Tóm lại, nhà nước là một tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt, có đủ bộ máy chuyên chế để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội, phục vụ lợi ích và thực hiện mục đích vừa c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LUẬT – KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
HUỲNH ANH NGUYỄN THÀNH TÍN
AN GIANG, THÁNG 8/2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LUẬT – KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY
MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
HUỲNH ANH NGUYỄN THÀNH TÍN
AN GIANG, THÁNG 8/2018
Trang 3i
Tài liệu giảng dạy “Môn Pháp luật đại cương”, do nhóm tác giả ThS.Huỳnh Anh
và ThS Nguyễn Thành Tín, công tác tại Khoa Luật và Khoa học Chính trị thực hiện Tác giả đã báo các nội dung và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa thông qua ngày 22/5/2018
Tác giả biên soạn
Trang 4ii
LỜI CAM KẾT
Chúng tôi xin cam đoan đây là tài liệu giảng dạy của riêng chúng tôi Nội dung tài liệu giảng dạy có xuất xứ rõ ràng
An Giang, ngày 22 tháng 8 năm 2018
Người biên soạn
Huỳnh Anh Nguyễn Thành Tín
Trang 5iii
LỜI NÓI ĐẦU
Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật thông
qua các chương trình môn học, giáo trình, tài liệu giảng dạy pháp luật Luật Phổ biến,
giáo dục pháp luật năm 2012 cũng nêu rõ hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở
giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân thông qua việc lồng ghép trong “…môn học
pháp luật đại cương luật, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở
giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác” Pháp luật đại cương là môn
học cung cấp những kiến thức đại cương về nhà nước và pháp luật, các ngành luật cơ
bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng để sinh viên tiếp tục
nghiên cứu các môn học pháp luật chuyên ngành liên quan đến ngành nghề hoặc lĩnh
vực chuyên môn của mình Đồng thời môn học này cũng góp phần phổ biến các kiến
thức cơ bản về pháp luật cho sinh viên Qua đó, giáo dục thái độ, ý thức của cá nhân về
sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giúp sinh viên hình thành ý thức và thói
quen xử sự theo pháp luật
Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, nhiều bộ luật, đạo luật đã được sửa đổi như
Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Bộ luật Tố
tụng hình sự năm 2015, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Bảo vệ môi trường
năm 2015, Bộ luật Lao động năm 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2015, Luật Bảo hiểm
xã hội năm 2016, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật Xử lý vi
phạm hành chính năm 2012 và một số đạo luật khác
Do vậy, nhóm tác giả biên soạn tài liệu này với mục tiêu:
+ Đáp ứng yêu cầu phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật cho
sinh viên theo chủ trương của Đảng và Nhà nước nói chung, cũng như đáp ứng yêu cầu
của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chương trình khung của các ngành đào tạo nói riêng
+ Bảo đảm kiến thức pháp lý cơ bản về pháp luật cho sinh viên, phù hợp với đặc
trưng của Trường Đại học An Giang là đào tạo đa ngành
+ Tạo một tài liệu giảng dạy môn pháp luật đại cương thống nhất trong Bộ môn
với nội dung đã cập nhật, bổ sung những quy định mới đang có hiệu lực thi hành một
cách có hệ thống và đầy đủ hơn
Bố cục tài liệu gồm hai phần:
Phần I: Lí luận về nhà nước và pháp luật – ThS Huỳnh Anh biên soạn
Phần II: Một số ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam – ThS Nguyễn Thành Tín biên soạn
Trang 6iv
Mặc dù nhóm tác giả đã rất cố gắng nhưng tài liệu cũng khó tránh khỏi những khiếm khuyết, rất mong sự góp ý của quý đồng nghiệp để tài liệu giảng dạy môn Pháp luật đại cương của Khoa Luật - Khoa học Chính trị, trường ĐHAG được hoàn thiện hơn
Trang 7v
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I LÍ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC 1
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT 28
CHƯƠNG 3 QUY PHẠM PHÁP LUẬT 37
CHƯƠNG 4 VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT 44
CHƯƠNG 5 QUAN HỆ PHÁP LUẬT 52
CHƯƠNG 6 THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 58
CHƯƠNG 7 VI PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ 63
CHƯƠNG 8 Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ PHÁP CHẾ 68
PHẦN II MỘT SỐ NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM 75
CHƯƠNG 9 LUẬT HIẾN PHÁP 75
CHƯƠNG 10 LUẬT HÀNH CHÍNH 79
CHƯƠNG 11 LUẬT HÌNH SỰ - LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 83
CHƯƠNG 12 LUẬT DÂN SỰ - LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 89
CHƯƠNG 13 LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 101
CHƯƠNG 14 LUẬT LAO ĐỘNG 108
CHƯƠNG 15 LUẬT ĐẤT ĐAI 115
CHƯƠNG 16 LUẬT KINH TẾ 118
CHƯƠNG 17 LUẬT MÔI TRƯỜNG 124 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91
PHẦN I LÍ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
Nội dung của chương này đề cập một cách có hệ thống về nguồn gốc, bản chất, chức năng, các kiểu và các hình thức nhà nước nói chung, đồng thời nghiên cứu sâu hơn về tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước ta và về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Những nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng lại cho rằng nhà nước là kết quả của sự phát triển gia đình, nên nhà nước có trong mọi xã hội
- Những nhà tư tưởng theo thuyết khế ước xã hội, tiêu biểu là John Locke (1632-1704), Charles Louis Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778),…cho rằng: nhà nước ra đời là kết quả của một khế ước được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên và không có nhà nước, nhà nước phải đại diện cho các thành viên trong xã hội, là bộ máy phục vụ xã hội Học thuyết này tuy có tiến bộ hơn nhưng giải thích nguồn gốc nhà nước vẫn theo chủ nghĩa duy tâm, coi nhà nước lập ra do ý muốn chủ quan của các bên tham gia khế ước, không phản ánh được nguồn gốc khách quan, duy vật và bản chất giai cấp của nhà nước
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã chứng minh một cách khoa học rằng: Nhà nước
là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn nhất định; nhà nước luôn luôn vận động, phát triển và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại và phát triển của nó không còn nữa
[Trường Đại học Luật Hà Nội (TĐHLHN), 2014, tr.28]
Muốn hiểu rõ bản chất và những quy luật phát triển của nhà nước, trước hết cần phải làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua một thời gian dài chưa có nhà nước, đó là thời kỳ cộng sản nguyên thủy Nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước lại nảy sinh từ trong lòng xã hội cộng sản nguyên thủy
Trang 102
1.1.1 Xã hội cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc – bộ lạc
Xã hội cộng sản nguyên thủy là xã hội chưa có giai cấp và đương nhiên cũng chưa có nhà nước
Cơ sở kinh tế của xã hội cộng sản nguyên thủy là chế độ sở hữu chung về tư
liệu sản xuất, lực lượng sản xuất thấp kém, năng suất lao động rất thấp, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, sản phẩm lao động làm ra rất hạn chế… Trong những điều kiện như vậy thì con người phải dựa vào nhau để tồn tại, sống chung, làm chung, hưởng thụ chung các thành quả lao động Mọi người không ai có tài sản riêng, không
có tình trạng người này chiếm đoạt tài sản của người kia, nhóm người này chiếm đoạt tài sản của nhóm người kia…
Từ những điều kiện kinh tế trên đã quyết định cách tổ chức đời sống xã hội của
xã hội cộng sản nguyên thủy dưới hình thức thị tộc
Thị tộc được tổ chức theo huyết thống, là tế bào cơ sở cho xã hội cộng sản nguyên thủy Mọi người trong thị tộc đều được tự do, bình đẳng, không một ai có đặc quyền, đặc lợi gì so với người khác
Quyền lực xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủy do toàn xã hội tổ chức và phục vụ cho quyền lợi của cả cộng đồng Quyền lực cao nhất trong thị tộc là hội đồng thị tộc Hội đồng thị tộc bao gồm những người lớn tuổi trong thị tộc Hội đồng thị bầu ra những người đứng đầu thị tộc như Tù trưởng, Thủ lĩnh quân sự Thị tộc là một cộng đồng xã hội độc lập nhưng do quá trình phát triển của xã hội, quá trình giao lưu, quan hệ giữa các thị tộc với nhau, dẫn đến sự ra đời của bào tộc và bộ lạc
Bào tộc là một liên minh bao gồm nhiều thị tộc hợp thành, cơ quan quyền lực của các bào tộc, Hội đồng bào tộc gồm các tù trưởng và thủ lĩnh quân sự của các thị tộc hợp thành
Bộ lạc là một tổ chức bao gồm nhiều bào tộc hợp thành Tổ chức Bộ lạc ra đời thể hiện mức độ tập trung quyền lực cao hơn, nhưng quyền lực vẫn mang tính xã hội, chưa mang tính giai cấp
1.1.2 Tổ chức thị tộc – bộ lạc tan rã và sự ra đời của nhà nước
Quá trình phát triển của xã hội cộng sản nguyên thủy đã làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, con người ngày càng có kinh nghiệm trong lao động sản xuất, công cụ lao động ngày càng được hoàn thiện hơn, năng suất lao động ngày càng cao hơn, của cải vật chất trong xã hội ngày càng dồi dào hơn trước… tất cả những điều đó đã tạo ra các tiền đề cơ bản để thay đổi phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy
Xã hội cộng sản nguyên thủy đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn trong lịch sử, đó là:
- Phân công lao động xã hội lần thứ nhất: chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt và
chế độ tư hữu ra đời
Trang 113
Phân công lao động xã hội lần thứ nhất đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong
xã hội, năng suất lao động cao hơn, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều hơn, xã hội không những đủ ăn mà còn có của cải dư thừa và những người có điều kiện, khả năng để chiếm lấy của cải dư thừa đó, không ai khác chính là những tù trưởng và thủ lĩnh quân sự Chăn nuôi và trồng trọt phát triển, nhu cầu về sức lao động tăng dần, các tù binh bị bắt trong các cuộc chiến tranh không bị giết như trước kia mà được giữ lại làm nô lệ bắt đầu xuất hiện
Sau lần phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chế độ tư hữu đã xuất hiện, xã hội phân chia thành kẻ giàu người nghèo, kéo theo các hiện tượng xã hội như: Chế
độ hôn nhân một vợ một chồng thay thế chế độ quần hôn trước đây, người chồng có quyền quyết định trong gia đình và gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đe dọa thị tộc
- Phân công lao động xã hội lần thứ hai: thủ công nghiệp tách khỏi nông
nghiệp
Quá trình phát triển sản xuất, nghề chế tác công cụ phát triển, đặc biệt là tìm ra kim loại, nhất là sắt, và các công cụ bằng sắt ra đời đã tạo ra năng suất lao động cao hơn, ngành nghề sản xuất mở rộng hơn, của cải vật chất trong xã hội ngày càng nhiều hơn, đồng thời xã hội cũng cần nhiều sức lao động hơn, và cũng có nghĩa là cần nhiều nô lệ hơn
Như vậy, sự phân công lao động xã hội lần thứ hai đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội, làm cho mâu thuẫn giai cấp ngày càng tăng
- Phân công lao động xã hội lần thứ ba: xuất hiện tầng lớp thương nhân và
nghề thương mại ra đời
Sản xuất càng phát triển, tính chuyên môn hóa càng cao, nhiều ngành nghề ra đời Điều đó dẫn đến hệ quả tất yếu là nhu cầu trao đổi sản phẩm hàng hóa trong xã hội ngày càng lớn, vừa nhằm đáp ứng cho tiêu dùng xã hội, vừa thúc đẩy sản xuất phát triển Tầng lớp thương nhân ra đời không trực tiếp tham gia sản xuất, chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm “nhưng lại chiếm toàn quyền lãnh đạo sản xuất và bắt những người sản xuất phụ thuộc vào mình về mặt kinh tế… và bóc lột cả hai…”
Nghề thương mại ra đời kéo theo sự xuất hiện của đồng tiền, nạn cho vay nặng lãi, quyền tư hữu về ruộng đất… các yếu tố đó làm tích tụ và tập trung của cải vào tay một số người, thúc đẩy sự phân hóa giai cấp ngày càng sâu sắc hơn
Như vậy, tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và chỉ thích hợp với một xã hội kiểu đó thì nay khi một xã hội mới ra đời, một xã hội mà toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó đã phân chia xã hội thành các giai cấp đối lập nhau, luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau
để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Tổ chức thị tộc, bộ lạc đã trở nên bất lực, xã hội đòi hỏi phải có một tổ chức đủ sức duy trì xã hội trong vòng trật tự, tổ chức đó chính
là nhà nước Vì vậy, nhà nước đã ra đời
Trang 124
Theo Ph Ăngghen, có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình:
+ Nhà nước Aten ra đời từ sự phân chia giai cấp trong nội bộ xã hội thị tộc + Nhà nước Rôma ra đời sau sự thắng lợi của cuộc cách mạng của giới bình dân chống lại quý tộc thị tộc Rôma
+ Nhà nước của người Giécmanh ra đời từ kết quả xâm lược, chính phục các thị tộc khác
Như vây, so với tổ chức thị tộc trước kia, nhà nước có hai đặc trưng cơ bản, đó là: nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng đặc biệt
1.2 BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC
1.2.1 Tính giai cấp của nhà nước
Nhà nước là công cụ rất quan trọng, rất cơ bản của một giai cấp trong đấu tranh giai cấp Xác định bản chất giai cấp của nhà nước cũng là việc xác định nhà nước của giai cấp nào, do giai cấp nào và vì lợi ích của giai cấp nào Vấn đề bản chất nhà nước luôn là vấn đề được nhiều nhà tư tưởng quan tâm, nhưng các học giả tư sản thường đưa ra các giải thích nhằm biện hộ cho sự thống trị bóc lột của giai cấp tư sản, tránh né sự thật
Quan điểm Mác - Lênin cho rằng “nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của
những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được”, “nhà nước là một cơ quan thống trị giai cấp, là một cơ quan áp bức của một giai cấp này với một giai cấp khác” (V.I.Lênin, 1976) Nhà nước ra đời và tồn tại trong một xã hội có giai cấp và
bao giờ cũng mang bản chất giai cấp Bản chất giai cấp của nhà nước thể hiện trước hết ở chỗ: nhà nước thể hiện ý chí giai cấp và bảo vệ quyền lợi giai cấp, là bộ máy cưỡng chế đặc biệt nằm trong tay một giai cấp, là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác
Trong xã hội có giai cấp, sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác thường được thể hiện dưới ba khía cạnh, đó là: sự thống trị về kinh tế, sự thống trị về chính trị và sự thống trị về tư tưởng
Trong cả ba khía cạnh trên, nhà nước vừa là mục tiêu, vừa là công cụ của giai cấp thống trị để hợp pháp hoá ý chí và áp đặt quyền lực của mình lên toàn xã hội
Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản, mặc dù có nhiều biểu hiện khác nhau, song nhìn chung nhà nước luôn là một bộ máy đặc biệt nhằm duy trì
sự thống trị kinh tế, chính trị, tư tưởng của thiểu số bóc lột đối với đại đa số quần chúng nhân dân
Nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng là bộ máy thực hiện sự thống trị giai cấp Song, đây là nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lực lượng chiếm đại đa số trong xã hội Sự thống trị giai cấp trong nhà nước xã hội chủ nghĩa là sự thống trị của đa số đối với giai cấp bóc lột, chỉ là thiểu số trong dân cư, nhằm mục
Trang 135
đích giải phóng giai cấp mình và tất cả người lao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của nhân dân, do nhân dân lập ra và mục tiêu tồn tại của nó là vì lợi ích của nhân dân Bộ máy chuyên chính của nhà nước xã hội chủ nghĩa được sử dụng để trấn
áp các thế lực chống đối, phá hoại lợi ích của nhà nước và nhân dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là một bộ máy chính trị - hành chính, một cơ quan cưỡng chế, vừa
là một tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của nhân dân lao động, do vậy, có thể nói nó không còn là nhà nước theo đúng nghĩa, mà chỉ là “nửa nhà nước”
là tính xã hội của nhà nước.
Tuỳ vào tình hình, điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng nhà nước, từng giai đoạn lịch sử, vai trò của tính giai cấp và tính xã hội có sự thay đổi nhất định Đôi khi tính giai cấp nổi trội hơn và có trường hợp tính xã hội có vai trò quan trọng hơn, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng hiện diện hai mặt, hai tính chất này của nhà nước
Xét trong quá trình phát triển của nhà nước nói chung, tính giai cấp có xu hướng đa dạng hơn và mức độ tàn khốc có giảm hơn so với giai đoạn đầu của sự xuất hiện nhà nước đầu tiên Tính xã hội có xu hướng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đặt ra nhiều thách thức to lớn đối với toàn thể xã hội và nhà nước, ví dụ như vấn đề môi trường, dân số, toàn cầu hoá Đồng thời, bản thân tính giai cấp cũng có những thay đổi nhất định bởi sự hình thành, cơ cấu, tính chất, các quan hệ giai cấp cũng đa dạng hơn, phức tạp hơn so với những giai đoạn trước Như vậy, không thể tuyệt đối hoá bất cứ một mặt nào trong khái niệm bản chất của nhà nước và phải nhận diện đủ các mặt và mối quan hệ biện chứng giữa chúng Việc tuyệt đối hoá sẽ dẫn đến sự chủ quan, duy ý chí trong nghiên cứu và nhận thức,
từ đó dẫn đến chủ quan, duy ý chí trong hành động
1.2.3 Các đặc trưng của nhà nước
1.2.3.1 Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt tách rời khỏi xã hội
và áp đặt với toàn bộ xã hội
Quyền lực nhà nước theo đó được hiểu là khả năng sử dụng sức mạnh vũ lực thể hiện bằng lực lượng quân đội, cảnh sát hay lực lượng vũ trang của nhà nước
Trang 146
Quyền lực này không còn dựa trên sự tôn kính, tự nguyện mà dựa trên sự cưỡng bức bằng vũ lực
Khi ra đời, nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng, chủ thể của quyền lực
là giai cấp thống trị xã hội cả về kinh tế, chính trị và tư tưởng Để thực hiện được quyền lực này, nhà nước có một lớp người đặc biệt chuyên làm nghề quản lý (cai trị),
họ tham gia vào các cơ quan nhà nước, duy trì, phục vụ ý chí giai cấp thống trị Đối với xã hội nguyên thuỷ, việc sử dụng quyền lực hay sức mạnh bạo lực do chính cộng đồng tự tổ chức thành các lực lượng vũ trang, do vậy hoà nhập với cộng đồng Nhưng khi nhà nước xuất hiện, quyền lực này tách khỏi xã hội, đứng bên ngoài
và đứng trên xã hội Nói cách khác, nó là bộ máy chuyên làm nhiệm vụ quản lý, tách rời xã hội và áp đặt đối với toàn bộ xã hội
1.2.3.2 Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ để quản lý
Trong thời kỳ chưa có nhà nước, thị tộc là hình thức và phương thức tự tổ chức
và quản lý dân cư Sự quản lý này theo đặc trưng liên kết giữa các cư dân về hôn nhân và huyết thống Khi nhà nước xuất hiện với tư cách là một phương thức quản lý
xã hội, cũng là lúc phương thức quản lý xã hội theo thị tộc bị phá vỡ bởi sự thay đổi trong sản xuất và trong các mối quan hệ xã hội, từ đó, một phương thức quản lý cư dân mới xuất hiện – quản lý nhà nước
Nhà nước ra đời phân chia dân cư theo lãnh thổ, thành các đơn vị hành chính, không phụ thuộc vào huyết thống, để bảo đảm quản lý tập trung thống nhất, phục vụ đắc lực hơn cho giai cấp thống trị
1.2.3.3 Nhà nước có chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia là thuộc tính gắn với nhà nước Có hai căn cứ chủ yếu xác định chủ quyền quốc gia của nhà nước: (1) lãnh thổ (bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời), (2) công dân của quốc gia đó Về nguyên tắc, chỉ có nhà nước mới có thể thực hiện quyền lực độc lập trong phạm vi lãnh thổ và với công dân của
nó và các nhà nước khác phải tôn trọng việc thực hiện quyền lực trong phạm vi này Chủ quyền quốc gia thể hiện ở chủ quyền đối nội và chủ quyền đối ngoại Chủ quyền đối nội là việc thực hiện quyền lực nhà nước đối với những công việc bên trong của nhà nước đó với tư cách là chủ thể thực hiện sự quản lý các công việc của một quốc gia Chủ quyền đối ngoại là việc thực hiện quyền lực của nhà nước với những công việc bên ngoài của quốc gia đó, theo đó nhà nước được coi là một chủ thể tự chủ, độc lập trong quan hệ quốc tế với các nhà nước khác, chủ thể khác
1.2.3.4 Nhà nước ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật
Ban hành pháp luật là việc nhà nước đặt ra các quy tắc xử sự chung cho xã hội
và nhà nước, đồng thời cũng chính nhà nước có trách nhiệm bảo đảm thực hiện các quy định của pháp luật Vì vậy, pháp luật là chuẩn mực cho hành vi của toàn xã hội
Trang 15là một hiện tượng có tính khách quan nên quá trình xây dựng pháp luật, nhà nước cũng phải tôn trọng các quy luật khách quan
1.2.3.5 Nhà nước đặt ra các loại thuế và đảm bảo thực hiện việc thu các loại thuế
Chỉ có nhà nước mới có quyền đặt ra các sắc thuế và thu thuế dưới hình thức bắt buộc Cơ sở của việc thu thuế của nhà nước xuất phát từ nhiệm vụ thực hiện công việc quản lý xã hội và nhà nước tách biệt khỏi xã hội, không trực tiếp tham gia sản xuất nên nó cần nguồn tài chính từ nhân dân để tồn tại Vì vậy, thuế là nguồn thu rất quan trọng để nuôi bộ máy nhà nước Ngoài ra, nhà nước thu thuế còn để đầu tư trở lại cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển xã hội, xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt
là đối với các nhà nước hiện đại
Tóm lại, nhà nước là một tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt, có đủ bộ máy chuyên chế để cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý xã hội, phục vụ lợi ích và thực hiện mục đích vừa của giai cấp thống trị, vừa của cả xã hội
(TĐHLHN,2014,tr.24)
Nói cách khác, nhà nước là một tổ chức chính trị có quyền lực công cộng đặc
biệt, được hình thành và bị quyết định bởi nhu cầu trấn áp giai cấp và nhu cầu quản lý các công việc chung của xã hội
[Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (TĐHLTPHCM, 2017a, tr.63)]
Trang 168
Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, chức năng nhà nước được chia thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
1.3.1 Chức năng đối nội là những phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước
trong nội bộ đất nước như: bảo vệ chế độ chính trị, chế độ sở hữu; trấn áp các đối tượng chống đối chế độ; giữ gìn trật tự xã hội; phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế…
1.3.2 Chức năng đối ngoại thể hiện vai trò của nhà nước trong quan hệ với các
nước, các dân tộc trên thế giới như chống xâm lược bảo vệ tổ quốc; thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước; quan hệ với các tổ chức liên chính phủ…
Hai chức năng đối nội và đối ngoại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện thuận lợi cho nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển, trong đó chức năng đối nội
có vai trò chủ đạo, có tính chất quyết định với chức năng đối ngoại
1.4 CÁC KIỂU NHÀ NƯỚC
Mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp có một kiểu nhà nước nhất định tương ứng với nó
“Kiểu nhà nước là tổng thể những dấu hiệu cơ bản, đặc thù của nhà nước, thể
hiện bản chất giai cấp và những điều kiện tồn tại, phát triển của nhà nước trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”(Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh,
HVCTQGHCM, 2006, tr.21)
Kiểu nhà nước cũng có thể diễn đạt theo cách khác, “đó là một nhóm các nhà
nước tồn tại, phát triển trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, nghĩa là chúng
có những đặc điểm cơ bản, đặc thù giống nhau”(TĐHLHN, 2014)
Lịch sử xã hội loài người từ khi có giai cấp đến nay đã tồn tại bốn hình thái kinh tế - xã hội: chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa Tương ứng với bốn hình thái kinh tế - xã hội đó, có bốn kiểu nhà nước sau:
1.4.1 Kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ
Nhà nước chiếm hữu nô lệ ra đời, tồn tại và phát triển dựa trên các quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ Những quan hệ sản xuất này được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và cả người sản xuất là nô lệ Chủ nô là chủ sở hữu đối với đất đai, các tư liệu sản xuất và đối với cả người sản xuất là nô lệ
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ Chủ nô chỉ là một thiểu số dân cư trong xã hội nhưng có tất cả: đất đai, tư liệu sản xuất sản, nô lệ và toàn quyền thống trị đối với nô lệ Nô lệ chiếm số đông trong xã hội nhưng tính mạng, số phận cũng như các hoạt động xã hội của họ đều do chủ nô quyết định Ngoài chủ nô và nô lệ, trong xã hội chiếm hữu nô lệ còn có cả thợ thủ công, công dân tự do,…Những người này tuy không phải là nô lệ nhưng vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào giai cấp chủ nô về kinh tế và chính trị Với kết cấu xã
Trang 17Xét về mặt xã hội thì nhà nước chiếm hữu nô lệ là một tổ chức sinh ra để tổ chức, quản lý xã hội chiếm hữu nô lệ thay thế cho tổ chức thị tộc, bộ lạc không còn phù hợp nữa Là một trong những hình thức tổ chức của xã hội chiếm hữu nô lệ, nhà nước chiếm hữu nô lệ có trách nhiệm tổ chức và quản lý một số lĩnh vực của đời sống xã hội vì sự tồn tại và phát triển của xã hội
Kiểu nhà nước xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào khoản cuối thiên niên
kỷ IV đầu thiên niên kỷ III trước công nguyên Đó là những nhà nước Cổ Đại ở phương Đông như Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ, v.v là nơi mà quá trình phân hoá xã hội tập trung của cải tư hữu và đấu tranh giai cấp sớm nhất Vào khoảng thế kỷ thứ VIII – thế kỷ thứ VI trước công nguyên, ở phương Tây, các nhà nước đầu tiên cũng xuất hiện như La Mã, Hi Lạp
(TĐHLTPHCM, 2017a)
1.4.2 Kiểu nhà nước phong kiến
Nhà nước phong kiến là nhà nước thứ hai ra đời trên cơ sở thay thế nhà nước chiếm hữu nô lệ bị diệt vong Sự xuất hiện của nhà nước phong kiến đánh dấu một bước phát triển mới của xã hội loài người, nó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế - xã hội, mà đặc biệt là xóa bỏ ách nô lệ cho người lao động, nâng cao năng suất lao động trong xã hội
Quan hệ sản xuất phong kiến được xây dựng trên cơ sở chế độ chiếm hữu của địa chủ phong kiến đối với đất đai, đối với các tư liệu sản xuất khác và đối với việc chiếm đoạt một phần sức lao động của nông dân
Trong xã hội phong kiến, về nguyên tắc, địa chủ không có quyền sở hữu đối với người sản xuất là nông dân mà chỉ có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất Nhưng vì không có đất, không có tư liệu sản xuất nên nông dân rơi vào tình trạng lệ thuộc vào địa chủ phong kiến về mặt kinh tế; họ buộc phải làm thuê cho địa chủ phong kiến và phải làm nhiều nghĩa vụ nặng nề đối với địa chủ phong kiến Hình thức bóc lột phổ biến của địa chủ đối với nông dân là địa tô Địa vị của nông dân phần nào đã tốt hơn địa vị của nô lệ, nông dân đã có kinh tế riêng, có một số quyền công dân, có thể thành lập gia đình riêng
Xã hội phong kiến là xã hội có kết cấu giai cấp rất phức tạp Kết cấu này phụ thuộc sự khác nhau về kinh tế mà đặc biệt là đất đai Những đẳng cấp thống trị trong
xã hội gồm những người nắm giữ quyền hành trong xã hội (vua, chúa), tầng lớp quý
Trang 1810
tộc (các loại địa chủ lớn, nhỏ với rất nhiều những danh vị khác nhau) tầng lớp tăng lữ (cha cố, sư sãi…) Những đẳng cấp bị thống trị gồm nông dân tự do, nông dân lệ thuộc, nông nô, thợ thủ công, dân nghèo thành thị,…
Ngoài tính giai cấp, nhà nước phong kiến còn có tính xã hội Các nhà nước phong kiến tùy thuộc điều kiện cụ thể của đất nước mình luôn tiến hành các hoạt động kinh tế - xã hội vì sự phát triển đất nước, vì lợi ích của nhân dân trong nước, vì
sự phồn thịnh của quốc gia Sự tham gia của các nhà nước phong kiến trong việc giải quyết các công việc của xã hội là xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi của xã hội phong kiến,
từ mong muốn và nguyện vọng của nhân dân và cả từ ý chí chủ quan, lòng tốt của những người cầm quyền
1.4.3 Kiểu nhà nước tư sản
Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư Người nông dân, công nhân vẫn được tự do và về hình thức được bình đẳng với chủ như những công dân Tuy nhiên, do không có tư liệu sản xuất, người công nhân phải làm thuê, phải bán sức lao động của mình cho các nhà tư sản Nhà tư sản mua sức lao động của công nhân như mua hàng hoá và bắt người công nhân sản xuất ra hàng hoá để bóc lột giá trị thặng dư So với hình thức bóc lột nô lệ và nông dân của các giai cấp bốc lột trong các xã hội trước đó, hình thức bóc lột của giai cấp tư sản tinh vi hơn, vô hình hơn
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa tồn tại hai giai cấp chủ yếu là vô sản và tư sản Đây là hai mặt đối lập của xã hội tư bản chủ nghĩa Ngoài hai giai cấp tư sản và vô sản, trong xã hội tư bản chủ nghĩa còn có các tầng lớp khác như trí thức, tiểu thương, thợ thủ công,…Mặc dù kết cấu giai cấp của xã hội tư bản đa dạng như vậy nhưng nhà nước tư sản chủ yếu đại diện và bảo vệ cho lợi ích của giai cấp tư sản Ở các nước tư sản, các chính đảng tư sản thường tìm chỗ dựa ở các tập đoàn kinh tế và các tập đoàn kinh tế cũng tìm thấy lợi ích của mình trong việc đưa chính đảng này hay chính đảng khác lên nắm chính quyền
Với cơ sở kinh tế - xã hội như trên đã phân tích, quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị trong các nước tư sản thực chất thuộc về giai cấp tư sản là chủ yếu – một thiểu số dân cư trong xã hội, mặc dù hiến pháp, pháp luật nhiều nước tư sản vẫn
tuyên bố về mặt hình thức là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Do vậy, “nhà
nước tư sản trên thực tế chủ yếu mang lại lợi ích, bảo vệ và thực hiện các mục đích
mà giai cấp tư sản đề ra (TĐHLHN, 2014, tr.148)
1.4.4 Kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước kiểu mới, có bản chất khác kiểu nhà nước bóc lột, đó là nhà nước của nhân dân lao động, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động, dân chủ với số đông, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người
Trang 1911
Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được thiết lập và củng cố dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất - đó là quan hệ sản xuất thể hiện sự hợp tác, tương trợ, không có áp bức bóc lột Giai cấp vô sản giữ địa vị thống trị về chính trị Nhưng sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản đã thể hiện bản chất và mục đích khác hẳn với sự thống trị về chính trị của giai cấp bóc lột Sự thống trị của giai cấp bóc lột là sự thống trị của thiểu số đối với tất cả các giai cấp bị áp bức, bóc lột để bảo
vệ lợi ích của chúng Còn sự thống trị về chính trị của giai cấp vô sản là sự thống trị của đa số đối với giai cấp bóc lột, chỉ là thiểu số dân cư, nhằm mục đích giải phóng giai cấp mình và tất cả người lao động
Khác với các giai cấp trước kia, giai cấp vô sản trở thành cấp thống trị, nắm trong tay quyền lực nhà nước, không có mục đích dùng nhà nước để duy trì mãi địa
vị của mình, mà là nhằm cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới để tiến tới xóa bỏ mọi sự áp bức, bất công trong xã hội
Nhà nước xã hội chủ nghĩa càng phát triển cao thì tính xã hội của nó càng mở rộng Đến một giai đoạn nhất định của lịch sử, khi những điều kiện xã hội đã thay đổi, cơ sở tồn tại của nhà nước không còn nữa thì nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ “tự tiêu vong”, nhường chỗ cho sự phát triển của một tổ chức tự quản mạnh mẽ, dựa hoàn toàn trên cơ sở của quyền lực nhân dân rộng rãi và hòa nhập với xã hội
1.5 HÌNH THỨC NHÀ NƯỚC
“Hình thức nhà nước được hiểu là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và
những phương pháp để thực hiện quyền lực nhà nước” (TĐHLTPHCM, 2017a)
Hình thức nhà nước được thể hiện chủ yếu ở ba khía cạnh, nói cách khác là được hợp thành bởi ba yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhà nước và chế độ chính trị
thành, theo cách phân chia phổ biến hiện nay, quyền lực nhà nước được hợp thành từ
ba bộ phận là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trên thực tế, ba
bộ phận này của quyền lực nhà nước được tổ chức theo các nguyên tắc khác nhau (phân quyền, tập quyền, tản quyền,…) sẽ dẫn đến các hình thức nhà nước khác nhau Trong khái niệm hình thức nhà nước, hình thức chính thể và hình thức cấu trúc nhà nước phản ánh cách thức tổ chức quyền lực nhà nước
Phương pháp thực hiện quyền lực nhà nước là cách thức thực hiện quyền lực
hay là cách cai trị của nhà nước Ví dụ, nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước bằng cách tuyên truyền, vận động hay sử dụng sức mạnh cưỡng chế
1.5.1 Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức quyền lực chính trị ở cơ quan nhà
nước tối cao Một cách diễn đạt khác, hình thức chính thể là cách thức tổ chức
và trình tự để lập ra các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước và xác lập những mối quan hệ cơ bản giữa các cơ quan đó với nhau
Trang 2012
(Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2005, tr.101)
Có hai dạng hình thức chính thể cơ bản, đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hòa
Chính thể quân chủ là chính thể nhà nước trong đó quyền lực chính trị tập
trung vào tay của một người đứng đầu theo nguyên tắc thế tập Quyền lực của người đứng đầu (Vua, hoàng đế, nữ hoàng, Thiên hoàng…) là suốt đời Hình thức chính thể quân chủ có các biến dạng: chính thể quân chủ tuyệt đối và chính thể quân chủ hạn chế
Chính thể quân chủ tuyệt đối là hình thức chính thể trong đó người đứng đầu
nhà nước (Vua) có quyền lực vô hạn, nhà vua có quyền đặt ra pháp luật (lập pháp),
có quyền tổ chức bộ máy, bổ nhiệm các quan lại để thi hành pháp luật do vua đặt ra (hành pháp), Vua cũng là người có quyền xét xử cao nhất Chính thể quân chủ tuyệt đối tồn tại chủ yếu trong các nhà nước chủ nô và nhà nước phong kiến
Chính thể quân chủ hạn chế là hình thức chính thể trong đó quyền lực của nhà
vua bị hạn chế, phải nhường quyền cho các thiết chế khác của nhà nước (trước hết là Quốc hội, sau này còn có Chính phủ) Do đó, mô hình quân chủ hạn chế còn được gọi là quân chủ lập hiến VD: Anh, Nhật Bản, Thụy Điển
Chính thể cộng hòa là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của
nhà nước thuộc về một cơ quan hoặc một số cơ quan nhà nước được thành lập bằng cách bầu cử và nắm giữ quyền lực do nhân dân bầu ra trong một thời hạn nhất định gọi là nhiệm kỳ
[TĐHLTPHCM, 2017a, tr.135]
Chính thể cộng hoà xuất hiện từ thời cổ đại của Châu Âu như là một hình thức tổ chức nhà nước đối lập với chính thể quân chủ Chính thể cộng hoà là loại hình tổ chức nhà nước dân chủ Nếu như hình thức chính thể quân chủ, tính chuyên chế, quyền lực nhà nước tập trung vào trong tay một vị vua được truyền ngôi theo nguyên tắc thế tập, nhân dân ở mọi tầng lớp đều không có quyền tham gia vào công việc nhà nước (trừ quý tộc phong kiến) thì trong hình thức nhà nước theo chế độ bầu
cử, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được gọi là chính thể cộng hoà So với thể chế quân chủ thì việc tổ chức nhà nước theo thể thức cộng hoà là dân chủ, tiến bộ hơn Hình thức chính thể cộng hòa có các biến dạng là: cộng hòa quý tộc và cộng hòa dân chủ
Cộng hoà quý tộc là hình thức chính thể trong đó quyền tham gia bầu cử để lập
ra các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước chỉ quy định đối với tầng lớp quý tộc Loại hình chính thể này không phổ biến trong lịch sử, mà chỉ xuất hiện ở một số nhà nước như Cộng hoà quý tộc chủ nô Spac ở Hy Lạp, cộng hoà quý tộc chủ nô La Mã
Cộng hoà dân chủ là hình thức chính thể trong đó quyền tham gia bầu cử để
lập ra cơ quan của nhà nước được quy định đối với tất các các tầng lớp nhân dân, mang tính phổ thông, không có tính đặc quyền, đặc lợi Ví dụ, nhà nước Việt Nam có
Trang 21Trong chính thể cộng hoà đại nghị, nghị viện có vị trí, vai trò rất lớn trong cơ
chế thực thi quyền lực nhà nước Nguyên thủ quốc gia do nghị viện bầu ra, chịu trách nhiệm trước nghị viện Nghị viện có thể bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ Nguyên thủ quốc gia hầu như không trực tiếp tham gia giải quyết các công việc của đất nước Ví dụ: Đức, Áo, Ý,…
Trong chính thể cộng hoà tổng thống, nguyên thủ quốc gia có vị trí và vai trò rất quan trọng Tổng thống do nhân dân trực tiếp (hoặc gián tiếp thông qua đại cử tri) bầu ra Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia vừa là người đứng đầu Chính phủ Chính phủ không phải do nghị viện thành lập Các thành viên của Chính phủ do Tổng thống bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước tổng thống Nghị viện không có quyền lật đổ Chính phủ Tổng thống không có quyền giải tán nghị viện trước thời hạn Ví dụ: Mỹ, một số nước Châu Mỹ - La tinh
Ngoài ra còn có cộng hoà “lưỡng tính”, nghĩa là vừa mang tính chất cộng hoà đại nghị, vừa mang tính chất cộng hoà tổng thống Ví dụ: Pháp, Việt Nam, Cu ba, Trung Quốc, Lào,…
Trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, do nhiều yếu tố khác nhau tác động, các hình thức chính thể cũng có những điểm khác biệt Vì vậy, khi nghiên cứu hình thức chính thể của một nhà nước nhất định cần gắn nó với những điều kiện lịch sử cụ thể
1.5.2 Hình thức cấu trúc nhà nước
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự cấu tạo nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ và xác lập những mối quan hệ qua lại giữa các cơ quan nhà nước, giữa Trung ương với địa phương.(HVCTQGHCM, 2006)
Đơn vị hành chính lãnh thổ là một bộ phận hợp thành lãnh thổ của nhà nước,
có địa giới hành chính riêng, có cơ quan nhà nước tương ứng được thành lập để tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước
Ví dụ, ở Việt Nam, các đơn vị hành chính được phân định như sau: “Nước chia
thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành
phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và
đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố
thuộc tỉnh chia thành phường và ã; quận chia thành phường Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.”(Điều 110 Hiến pháp 2013)
Xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước của trung ương và địa phương
là việc xác định thẩm quyền giữa chúng với nhau, các thẩm quyền này thể hiện sự tác
Trang 22Có hai hình thức cấu trúc nhà nước chủ yếu là nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang
- Nhà nước đơn nhất là nhà nước tập trung thống nhất quyền lực vào một cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở Nhà nước đơn nhất là nhà nước mà lãnh thổ của nó được hình thành từ một lãnh thổ duy nhất, lãnh thổ này được chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc Nhà nước có chủ quyền quốc gia chung, có hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý chung cho toàn lãnh thổ, công dân thường chỉ có một quốc tịch, đồng thời có một hệ thống pháp luật chung cho toàn lãnh thổ
- Nhà nước liên bang là nhà nước có nhiều nhà nước thành viên hợp lại Nhà
nước liên bang có hai hệ thống cơ quan quyền lực và quản lý, một hệ thống chung cho toàn liên bang và một hệ thống mỗi nước thành viên Lãnh thổ của nhà nước liên bang bao gồm lãnh thổ của các nhà nước khác, những nhà nước này được gọi là chủ thể liên bang Ở các nước, tên gọi của các chủ thể liên bang rất đa dạng Ví dụ, ở Ấn
Độ, Braxin, gọi là bang (state); ở Áo, Đức, gọi là xứ (land); ở Thụy Sỹ gọi là tổng (canton)
Nhà nước đơn nhất và nhà nước liên bang có những khác biệt cơ bản sau:
TIÊU CHÍ NHÀ NƯỚC ĐƠN NHẤT NHÀ NƯỚC LIÊN BANG
1 Về cách
thức hình
thành
Được hành thành từ một lãnh thổ duy nhất, lãnh thổ này được chia thành các đơn vị hành chính trực thuộc
Hợp thành từ hai nước thành viên trở lên
3 Về hệ
thống pháp
luật
Có một hệ thống pháp luật thống nhất
Có hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật của nhà nước liên bang, hệ thống pháp luật của mỗi nước thành viên (bang)
4 Về tổ
chức bộ máy
Có một hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất cho toàn lãnh thổ
Có hai hệ thống cơ quan nhà nước: Một hệ thống cơ quan nhà nước của liên bang, một hệ thống
Trang 23Trong lịch sử có hai chế độ chính trị cơ bản là chế độ dân chủ và chế độ phản dân chủ
- Chế độ phản dân chủ: Sử dụng các phương pháp phản dân chủ và khi những
phương pháp này phát triển đến mức độ cao sẽ trở thành những phương pháp tàn bạo, quân phiệt và phátxít
- Chế độ dân chủ: Sử dụng các phương pháp dân chủ Các phương pháp dân
chủ có nhiều loại, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Sử dụng các hình thức thực hiện quyền lực nào phụ thuộc vào bản chất nhà nước và so sánh lực lượng trong đấu tranh giai cấp và các yếu tố chủ quan, khách quan khác trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể và ở mỗi nước khác nhau
Trang 241.6.2 Cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước có nhiều phân hệ cơ quan Mỗi phân hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và thẩm quyền khác nhau Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các phân hệ cơ quan của bộ máy nhà nước có tính độc lập tương đối, nhưng hoạt động trong một chỉnh thể thống nhất, phối hợp chặt chẽ với nhau, nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được cấu thành từ:
Cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát, ngoài ra còn có Chủ tịch nước là Nguyên thủ quốc gia
Trang 2517
1.6.2.1 Các cơ quan quyền lực nhà nước
Các cơ quan quyền lực nhà nước ở Việt Nam là những cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân Các cơ quan này hiện nay gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân
+ Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện
quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và
giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước
Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật; thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước,
Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Nhiệm kỳ của mỗi khoá Quốc hội là năm năm
+ Hội đồng nhân dân
Ở nước ta, Hội đồng nhân dân các cấp được thành lập ở các đơn vị hành chính lãnh thổ, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân
1.6.2.2 Các cơ quan quản lý nhà nước (cơ quan hành pháp)
Các cơ quan quản lý nhà nước là những cơ quan do cơ quan quyền lực lập ra
Ở Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước được gọi là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước và là cơ quan hành chính nhà nước Các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện quản lý mọi mặt hoạt động của quốc gia Hệ thống cơ quan quản
lý nhà nước gồm Chính phủ, các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan trực thuộc
+ Chính phủ
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, đồng thời là cơ quan chấp hành của Quốc hội, chịu sự kiểm tra, giám sát của Quốc hội
Chính phủ bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật; đề xuất và xây dựng chính sách, thống nhất quản lý về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và
Trang 2618
đối ngoại của nhà nước… Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước
Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khoá mới thành lập Chính phủ
Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, chịu trách nhiệm trước Quốc hội về hoạt động của Chính phủ và những nhiệm vụ được giao; báo cáo công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc
hội
Phó Thủ tướng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ làm nhiệm vụ theo sự
phân công của Thủ tướng Chính phủ và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ
về nhiệm vụ được phân công Khi Thủ tướng Chính phủ vắng mặt, một Phó Thủ
tướng Chính phủ được Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm thay mặt Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác của Chính phủ
Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ là các cơ quan quản lý nhà nước cấp Trung Ương, chịu trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước
Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành được phân công trong phạm vi toàn quốc Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và Quốc hội về ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách, chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Chính phủ
+ Uỷ ban nhân dân
Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước
ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thực hiện các nhiệm
vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao
So với quy định trong Hiến pháp 1992, ngoài ba cấp chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn, Hiến pháp 2013 còn quy định thêm đơn vị hành chính - lãnh thổ đặc biệt do Quốc hội thành lập
Hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động có tính chất chấp hành và điều hành
Trang 2719
Tính chất chấp hành trong hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ: trong hoạt động của mình, các cơ quan quản lý phải tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của ủy ban Thường vụ Quốc hội; tổ chức thực hiện những nhiệm vụ, chủ trương chính sách lớn do cơ quan quyền lực ở Trung ương và các địa phương đề ra trong các nghị quyết của mình
Tính chất điều hành, chỉ huy trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ, các cơ quan này có quyền nhân danh quyền lực nhà nước ban hành các văn bản pháp quy hoặc ra các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh cụ thể có hiệu lực bắt buộc đối với các cơ quan, đơn vị và công dân có liên quan
1.6.2.3 Các cơ quan xét xử
Theo Điều 102 Hiến pháp 2013, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân
Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm Tòa án nhân dân xét xử công khai Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án nhân dân có thể xét xử kín Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường
hợp xét xử theo thủ tục rút gọn
Tổ chức Tòa án nhân dân gồm: Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân
cấp cao; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự.Các Tòa
án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử những vụ án
mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của luật
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán; bầu, cử Hội thẩm: Chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với các Tòa án Chế độ bầu Hội thẩm nhân dân được thực hiện đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa
án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương Chế độ cử Hội thẩm quân nhân được thực hiện đối với Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực
So với quy định trước đây, Luật tổ chức tòa án năm 2014 đã thành lập thêm Tòa án nhân dân cấp cao trong hệ thống tòa án nhân dân, có chức năng xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa án nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ, chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng nghị, kháng
Trang 2820
cáo và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tòa án nhân dân huyện, quận, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng
Do việc thành lập thêm Tòa án nhân dân cấp cao nên Tòa án nhân dân tối cao
sẽ không còn thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng không còn thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm các bản án của tòa án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Các thẩm quyền nói trên theo Luật tổ chức tòa án năm 2014 được chuyển cho Tòa án nhân dân cấp cao
Để tăng cường việc bảo vệ các quyền con người và quyền công dân, mà đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em, Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 đã thành lập thêm Tòa gia đình và người chưa thành niên trong Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án cấp cao và có thể thành lập tòa này ở Tòa
án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
1.6.2.4 Các cơ quan kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương (sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện); Viện kiểm sát quân sự các cấp.Các Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong quân đội
Trang 2921
Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của
Quốc hội Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, nhiệm kỳ của Viện trưởng các
Viện kiểm sát khác và của Kiểm sát viên do luật định
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước Chế độ báo cáo công tác
của Viện trưởng các Viện kiểm sát khác do luật định
Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Viện trưởng các Viện kiểm sát cấp dưới chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
1.6.2.5 Chế định nguyên thủ quốc gia (Chủ tịch nước)
Nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, thay mặt cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại Người đứng đầu Nhà nước là chủ tịch nước; Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội và là người đứng đầu Nhà nước thay mặt cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước được trao nhiều quyền hạn ở các lĩnh vực lập pháp, hành pháp
và tư pháp, là người giữ quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng quốc phòng và an ninh Chủ tịch nước có vị trí đặc biệt và giữa vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phối hợp thống nhất giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước
Chủ tịch nước có nhiệm vụ và quyền hạn như Công bố Hiến pháp, luật, pháp
lệnh; Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, …
1.6.3 Các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta là những tư tưởng chỉ đạo chi phối tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta được quy định trong Hiến pháp (đạo luật cơ bản của nhà nước) và trong các luật về tổ chức các cơ quan nhà nước
Trang 30bộ, nhân viên nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình chính là thực hiện quyền lực của nhân dân giao phó
Nhân dân lao động thực hiện quyền lực của mình thông qua các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra (ở nước ta là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) Đồng thời, quyền lực của nhân dân trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước thể hiện trên nhiều mặt: nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng nhà nước và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và của địa phương, cơ sở (về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại ) nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan và cán bộ, nhân viên nhà nước Nhà nước phải xây dựng thiết chế bảo đảm cho nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực đó
1.6.3.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc quan trọng trong hệ thống các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ta Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước là: bảo đảm sự chỉ đạo, điều hành tập trung thống nhất của các cơ quan nhà nước ở Trung ương đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới, của thủ trưởng cơ quan với cán bộ, nhân viên; đồng thời, bảo đảm quyền chủ động sáng tạo và khả năng độc lập nhất định trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các địa phương, cơ sở, của cán bộ, nhân viên trong bộ máy nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động trong quản lý nhà nước và các công việc xã hội
Tập trung và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất, cho nên, nếu chỉ nhấn mạnh tập trung mà làm ảnh hưởng đến quyền tự chủ, sáng tạo của cấp dưới, của địa phương, cơ sở và quyền làm chủ của nhân dân lao động Hoặc nếu tuyệt đối hoá quyền tự chủ của cấp dưới, của địa phương, đơn vị cơ sở mà hạ thấp vai trò chỉ đạo tập trung thống nhất cần thiết của cấp trên, của Trung ương và người thủ trưởng thì
sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn, làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu quả
Ở nước ta, nguyên tắc này được quy định tại Điều 6 Hiến pháp 1992 (sửa đổi,
bộ sung năm 2001), và tại Điều 8, Hiến pháp 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt
động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
Trang 3123
1.6.3.3 Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta có nghĩa là mọi tổ chức, mọi cán bộ, nhân viên nhà nước đều phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ pháp luật khi thi hành quyền hạn và nhiệm vụ của mình; đồng thời, bộ máy nhà nước phải thực hiện được việc quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được tôn trọng và thi hành nghiêm minh
Thực hiện đúng đắn nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta là bảo đảm sự thống nhất về kỷ cương trật tự, hiệu lực quản lý trong hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội; đồng thời tránh khuynh hướng cục bộ, tuỳ tiện, vô chính phủ, đấu tranh có hiệu quả để ngăn chặn tệ quan liêu, tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước Được thể hiện tại Điều 12 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và tại Điều 8 Hiến pháp 2013 “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến
pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, ”
1.6.3.4 Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Nhà nước ta là một tổ chức, thông qua đó Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với tiến trình phát triển của xã hội Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước kiểu mới Vì vậy, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là yêu cầu khách quan trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước bảo đảm cho Nhà nước có đường lối, phương hướng đúng xây dựng nhà nước kiểu mới, có đủ năng lực tổ chức xây dựng xã hội mới, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không chỉ bảo đảm cho Nhà nước luôn giữ vững và củng cố bản chất Nhà nước kiểu mới, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mà còn bảo đảm cho Nhà nước có phương hướng, mục tiêu, chính sách, đường lối
tổ chức cán bộ đúng đắn để thực hiện được các chức năng nhiệm vụ của mình
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện trên những mặt cơ bản: Đảng vạch ra cương lĩnh, đường lối chiến lược và những chủ trương, chính sách lớn làm cơ
sở cho chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, những Nghị quyết, chính sách
và quyết định trong quản lý của Nhà nước; Đảng vạch ra những chủ trương quan trọng về tổ chức bộ máy và chính sách cán bộ; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương pháp dân chủ, thiết phục bằng công tác tư tưởng và tổ chức, bằng vai trò gương mẫu của đảng viên và tổ chức đảng; Đảng giới thiệu những cán bộ có phẩm chất và năng lực vào cương vị lãnh đạo chủ chốt của bộ máy nhà nước
Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không phải là bao biện làm thay hoặc khoán trắng cho Nhà nước Tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phải vừa đảm bảo
sự lãnh đạo của Đảng trên những mặt cơ bản nêu trên, vừa đảm bảo phát huy vai trò chủ động của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Trang 3224
Ở nước ta, nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội
là nguyên tắc Hiến định Điều 4 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”
Và được sửa đổi tại Điều 6 Hiến pháp 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”
1.7 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.7.1 Quan niệm về nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền đã có lịch sử phát triển lâu dài trong tư tưởng, học thuyết nhà nước và pháp luật ở cả phương Tây và phương Đông cũng như trong thực tiễn xây dựng, hoàn thiện nhà nước và pháp luật ở nhiều quốc gia hiện đại
Tư tưởng nhà nước pháp quyền được các học giả phương Tây thế kỷ XVII-XIX như John Locke (1632-1704), Charles Louis Montesquieu (1689-1755), Jean Jacques Rousseau (1712-1778) đưa ra và phát triển nhằm chống nhà nước phong kiến chuyên chế, chuyên quyền, độc đoán
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước gắn với một hình thái kinh tế - xã hội nhất định Yếu tố nền tảng của nhà nước pháp quyền là cách thức
và nội dung tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước một cách dân chủ, bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa quyền lực nhà nước và pháp luật – quyền lực nhà nước được thực hiện bằng pháp luật, đồng thời bị ràng buộc bởi pháp luật, nhà nước làm ra pháp luật đồng thời phải tuân thủ pháp luật, phải tôn trọng tính tối cao của pháp luật
(Trần Văn Thắng & Dương Thị Thanh Mai & Nguyễn Trung Tín, 2007)
Tại phương Đông, tư tưởng trị nước bằng pháp luật được các pháp gia Trung Quốc cổ đại với đại diện là Hàn Phi Tử đưa ra Một số triều đại phong kiến Việt Nam, mà tiêu biểu nhất là thời vua Lê Thánh Tông (hiệu Hồng Đức) cũng rất coi trọng pháp luật trong nghệ thuật trị nước dẫn tới sự đời của Quốc triều hình luật với rất nhiều tư tưởng tiến bộ, nội dung bình đẳng Tuy nhiên, trong mọi nhà nước phong kiến thì pháp luật đều là các phép tắc phong kiến do nhà vua làm ra, phụ thuộc vào ý chí của chính nhà vua nên khó có thể nói đến tính công bằng, khách quan, dân chủ đầy đủ của pháp luật, do đó tư tưởng pháp trị của phong kiến phương Đông có nhiều điểm khác biệt với tư tưởng pháp quyền phương Tây
Trang 3325
Hiện nay, tư tưởng về nhà nước pháp quyền có sự phát triển và mở rộng hơn về tính chất và sự đảm bảo thực hiện trên thực tế Sự mở rộng này thể hiện trong việc xuất hiện nhiều dấu hiệu, đặc trưng, yêu cầu trong khái niệm về nhà nước pháp quyền hiện nay Về phạm vi khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập và gắn bó chặt
chẽ với quyền con người, trật tự xã hội dân sự… “Tính chất của sự hạn chế quyền
lực bằng pháp luật giờ đây không chỉ là sự hạn chế, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực của nhà nước mà nó nhằm thực hiện dân chủ, bằng một nhà nước hiệu quả”
(Trần Văn Thắng & Dương Thị Thanh Mai & Nguyễn Trung Tín, 2007) Mục đích của tư tưởng nhà nước pháp quyền không chỉ dừng lại ở việc thiết lập một khuôn khổ pháp lý mà còn hướng tới phát triển một xã hội bền vững, toàn diện và tích cực nhằm giải phóng con người
1.7.2 Các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Do quan niệm về nhà nước pháp quyền khác nhau nên đặc điểm của nhà nước pháp quyền cũng được nêu khác nhau Dưới đây là một số đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền:
+ Nhà nước pháp quyền phải đề cao chủ quyền nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
+ Nhà nước pháp quyền phải đề cao hiến pháp và luật Hiến pháp và luật phải chiếm vị trí tối thượng trong đời sống nhà nước và xã hội
+ Nhà nước pháp quyền phải luôn tăng cường pháp chế
+ Nhà nước pháp quyền phải cơ cấu tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước vừa khoa học, hiệu quả, hợp pháp
+ Trong nhà nước pháp quyền, con người là giá trị cao quý nhất, do đó, sự phát triển của cá nhân con người là mục tiêu cao cả nhất
+ Nhà nước pháp quyền phải giải quyết hợp lý mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân
+ Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải dân chủ hoá mọi mặt của đời sống nhà nước và xã hội
+ Nhà nước pháp quyền phải thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế mà nhà nước kí kết tham gia; đồng thời phải đặt hệ thống pháp luật của nước mình trong mối quan hệ phù hợp với pháp luật quốc tế
1.7.3 Các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Học thuyết về nhà nước pháp quyền và kinh nghiệm thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở các nước đã được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp thu có chọn lọc, sáng tạo, căn cứ vào thực tiễn lịch sử và hiện tại của đất nước Những đặc trưng này cũng được xem là những mục tiêu hành động mà đất nước đã và đang hướng tới để thực hiện:
Trang 3426
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân,
do nhân dân; nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức
+ Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
+ Nhà nước Việt Nam thừa nhận vị trí tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội; việc tổ chức và hoạt động của nhà nước luôn được thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ chủ đạo trong
xã hội, thể hiện vai trò của một nhà nước “phục vụ”, đồng thời thể hiện trách nhiệm của công dân trước nhà nước và xã hội
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng gắn với một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh với vai trò tích cực của các tổ chức xã hội trong tham gia quản lý nhà nước
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
CÂU HỎI ÔN TẬP
1 Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước là gì?
2 Trình bày bản chất của nhà nước Tại sao bản chất của nhà nước luôn thể hiện tính giai cấp và tính xã hội?
3 Nhà nước có những đặc trưng nào?
4 Chức năng của nhà nước là gì? Trình bày chức năng đối nội và chức năng đối ngoại của nhà nước
5 Trình bày các kiểu nhà nước trong lịch sử Nêu những điểm tiến bộ của kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa so với các kiểu nhà nước trước đó
6 Hình thức nhà nước là gì? Phân tích các yếu tố của hình thức nhà nước Xác định hình thức nhà nước của Việt Nam
7 Trình bày cơ cấu tổ chức của các hệ thống cơ quan trong Bộ máy nhà nước
ta
8 Nêu các đặc trưng của nhà nước pháp quyền
9 Trình bày đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 3527
Sơ đồ 2: Tổ chức Bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 3628
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
Nội dung của chương này đề cập một cách có hệ thống các vấn đề cơ bản về pháp luật như nguồn gốc, bản chất, thuộc tính, chức năng, vai trò, các kiểu và các hình thức pháp luật, nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật với các hiện tượng xã hội khác
2.1 NGUỒN GỐC CỦA PHÁP LUẬT
2.1.1 Một số quan điểm phi mácxít
Từ thời cổ trung đại, các nhà tư tưởng với các góc độ tiếp cận khác nhau đã lý giải không giống nhau về nguồn gốc của pháp luật
- Theo Thuyết thần học: pháp luật cũng như nhà nước là do Thượng đế sáng
- Một số học thuyết hiện đại về pháp luật như: lý thuyết pháp quyền tự nhiên, chủ nghĩa pháp luật thực định, lý thuyết xã hội học pháp luật, trường phái tâm lý học pháp luật
Tất cả các quan điểm trên lý giải về nguồn gốc ra đời của pháp luật rất khác nhau, nhưng tựu trung lại, khi lý giải vấn đề này họ đều đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm nên đã không giải thích đúng đắn nguồn gốc ra đời của pháp luật, không nhìn thấy được nguyên nhân vật chất của nó
2.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin
Pháp luật là một hiện tượng xã hội luôn gắn liền với nhà nước Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là những nguyên nhân làm xuất hiện pháp luật, những nguyên nhân này nảy sinh từ trong lòng xã hội cộng sản nguyên thuỷ: sự xuất hiện tư hữu, xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng nhau gay gắt
Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, những tập quán và những tín điều tôn giáo là những quy phạm xã hội phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội lúc đó (phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế – xã hội của chế độ cộng sản nguyên thuỷ)
Các quy phạm xã hội này có đặc điểm:
Trang 37Khi chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội phân hoá thành các giai cấp thì những quy phạm xã hội đó không còn phù hợp vì chúng thể hiện lợi ích chung và bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, trong khi đó tầng lớp tư hữu lại luôn hướng hành vi của mọi người phù hợp lợi ích riêng của họ Họ tìm cách duy trì những tập quán phù hợp với ý chí của họ, bảo vệ những trật tự họ mong muốn Lợi dụng địa vị thống trị, giai cấp giàu có đã chọn lọc, giữ lại những tập quán phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, dần dần thay đổi nội dung của các tập quán, biến chúng thành những quy tắc
xử sự chung Đồng thời, bằng con đường nhà nước, giai cấp thống trị nâng chúng thành các quy phạm pháp luật bắt buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo Đây là con đường thứ nhất dẫn đến sự hình thành pháp luật
Xã hội tiếp tục vận động, phát triển, nên đã xuất hiện nhiều quan hệ mới ngày càng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi phải có những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh Vì vậy, hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước ra đời Đây là con đường thứ hai và là con đường cơ bản nhất hình thành nên pháp luật Thông qua hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước, các quy tắc xử sự được đặt ra có ý nghĩa bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội Hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước đi
từ đơn giản đến phức tạp, nó ngày càng hoàn thiện hơn cùng với sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước
2.2 CÁC THUỘC TÍNH CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
2.2.1 Pháp luật có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung
So với các quy phạm xã hội khác, pháp luật có phạm vi điều chỉnh bao quát hơn, rộng khắp hơn Hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng đều được pháp luật điều chỉnh Về nguyên tắc, nhà nước có thể dùng pháp luật để điều chỉnh bất cứ nhóm quan hệ xã hội nào
Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian Việc áp dụng những quy phạm này chỉ chấm dứt khi cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc thời hạn đã hết
Pháp luật mang tính bắt buộc chung, các quy phạm pháp luật được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể mà cho tất cả các tổ chức, cá nhân có liên quan Xuất phát từ vị trí, vai trò của nhà nước trong xã hội (tổ chức đại diện chính thức cho toàn xã hội), nên pháp luật là bắt buộc đối với tất cả, việc thực hiện pháp luật là bắt buộc chung đối với toàn xã hội, bất cứ tổ chức, cá nhân nào khi đã ở
Trang 38Thuộc tính này của pháp luật làm cho pháp luật tác động lên các quan hệ xã hội theo ý muốn của nhà nước, tránh được tâm lý xem thường pháp luật, làm vô hiệu hóa pháp luật Thực tiễn thực hiện pháp luật cho thấy rất nhiều tiêu cực bắt nguồn từ sự
bỏ qua thuộc tính của pháp luật
2.2.3 Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện
Pháp luật do nhà nước ban hành thông qua rất nhiều trình tự, thủ tục chặt chẽ
và phức tạp với sự tham gia của nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức
và cá nhân nên pháp luật luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội
Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó
có các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tù chung thân,…Với sự đảm bảo của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổ chức, cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong cuộc sống
2.3 BẢN CHẤT CỦA PHÁP LUẬT
2.3.1 Bản chất giai cấp của pháp luật
Theo học thuyết Mác – Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong xã hội có giai cấp Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trước hết ở chỗ:
- Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thực hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất thành ý chí của nhà nước, ý chí đó được
cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, có tính chất bắt buộc đối với toàn xã hội
- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh các quan hệ
xã hội Pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp
Trang 3931
thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Vì vậy, có thể nói pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp
Có thể nói, kiểu pháp luật nào cũng đều mang bản chất giai cấp Trong Tuyên
ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph Ăngghen đã gạt bỏ quan điểm của các nhà
lý luận tư sản cố sức che đậy bản chất của pháp luật, bóc trần bản chất của pháp luật
tư sản bằng tuyên bố: “Pháp quyền của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông
được đề lên thành luật pháp, cái ý chí mà nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”
2.3.2 Giá trị xã hội của pháp luật
Vì pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên
nó còn mang tính chất xã hội Nghĩa là, ở mức độ ít hay nhiều (tuỳ thuộc vào hoàn cảnh trong mỗi giai đoạn cụ thể), bên cạnh thể hiện ý chí giai cấp thống trị, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội Ví dụ, pháp luật tư sản ở giai đoạn đầu, sau khi cách mạng tư sản thắng lợi, bên cạnh việc thể hiện ý chí của giai cấp tư sản còn thể hiện nguyện vọng dân chủ và lợi ích của nhiều tầng lớp khác trong xã hội
Ngoài ra, pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự chung được tạo ra đề điều chỉnh các quan hệ xã hội xuất phát từ nhu cầu của đời sống chung của con người, nên nó thể hiện tính chất xã hội to lớn của nó Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính quy phạm và tính bắt buộc chung để tổ chức và quản lý đời sống cộng đồng, duy trì sự ổn định, công bằng xã hội vì lợi ích chung, vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội Có thể nói, pháp luật là chuẩn mực chung của xã hội, đại diện cho công bằng xã hội Trong xã hội hiện đại, sự phụ thuộc của con người vào nhau nhiều hơn nên tính xã hội của pháp luật ngày càng được củng cố, mở rộng
và phát triển Tính xã hội của pháp luật không chỉ bó hẹp trong một quốc gia mà còn
mở rộng tác dụng đối với các quốc gia khác và của toàn nhân loại nói chung
Như vậy, cũng như nhà nước, pháp luật vừa mang tính xã hội, vừa mang tính giai cấp, hai thuộc tính đó của pháp luật luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau Không có pháp luật chỉ thể hiện tính giai cấp và ngược lại, không có pháp luật chỉ mang tính xã hội Tuy nhiên, mức độ thể hiện hai thuộc tính này ở các kiểu pháp luật khác nhau, thậm chí trong cùng một kiểu pháp luật nhưng ở những giai đoạn phát triển khác nhau thì chúng cũng khác nhau Xu hướng chung thì tính giai cấp của pháp luật ngày càng được thể hiện kín đáo hơn, còn tính xã hội thì được củng cố, mở rộng và phát triển mạnh mẽ hơn
Tóm lại, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành
và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan
hệ xã hội vì sự tồn tại và phát triển của cả xã hội, đồng thời vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị
(TĐHLHN, 2014, tr.35)
Trang 4032
2.4 CHỨC NĂNG CỦA PHÁP LUẬT
“Chức năng của pháp luật là những phương diện (mặt) tác động của pháp
luật, thể hiện bản chất, điều kiện tồn tại thực tế và giá trị xã hội của pháp luật.”(TĐHLHN, 2014, tr.90)
Pháp luật có các chức năng cơ bản: chức năng phản ánh, chức năng điều chỉnh, chức năng bảo vệ, chức năng giáo dục
về phương diện chính trị của giai cấp đó
2.4.2 Chức năng điều chỉnh
Pháp luật ghi nhận sự tồn tại và tạo điều kiện thuận lợi cho các quan hệ xã hội tiến bộ, có lợi cho xã hội phát triển Đồng thời, pháp luật cũng cũng hạn chế và tiến tới loại bỏ các quan hệ xã hội không cần thiết, cản trở sự phát triển tích cực đối với đời sống của giai cấp thống trị hoặc của cả cộng đồng xã hội Pháp luật còn có nhiệm
vụ cơ bản là trật tự hoá các quan hệ xã hội tạo nên một chỉnh thể thống nhất, hài hoà cùng phát huy những giá trị đích thực của nó phù hợp với yêu cầu của quản lý nhà nước và tính quyết định của tồn tại xã hội
Chức năng điều chỉnh quan hệ xã hội của pháp luật được thực hiện bằng hình thức ngăn cấm, bắt buộc, cho phép hoặc khuyến khích
2.4.3 Chức năng bảo vệ
Pháp luật yêu cầu các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ các giá trị xã hội được pháp luật ghi nhận, đấu tranh phòng, chống các hành vi phá vở trật tự pháp luật và trật tự xã hội Qua đó, pháp luật bảo đảm cho các quan hệ xã hội do nó điều chỉnh không bị xâm phạm Trong trường hợp có sự xâm phạm xảy ra thì nhà nước sẽ tiến hành áp dụng các biện pháp chế tài đối với chủ thể vi phạm
2.4.4 Chức năng giáo dục
Chức năng giáo dục của pháp luật được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức của con người, vào hành vi của con người, hướng họ xử sự theo cách thức phù hợp theo ý chí của nhà nước Giáo dục pháp luật mang tính đặc thù của nó, được thể hiện rõ nét trên hai phương diện cơ bản là tư tưởng và nhận thức Trên thực tế, khi con người hiểu được quy định của pháp luật họ sẽ tự ý thức về xử
sự của mình trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định