1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thể dục nhịp điệu tài liệu giảng dạy

144 199 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thể dục nhịp điệu tài liệu giảng dạy
Trường học Đại học An Giang
Chuyên ngành Thể dục thể thao
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 4,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là môn thể thao đòi hỏi khả năng trình diễn những chuyển động mạnh mẽ, hiện đại và liên tục, mang đặc trưng của những vũ điệu truyền thống một bài biểu diễn Sport Aerobic thông thườn

Trang 1

CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

MÔN THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU1.1 GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH

1.1.1 VỊ TRÍ MÔN HỌC:

Thể dục nhịp điệu (thể dục Aerobics) là một môn học bắt buộc nằm trong

chương trình đào tạo trình độ cử nhân cao đẳng thể dục thể thao của trường Đại học

An Giang Môn học sẽ được tiến hành giảng dạy với tổng số tiết là 36 tiết

1.1.2 MỤC TIÊU ĐÀO TẠO:

- Có kiến thức cơ bản nhất về bộ môn thể dục nhịp điệu Đảm trách được nội

dung giảng dạy thể dục Nhịp điệu ở trường phổ thông

- Hiểu và sử dụng được phương pháp giảng dạy và đặc biệt là khả năng huấn

luyện (ngoại khóa)

1.1.3 TÁC DỤNG VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA MÔN HỌC:

1.1.3.1 Tác dụng của môn thể dục nhịp điệu:

Môn thể dục nhịp điệu giúp cơ thể phát triển toàn diện về sức nhanh, sức mạnh,

sức bền và sự khéo léo Tạo tư thế cơ thể khỏe đẹp, uyển chuyễn nhanh nhẹn và hoạt

bát hơn trong các cử động

Thể dục nhịp điệu không chỉ có tác dụng rèn luyện về sức khỏe nó còn có tác

dụng rỏ về giảm cân, săn cơ, giải tỏa căng thẳng và nâng cao hoạt động hệ tim mạch

cho cơ thể con người

Các bài tập thể dục nhịp điệu giúp cải thiện hệ tim mạch, hô hấp, phát triển cơ

bắp, tăng cường nhận thức, tự tin, khả năng sáng tạo Chúng tăng cường sự phối hợp

giữa các cơ quan, sự mềm dẻo, các yếu tố nhận thức và thực hiện, các yếu tố tâm lý,

tính nghệ thuật và các mối liên hệ khác Một nghiên cứu của Đại học Alabama (Mỹ)

đã cho thấy, sau 12 tuần tập luyện, aerobic cải thiện được sức khỏe cho những người

nhiễm HIV

Các nhà khoa học Phần Lan thử nghiệm 5 năm trên những người tình nguyện

mắc bệnh tim mạch bẩm sinh và nhận thấy nhóm có tập luyện aerobic giảm 16%

nguy cơ đột quỵ so với nhóm đối chiếu không hề luyện tập Ở những người có tiền

sử bệnh tim, nguy cơ này giảm tới 49%

Bên cạnh các ích lợi cho sức khỏe, aerobic còn rất được phụ nữ ưa chuộng vì

giúp cho thân hình thon thả, loại bỏ những phần mỡ dư thừa của cơ thể Hiện có các

bài tập thích hợp cho nhiều đối tượng tập luyện kể cả phụ nữ mang thai như “Prime

time workout”, “Stretch & stress reduction Program”, “Jane Fonda’s Workout for

Pregnancy, Birth & Recovery”…

Trang 2

1.1.3.2 Đối tượng môn học:

Thể dục Aerobic rất hấp dẫn và mang tính quần chúng cao, do đó được nhiều người, đặc biệt là thanh thiếu niên yêu thích tập luyện Hiện nay ở nước ta, thể dục Aerobic đã được phát triển rộng rãi có sức thu hút mạnh mẽ và trở thành một trong những môn học chính ở một số trường phổ thông và các trường Cao Đẳng, Đại học hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc

1.1.3.3 Đặc điểm môn thể dục nhịp điệu:

Sport Aerobic được công nhận là môn thể thao chính thức của Liên đoàn thể dục Thế giới từ năm 1994 Đây là môn thể thao đòi hỏi khả năng trình diễn những chuyển động mạnh mẽ, hiện đại và liên tục, mang đặc trưng của những vũ điệu truyền thống một bài biểu diễn Sport Aerobic thông thường phải thể hiện được các chuyển động liên tục, mềm dẻo, mạnh mẽ và thể hiện được các bước thể dục nhịp điệu cơ bản Sự phối hợp của các bước nhảy cơ bản với các mẫu chuyển động tay được thực hiện với âm nhạc tạo nên động lực, nhịp điệu và các chuỗi chuyển động tương tác cao và thấp một cách liên tục Do vậy, bài diễn phải thể hiện được ấn tượng về aerobic và không phải là một tập hợp các động tác thể dục nhịp điệu thông thường bởi đây là một môn thể thao mang tính động lực và đầy sáng tạo

Thông thường, đánh giá một bài biểu diễn Sport Aerobic thường dựa trên tiêu chí nghệ thuật và tiêu chí thực hiện

Trong đó, với yêu cầu nghệ thuật, một bài biểu diễn phải bộc lộ được tính sáng tạo, cấu trúc vũ đạo phải cho thấy được tính thể thao, tính nhịp điệu và sự đa dạng trong chuyển động cũng như sự tương thích rõ nét với âm nhạc và khả năng biểu đạt của người biểu diễn Đối với yêu cầu Thực hiện, bài biểu diễn phải thể hiện được dáng điệu, sự liên kết trong chuyển động, tính mềm dẻo, cường độ nhanh, sức bền, sức mạnh của các cơ

1.1.3.4 Phân loại bài tập thể dục nhịp điệu:

TDNĐ được chia theo các chức năng khác như:

- TDNĐ dành cho trẻ em (thiếu nhi, nhi đồng)

- TDNĐ dành cho thanh thiếu niên

- TDNĐ dành cho những người trung niên và cao tuổi

TDNĐ dùng cho chữa bệnh và ứng dụng:

- Bài tập TDNĐ có thể được sử dụng rộng rãi trong chữa bệnh TDTT chủ yếu trong các bệnh về tim mạch và hô hấp, giải tỏa bệnh căng thẳng về thần kinh và các chấn thương của cơ quan vận động (khớp, thoái hóa…)

- Các dạng TDNĐ có thể được tiến hành trong nhà, ngoài trời hoặc dưới nước

- Bài tập TDNĐ có thể thực hiện ở các tư thế khác nhau như đứng, ngồi, quì, nằm Ngoài ra có thể tập với các dụng cụ khác nhau như (ghế, bóng, tạ, gậy, bục)

TDNĐ dùng cho thi đấu: được chia theo lứa tuổi như sau:

- Dành cho nhi đồng (lứa tuổi từ 4 đến 6 tuổi)

- Dành cho thiếu nhi (từ 7 đến 9 tuổi) Tiểu học: các lớp 1, 2, 3

- Dành cho thiếu nhi (từ 10 đến 11 tuổi) Tiểu học: các lớp 4,5

- Dành cho thiếu niên (từ 12 đến 15 tuổi) Trung học cơ sở: các lớp 6, 7, 8, 9

Trang 3

- Dành cho thiếu niên (từ 16 đến 18 tuổi) Trung học PT: các lớp 10, 11, 12

- Dành cho thanh niên (từ 18 tuổi trở lên)

Nội dung thi đấu:

- Mỗi đội phải dự thi 3 bài: 1 bài qui định + 2 bài tự chọn (nhóm 8 và nhóm 3

Thật ra từ thời cổ đại đã có các điệu nhảy và các bài tập thể dục, lúc bấy giờ được ứng dụng để phát triển cơ thể, tạo tư thế cơ thể ngay ngắn, khoẻ đẹp, uyển chuyển trong các bước đi và các cử động trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra các bài tập đó còn giúp cho việc phát triển các tố chất như: sức nhanh, sức mạnh, sức bền

và sự khéo léo

Dần dần theo thời gian và sự tiến bộ của khoa học với thành tựu ngày càng rực

rỡ, và sự ứng dụng những thành tựu của khoa học vào chuyên môn nên thể dục ngày càng được xã hội chú ý nhiều hơn Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã có nhiều

hệ thống Thể dục khác nhau được thành lập như: Hệ thống Thể dục của Đức, của Thụy Điển và nhiều nhà thể dục lớn như Spinsa, Miulera, Canđôva Trong hệ thống các bài tập này đều không chú ý đến phụ nữ, họ được chỉ dẫn những bài tập như nam giới mà không tính toán đến sự khác nhau về tâm, sinh lý giữa nam và nữ

Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc sống xã hội của nhiều nước trở nên xấu đi rất nhiều và nhiệm vụ được đặt ra lúc đó là làm sao có các bài tập thể dục ngoài việc nâng cao thể chất của con người còn giúp con người giải tỏa được các nỗi buồn phiền, căng thẳng trong cuộc sống thường ngày

Thể dục nhịp điệu (AER) là hình thức tập luyện phổ biến, nó được coi là phương pháp tập tuyệt vời để nâng cao sức khoẻ cho mọi người Từ “Aerobic” được

sử dụng lần đầu tiên vào năm 1875 do Bác sĩ người Pháp Pasteur giải nghĩa rằng Oxy cần cho cuộc sống tức là “Aerobic” Theo gốc Hy lạp, từ này mang nghĩa chính là

“Oxy cho cuộc sống”

Các nhà chuyên môn thể dục của các nước Châu Âu đã thử nghiệm đưa âm nhạc lồng vào làm nhạc nền cho các bài tập thể dục và đã nhanh chống đi đến những

Trang 4

thành công, được công chúng yêu thích và tập luyện rộng rãi Trong phong trào đó là

bà Jene Fonda là một trong những người có công lao rất lớn với việc quảng bá Aerobic (TDNĐ) trên phương tiện thông tin đại chúng Lúc đầu bà Jene Fonda chỉ nghe nhạc và ghép những động tác thể dục và nhảy múa vào khớp với âm nhạc Sau

đó bà dần dần hình thành những bài tập với nhạc, bà đã cấp tốc mở những lớp tập luyện TDNĐ cho thanh niên ở những câu lạc bộ, lúc đầu bà không thu tiền Dần dần TDNĐ đã trở thành một nhu cầu cần thiết đối với phụ nữ Châu Âu và cho tới nay, TDNĐ đã phát triển rộng khắp các quốc gia trên hành tinh chúng ta đều tập luyện những bài tập này Nhưng người gây chấn động lớn tiếp theo là Jene Fonda, bà đã đưa ra chương trình tập Aerobic trong cuốn sách và băng video của mình

Chỉ mãi đến những năm 20 và 30 của thế kỷ XX Zenebvactebin (Giennépvastabin) và người kế tục của mình l Becemencendir (Người Mỹ) dưới ảnh hưởng của hệ thống thể dục Thụy Điển và hệ thống Z Đemeni của Pháp, đã hình thành và đưa ra các phương pháp tạo điều kiện phát triển tối ưu tư thế, vẻ đẹp trong dáng đi và cử động của người phụ nữ Một trong những ảnh hưởng lớn nhất cho sự phát triển của thể dục của giai đoạn này là hệ thống của Fran – Dencap Ông đã cố gắng đưa ra mối liên hệ nhất định giữa nỗi đau khổ của con người, sự chịu đựng và tính hài hước để giảm nhẹ nó Chính công việc đó của ông và đồng nghiệp đã giúp cho việc đặt cơ sở của lý luận diễn tả, thể hiện tình cảm qua hành động của môn múa Ballet và kịch câm Đây chính là nền tảng của việc sáng lập ra một hướng mới trong thể dục đó là TDNĐ

Hình 1 Tác dụng khi tập thể dục nhịp điệu

Những năm 60 Kenneth Cooper bắt đầu tập luyện cho các nhóm sinh viên… đến năm 1968 lại mở rộng thêm cho 1 số nơi khác Năm 1970 Jackie Sorensen viết cuốn sách mang tên “Chương trình tập luyện vũ điệu Aerobic” trên cơ sở từ Cooper Đây là chương trình dạng những bài tập từ Canađa, hoạt động với âm nhạc và giới thiệu một vài bước nhảy hiện đại, và đó là những lớp đầu tiên chỉ dành cho nữ

Trang 5

Sau nhiều tranh luận, đến khoảng 10 năm đầu của thế kỷ XX, TDNĐ hay còn gọi là Aerobic bắt đầu phát triển chính thống với sự giúp đỡ của âm nhạc và mang đầy tính nghệ thuật

Như chúng ta đã biết TDNĐ ở những nước khác nhau, có những tên gọi cũng khác nhau như : Thể dục – Jazz, thể dục – Pop, thể dục – mốt, thể dục – làm gọn người, môn thể dục múa hay đơn giản là Aerobic Một trong những nhiệm vụ chính của TDNĐ là làm cho người tập khỏe mạnh nhanh nhẹn và hoạt bát hơn

Sau đó ở Mỹ, Phyllis C.Jacobson phát triển phương pháp tập luyện mới với tên gọi là “Hooked on Aerobic” nhịp độ của bài chậm và vừa

Với sự cải tiến này Aerobic đã trở thành nội dung tập luyện theo hình thức lớp Không chỉ có tác dụng về rèn luyện sức khỏe, nó còn có tác dụng rõ về giảm cân và săn cơ Ở Châu Âu Monica Beckman là những người đầu tiên mở lớp dạy có kết hợp với các bước nhảy Jazz Thành công lớn tiếp theo ở những năm 80 là lần đầu tiên quy định về cuộc thi Aerobic đã được giới thiệu Cơ sở của các bước nhảy Aerobic là các bước nhảy Jack, chống sấp và đá lăng cao, cuộc thi đơn giản như vậy được tổ chức lần đầu tiên tại Mỹ vào 1985 Sau đó một số quốc gia khác như Canađa, Nhật Bản, Brazil cũng bắt đầu tổ chức thi Aerobic của quốc gia và quốc tế

Aerobic là môn thi pha trộn bởi nó bao gồm các chuyển động như nhiều hoạt động thể thao khác như Jack và nhảy hiện đại, thể dục dụng cụ, thể dục nhào lộn, tuy vậy nó đã có bản sắc riêng của mình

Năm 1994, FIG (Liên đoàn thể dục Thế giới) đã công nhận AER là một môn thi đấu mới của gia đình thể dục và đã mở lớp bồi dưỡng cho Trọng tài – Huấn luyện viên; cũng trong năm này giải vô địch Sport Aerobic Thế giới lần thứ I được tổ chức Đến cuối năm 2006, đầu năm 2007 môn Sport Aerobic được Liên đoàn thể dục Thế giới đổi tên là Aerobic Gymnastic

Tiểu ban kỹ thuật Aerobic đã được thành lập và quản lý các hoạt động Aerobic trở thành môn thể thao được ưa thích

Sport Aerobic là khả năng thực hiện liên tiếp những cấu trúc có cường độ cao

và phức tạp kết hợp với âm nhạc mà nguồn gốc là khiêu vũ cổ điển Mục đích chính của môn khiêu vũ cổ điển này là nhằm cải thiện sức bền tim mạch và nâng cao sức khỏe

Bằng cách liên kết giữa hàng loạt các động tác aerobic cùng với sự lặp lại các động tác đó nhằm mục đích tăng cường các nhóm cơ bắp chính hoạt động, gia tăng nhịp tim Bởi vì, trong quá trình lặp lại các động tác trong một thời gian dài thì điều cần phải quan tâm là việc duy trì những tư thế đúng của cơ thể Khi môn thể thao này trở thành thành viên của gia đình thể dục thì nó cần phải được bổ sung thêm những yếu tố về độ khó về nghệ thuật cũng như kỹ thuật Nhằm mục đích tạo nó thành một môn thể thao mang tính thi đấu cao

Trang 6

Bài tập phải mang tính liên tục, sự mềm dẻo, sức mạnh cũng như việc sử dụng

7 bước cơ bản với mức độ hoàn hảo cao cũng như việc thực hiện không sai xót nhóm động tác có độ khó

Việc liên kết những bước vũ đạo của Aerobic cùng với cấu trúc hoạt động của tay kết hợp với âm nhạc nhằm mục đích tạo ra sự năng động, nhịp điệu và những chuỗi động tác liên tục của những nhóm động tác trên sàn và dưới sàn

Tiêu chí để chọn lựa các bài tập là ưu tiên việc cung cấp các động tác với cường độ cao để thỏa mãn bản chất nâng cao hoạt động tim mạch của môn Aerobic Trước đây khi đem các động tác có độ khó vào các bài tập thì các vận động viên có

xu hướng tăng cường các động tác sức mạnh trong nhóm các động tác có độ khó hơn

là tăng cường các động tác mang tính nghệ thuật

Bài tập cũng thể hiện được tính cân đối giữa các động tác vũ đạo Aerobic khác nhau và những động tác độ khó Một xu huớng khác của AER là những động tác thực hiện trên sàn cùng với những động tác Aerobic truyền thống Chúng được thực hiện ở tư thế đứng với những động tác bật nhảy liên tục Vì thế, luật chấm điểm mới hạn chế tối đa là 6 động tác trên sàn trong một bài thi Bài thi cũng phải tạo ra những

ấn tượng đặc trưng của Aerobic Nó không phải là hàng loạt những động tác của những bài biểu diễn trên đường phố (Hit-hop) Dĩ nhiên là vận động viên cũng một phần lệ thuộc vào thị hiếu của khán giả nhưng điều đó chỉ nên được thực hiện trong phạm vi môn AER cho phép

Vì vậy, AER được xem là môn thể thao năng động và sáng tạo Thể loại và các cuộc thi Sport Aerobic không chỉ là một môn nhằm huấn luyện thể lực cho cộng đồng người dân từ cuối những năm 80 mà nó còn là một môn thể thao mang tính thi đấu cao hàng đầu AER trình diễn những di chuyển sống động, sức mạnh, mềm dẻo,

sư phối hợp vận động và kết hợp với âm nhạc trong một bài tập kéo dài duới 2 phút Bài tập được thực hiện trên sàn có diện tích là 7 x 7 m (đơn – đôi – ba) và 10m x 10m (nhóm) các thể loại thi đấu bao gồm:

Đơn nam (IM)

Trang 7

Năm 1994, hội nghị FIG đã quyết định tổ chức giải vô địch thế giới và cấu trúc của môn AER có cấu trúc tương tự như những môn thi đấu khác Đến nay FIG tổ chức các giải AER:

* Giải vô địch thế giới (The World Championships) – 2 năm 1 lần

* Giải thế giới (The World Games)

1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN MÔN THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU

Ở VIỆT NAM:

Năm 1984 trong đợt tập huấn về thể dục nghệ thuật tại TP.Hồ Chí Minh, chuyên gia người Bungary khi được hỏi về loại hình tập luyện thể dục mới đang thịnh hành tại Mỹ đã giới thiệu khái quát và 1 số dạng động tác cụ thể Tiếp sau đó qua sách báo và băng hình gửi về từ Mỹ một số huấn luyện viên, giáo viên thể dục (Huỳnh Thị Lài – nhà thiếu nhi Thành phố, Trịnh Trang Thanh – Quận 1…) đã tìm hiểu và tiến hành tổ chức tập luyện môn này với tên gọi Thể dục nhịp điệu (Rymthmic Gymnastics) Phong trào tập luyện TDNĐ rầm rộ trong những năm sau

đó và được tổ chức hội thi hàng năm Các tỉnh thành khác cũng tổ chức tập luyện và thi đấu như Hà Nội, Tiền Giang

Tại trường CĐSP TD TW 2 (nay là Trường ĐH SP TDTT TP Hồ Chí Minh) cũng tổ chức tập luyện nội dung này cho các đối tượng phong trào Ông Vũ Chi Mai – Nguyên Giảng viên Trường ĐH TDTT II, Ông Trần Phúc Phong – Nguyên Trưởng

bộ môn thể dục Trường ĐH TDTT I và nhiều chuyên gia khác cũng đã cung cấp những tài liệu chuyên môn (dịch từ nguồn tài liệu của Nga) về môn này

Đầu những năm 90 phong trào tập luyện TDNĐ trong quần chúng không còn mạnh như trước nhưng một số VĐV Quận 1 TP.HCM được tiếp cận với hình thức tập luyện và thi đấu tập mới do chuyên gia Pháp trực tiếp huấn luyện Đây là sự cố gắng, đóng góp lớn của Ông Trần Thanh Ngữ – Nguyên Giám đốc Trung tâm TDTT Quận 1 TP.HCM

Tháng 12 năm 1994 lần đầu tiên đội tuyển Sport Aerobic của Việt Nam tham

dự giải vô địch lần thứ nhất được tổ chức tại nước Pháp do Huấn luyện viên là cô Hứa Mỹ Ý và các vận động viên: Thu Nhi, Thanh Hiền và Hồng Trang với bài nhạc nền Cái trống cơm Tuy không mang lại thành tích nhưng đã làm thế giới ngạc nhiên

vì Việt Nam cũng có đội tham dự thi đấu tại giải Thế giới với một môn hoàn toàn mới

Đội tuyển Sport Aerobic của Tp Hồ Chí Minh (tiền thân của đội tuyển quốc gia Việt Nam) đã tham gia các giải khu vực và thế giới:

Xếp hạng thứ 5 (trong 40 quốc gia tham dự) trên thế giới về đồng đội (3 người) với huấn luyện viên Trần Việt Hoàng và các vận động viên: An, Thắng và Cường tại

Trang 8

giải Vô địch thế giới môn Sport Aerobic lần thứ IV tổ chức tại thành phố Perth của Australia năm 1997

Đến thời gian này 1994 -1998 Tổng cục Thể dục Thể thao đã in và phát hành luật về Sport Aerobic, các bài thi trong Giải Thể dục nhịp điệu ở TP.Hồ Chí Minh đã xuất hiện những dạng động tác độ khó (chống ke Wenson, bật quay xuống xoạc ) Tiếp theo các năm sau Bộ môn Thể dục – Uỷ ban TDTT Việt Nam cũng thường xuyên mời chuyên gia của FIG sang mở lớp bồi dưỡng và tập huấn cho cán

bộ, huấn luyện viên Việt Nam

Trong các cuộc thi đấu các vận động viên (VĐV) Việt Nam đã giành được nhiều huy chương vàng, bạc và đồng trong các giải vô địch Đông Nam Á và xếp thứ hạng cao trên thế giới

Huấn luyện viên Trần Việt Hoàng cùng các vận động viên Trịnh Hồng Thanh, Nguyễn Tấn Thành, Nguyễn Thanh Hiền, Nguyễn Tấn Phát là những người mang những chiếc huy chương vàng đầu tiên ở khu vực (Giải vô địch Đông Nam Á lần 1) về cho Việt Nam

Hình 3: Trịnh Hồng Thanh nhận HCV tại SEA GAMES 22 + Xếp hạng nhất toàn đoàn tại giải Vô địch Sport Aerobic mở rộng tổ chức tại Indonexia năm 2002, đội Việt Nam đã đạt 3 HCV, 1 HCB trong bộ 4 huy chương

+ Trong giải Đại hội thể dục thể thao Đông Nam Á (Seagame) lần thứ 22

tổ chức tại Việt Nam tháng 12 năm 2003 Đội tuyển Sport Aerobic đã xếp nhất toàn đoàn với thành tích 3 HCV, 1 HCB trong bộ 4 huy chương

Từ những năm 2002 phong trào tập luyện môn Aerobic đã phát triển rộng khắp cả nước, một số tỉnh thành bắt đầu tham gia như: Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Hải Phòng, Trà Vinh, Khánh Hòa, Tiền Giang, Phú Yên…

Trang 9

Thể dục nhịp điệu đã được Bộ giáo dục đào tạo đưa vào thi đấu tại Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần VI – 2004, điều lệ của giải tiếp cận gần với luật Sport Aerobics FIG

Các đơn vị tham gia bài thi cấp II chia thành 4 cụm thi đấu Cụm I: Hải Phòng; Cụm II: Huế; Cụm III: Lâm Đồng; Cụm IV: Đồng Tháp Có 11 đơn vị tham gia thi đấu ở lứa tuổi cấp III tại vòng chung kết ở Huế TP Hồ Chí Minh nơi của phong trào đã đứng nhất toàn đoàn với 3 HCV – 1 HCB, thứ nhì là Thừa Thiên Huế với 3 HCV – 1 HCĐ

+ Đầu năm 2005 Bộ luật Sport Aerobics chu kỳ 2005 – 2008 đã được Bộ môn Thể dục – UBTDTT Việt Nam dịch sang tiếng Việt và giới thiệu, ban hành

+ Cũng vào năm 2005 đã có 3 trọng tài Việt Nam theo học lớp trọng tài ở cộng hòa Sez do FIG tổ chức và cấp bằng quốc tế cho chu kỳ 2005 – 2008

+ Tính đến năm 2005 thành tích của các VĐV Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á qua các giải của khu vực: giải vô địch Đông Nam Á, SEA GAMES

20 – 22 nhưng chỉ xếp hạng 9 – 10 ở giải thế giới

Trong HKPĐ toàn quốc 2008, các đơn vị dự thi ở 2 cấp Tiểu học (lớp 1 – 2 –

3, Lớp 4 – 5) và THCS (6, 7, 8, 9) với 5 khu vực Khu vực 1: Phú Thọ Khu vực 2:

Hà Nội Khu vực 3: Huế Khu vực 4: Khánh Hòa Khu vực 5: Cần Thơ Vòng Chung kết THPT tổ chức tại Phú Thọ (Nguyễn Anh Tuấn, 2008)

1.4 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU:

Bài tập gắn liền với âm nhạc hiện đại đương thời

Sử dụng nhiều động tác múa, vũ đạo, minh hoạ thể hiện các nội dung các tiểu phẩm, tác phẩm cũng như các hoạt động của cuộc sống đời thường

Các bài tập TDNĐ sử dụng các kỹ thuật của môn Aerobic Gymnastics nhằm nâng cao chất lượng kỹ thuật của bài tập

Trong lúc đời sống kinh tế khó khăn, nhiều gia đình phải áp dụng chính sách

“thắt lưng buộc bụng” thì có nhiều người lựa chọn việc tập Aerobic ở ngoài vườn hoa thay vì vào những phòng tập sang trọng và đắt tiền Chỉ với vài chục ngàn đồng

là bạn đã có thể tham gia một lớp tập Aerobic ngoài trời Chính vì với chi phí rẻ như vậy, vào buổi sáng sớm hay khoảng thời gian sau bữa cơm tối, có rất nhiều chị em mặc áo phông, quần cộc đứng nhún nhảy tập luyện theo lời hô kèm theo điệu nhạc được phát ra từ một chiếc cassette tại nhiều công viên trên toàn Vào dịp hè, phong trào tập Aerobic ngoài trời này lại càng trở nên nở rộ hơn bao giờ hết

Xu hướng đưa Sport Aerobic vào các trường mầm non để tìm kiếm tài năng

Trang 10

CHƯƠNG 2

KỸ THUẬT CƠ BẢN MÔN THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU

2.1 CÁC BƯỚC THỂ DỤC NHỊP ĐIỆU TRUYỀN THỐNG:

7 bước Cơ bản

Yêu cầu chung về các bước cơ bản:

- Khi thực hiện bất cứ bước nào, phần trên cơ thể phải giữ thẳng

- Dùng sức ở 2 mức độ:

+ Nhỏ: Một chân tiếp xúc với sàn trong mọi thời điểm

+ Lớn: Cả 2 bàn chân rời sàn

- Quy ước về đếm nhịp:

(thuận lợi cho việc phối hợp với nhạc)

+ Giữ đều nhịp đếm cho các lần 8 nhịp

Ví dụ: 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8

2 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8

+ Tín hiệu thực hiện với nhịp đếm: đếm 5 – 6 – 7 - bắt đầu!

+ Khi nối các bước có thể hô tên của bước

Ví du: 5 – 6 – 7 – Diễu hành!

1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 - Chạy bộ! 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 - Lunge!

2…

* Lưu ý:

- Khi thực hiện bất cứ bước nào phần cơ thể phía trên phải giữ thẳng

- Sự tác động lực nhỏ: một bàn chân giữ tiếp xúc với sàn trong mọi thời điểm

- Sự tác động lực lớn: Cả hai bàn chân nâng lên khỏi sàn ngay cả trong giây lát

> Diễu hành: Di chuyển với sự tác động lực thấp, yêu cầu tiếp đất từ mũi chân qua mu bàn chân đến gót chân

> Chạy bộ: Di chuyển với sự tác động lực cao, trong đó đầu gối cân thẳng bên dưới hoặc phía trước khớp háng

Trang 11

> Nhảy cách quảng: (lăng chân) chuyển động với tác động lực cao hoặc thấp kết hợp những chuyển động duỗi được điều khiển của đầu gối và gập hông, mắt cá có thể duỗi hoặc gập

> Bước nâng gối: chuyển động với tác động lực cao hoặc thấp nâng đầu gối với góc ở khớp háng và khớp gối tối thiểu 900, mắt cá chân có thể duỗi thẳng hoặc gập

> Đá cao: chuyển động với tác động lực cao và thấp xuất phát từ gập khớp háng, mắt cá có thể ở thế duỗi hoặc gập ở các độ khó khác nhau (độ cao)

> Bước Jack: chuyển động với tác động lực cao trong đó hai chân dạng hoặc khép (mở hoặc đóng sang bên) từ khớp háng Trung tâm trọng lực ở giữa hai bàn chân phân bố trọng lượng cơ thể đều trên mỗi chân Đầu gối phải mềm và cân thẳng với hai bàn chân (hơi xoay ra phía ngoài) và hai chân hơi gập để giảm lực va chạm khi tiếp đất

> Bước Lunge: (rộng) chuyển động với tác động lực cao từ khớp háng làm mở

và đóng hai chân theo đường chéo Đầu gối của chân ở phía trước phải gập và hướng

đi trước bàn chân Hai chân song song với hai đầu gối cân thẳng với hai bàn chân

2.1.1 Diễu hành:

Mô tả và yêu cầu kỹ thuật: Di chuyển với mức độ dùng sức nhỏ, tiếp đất từ mũi chân – gót chân

- Chân trước: gập khớp gối và hông

- Chuyển động rõ từ ngón chân > mắt cá > gót chân

- Tổng các chuyển động là hướng lên trên

- Tay tự do (có thể kết hợp nhiều kiểu tay)

Trang 12

Hình 4: Diễu hành chính diện

Hình 5: Diễu hành nhìn nghiêng Trình tự tập luyện với nhạc: cho 2 lần 8 nhịp

Tập với nhịp đếm, vỗ tay

Vừa tập vừa đếm, tập với nhạc đếm, tập với nhạc Các phương án phát triển:

- Thay đổi hướng di chuyển của chân, thân

- Thay đổi việc phối hợp của tay

Ví dụ:

Diễu hành 1: Bước cơ bản – không phối hợp tay Diễu hành 2: Bước cơ bản – tay trước (cùng lúc) Diễu hành 3: Bước cơ bản – tay ngang (từng tay)

Trang 13

Hình 6: Mơ hình phát triển bước diễu hành

Hình 7: Một số phương án kết hợp với tay (từ các dạng tay cơ bản)

Từng tay Cùng lúc

Mô hình phát triển bước diễu hành

Trang 14

Hình 8: Bước diễu hành kết hợp tay ngang – cao

Hình 9: Bước diễu hành kết hợp tay gập ngang – gập trước

Trang 16

Hình 13: Chạy bộ nhìn nghiêng Trình tự tập luyện với nhạc: cho 1 lần 8 nhịp

Tập với nhịp đếm, vỗ tay

Vừa tập vừa đếm, tập với nhạc đếm, tập với nhạc

Bước chạy được sử dụng nhiều trong di chuyển đội hình theo Điều lệ thi của HKPĐ toàn quốc

Các phương án phát triển: Kết hợp với tay

Trang 17

Hình 16: Phối hợp 2 nhịp vỗ tay cao – 2 nhịp vỗ tay ngang

Hình 17: Phối hợp 2 nhịp vỗ tay trước – 2 nhịp vỗ tay ngang

Hình 18: Phối hợp 1 nhịp tay ngang gập – 1 nhịp vỗ cao

Trang 18

Hình 19: Phối hợp 1 nhịp vỗ cao – 1 nhịp vỗ trước Sai thường mắc: đùi ở phía trước mặt phẳng cơ thể

2.1.3 Nhảy cách quãng (lăng chân)

Mô tả và yêu cầu kỹ thuật: chuyển động với tác động lực cao hoặc thấp kết hợp với những chuyển động duỗi được điều khiển của đầu gối và gập hông Mắt cá

có thể ở tư thế duỗi hoặc gập

Thực hiện:

TTCB: 2 tay chếch dưới ngang

Nhịp 1: Hơi bật nhẹ trọng tâm ở chân trái – gập gối chân phải (gần vuông góc), mũi chân duỗi hai gối sát nhau

Nhịp 2: Lăng cẳng chân trái ra trước – duỗi mũi chân

Nhịp 3: (đổi chân) - hơi bật nhẹ trọng tâm ở chân phải – gập gối chân trái (gần vuông góc), mũi chân duỗi, hai gối sát nhau

Nhịp 4: lăng cẳng chân phải – duỗi mũi chân

Hình 20: Lăng chân nhìn chính diện

Trang 19

Hình 21: Lăng chân nhìn nghiêng

- Kết hợp với động tác khác (ví dụ: 4 nhịp nâng gối – 4 nhịp Lunge )

Hình 22: Lăng chân hướng ngang

Hình 23: Nhảy cách quảng kết hợp với tay ngang – gập trước

Trang 20

Hình 24: Nhảy cách quảng kết hợp một tay chếch cao – một tay sát thân Sai thường mắc: khi gập gối sau, đùi đưa ra trước

2.1.4 Nâng gối:

Mô tả và yêu cầu kỹ thuật: chuyển động tác động lực cao hoặc thấp nâng đầu gối với góc ở khớp háng và khớp gối tối thiểu 90 độ Mắt cá chân có thể duỗi thẳng Thực hiện:

TTCB: hai tay chống hông (dọc thân)

Nhịp 1: Hơi bật nhẹ, nâng gối trái lên cao – trước (cao hơn hông) mũi chân duỗi, trọng tâm trên chân phải

Nhịp 2: (đổi chân) hơi bật nhẹ, nâng gối phải lên cao – trước (cao hơn hông) mũi chân duỗi, trọng tâm trên chân trái

Trang 21

Hình 26: Nâng gối nhìn nghiêng Trình tự tập luyện với nhạc

- Tập với nhịp đếm, vỗ tay

- Vừa tập vừa đếm, tập với nhạc đếm, tập với nhạc

Các phương án phát triển:

- Thay đổi mặt phẳng (chính diện, nghiêng, chếch), góc độ, mức độ dùng lực,

sự khác nhau về số nhịp nâng 1 gối liên tục

Trang 22

Hình 28: Gối + quay 900Sai thường mắc: gối thấp hơn hông, mũi chân gập lại

2.1.5 Đá cao:

Mô tả và yêu cầu kỹ thuật chuyển động với tác động lực cao hoặc thấp xuất phát từ gập khớp háng với một chân thẳng Mắt cá có thể ở tư thế duỗi hoặc gập ở các độ khó khác nhau (độ cao)

Thực hiện :

TTCB: đứng 2 tay chống hông (hoặc chếch dưới)

Nhịp 1: Hơi bật nhẹ, đồng thời đá chân trái ra trước – cao Duỗi mũi chân – thân thẳng Yêu cầu: cao hơn vai

Trang 23

Hình 30: Đá cao nhìn nghiêng Trình tự tập luyện với nhạc

Hình 31: Đá cao qua ngang

Hình 32: Đá dọc (trước mặt) – xoay 900 phối hợp trong 1L x 8 nhịp cả hai loại trên

CB

Trang 24

Hình 33: Đá ngang

Hình 34: Kết hợp với động tác khác (2 nhịp nâng gối – 2 nhịp đá dọc - 2 nhịp nâng

gối - 2 nhịp đá ngang) Sai thường mắc: co gối cả hai chân đá và chân đứng trụ, gập thân khi chân lên cao

2.1.6 Bước Jack:

- Mô tả và yêu cầu kỹ thuật: chuyển động với tác động lực cao trong đó hai chân dạng hoặc khép (mở hoặc đóng sang bên) từ khớp háng Trung tâm trọng lực ở giữa hai bàn chân phân bố trọng lượng cơ thể đều trên mỗi chân Đầu gối phải mềm

và cân thẳng với hai bàn chân (hơi xoay ra phía ngoài) và hai chân hơi gập để hấp thu lực va chạm

Thực hiện:

- TTCB: Đứng thẳng, hai tay chống hông

- Nhịp 1: Bật nhẹ, hai chân mở rộng bằng vai, khuỵu gối, đùi và gối tạo thành góc lớn hơn 90 độ (mở 2 bàn chân tạo thành góc 120 độ), thẳng lưng

- Nhịp 2: bật nhẹ trở về TTCB

Trang 25

Hình 35: Bước Jack nhìn nghiêng

Hình 36: Bước Jack nhìn chính diện Trình tự tập luyện với nhạc:

Tập với nhịp đếm, vỗ tay, vừa tập vừa đếm, tập với nhạc, tập với nhạc đếm Các phương án phát triển:

Trang 26

Hình 38: Kết hợp với động tác khác: 4 nhịp diễu hành – 4 nhịp Jack

Sai thường mắc: gối không mở, gập thân, góc của đùi và chân chưa đạt 1200

2.1.7 Bước Lunge:

Mô tả và yêu cầu kỹ thuật: chuyển động với tác động lực cao từ khớp háng làm

mở và đóng hai chân theo đường chéo Đầu gối của chân phía trước phải gập và hướng đi trước bàn chân Hai chân song song với hai đầu gối cân thẳng với hai bàn chân

Thực hiện:

TTCB: Hai tay chống hông, đứng thẳng, hai bàn chân khép

Nhịp 1: Hơi xoay người sang phải, chân trái đưa ra sau thẳng gối – đặt cả bàn xuống sàn Hai bàn chân nằm trên đường thẳng

Nhịp 2: Thu chân sau, xoay người chính diện về TTCB

Nhịp 3: Hơi xoay người sang trái, chân phải đưa ra sau thẳng gối – đặt cả bàn xuống sàn Hai bàn chân nằm trên đường thẳng

Nhịp 4: Thu chân sau, xoay người chính diện về TTCB

Hình 39: Bước Lunge nhìn chính diện

CB

Trang 27

Hình 40: Bước Lunge nhìn nghiêng Trình tự tập luyện với nhạc:

Tập với nhịp đếm, vỗ tay, vừa tập vừa đếm, tập với nhạc, tập với nhạc đếm Các phương án phát triển:

Thay đổi mặt phẳng khi thực hiện, mức độ dùng sức và độ rộng giữa hai bàn chân, kết hợp với tay (Nguyễn Anh Tuấn, 2008)

Hình 41: Lunge + tay gập trước – ngang

Hình 42: Kết hợp với động tác khác: 4 nhịp nâng gối – 4 nhịp Lunge Sai thường mắc: chân sau không thẳng, hai bàn chân không nằm cùng mặt phẳng

CB

CB

Trang 28

Bài tập: nối hai bước bất kỳ với 8 nhịp đếm như

Hình 43: Jack + diễu hành

Hình 44: Lunge + gối

Hình 45: Diễu hành + Lunge Nối 3 bước bất kỳ với 8 nhịp đếm như:

2 nhịp gối + 2 nhịp Jack + 4 nhịp Lunge di chuyển vòng cung/ đường thẳng

Trang 29

Hình 46: Kết hợp các động tác Nối 4 bước bất kỳ với 8 nhịp đếm

Hình 47: 2 nhịp gối + 2 nhịp Jack + 2 nhịp Lunge + 2 nhịp diễu hành

Tham khảo một số ví dụ liên kết các bước Aerobics cơ bản

Liên kết 1.4 nhịp Jack + 4 nhịp diễu hành = 4 lần x 8 n

Liên kết 2.4 nhịp chạy bộ + 4 nhịp gối = 4 lần x 8 n

Liên kết 3.4 nhịp lunge + 4 nhịp diễu hành = 4 lần x 8 n

Gối - Jack - gối - Jack + Lunge - Tay chếch cao Di chuyển vòng cung

1

2

3 4

5 6

7 8

Trang 30

Liên kết 4.4 nhịp gối + 4 nhịp lunge = 4 lần x 8 n

Liên kết 5.4 nhịp Jack + 4 nhịp đá cao = 4 lần x 8 n

Liên kết 6.4 nhịp chạy bộ + 4 nhịp đá cao = 4 lần x 8 n

Liên kết 7.4 nhịp đá cao + 4 nhịp lunge = 4 lần x 8 n

Liên kết 8.4 nhịp diễu hành + 4 nhịp gối = 4 lần x 8 n

Liên kết 9.4 nhịp cách quãng + 4 nhịp lunge = 4 lần x 8 n

Liên kết 10.4 nhịp gối + 4 cách quãng = 4 lần x 8 n

Liên kết 11.4 nhịp đá cao + 4 nhịp diễu hành = 4 lần x 8 n

Liên kết 12.4 nhịp chạy bộ + 4 nhịp Jack = 4 lần x 8 n

Liên kết 13.4 nhịp cách quãng + 4 nhịp Jack = 4 lần x 8 n

Liên kết 14.4 nhịp diễu hành + 4 nhịp gối = 4 lần x 8 n

Liên kết 15.4 nhịp lunge + 4 nhịp gối = 4 lần x 8 n

Bảng 1: Các phương án phát triển từ 7 bước cơ bản (chưa sử dụng tay)

D.hành Chạy Đá lăng Nâng gối Đá cao Jack Lunge

Trang 31

Hình 48: Kết hợp tay với 7 bước cơ bản

Trang 32

2.2 Yêu cầu về các nhóm độ khó trong bài thi:

2.2.1 Nhóm A: Động lực (Dynamic strength)

Nhóm động tác này lại được chia nhỏ thành 8 dạng, từ đơn giản đến khó với các giá trị tương ứng

Bảng 2: Một số động tác nhóm A tiêu biểu

Trang 33

2.2.2 Nhĩm B: Tĩnh lực (Static strength)

Bảng 3: Một số động tác nhảy nhĩm B tiêu biểu

2.2.3 Nhĩm C: Bật và nhảy (Jumps và Lunge)

Bảng 4: Bật và nhảy

TT Tên động tác Mã số Giá trị Hình que

1 Ke dạng ( tay trước -tay sau ) B101 0.1

5 Thủy bình ( ke đòn bẩy ) B222 0.3

TT Tên động tác Mã số Giá trị Hình que

1 Bật co gối C262 0.2

2 Bật quay 180 C102 0.2

3 Bật quay 360 C103 0.3

4 Bật bay khép chân -Chống sấp C143 0.3

5 Bật 1 chân -bay - chống sấp C222 0.2

6 Bật co gối C262 0.2

7 Bật gập thân dạng chân C383 0.3

8 Bước cắt kéo C623 0.3

9 Bật xoặc ngang C703 0.3

Trang 34

2.2.4 Nhĩm D: Thăng bằng và dẽo (Balance and flexibility)

Bảng 5: Thăng bằng và dẽo

2.2.4.1 Nhĩm A: Động lực

Gồm 4 dạng: Chống đẩy (thường, wenson, Plio, gập thân chữ A, cắt),

quay trịn, cắt kéo, helicoter, chống xoạc trên một tay (capoeira)

Bảng 6: Mơ tả và trình tự tập luyện một số động tác nhĩm A

TT Tên động tác Mã số Giá trị Hình que

1 Quay 360 trên 1 chân D102 0.2

4 Xọac dọc trên 1 chân -chống tay D182 0.2

5 Trườn dẻo ( Panke ) D213 0.3

Chống đẩy ( khép -dạng chân )

Chống đẩy (dạng chân )

Trang 35

- Duỗi thẳng khuỷu tay (phan lên) Khoảng cách giữa ngực và sàn tối đa là 10

cm (pha xuống)

- Pha xuống hoặc lên của động tác vai phải vuông góc với sàn Được thực hiện tối đa là 2 lần

+ Chống đẩy dạng – khép chân: (mã động tác A.101; giá trị điểm 0.1) Hình 1

TT bắt đầu: Chống sấp 2 chân thẳng (dạng hoặc khép chân)

Thực hiện: Co – đẩy tay với một nhịp lên – xuống và khuỷu tay hướng về phía bàn chân

Yêu cầu của động tác chống đẩy:

- Thân thẳng trong quá trình thực hiện co – đẩy tay

- Cả bàn tay (lòng bàn tay và các ngón) tiếp xúc với sàn, vai vuông góc với sàn Đầu nằm trên cùng một đường xương sống, khi co tay ngực cách sàn tối thiểu là 10cm

Hình 51: Chống đẩy

Trang 36

Sai thường mắc:

- Thân không thẳng trong khi đẩy tay (sóng thân) ngực lên trước – hông lên sau (ưởn – gập thân)

- Khi xuống (co tay) ngực còn cao quá 10cm (so với sàn)

- Tay không vuông góc với sàn

Hình 52: Sóng thân Trình tự tập luyện:

- Đứng cách tường 40 – 50cm Hai tay chống tường , co – đẩy tay (thân thẳng)

- Chống sấp trên ghế băng hay bờ tường thực hiện chống đẩy (có và không

Trang 37

Hình 55: Chống đẩy với bệ cao

Hình 56: Chống đẩy trên nệm Chống đẩy hoàn chỉnh:

+ Chống đẩy theo nhịp đếm 3 – 4 lần (chậm, vừa, nhanh)

+ Chống đẩy có thêm phụ trọng (bao cát) theo nhịp đếm

+ Nối thêm một trong 7 bước cơ bản AEG với động tác chuyển từ đứng xuống nằm

và động tác tiếp theo

Hình 57: Chống đẩy có vật nặng

+ Chống đẩy Hinge: (mã động tác A.132, giá trị điểm 0.2)

TTCB: chống sấp (hai mũi chân chạm sàn)

Thực hiện: gồm 4 pha để đưa trọng tâm cơ thể xuống dưới về sau và ngược lại

- Pha 1: co tay hạ trọng tâm – khuỷu tay hướng bàn chân (sát thân)

- Pha 2: chuyển trọng tâm về sau (mắt cá chân là bản lề để thực hiện), cẳng tay chạm sàn

Trang 38

- Pha 3: chuyển trọng tâm về sau (mắt cá chân là bản lề để thực hiện), mũi chân dùng sức

- Pha 4: đẩy tay nâng trọng tâm lên tư thế chống sấp

TT kết thúc: chống sấp

TTCB Thực hiện Kết thúc Ký hiệu

Hình 58: Chống Hinge

Yêu cầu của động tác chống đẩy Hinge:

- Thân thẳng trong quá trình thực hiện co – đẩy tay

- Cả bàn tay (lòng bàn tay và các ngón) tiếp xúc với sàn, vai vuông góc với sàn Đầu nằm trên cùng một đường với xương sống Khi co tay ngực cách sàn tối thiểu là 10cm Khi trọng tâm về sau, cẳng tay chạm sàn

-

Hình 59: Chống Hinge Sai thường mắc: Chuyển trọng tâm về sau thường gập hông

“Sóng thân” khi đẩy tay

Trang 39

+ Nhịp 2: chuyển trọng tâm về sau

+ Nhịp 3: chuyển trọng tâm ra trước

Trang 40

Nhĩm cắt (vƣợt chân), quay trịn

Yêu cầu tối thiểu: Một hoặc hai bàn chân khơng được chạm sàn trước khi hồn thành xong vượt hoặc quay chân

Các động tác được trình diễn mà khơng cĩ ngã

+ Helicoter (Máy bay trực thăng): Mã động tác A.264; giá trị điểm 0.4:

Yêu cầu tối thiểu: Hai bàn chân khơng được chạm sàn trước khi hồn thành quay; trong một lần quay, hơng phải được nâng lên và mở rộng; chân quay trịn liên tục; hai bàn chân và tay tiếp đất cùng lúc

- TTBĐ: Ngồi xoạc

- Thực hiện: Chân ở phía trước vượt qua chân kia để bắt đầu chuyển động quay; một tay tỳ sàn khi bắt đầu chuyển động; sau đĩ tay nâng lên và lưng sẽ tiếp xúc sàn; khi người quay được nửa vịng sẽ thực hiện soắn để kết thúc ở tư thế chống sấp

- Kết thúc: Chống sấp (cùng hướng với tư thế bàn đầu)

TTBĐ T hiện K thúc Ký hiệu

Hình 65: Động tác Helicopter

Hình 66: Động tác Helicopter

Yêu cầu của động tác:

- Hai chân quạt sát và song song với sàn Lưng tiếp xúc với sàn – tiếp theo là một bên vai

H.23 : Ngồi dạng chân Ngả sau quay 180 - quạt Chống sấp co tay

chân

Tỳ vai - duỗi hông - xoay

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm