao, quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật Tuy nhiên nghệ thuật không chỉ phản ánh mà còn biểu hiện, sáng tạo, tái hiện, mô hình hóa, phiên dịch hiện thực; nghệ thuật không tạo ra các sản phẩm giống như thật, mà còn cả những sản phẩm khác xa hiện thực, trừu tượng; thể hiện tư tưởng,
cá tính sáng tạo của tác giả Bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh không phải là sóng của đại dương vô
tình vô cảm mà là những con sóng tình yêu muôn hình muôn sắc Nếu như Xuân Diệu còn băn
khoăn “làm sao cắt nghĩa được tình yêu?” thì gương mặt tình yêu trong “Sóng” của Xuân Quỳnh
hiện lên phong phú và rõ nét hơn Tình yêu khi dữ dội lúc dịu êm, khi ồn ào lúc lặng lẽ Tình yêu là nỗi nhớ, niềm thao thức, sự kiếm tìm; là sự “vượt biên” không chấp nhận giới hạn như con sóng từ
sông “tìm ra tận bể” Tình yêu còn là sự ngọt ngào, dễ thương “em cũng không biết nữa, khi nào ta
yêu nhau” Sóng còn đặc sắc ở màu sắc triết lý: Vạn vật nằm trong quy luật của giới hạn; cuộc đời
dù vô tận nhưng “năm tháng cứ đi qua”; biển dẫu rộng mà “mây vẫn bay về xa”…Những suy tư đó
làm cho người con gái khi yêu luôn suy tư, khao khát một tình yêu bất diệt, bất tử trong nồng nàn tha thiết, dạt dào mãi mãi như sóng biển khơi vô cùng vô tận:
“Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”
Trong chùm bài “Thơ tám câu” của R G Gamzatov có bài:
“Mùa xuân đang đến gần
Các loài chim bắt đầu thấy lạnh
Rủ nhau bay về nam lẩn tránh
Dù suốt mùa hè ca ngợi quê hương
Chỉ đại bàng vẫn ngồi im Nhìn những cành cây trụi lá Khi quê hương gặp những ngày băng giá
Đại bàng không bỏ ra đi”
Trong bài thơ, hình ảnh “đại bàng không bỏ ra đi” là một sáng tạo nghệ thuật tượng trưng
cho tình yêu quê hương tha thiết, trường tồn làm nên sức mạnh lớn lao nơi con người Con người sẵn sàng đối diện với súng, gươm; với “cái lạnh” khốc liệt của thời cuộc; thậm chí lấy sinh mạng để
“đặt cược” mà thực hiện lý tưởng như Thái sư ái quốc Trần Thủ Độ ngày xưa: “Nếu bệ hạ hàng xin
hãy chém đầu thần trước” Nghệ thuật không chỉ phản ánh bản chất của đời sống mà còn làm cho
đời sống thăng hoa hướng tới chân, thiện, mỹ; văn minh, tiến bộ
Đặc trưng của nghệ thuật - nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng cụ thể, cảm tính
có sức khái quát và giá trị thẩm mỹ Luận điểm này không hoàn toàn đúng Nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng hình tượng - hình tượng có đặc trưng cảm tính; như vậy làm sao cắt nghĩa được những bài thơ thiền đầy ý vị triết lý, những câu thơ giàu chất trí tuệ? Vì cảm tính - một trạng thái
thuần cảm giác nên không có sự can dự của nhận thức, trí tuệ Bài thơ thiền “Cáo tật thị chúng”
(Có bệnh bảo mọi người) của Mãn Giác thiền sư không phải là cảm tính trước “sự” xuân tàn hoa
rụng hết rồi bỗng còn sót lại một bông hoa cuối mùa nở muộn vào sáng hôm sau Đó chính là sự ngộ giới của người nhà Phật từ những sinh hóa thường tình Nó phải là “đêm qua” không phải đêm qua hoa vô tình sót lại mà nó chứa đưng một chân lý thường hằng vĩnh cửu (vì chân lý của Đức
Trang 29Phật là cái đã có) Mùa xuân, tự nhiên cứ tuần hoàn bất chấp thăng trầm của thế giới hữu hình, hoa
cứ nở rồi tàn vẫn tồn tại theo thời gian, con người sinh - tử theo nhà Phật cũng chỉ là hai điểm trên
dòng luân hồi vô tận của nhân sinh, vạn vật Khi Chế Lan Viên viết bài thơ “Hai câu hỏi”:
“Ta là ai? Hay ngọn gió siêu hình Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt
Ta vì ai? Khẽ xoay chiều ngọn bấc Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh”
thì đó đâu phải câu hỏi vu vơ về ngọn gió vô hình mà đó là câu hỏi truy bức về sứ mạng con người đầy ý vị triết học: Con người là ai? Con người đến trần gian làm gì và tất yếu bao hàm một vấn đề
luôn trăn trở nữa - con người sau khi chết sẽ đi về đâu? Ta thấy rõ bài thơ “Hai câu hỏi” thể hiện
những trăn trở, suy tư mang giá trị triết lý sâu sắc và trường tồn của nhân sinh muôn đời
Măc dù phản ánh luận Mác - Lênin được vận dụng vào văn học nghệ thuật có sự phù hợp ở tầm vĩ mô, khái quát như: phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực là đỉnh cao của tiến trình nghệ thuật và phản ánh đời sống dưới hình thức của bản thân đời sống; nghệ thuật sáng tạo lấy điển hình
là biểu hiện cao nhất của phản ánh chân lý đời sống trong nghệ thuật…Tuy nhiên, những nguyên lý trên khi vận dụng thường bị sơ lược hóa, giáo điều hóa làm lu mờ, hạ thấp vai trò chủ thể của nhà văn và sự cộng hưởng từ độc giả
Thực ra vấn đề đã có sự “suy tư tưởng” là việc biến quan điểm của triết học duy vật biện chứng và phản ánh luận duy vật về nghệ thuật thành chính bản thân lý luận về nghệ thuật Theo phản ánh luận Lenin, ý thức là phản ánh của vật chất, ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội Nghệ thuật là hình thái ý thức đặc thù, phản ánh hiện thực xã hội Xét từ góc độ này, toàn bộ nội dung tác phẩm văn học kể cả tư tưởng - tình cảm nhà văn và hiện thực được mô tả trong đó - xét đến cùng cũng chỉ là phản ánh đời sống xã hội Ở đây cần xác định, phản ánh xã hội là thuộc tính chứ không phải là nhiệm vụ của văn học
Chính V I Lenin trong bài báo “L N Tolstoy như tấm gương của cách mạng Nga”, khi
phân tích thế giới quan và trước tác của nhà văn (trong đó có các tác phẩm nghệ thuật) đã xuất phát
từ góc độ này - góc độ của nhà triết học, của lý luận phản ánh và từ góc độ nhận thức luận, không
phải từ góc độ lý thuyết của sáng tạo nghệ thuật Cần hiểu câu nói của V I Lenin “tấm gương của
cách mạng” là ông muốn nhấn mạnh: Toàn bộ tư tưởng của L N Tolstoy với tất cả tính phức tạp,
mâu thuẫn của nó chẳng qua chỉ là sự phản ánh ý thức xã hội Nga trong thời kỳ chuẩn bị cách mạng Có điều L N Tolstoy là nghệ sĩ lớn, có trực cảm nhạy bén nên trong ý thức của ông, quá trình này được phản ánh đầy đủ và rõ nét hơn Nói khác hơn, theo V I Lênin, khi phản ánh hiện thực, nếu là nghệ sĩ lớn (do trực cảm nhạy bén) thì chắc chắn anh ta cũng phản ánh một vài khía cạnh của cách mạng Rõ ràng V I Lenin hoàn toàn không kêu gọi văn học phản ánh hiện thực mà
đòi hỏi tác phẩm phải là “tấm gương của cách mạng”
“Như vậy, trên bình diện lý luận nghệ thuật (khác với bình diện lý luận phản ánh) văn học trước hết không phải là phản ánh hiện thực mà là sự nghiền ngẫm về hiện thực Tác phẩm nghệ thuật thể hiện cách nhìn của nhà văn về cuộc sống, sự khao khát công lý xã hội, lời tâm sự hay sám hối, là tiếng nói về tình yêu cái đẹp không đạt được, là gánh nặng ưu tư về lẽ đời, lẽ còn - mất của nhân sinh, vũ trụ Văn học chủ yếu không phải là ghi chép, mô tả hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhà văn; nhờ đó tác phẩm nghệ thuật là mảnh đất nuôi dưỡng tình cảm con người, thành khu vườn nơi con người gieo hạt đến đơm hoa kết trái, như hình thức tồn tại và phát triển độc đáo của nhân loại” (Lê Ngọc Trà, 1990, tr.41)
3 TƯƠNG QUAN VĂN HỌC VÀ CUỘC SỐNG
3.1 Phản ánh với nhận thức
Văn học phản ánh cuộc sống như thế nào? Phản ánh có đem lại những hiểu biết, khám phá mới về cuộc sống không?
Phản ánh không phải là sự sao chép y nguyên hiện thực, không phải là “tấm gương phản
chiếu hiện thực” như tấm gương soi V I Lenin nhận xét vấn đề này: “Khi trí tuệ (của con người)
tiếp xúc với một vật thể; từ đó rút ra hình ảnh (bằng một khái niệm) đó không phải là một hành vi giản đơn trực tiếp; chết, không phải là phản ánh trong một cái gương, mà là một hành vi phức tạp
có hai mặt; khúc khuỷu - một hành vi bao hàm khả năng của ảo tưởng bay ra, khỏi cuộc sống ; và
Trang 30hơn thế nữa, nó còn bao hàm khả năng của một sự chuyển biến (không thấy được, người ta không ý thức về nó) của khái niệm trừu tượng của ý niệm thành một ảo tưởng (xét đến cùng bằng Thần)”
(Phương Lựu và cs, 2008, tr 83) Ý kiến của V I Lenin cho thấy quá trình phản ánh có sự can dự của tưởng tượng, nhất là sự tham gia của trí tuệ một cách tự nhiên; nó diễn ra âm thầm, lặng lẽ đến mức dường như con người không có ý thức về sự hiện diện của nó Quá trình đó diễn ra không theo đường thẳng mà gập ghềnh, khúc khuỷu; cho đến khi phản ánh kết hợp với nhận thức đạt đến chân
lý của đối tượng; như V I Lenin quan niệm: “Bản tính tư duy của con người có thể đem lại và thực
sự đem lại cho chúng ta chân lý tuyệt đối”
Trong quan niệm tính hiện thực là thuộc tính của văn nghệ là luận điểm được thừa nhận, có
ý nghĩa; dĩ nhiên không phải là duy nhất vì những bộ phận văn học phi lý, văn học giả tưởng đã có những thành tựu lớn được ghi nhận thì lý thuyết trên đây còn giá trị Đánh giá những nhà văn hiện
thực Anh như: C Dickens, W M Thackeray, C Bronte…K H Marx đã nhận định: “Học phái
hiện đại xuất sắc những nhà tiểu thuyết Anh vốn đã có những trang sách thuyết minh và hùng biện cho thế giới biết được nhiều sự thật hơn là tất cả những nhà chính trị chuyên nghiệp, những nhà chính luận và những nhà luân lý học cộng lại” (Phương Lựu và cs, 2005, tr 84)
Như vậy, phản ánh gắn liền với nhận thức có giá trị trên bình diện hình thái quan niệm; nhờ
đó chủ thể có thể đạt đến chân lý đối tượng
3.2 Phản ánh với biểu hiện
Lý luận về phản ánh ghi nhận văn nghệ không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn biểu hiện thế giới chủ quan Phản ánh như trên đã trình bày, đó là quá trình diễn ra phức tạp; có thể nói song trùng phản ánh có nhận thức, có biểu hiện Vì vậy văn nghệ không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà còn là sự nghiền ngẫm hiện thực Sự nghiền ngẫm hiện thực bộc lộ những suy tư, mơ ước, khát vọng vốn ẩn tàng những cơ sở thực tế
Chủ nghĩa duy vật lịch sử quan niệm con người là một sinh vật xã hội Trong lịch sử phát triển hướng tới hiện đại, văn minh, tiến bộ con người không ngừng hoàn thiện mình và cải tạo hiện thực Hiện thực là tác nhân đầu tiên đánh thức những suy tư, mơ ước của con người Con người không chỉ “nhào nặn” vật chất theo quy luật của cái đẹp mà còn luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, biểu hiện chủ quan trong bất kỳ công trình sáng tạo nghệ thuật nào Chính K H Marx cũng khẳng định vấn đề này khi cho rằng một nhà kiến trúc không tài năng ngay từ đầu đã khác con ong khéo léo nhất là trước khi xây cái tổ bằng sáo anh ta đã xây dựng nó trong tâm trí Còn V I Lenin
trong “Bút ký triết học” cho rằng “nhận thức con người không phải là đường thẳng” Sự phản ánh
hiện thực không phải là tấm gương phản chiếu hoàn toàn cảnh thực Chủ nghĩa duy vật không máy móc, siêu hình trong quan niệm mà ghi nhận quá trình phản ánh trong tương tác, biến đổi Đó là quá trình vận động không ngừng nghỉ, thường xuyên xuất hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn Có thể xem quá trình đó như hoạt động của đường cong vô hạn, tiếp đến là một loạt những đường tròn hình trôn ốc và đỉnh hội tụ cuối cùng phát tín hiệu một nhận thức, ý niệm, biểu hiện chủ quan nào
đó
Vấn đề đặt ra: Nghệ thuật biểu hiện cái chủ quan như thế nào?
Là một hình thái ý thức đặc thù, nội dung phản ánh hiện thực (dù bằng phương thức nào) cũng hướng về cuộc sống nhân sinh, trong đó trung tâm là con người Do vậy, hiện thực cuộc sống con người không chỉ là đời sống vật chất mà còn cả thế giới tinh thần Vì thế, vấn đề càng cần nhấn mạnh: phản ánh hiện thực hoàn toàn không thể sao nguyên hiện thực mà cái được phản ánh đã thông qua lăng kính chủ quan của tác giả theo quy luật của sáng tạo Có thể nói đó là “hiện thực thứ hai” Hiện thực đó qua sự quan sát, nghiền ngẫm, suy tư trăn trở của nhà văn và qua việc nhà văn
mở rộng tấm lòng đón nhận cuộc sống từ những cung bậc cảm xúc với niềm vui, nỗi buồn, mơ ước chân thành, tha thiết của tác giả Vì thế cái chủ quan ấy rất chân thật Nó là tấm lòng hồn nhiên, trong sáng và cả sự thức ngộ sâu xa về cuộc sống nhân sinh Hiện thực thứ hai này được nhà văn thể hiện vào tác phẩm thông qua chất liệu ngôn từ Có thể xem quá trình tạo hình văn bản này là một sự
ký mã Hiện thực cuộc sống được phản ánh trong tưởng tượng của nhà văn dưới dạng hình tượng nhưng tác phẩm sau khi hoàn chỉnh đến với công chúng thì nó trở thành khách thể đặc thù Vì sao?
Trang 31Bởi vì khi hoàn thành, tác phẩm có đời sống riêng, vận động theo những quy luật nội tại của nó; nằm ngoài sự chi phối của bất kỳ ai, kể cả tác giả Mặt khác, khách thể đó còn tồn tại dưới dạng phi vật thể, nó là một hiện tượng thuộc thế giới tinh thần Do vậy phẩm chất chân thật của biểu hiện đặc biệt quan trọng Sự giả dối, trá ngụy là xúc phạm bạn đọc, gây những hậu quả khó lường, nhất
là đối với thế hệ trẻ Mặt khác, từ hiện thực cuộc sống đến hiện thực tác phẩm và hiện thực bạn đọc,
có những khoảng cách nhất định; vì thế tính chân thực trong biểu hiện càng cần thiết Có thể nó, trong tác phẩm văn chương, khi hiện thực đời sống - hiện thực mang cái nhìn chủ quan của nhà văn
và hiện thực tái tạo trong tâm trí độc giả tiếp nhận càng gần nhau, khoảng cách giữa chúng càng thu hẹp thì tính chân thực càng đậm nét Qua lăng kính chủ quan, tác giả phải thể hiện được những vấn
đề bản chất nhất của hiện thực đời sống, nêu được những bức thiết của xã hội, thời đại, cũng như khám phá những sự thật sâu kín trong tâm hồn con người thì mới đạt được ý nghĩa sâu sắc của tính chân thực
3.3 Phản ánh với sáng tạo
Sáng tạo là đặc điểm quan trọng của văn nghệ Phản ánh vào nhận thức con người bao giờ cũng là sự tiếp nhận, sàng lọc, phân định, dự hướng; nghĩa là quá trình phản ánh đồng thời diễn ra
cùng với sáng tạo ở nghệ sĩ B Vaxiliep nhận xét: “Trong sự phản ánh cũng như trong sự sáng tạo,
cả hiện thực cũng như con người đều được phản ánh” Nhưng như đã trình bày, đó là sự phản ánh
lần thứ hai đã có dấu ấn chủ quan của tác giả Bởi vì nghệ thuật nhận thức và đánh giá cuộc sống một cách trực tiếp Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng, suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xác định; vừa như trọn vẹn, vừa như còn giới hạn Nhà văn sáng tác khi cảm thấy đau khổ, vui sướng ở đâu đó trong tâm hồn; hoặc khi có điều gì bức xúc muốn gửi gắm, chia sẻ Văn học chính là nỗi buồn và lý tưởng Có nỗi đau, hạnh phúc có ấn tượng phong phú về đời sống kết hợp với ngôn ngữ thì chừng mực nào đó đã có văn học Vị thế nhà văn và tác phẩm phụ thuộc vào chiều sâu của cảm xúc cùng độ chín của suy nghĩ Nhà thơ Đức H Heine từng viết:
“Thế giới chẻ làm đôi,
Vết nứt xuyên qua trái tim nhà thơ”
Đó chính là biện chứng của cái chung và cái riêng trong văn học
Sáng tạo đem đến cho độc giả những rung cảm, khám phá mới Phản ánh luận Mác- xít nhấn mạnh đến tính năng động chủ quan của con người trong quá trình phản ánh nhận thức như tính lựa chọn, khái quát Khi nhận thức, con người gạt bỏ cái hiện tượng, chọn cái bản chất; gạt bỏ cái cá biệt, lấy cái chung; gạt bỏ cái ngẫu nhiên, lấy cái tất yếu Theo cách hiểu hiện đại thì khi khái quát cái tất yếu, cái chung, cái bản chất; không phải là bản “phocoppy” giản đơn, mà là kiến tạo ra chúng theo các dữ liệu và cách nhìn nhận theo một hệ hình chủ quan nhất định Và như thế phản ánh cũng đồng thời là kiến tạo và sáng tạo Chính V I Lenin cũng nói về vấn đề này và coi sáng tạo là thuộc
tính của phản ánh: “Trong sự khái quát giản đơn nhất, trong ý niệm chung cơ bản nhất (ví dụ cái
bàn nói chung) có một phần nhất định nào đó của tưởng tượng Ngược lại, thật là vô lý nếu phủ nhận vai trò của tưởng tượng trong khoa học chính xác nhất” (Học tập tư tưởng văn nghệ của
Lênin, dẫn theo Phương Lựu, 2008, tr.93 Tldd) V I Lenin cũng tán thành ý kiến của L A
Feurebach: “Nghệ thuật không đòi hỏi phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực Chân
lý nghệ thuật mà văn nghệ đạt đến chỉ là trên hình thái quan niệm và chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân lý đời sống”
Vấn đề trên không mới, Vương Quốc Duy (nhà lý luận văn học đời Thanh) đã từng viết:
“Có tạo cảnh, có tả cảnh, đó là lý do để chia ra hai phái lý tưởng và tả thực Tuy vậy hai phái đó cũng khó mà phân biệt được một cách rạch ròi Bởi vì nhà thơ lớn khi tạo cảnh đều phù hợp với tự nhiên, khi tả cảnh cũng gần gũi với lý tưởng vậy” (Lục Du tập, sách 4, tr 1522, 1794 trích Khâu Chấn Thanh, 1994, tr.81) Từ ý tứ của đoạn văn trên ta nhận thấy: “tạo cảnh” tức nhà văn dựa vào
lý tưởng của mình rồi theo đó vẽ ra một bức tranh cuộc sống mŕ trong cuộc sống không có, hoặc ít
có cái đó; nó chỉ là cái nhà văn hy vọng, mong muốn có mà thôi Còn “tả cảnh” là hình tượng mà nhà văn dựa vào những dạng thức vốn có của cuộc sống mà vẽ ra Cái đó tuy cũng trải qua sự chọn
Trang 32lọc, gia công của nhà văn nhưng nó thường tìm thấy dấu ấn trong cuộc sống; chỉ có điều là nó cao hơn cuộc sống, mãnh liệt hơn cuộc sống và điển hình hơn cuộc sống mà thôi Mặt khác ông còn cho rằng: “tạo cảnh” và “tả cảnh”, “lý tưởng” và “hiện thực” khó mà phân biệt rạch ròi, chúng thường dung hòa, kết hợp với nhau “bởi vì đối với những nhà thơ lớn, khi tạo cảnh tất phù hợp với tự nhiên, khi tả cảnh cũng gần gũi với lý tưởng vậy” Nói cách khác, có thể hiểu ý kiến của Vương Quốc Duy đồng quan điểm trong thời hiện đại: phản ánh cũng là kiến tạo, sáng tạo Nhà thơ - nhà lý
luận văn học Việt Nam hiện đại - Nguyễn Đình Thi trong tiểu luận “Tiếng nói của văn nghệ” cũng nhận xét: “Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng
nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ; anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh” (Ngữ văn lớp 9, tập 2, 2005, tr 12) Nhận xét này cũng đồng quan điểm phản ánh là sáng tạo
Trang 33
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Trình bày những hiểu biết về lý luận phản ánh của V I Lê nin
2 Trình bày một số hạn chế về lý luận phản ánh của V I Lê nin
3 Mối quan hệ giữa phản ánh với nhận thức
4 Mối quan hệ giữa phản ánh với biểu hiện
5 Mối quan hệ giữa phản ánh với sáng tạo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hà Minh Đức (Chủ biên), Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long, Phạm Thành Hưng, Nguyễn Văn
Nam, Đoàn Đức Phương, Trần Khánh Thành & Lí Hoài Thu (1995) Lí luận văn học (Xuất bản lần
thứ hai) Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo dục
2 Heghen (2005) Mỹ học (Phan Ngọc giới thiệu và dịch) Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học
3 Khrapchenko, M.B Sáng tạo nghệ thuật hiện thực con người
4 Phương Lựu (Chủ biên), Nguyễn Nghĩa Trọng, La Khắc Hòa & Lê Lưu Oanh (2008) Lí luận
văn học (Tập 1, Xuất bản lần thứ hai) Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
5 Trần Đình Sử Tiếp nhận phản ánh luận ở Việt Nam Truy cập từ
https://trandinhsu.wordpress.com/2015
Trang 34Chương 3
VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
Mục tiêu cần đạt:
Người học cần nắm vững:
- Những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật ngôn từ:
Tính hình tượng - gián tiếp
Tính tư duy trực tiếp
Tính vô cực hai chiều về không gian - thời gian
- Tương quan giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác
* * *
Để hiểu rõ những đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ, cần phân biệt nghệ thuật ngôn từ với ngôn từ nghệ thuật Ngôn từ nghệ thuật là kết quả của những biện pháp tu từ cùng những quy tắc tổ chức lời văn, nhằm góp phần thể hiện những giá trị tư tưởng - thẩm mỹ trong một tác phẩm cụ thể Còn nghệ thuật ngôn từ là đặc trưng cơ bản của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, đối sánh với các loại hình nghệ thuật có chất liệu khác Cũng nói đến ngôn từ, trong chương này chúng ta không bàn đến những đặc trưng nghệ thuật ngoài ngôn từ, chỉ đề cập đến thuộc tính về mặt chất liệu làm nên đặc thù của văn học mà thôi
1 ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
1.1 Giới thuyết
Giống như các hình thái ý thức xã hội khác như: chính trị, triết học, đạo đức…, văn học cũng dùng ngôn ngữ làm chất liệu; nhưng văn học khác những hình thái này ở chỗ - nó là một loại hình nghệ thuật Do đó, phải khám phá đặc trưng của văn học trong sự đối sánh với các loại hình nghệ thuật khác Đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật, xét đến cùng là bắt nguồn từ chất liệu của
nó Bất cứ một loại hình nghệ thuật nào cũng sử dụng một chất liệu nhất định trong tự nhiên, xã hội
để xây dựng hình tượng Nhờ những thủ pháp riêng của từng loại hình nghệ thuật, các chất liệu được nhào nặn lại và trở thành những yếu tố mang tính thẩm mỹ Mối quan hệ giữa hình tượng và chất liệu là mối quan hệ hữu cơ, xuyên thấm, thâm nhập lẫn nhau Chất liệu sẽ mất tính thẩm mỹ nếu rời bỏ hình tượng; và ngược lại, hình tượng chỉ có thể tồn tại qua chất liệu Vì vậy, trong thực tế không có hình tượng nói chung mà chỉ có các hình tượng gắn liền với chất liệu cụ thể; hình tượng của một loại hình nghệ thuật cụ thể: hình tượng hội họa, hình tượng điêu khắc, hình tượng sân khấu, hình tượng điện ảnh, hình tượng âm nhạc, hình tượng văn học…Đặc tính và chất lượng của các hình tượng gắn liền với đặc tính nguyên liệu làm cơ sở cho nó Chất liệu của hội họa là đường nét
và màu sắc nên hình tượng hội họa được xây dựng bằng đường nét và màu sắc Chất liệu của âm nhạc là âm thanh và tiết tấu nên hình tượng âm nhạc được xây dựng bằng âm thanh, tiết tấu Chất liệu của vũ đạo là hình thể và động tác nên hình tượng vũ đạo được xây dựng bằng hình thể và động tác…Tất cả những chất liệu, hình tượng này đều là những trạng thái vật chất Trái lại, chất liệu của văn học là ngôn ngữ, đúng hơn là ngôn từ và hình tượng văn học được xây dựng bằng ngôn từ 1.2 Văn học - nghệ thuật ngôn từ
Ngôn ngữ, ngôn từ không phải là bản thân vật chất mà chỉ là ký hiệu của vật chất Ở đây, ngôn ngữ được hiểu theo nghĩa gốc, chỉ một hệ thống tiếng nói và chữ viết của một cộng đồng người nhất định, phân biệt với cộng đồng khác; có thể khái quát lại trong tự điển, sách ngữ pháp Ngôn từ là ngôn ngữ trong vận động, tức là lời nói được thể hiện qua những chủ thể phát ngôn khác nhau; bao gồm ngôn ngữ nói (lời nói miệng) và ngôn ngữ viết (lời nói viết) Qua lời nói, con người
có thể định danh các sự vật, hiện tượng; trao đổi tư tưởng; biểu hiện tư tưởng, cảm xúc…Trừ những chỗ không rõ phải tra cứu, nhà văn chủ yếu không bao giờ dựa vào tự điển và sách ngữ pháp; họ trực tiếp lấy lời nói mà cơ bản là những câu nói của con người làm chất liệu Khả năng nghệ thuật của ngôn từ rất to lớn, đáp ứng được yêu cầu phản ánh cuộc sống một cách phong phú, đa dạng của văn học Nói văn học là nghệ thuật của ngôn từ được hiểu là chất liệu của văn học là ngôn từ giàu hình ảnh và xúc cảm, tác động chủ yếu vào thế giới tâm hồn của con người Đặc trưng của văn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội - thẩm mỹ phải là cơ sở cho đặc trưng của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật là như vậy Nhưng khi đối sánh với các loại hình nghệ thuật khác
Trang 35để rút ra đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ, cần được giới thuyết rõ ràng thêm một số nội dung sau Nói đặc trưng ở đây là chỉ sự khác nhau giữa văn học với các loại hình nghệ thuật còn lại, không đề cập tỉ mỉ đến chỗ khác nhau giữa văn học với bất cứ loại hình nghệ thuật cụ thể nào Từ thế kỷ
XVIII, G E Lessing đã phân biệt chính xác khi cho rằng hội họa sử dụng “các vật thể và màu sắc
tồn tại trong không gian làm phương tiện và ký hiệu; còn thơ ca thì sử dụng các âm thanh phát ra từng tiếng lần lượt trong thời gian” (Laokoon hay là giới hạn của hội họa và thơ ca) Như vậy, hội
họa thuộc nghệ thuật không gian, còn thơ ca thuộc nghệ thuật thời gian Nhưng đây chưa hẳn là điểm khác nhau giữa âm nhạc, vũ đạo và văn học; bởi những loại hình này đều là những loại hình nghệ thuật thời gian Cũng vậy, văn học có nhiều loại thể nhưng đặc trưng ở đây là sự khác nhau giữa các loại hình nghệ thuật với văn học nói chung, không phải với một loại thể bất kỳ nào đó Tuy nhiên, trước khi tiếp cận đặc trưng nghệ thuật ngôn từ của văn học, chúng ta cần lưu ý một số vấn
đề sau đây:
- Khi lấy ví dụ để đối sánh giữa hai bên chỉ nên dừng lại ở những đặc điểm nào mà ít nhiều vẫn đúng với loại hình và loại thể khác Chẳng hạn lấy ví dụ về thơ ca thì đặc điểm đó vẫn đúng với truyện Tất nhiên không thể rạch ròi tuyệt đối ở đây, nhưng việc xác định đặc trưng qua việc đối sánh như vậy chỉ nên dừng ở mức độ khái quát nhất; còn những biểu hiện của tài năng, phong cách tác giả trong việc khai thác chất liệu thì vô cùng
- Nói đến đặc trưng, đặc điểm thì tất yếu sẽ nảy sinh chỗ mạnh, chỗ yếu; song đây không phải
là những ưu, khuyết của đối tượng để có thể phấn đấu khắc phục, mà là những thuộc tính tất yếu khách quan, chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau (nghĩa là chính nhờ chỗ yếu đó mới có chỗ mạnh và ngược lại)
- Nói đến đặc trưng, đặc điểm, chỗ mạnh, chỗ yếu của hình thái, loại hình, loại thể là nói đến khả năng; còn chúng có biến thành hiện thực hay không thì lại phụ thuộc vào vai trò chủ thể trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào của con người Do vậy, nếu có trường hợp một bài xã luận chính trị lại giàu tình cảm, thậm chí được xếp vào tác phẩm văn học hoặc một bài thơ lại khô khan cảm xúc, nặng chính trị cũng là điều có thể xảy ra Điều đó không có gì lạ, bởi vì một bên đã biết phát huy đến mức tối đa những khả năng cho phép; thậm chí còn biết sử dụng một cách gián tiếp và khéo léo những khả năng của các lĩnh vực khác; một bên lại làm phung phí, không khai thác hết tiềm năng khách quan vốn có
Tất cả những hiện tượng trên không nên và không thể dẫn đến sự nghi ngờ việc khái quát đặc điểm, đặc trưng của từng hình thái, loại hình, loại thể…mà bao giờ cũng tỏ ra tương hợp với mức trung bình lý tưởng đó, không phải với những trường hợp đặc biệt, xuất sắc hoặc tầm thường, xoàng xĩnh Những điều cần lưu ý trên đây giúp chúng ta tiếp cận đặc trưng này với một “điểm yếu” và rất nhiều “chỗ mạnh” của văn học trong sự đối sánh với nhiều loại hình nghệ thuật khác (trừ những loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp ở một mức độ nào đó, mà phần nào có đan xen yếu tố văn học như: kịch nói, ca kịch…)
Cuối cùng, đối sánh sẽ tìm ra sự khác biệt, nói lên đặc trưng nổi bật là chủ yếu nhưng không thể bỏ qua sự tương đồng Quả thật, cùng trong lĩnh vực nghệ thuật với tư cách là những hình thái ý thức xã hội - thẩm mỹ, văn học và nghệ thuật có những chỗ liên đới, giao thoa, chuyển hóa lẫn nhau; đó cũng là những điểm sáng cần làm sáng tỏ ở đây Nhưng trước hết, có thể thấy, xuất phát từ chất liệu, trong sự đối sánh với tất cả các loại hình nghệ thuật khác, văn học với tư cách là nghệ thuật của ngôn từ, sẽ mang những đặc điểm sau:
1.2.1 Tính hình tượng - gián tiếp
1.2.1.1 Tính hình tượng
Chất liệu của tất cả các loại hình nghệ thuật về nguồn gốc cơ bản là đơn thuần, chứ không mang tính tổng hợp như hội họa, âm nhạc, vũ đạo…Màu sắc, đường nét, âm thanh, tiết tấu hay hình thể, động tác…đều là vật chất, vật thể với những trạng thái của nó; cho nên chúng đều có tính hình tượng - trực tiếp, có nghĩa là công chúng có thể trực tiếp nghe, nhìn hình tượng của các loại hình
nghệ thuật này Chúng ta có thể trực tiếp nghe bản “ Unfinished Symphony” của F Schubert,
“Cantat” của J S Bach, “Sonate số 9” của L Beethoven…; có thể trực tiếp chiêm ngưỡng bức
tranh “Mona Lisa”, “Bữa tiệc cuối cùng” của L D Vinci, “Sự sáng tạo ra Adams” của Michelangelo, “Đêm đầy sao” của V V Gogh, “Tiếng thét” của E Munch…; có thể trực tiếp nhìn
Trang 36ngắm vẻ đẹp của các vũ công trong điệu múa Samba, Salsa, Tango, Rumba, Chachacha, Paso
Doble…Tất nhiên sau khi nghe, nhìn xong; thính giả, khán giả vẫn thỏa sức bay bổng trong thế giới
tưởng tượng của mình
Trước hết, khả năng nghệ thuật của ngôn từ biểu hiện ở tính hình tượng của nó Có thể nói, ngôn từ mang tính hình tượng từ trong bản chất Từ ngữ không chỉ là những khái niệm trừu tượng
mà còn là hình ảnh của thế giới khách quan, là “hiện thực trực tiếp của tư duy” như K H Marx
từng nói Từ ngữ khi được sử dụng trong hoạt động ngôn ngữ bao giờ cũng hướng về những đối tượng cụ thể nhằm tái hiện và gợi về đối tượng đó Bản thân từ ngữ chưa nói lên bản chất cụ thể về
sự vật, hiện tượng nhưng từ ngữ có khả năng gợi lên trong tâm trí con người những liên tưởng về đối tượng cụ thể Vì vậy, xét trong bình diện hoạt động ngôn ngữ, từ ngữ vừa có tính cụ thể vừa có tính khái quát Chính nhờ đặc tính này mà từ ngữ là cơ sở tất yếu để xây dựng những hình tượng vừa mang tính cụ thể vừa mang tính khái quát
Tính hình tượng của ngôn từ được biểu hiện rất đa dạng, trên nhiều mức độ khác nhau:
- Ở cấp độ từ vựng, tính hình tượng thường được thể hiện rõ rệt nhất qua những từ láy giàu giá trị tượng hình, gợi thanh; chẳng hạn: khúc khuỷu, lởm chởm, tung tăng, sù sì, rì rầm, róc rách, sầm sập, leng keng…Những từ ngữ này về mặt ngữ âm đã có khả năng miêu tả trực tiếp về đối tượng, gợi lên tính tạo hình trực tiếp của đối tượng
- Ở cấp độ cú pháp, những câu mang ý nghĩa trần thuật, miêu tả có khả năng tái hiện những bức tranh khác nhau về hiện thực Đặc biệt là các phương thức chuyển nghĩa ( so sánh, ẩn
dụ, hoán dụ, nhân hóa…) không những có khả năng biểu hiện nội dung của sự vật, hiện tượng mà còn làm cho chúng hiện lên với tính tạo hình cụ thể Tìm hiểu những câu thơ sau:
“Tình anh như nước dâng cao, Tình em như dải lụa đào tẩm hương”
(Ca dao) .“Nhịp chân bước bên vườn hoa ẻo lả Hồng hé môi là nụ của xuân xanh Hồn ngơ ngác thương ngừa trong tấc dạ
Em đi đâu? Ta đứng đợi không đành”
(Bùi Giáng - Bờ mây)
“Nắng buồn thương nhớ bên nhau Nhìn lưa thưa lá niềm đau trong cành
(Bùi Giáng - Nắng buồn)
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng
…
Những luồng run rẩy rung rinh lá…
Đôi nhánh khô gầy xương mong manh”…
(Xuân Diệu - Đây mùa thu tới)
- Tính hình tượng của ngôn từ không chỉ biểu hiện qua từ vựng, phương thức chuyển
nghĩa mà còn có thể biểu hiện ở bất cứ lời nói, lời viết nào trong một ngữ cảnh cụ thể Trong những ngữ cảnh riêng, ngôn từ có thể tái hiện đối tượng một cách độc đáo, cá biệt, mang tính nghệ thuật
cao Chẳng hạn trong tiểu thuyết “Số đỏ”, nhân vật Xuân tóc đỏ khi biết cụ cố Hồng có ý muốn gả Tuyết cho hắn; hắn sung sướng vô cùng nhưng vẫn thở dài mà than rằng: “Cái ấy mà thật thì chí
nguy! Không biết từ chối thế nào cho được lịch sự đây!” Câu nói của Xuân đặt trong hoàn cảnh cụ
thể của sự việc đã góp phần thể hiện bản chất láu cá, bịp bợm của hắn Trong “Truyện Kiều”, nhân
vật Mã Giám Sinh, khi đến nhà Vương Ông, hắn đóng vai một nho sinh đi hỏi vợ; vậy mà vừa mới
Trang 37bước vào nhà, hắn đã “ghế trên ngồi tót sỗ sàng” Chi tiết này, ngay tức khắc đã lột mặt nạ của Mã
Giám Sinh, hắn hiện nguyên hình là một tên buôn người trâng tráo, vô học Những chi tiết trên đây
là những chi tiết biết nói, những chi tiết cá thể hóa sâu sắc đối tượng miêu tả
Ngôn từ là chất liệu để xây dựng hình tượng và thông qua hình tượng để phản ánh hiện thực đời sống khách quan Hiện thực khách quan mà văn học hướng đến phản ánh bao giờ cũng được soi sáng qua con người Con người trong mối quan hệ xã hội là đối tượng chủ yếu của văn học Con người xuất hiện trong tác phẩm văn học hiện ra với tư cách “người mang lời nói” và những người
ấy một phần bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, bản chất của mình qua lời nói Như vậy, lời nói không chỉ là chất liệu xây dựng hình tượng văn học mà còn là đối tượng miêu tả của văn học Một tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể những lời phát ngôn của người kể chuyện, của cái tôi trữ tình của các nhân vật qua độc thoại và đối thoại Ở đây, khả năng nghệ thuật của ngôn từ lại biểu hiện qua chủ thể phát ngôn Vì vậy, bạn đọc có thể nhận diện ra giọng điệu, tư tưởng, tình cảm, tính cách của
các nhân vật và hình tượng người kể chuyện Đọc “Truyện Kiều”, chúng ta nhận diện được bản
chất khoác lác của Sở Khanh qua câu nói của hắn với nàng Kiều:
“Nàng đà biết đến ta chăng
Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi”
thấy được bản chất bạc nhược, nửa vời của Thúc Sinh qua câu nói:
“Liệu mà cao chạy xa bay
Ái ân ta có ngần này mà thôi!”
Đồng thời hiểu được trái tim nhân ái của đại thi hào Nguyễn Du qua lời trần thuật:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Do chỗ vừa tái hiện đời sống hiện thực bằng lời nói, vừa tái hiện bản thân lời nói trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ; văn học có khả năng to lớn trong việc phản ánh con người và đời sống xã hội Qua văn học, chúng ta không những thấy được những bức tranh đời sống mà còn nghe thấy tiếng nói của mọi tầng lớp người trong các thời đại khác nhau với những giọng điệu khác nhau Điều này dễ dàng nhận ra khi chúng ta tiếp xúc với những tác phẩm lớn của văn chương nhân loại, đặc biệt là tiểu thuyết
1.2.1.2 Tính gián tiếp
Ngôn ngữ, đúng hơn là ngôn từ không phải là vật chất hay vật thể, mà chỉ là ký hiệu của chúng mà thôi; cho nên hình tượng mà văn học xây dựng nên không thể nghe nhìn một cách trực tiếp mà người đọc phải thông qua trải nghiệm, liên tưởng, tưởng tượng Đây là hình ảnh Bêlicốp -
“người trong bao” - trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn A P Chekhov: “Hắn ta nổi tiếng về
điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả vào khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông Ô hắn để trong bao, chiếc đồng hồ quả quýt cũng để trong bao bằng da hươu; và khi rút chiếc dao nhỏ để gọt bút chì thì chiếc dao ấy cũng đặt trong bao; cả bộ mặt hắn ta nữa dường như cũng ở trong bao vì lúc nào hắn cũng giấu mặt sau chiếc cổ áo bành tô
bẻ đứng lên Hắn đeo kính râm, mặc áo bông chần, lỗ tai nhét bông, và khi ngồi lên xe ngựa thì bao giờ cũng cho kéo mui lên Nói tóm lại, con người này lúc nào cũng có khát vọng mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài” Còn đây là chân dung chị em Thúy Kiều trong kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” của đại thi hào Nguyễn Du:
“Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười
Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn
Trang 38Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành họa hai”
Và đây nữa, tiếng đàn vi diệu, đa thanh phức điệu; gợi bao tâm sự, nỗi niềm về số phận người ca nữ bến Tầm Dương nói riêng và bao số phận hồng nhan bạc mệnh nói chung:
“Ngón buông, bắt, khoan khoan dìu dặt Trước “Nghê Thường” sau thoắt “Lục Yêu”
Dây to nhường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ như trò chuyện riêng Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu Trong hoa oanh ríu rít nhau Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh Tiếng suối lạnh, dây mành ngừng đứt Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao Cung đàn trọn khúc thanh tao Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây”
(Bạch Cư Dị - Tỳ bà hành)
Trong phong trào Thơ mới, Hàn Mặc Tử không phải là nhà thơ quá ý thức chơi chữ nhưng
thơ ông là cả một thành tựu của sự sáng tạo ngôn từ thật “đắt”; chẳng hạn bài thơ “Bẽn lẽn” đã gợi
tả cảnh (ngoại cảnh, tâm cảnh), khơi gợi thế giới tình cảm mãnh liệt sâu kín của thiếu phụ xuân sắc vào một đêm trăng:
“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu,
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động, Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi!
Trong khóm vi vu rào rạt mãi, Tiếng lòng ai nói? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm,
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe
Vô tình để gió hôn lên má, Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm
Em sợ lang quân em biết được, Nghi ngờ tới cái tiết trinh em”
Nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã từng ca ngợi thi phẩm này như sau: “Chỉ trong mười hai câu
đã kết tinh lại biết bao rung cảm say sưa, mà nhất là biết bao ảo thuật quái dị Mỗi chữ trong đây đều có một linh hồn, mỗi chữ là một “hoạt động lực”, nó bắt tay nhau mà nhảy lên một bản khiêu
vũ thần tiên” (Hàn Mặc Tử, 1960, tr 50)
Hiển nhiên là chúng ta có thể nghe thấy ngữ âm và tự dạng của những câu văn, câu thơ ấy; nhưng cảnh thiên nhiên sinh động, hữu tình trong thơ Bùi Giáng, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử; ngoại hình, dáng vẻ của nhân vật Bêlicốp, Mã Giám Sinh; vẻ đẹp tuyệt mỹ của chị em Thúy Kiều thì chúng ta không thể nhìn trực tiếp; còn âm điệu tiếng đàn tỳ bà của ngưới ca nữ bến Tầm Dương được tác giả thể hiện thì tuyệt đối không nghe thấy trực tiếp Song, với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai (theo I P Pavlov), những ngôn từ kia sẽ tác động vào vỏ đại não; cho nên, cuối cùng vẫn nhìn, nghe thấy một cách gián tiếp qua trí tưởng tượng phong phú của chúng ta Nói văn học mang
Trang 39tính hình tượng - gián tiếp là vì thế Đây là “chỗ yếu” duy nhất nhưng chính nhờ đó mà văn học lại
đổi được nhiều “chỗ mạnh” so với các loại hình nghệ thuật khác
1.2.2 Tính tư duy - trực tiếp
Gắn liền với hoạt động lời nói là hoạt động tư duy của con người Tư duy và ngôn ngữ gắn
bó chặt chẽ với nhau như hai mặt của một vấn đề bởi ngôn ngữ là “cái vỏ vật chất trực tiếp của tư
duy” (theo K H Marx), là ký hiệu của tư duy, là hiện thực trực tiếp của tư duy; cho nên những suy
nghĩ, cảm xúc của con người dù không nói ra cũng phải thông qua ngôn ngữ Lấy ngôn ngữ làm chất liệu; văn học có thể tái hiện quá trình tư duy của con người, bộc lộ trực tiếp tư tưởng, tình cảm của tác giả hoặc nhân vật Trừ thoại kịch và ca kịch mà thật ra cũng có yếu tố văn học là kịch bản
ra, các loại hình nghệ thuật khác không thể trực tiếp bộc lộ như vậy Tất nhiên, những hình tượng hội họa, âm nhạc, vũ đạo…; thông qua sự tưởng tượng và chiêm nghiệm thêm của công chúng vẫn
có thể hiểu được những suy tư, tâm trạng của tác giả hoặc của nhân vật Họa sĩ, nhạc sĩ cũng hoàn
toàn có cảm hứng “Đẹp vô cùng tổ quốc ta ơi” như nhà thơ Tố Hữu nhưng là ẩn giấu đằng sau bức
tranh hay điệu nhạc, không thể bộc lộ trực tiếp Các loại hình nghệ thuật khác mang tính tư duy - gián tiếp là vì vậy Những loại hình này, hiển nhiên cũng tư duy về con người nhưng không thể tái
hiện lại con người đang trực tiếp tư duy Ở bức tượng “Người suy nghĩ” (mô tả một người đàn ông
khỏa thân trong tư thế ngồi trên một tảng đá, cằm chống lên mu bàn tay phải Anh gập người xuống trong nỗi dằn vặt khủng khiếp Hình thể cuồn cuộn cơ bắp của nhân vật được điêu khắc gia lột tả tương ứng với những giằng xé nội tâm Sức mạnh của pho tượng người đàn ông suy tư nằm trong cái khốc liệt của nỗi khủng hoảng trong nội tâm được kìm nén lại), A Rodin muốn khắc họa dáng
vẻ tư duy, muốn biểu hiện những suy nghĩ cao thượng nào đó đòi hỏi con người phải tập trung cao
độ sức mạnh tâm hồn Nhưng ngay trong tác phẩm này, dù là một kiệt tác điêu khắc của nhân loại nhưng tác giả không thể thuật lại nội dung của tư duy; chúng ta không tìm thấy sự tái hiện những tư tưởng cụ thể Trái lại, văn học lại có khả năng tái hiện quá trình tư duy của con người một cách cụ thể, trực tiếp Qua các tác phẩm văn học cổ kim đông tây, chúng ta biết được vô vàn nhân vật đang nghĩ suy trước cuộc đời với bao nhiêu quyết định có thể bình thường hay lớn lao; có thể có những suy tư dằn vặt, giằng xé đớn đau; cả những tính toan lầm lỡ nguy hại cả cuộc đời cá nhân hoặc vận mệnh một đất nước…Đó có thể là lời nhà văn trực tiếp thể hiện hay gửi gấm vào người kể chuyện hoặc thông qua độc thoại, đối thoại của nhân vật Nhờ tái hiện quá trình tư duy, văn học có thể khắc họa được các chân dung tư tưởng của con người Mỗi lời nói, ý nghĩ của nhân vật đều chứa đựng thái độ, quan điểm đối với con người, cuộc sống Đặc biệt, qua các nhân vật hoặc qua những lời phát biểu trực tiếp; nhà văn có thể nêu lên những quan điểm của mình về nhân sinh và nghệ thuật, nhất là ở những nhà văn lớn Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đã từng suy nghĩ triết lý về chữ “tâm”,
chữ “tài”, về kiếp người qua tác phẩm “Truyện Kiều” bất hủ; Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh,
Sóng Hồng, Chế Lan Viên nói lên quan điểm nghệ thuật tiến bộ qua những câu thơ sắc sảo của mình; Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Lê Anh Xuân suy nghĩ và khẳng định tầm vóc dân tộc trong thời
kỳ chống Mỹ; Xuân Diệu suy tư về cội nguồn sự sống sinh sôi nảy nở…Tất cả những suy nghĩ ấy đều hiện hình trực tiếp qua tác phẩm văn học Lấy ngôn từ làm chất liệu, văn học có thể phản ánh bất kỳ phương diện nào của đời sống hiện thực, có khả năng thực hiện chức năng nhận thức, biểu hiện tư tưởng một cách trực tiếp và toàn vẹn nhất Nhờ những khả năng to lớn như vậy; văn học đã trở thành “bách khoa toàn thư” về cuộc sống, trở thành phương tiện giao tiếp tình cảm, tư tưởng thẩm mỹ thông dụng nhất của con người
Trong bi kịch kiệt tác “Hamlet”, W Shakespeare đã rất thành công trong việc đặc tả thế giới
nội tâm phong phú, phức tạp, đầy xung đột của nhân vật Hamlet Hamlet băn khoăn nhiều về ý nghĩa của sự sống - cái chết: chết “là ngủ, không hơn” Nhưng nếu chết mà chưa thực hiện nghĩa vụ chiến đấu cho lẽ phải thì không thể có giấc ngủ bình yên vì còn bao tai họa tồn tại trong cuộc đời này Cũng còn một kiểu “chết” nữa - chết bản tính người - dù tác giả không trực tiếp nói nhưng
chúng ta vẫn hiểu Đó là “con người còn có ra gì nếu đem tất cả những phần tinh túy và giá trị của
đời mình vào việc ăn, việc ngủ? Chỉ là con vật, không hơn” Theo Hamlet, đúng hơn là theo tác giả;
sống đồng nghĩa với hành động, chiến đấu vì công lý, chính nghĩa, vì hạnh phúc của con người Do
vậy, “Sống hay không sống, đó là vấn đề Chịu đựng tất cả những viên đá, những mũi tên của số
mệnh phũ phàng hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại để mà tiêu diệt chúng đi, đằng nào cao
Trang 40quý hơn?” Ta thấy, Hamlet suy tư sâu sắc về các mối xung đột, mà trước hết và nặng nề nhất là
xung đột giữa lý tưởng nhân văn và hiện thực ngang trái, xấu xa của xã hội - vấn đề này đã được tác giả thể hiện cụ thể, sinh động trong vở bi kịch nổi tiếng này
Trong kiệt tác “Chí Phèo”, tác giả Nam Cao không chỉ bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của nhân
vật (thông qua người kể chuyện), mà nó còn ẩn chứa những tư duy sâu sắc hàm chứa tư tưởng chủ
đề tác phẩm Có thể tìm thấy nhiều đoạn văn như thế, chúng ta thử tìm hiểu một đoạn văn tiêu biểu
mở đầu thiên truyện: “Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu
hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sao: đời là tất cả nhưng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!” Không ai lên tiếng cả Tức thật! Ờ! Thế này thì tức thật! Tức chết đi được mất! Đã thế hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn Nhưng cũng không
ai ra điều Mẹ kiếp! Thế có phí rượu không? Thế thì có khổ hắn không? Không biết đứa chết mẹ nào lại đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này? A ha! Phải đấy, hắn cứ thế mà chửi, hắn cứ chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo! Hắn nghiến răng vào mà chửi cái đứa đã đẻ ra Chí Phèo Nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo? Có mà trời biết! Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết ”
Trong truyện ngắn “Đời thừa” (Nam Cao), qua nhân vật nhà văn Hộ, tác giả đã nói đến
nhiều vấn đề quan trọng về đạo đức con người, mà chân giá trị chính là lòng nhân ái Nhà văn còn trình bày nhiều nội dung liên quan đến nhà văn, nghề văn và lĩnh vực nghệ thuật nói chung Ta dễ dàng lý giải vì sao tác phẩm lại thiên về tư duy, cảm xúc đau buồn, có phần nặng nề; nhất là đối với độc giả thiên về giải trí thuần túy Thử điểm qua một vài đoạn văn tiêu biểu, đặc biệt là những đoạn
độc thoại “Nhưng bấy giờ hắn chỉ có một mình Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã trẻ tuổi say
mê lý tưởng Lòng hắn đẹp Đầu hắn mang một hoài bão lớn Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở Hắn đọc, ngẫm nghĩ, tìm tòi, nhận xét và suy tưởng không biết chán Đối với hắn lúc ấy, nghệ thuật là tất cả; ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm nữa Hắn băn khoăn nghĩ đến một tác phẩm nó sẽ làm mờ hết các tác phẩm khác cùng ra một thời” Khi “đã ghép đời Từ vào cuộc đời của hắn” thì “Khốn nạn! Khốn nạn! Khốn nạn thay cho hắn! Bởi vì chính hắn là một thằng khốn nạn! Hắn chính là một kẻ bất lương! Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện…Hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đến văn chương Thế nghĩa là hắn là một kẻ vô ích, một người thừa Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có…Còn gì buồn hơn chính mình lại chán mình? Còn gì đau đớn hơn cho một kẻ vẫn khát khao làm một cái gì nâng cao giá trị đời sống của mình, mà kết cục chẳng làm được cái gì, chỉ những lo cơm áo mà đủ mệt? Kẻ mạnh không phải là là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỷ Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình…Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải
là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng một cái gì đó lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn Như thế mới là một tác phẩm hay…”
Một nhà thơ có thể bộc lộ trực tiếp tâm trạng mong nhớ mãnh liệt của mình với ngưới yêu qua tác phẩm Đó là trường tương tư trong tất cả thời gian, không gian, làm hao mòn tâm thể:
“Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!
Gió bao lần từng trận gió thương đi,
- Mà kỷ niệm, ôi, còn gọi ta chi…”
( Xuân Diệu - Tương tư chiều) Hay là lời phân trần chạy tội khôn ngoan và không kém phần lọc lõi của nhân vật Hoạn Thư khi bị giải đến “tòa án” của nàng Kiều: