1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Du lịch sinh thái QLMT

187 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Du lịch sinh thái – QLMT
Tác giả ThS. Dương Mai Linh
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường
Thể loại Tài liệu giảng dạy
Năm xuất bản 2018
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 8,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong những thập kỹ qua, DLST như một hiện tượng và một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch tự nhiên du lịch thiên nh

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA KỸ THUẬT – CÔNG NGHỆ – MÔI TRƯỜNG

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY

DU LỊCH SINH THÁI – QLMT

Mã học phần: ERM912

Biên soạn: ThS Dương Mai Linh

An Giang, tháng 10 năm 2018

Trang 2

Tài liệu giảng dạy “Du lịch sinh thái – QLMT”, do tác giả ThS Dương Mai Linh, công tác tại Khoa Kỹ thuật – Công nghệ - Môi trường thực hiện Tác giả đã báo cáo và được Hội đồng khoa học và Đào tạo Khoa Thông qua ngày 27 tháng 9 năm 2018, và được Hội đồng khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua ngày…… tháng…… năm 2018

Tác giả biên soạn

Hiệu trưởng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Quyển tài liệu giảng dạy “Du lịch sinh thái – QLMT” được biên soạn

nhằm phục vụ giảng dạy cho sinh viên ngành Quản lý tài nguyên và môi trường của trường đại học An Giang Ngoài ra, đây là nguồn tà liệu tham khảo cần thiết cho các sinh viên thuộc các ngành có liên quan trong quá trình học tập

Trong quá trình biên soạn, tài liệu có chắt lọc và trích dẫn các nội dung từ các tác giả GS TSKH Lê Huy Bá, PGS.TS Phạm Trung Lương, ThS Lê Thị Thu Hiền, Ths Lê Trọng Bình, TS Nguyễn Hoàng Phương và nhiều tác giả khác Mặc dù không thể nêu hết danh tánh tại đây, song tôi chân thành gửi lời cảm tạ đến tất cả các tác giả vì những đóng góp của họ đã giúp tôi hoàn thành quyển tài liệu này

Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi sai sót, tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp của người đọc để có thể nâng cao chất lượng của giáo trình

Xin chân thành cảm ơn!

An Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2018

Tác giả

Trang 4

LỜI CAM KẾT

Tôi xin cam đoan đây là tài liệu giảng dạy của riêng tôi Nội dung tài liệu giảng dạy có xuất xứ rõ ràng

An Giang, ngày 12 tháng 10 năm 2018

Người biên soạn

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH SÁCH HÌNH vi

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT viii

CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ DU LỊCH SINH THÁI 1

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DU LỊCH 1

1.1.1 Khái niệm du lịch 1

1.1.2 Khách du lịch 1

1.1.3 Tài nguyên du lịch 2

1.1.4 Điểm và khu du lịch 2

1.1.5 Tuyến du lịch 4

1.1.6 Xúc tiến du lịch 4

1.1.7 Du lịch bền vững 4

1.2 DU LỊCH SINH THÁI 5

1.2.1 Khái niệm du lịch sinh thái 5

1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái 7

1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái 9

1.2.4 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 10

1.2.5 Đặc điểm của các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái 13 1.2.6 Mối quan hệ giữa cung và cầu của du lịch sinh thái 16

1.3 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG 18

1.3.1 Khái niệm DLST bền vững 18

1.3.2 Cơ sở của phát triển bền vững trong DLST 20

1.3.3 Các nguyên tắc DLST bền vững 20

1.3.4 Mục tiêu nghiên cứu về DLST 22

1.3.5 Phương pháp nghiên cứu DLST 24

Trang 6

CHƯƠNG 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA

DU LỊCH SINH THÁI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG 30

2.1 TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI 30

2.1.1 Khái niệm về tài nguyên DLST 30

2.1.2 Đặc điểm của tài nguyên DLST 31

2.1.3 Các loại tài nguyên DLST cơ bản 33

2.1.4 Quan hệ giữa DLST và bảo vệ môi trường 35

2.2 NHỮNG TÁC ĐỘNG LÊN MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG DLST 41

2.2.1 Du lịch và vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường 41

2.2.2 Tác động của hoạt động DLST đến môi trường 44

2.3 SỰ CỐ VÀ HIỂM HỌA DLST 47

CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM 50

3.1 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở VIỆT NAM 50 3.1.1 Các loại hình du lịch sinh thái ở Việt Nam 50

3.1.2 Tình hình phát triển DLST ở Việt Nam 53

3.2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VIỆT NAM 55 3.2.1 Tiềm năng về du lịch sinh thái tự nhiên 56

3.2.2 Tiềm năng du lịch sinh thái biển 63

3.2.3 Tiềm năng về du lịch sinh thái nhân văn 64

3.2.4 Các tiềm năng khác 65

3.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI VIỆT NAM 66 3.3.1 Tổ chức không gian du lịch sinh thái 66

3.3.2 Định hướng phát triển theo các loại hình DLST 69

3.3.3 Tổ chức quản lý 70

3.4 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VIỆT NAM 72

3.4.1 Mục tiêu phát triển 72

3.4.2 Một số giải pháp cơ bản cho việc phát triển DLST ở Việt Nam 72

Trang 7

3.5 HIỆN TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH

THÁI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 76

3.5.1 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái ở ĐBSCL 76

3.5.2 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái ở ĐBSCL 81

3.5.3 Đánh giá chung về tình hình phát triển du lịch sinh thái ĐBSCL 87

CHƯƠNG 4: QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ DU LỊCH SINH THÁI 91

4.1 ĐỊNH NGHĨA QUY HOẠCH DLST 91

4.2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA LÃNH THỔ DLST 91

4.3 CÁC BƯỚC CƠ BẢN CỦA QUY HOẠCH VÀ THIẾT KẾ DLST 93

4.4 THIẾT KẾ, QUY HOẠCH DU LỊCH SINH THÁI 97

4.4.1 Nguyên tắc xây dựng quy hoạch phát triển du lịch sinh thái 97

4.4.2 Nội dung của quy hoạch phát triển DLST 99

4.4.3 Chọn đất phát triển du lịch sinh thái (site planning) 99

4.4.4 Xác định nhu cầu thị trường khách, sản phẩm du lịch sinh thái 101

4.4.5 Tính toán các chỉ tiêu phát triển DLST 101

4.4.6 Tổ chức không gian chức năng hoạt động du lịch sinh thái 105

4.4.7 Quy định về quản lý quy hoạch khu DLST 106

4.4.8 Lập, phê duyệt, triển khai và quản lý quy hoạch phát triển DLST 109 4.4.9 Sự tham gia của cộng đồng dân cư 110

4.4.10 Nguyên tắc thiết kế công trình du lịch sinh thái 110

4.4.11 Tiêu chuẩn, quy chuẩn áp dụng trong quy hoạch phát triển du lịch sinh thái 111

CHƯƠNG 5: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH SINH THÁI 114

5.1 ỨNG DỤNG BỘ TIÊU CHUẨN ISO 1400 TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DLST 114

5.1.1 Giới thiệu hệ quản trị môi trường ISO 14001 114

5.2.2 Quá trình áp dụng và xin chứng nhận ISO 14000 116

5.2 ỨNG DỤNG LCA TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DLST 119

5.2.1 Định nghĩa LCA 119

Trang 8

5.2.2 Các nội dung LCA áp dụng cho DLST 119

5.2.3 Lợi ích của LCA LCA gồm các lợi ích chính sau: 120

5.3 ỨNG DỤNG BỘ TIÊU CHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ DU LỊCH VÀ DỊCH VỤ TẠI CÁC KHU, ĐIỂM DU LỊCH 120

5.3.1 Giới thiệu về Bộ tiêu chí 120

5.3.2 Những khó khăn trong quá trình áp dụng bộ tiêu chí 121

5.4 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ETM TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DLST 122

5.4.1 Giới thiệu về mô hình ETM 122

5.4.2 Bài học kinh nghiệm và đề xuất để áp dụng tại Việt Nam 125

CHƯƠNG 6: NHÃN DU LỊCH XANH CHO CÁC ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH 128

6.1 KHÁI NIỆM NHÃN DU LỊCH XANH ÁP DỤNG CHO ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH 128

6.2 BỘ TIÊU CHÍ NHÃN DU LỊCH XANH ÁP DỤNG CHO ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH 128

6.2.1 Quan điểm áp dụng 128

6.2.2 Cấu trúc: 129

6.2.3 Phương pháp đánh giá 129

6.3 QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ VÀ CẤP CHỨNG NHẬN NHÃN DU LỊCH XANH CHO ĐIỂM THAM QUAN DU LỊCH 142

6.3.1 Đối tượng áp dụng 142

6.3.2 Hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận Nhãn Du lịch xanh 142

6.3.3 Tổ chức đánh giá cấp Chứng nhận Nhãn Du lịch xanh 143

6.3.4 Cấp Chứng nhận Nhãn Du lịch xanh 144

6.3.5 Đổi, cấp lại Chứng nhận Nhãn Du lịch xanh 144

6.3.6 Thu hồi Chứng nhận Nhãn Du lịch xanh 144

6.3.7 Điều kiện sử dụng Nhãn Du lịch xanh 145

6.3.8 Đình chỉ sử dụng Nhãn Du lịch xanh 145 6.3.9 Trách nhiệm liên quan đến việc đề nghị và cấp Chứng nhận Nhãn

Trang 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC 152

Trang 10

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1: Sơ đồ về mối quan hệ giữa các loại hình du lịch với DLST 9

Hình 2: Du lịch sinh thái được tạo thành bởi sự thống nhất và bổ sung của du lịch học và sinh thái học 18

Hình 3: DLST là kết tinh của khoa học, du lịch, văn hóa,kinh tế, xã hội và hệ sinh thái môi trường học 18

Hình 4: Tương quan giữa DLST, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử và các loại hình du lịch khác 19

Hình 5: Phát triển DLST bền vững phải đảm bảo phát triển cân bằng cả ba mục tiêu liên quan 22

Hình 6: Vị trí địa lý các Vườn quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam 59

Hình 7: Sơ đồ các bước thực hiện 117

Hình 8: Các đơn vị cơ bản của mô hình ETM 123

Hình 9: Phân tích không gian của các điểm sau khi được xác định 124

Hình 10: Mẫu chứng nhận nhãn du lịch xanh cấp cho điểm tham quan du lịch 146

Hình 11: Mẫu biểu trưng nhãn du lịch xanh áp dụng cho điểm tham quan du lịch 147

Trang 11

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1: Những điểm khác nhau giữa điểm du lịch và khu du lịch 3

Bảng 2: Mối quan hệ giữa cung và cầu của du lịch sinh thái 17

Bảng 3: Danh sách vườn quốc gia Việt Nam 60

Bảng 4: Một số lễ hội quan trọng vùng ĐBSCL (theo âm lịch) 78

Bảng 5: Một số điểm du lịch thu hút du khách tại vùng ĐBSCL 81

Bảng 6: Tiêu chuẩn phân hạng điểm du lịch 124

Bảng 7: Các chỉ tiêu đánh giá cấp nhãn xanh cho các điểm tham quan du lịch 130

Bảng 8: Các chỉ tiêu và biểu điểm đánh giá chi tiết cấp nhãn xanh cho các điểm tham quan du lịch 131

Trang 12

DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT

ACTMANG Tổ chức Hành động và Phục hồi rừng ngập mặn

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

QLMT Quản lý môi trường

TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

WWF Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên

Trang 13

CHƯƠNG 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ DU LỊCH SINH THÁI

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ DU LỊCH

1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch được hình thành và phát triển theo nhu cầu đời sống của con người từ những ngày xa xưa Ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển, giao thông phát triển, nền kinh tế phát triển đời sống con người được nâng lên thì nhu cầu phát triển du lịch càng lớn Tùy theo điều kiện kinh tế mỗi nước, con người đang nghĩ đến việc dành một phần thu nhập của mình hàng năm cho du lịch; trong số những nhu cầu của con người, nhu cầu về Du lịch chưa bao giờ được thỏa mãn, càng đi du lịch cuộc sông của con người càng được nâng cao

Du lịch bắt nguồn từ tiếng Pháp theo từ “Tour” mà chúng ta thường hiểu là

một cuộc hành trình bao giờ cũng trở lại điểm xuất phát Từ những năm 30 của thế

kỷ này, có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu những mặt khác nhau của hiện tượng

Du lịch để đưa ra 1 định nghĩa chính xác (Lê Huy Bá, 2016)

Ngày nay bên cạnh việc đi du lịch ở nước ngoài, con người cũng đặt ra một nhu cầu du lịch trong nước không kém phần phong phú và đa dạng Như vậy khái niệm chung về Du lịch cần được nghiên cứu xuất phát từ đối tượng hoạt động của du lịch, đó là người du khách

Theo luật Du lịch Việt Nam (2017): Du lịch là các hoạt động có liên quan

đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định

1.1.2 Khách du lịch

Đây là khái niệm có nhiều quan niệm đưa ra Khách du lịch là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịch của hướng dẫn viên, là đối tượng của các đơn vị phục vụ và kinh doanh du lịch

Nói đến du lịch người ta hiểu rằng đó là cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của con người đến nơi khác nhằm mục đích thoả mãn mọi nhu cầu cό nghỉ dưỡng, chữa bệnh, văn hoá, nghệ thuật, thể thao.v.v Đối với hoạt động du lịch, con người với vai trò là một du khách có nhu cầu du lịch, rời khỏi nơi cư trú để thực hiện tour

du lịch Điều này có nghĩa để trở thành một khách du lịch, con người phải hội tụ các điều kiện sau:

 Có thời gian rỗi

 Có khả năng thanh toán

 Có nhu cầu cần được thoã mãn

Trang 14

Nhà kinh tế học người Áo, Lozep Stander định nghĩa: Khách du lịch là hành

khách xa hoa, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế (Lê Huy Bá, 2016)

Kripendort đưa ra cách nhìn nhận chủ quan phiến diện của mình về du khách

như sau: là những kẻ nực cười, ngốc nghếch ít học, những nhà giàu có, quen thói bóc

lột và vô cảm với môi trường (Lê Huy Bá, 2016)

Năm 1963, Hội nghị do liên hiệp quốc tổ chức tại Rôma (Ý) để thảo luận về

du lịch đã đi đến kết luận phạm trù khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch là

Công dân của một nước sang thăm và lưu trú tại nước khác trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ mà ở đó họ không có nơi ở thường xuyên, nhưng cũng không công nhận những người nước ngoài ở quá một năm hoặc những người đi ra nước ngoài thực hiện hợp đồng, hoặc tìm nơi lưu trú của mình cũng như những người ở vùng biên giới, sống nước này sang làm việc nước khác (Lê Huy Bá, 2016)

Theo luật Du lịch Việt Nam (2017): Khách du lịch là người đi du lịch hoặc

kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập

ở nơi đến

1.1.3 Tài nguyên du lịch

Theo luật Du lịch Việt Nam (2017): Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch

1.1.4 Điểm và khu du lịch

Đối với quốc gia, vùng, miền và các nhà làm du lịch thì điểm và khu du lịch được xem là nguồn lực, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần cạnh tranh, khai thác nguồn khách và đem lại nguồn thu cho mình Tuy nhiên giữa điểm du lịch

và khu du lịch có những điểm khác biệt cần phải nhận thức giúp các nhà quản lý và các doanh nghiệp du lịch có chiến lược xây dựng, khai thác, phát triển, marketing

phù hợp Vì vậy chúng ta có thể phân biệt điểm du lịch và khu du lịch dựa trên các cơ

sở sau:

 Giống nhau:

 Gắn liền với nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn

 Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

 Tạo điều kiện công ăn việc làm cho cộng đồng địa phương

 Đem lại nguồn thu và quảng bá cho cho đất nước và cộng đồng địa

Trang 15

 Khác nhau: Những điểm để phân biệt giữa điểm du lịch và khu du lịch được trình bày trong bảng 1

Bảng 1: Những điểm khác nhau giữa điểm du lịch và khu du lịch

STT Cơ sở phân biệt Điểm du lịch Khu du lịch

1 Khái niệm Điểm du lịch là nơi có tài

nguyên du lịch hấp dẫn phục vụ nhu cầu tham quan của du khách (Điều

4 – Luật Du lịch)

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên

du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường (Điều 4 – Luật

Du lịch)

2 Phân loại Có 2 loại:

- Điểm du lịch quốc gia

- Điểm du lịch địa phương

Có 2 loại:

- Khu du lịch quốc gia

- Khu du lịch địa phương

3 Sự đáp ứng nhu cầu

của khách du lịch

Đáp ứng nhu cầu tham quan của khách du lịch là chủ yếu

Đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch

4 Quy mô và sức chứa

du khách tối thiểu

- Đối với điểm du lịch

quốc gia: Bảo đảm phục

vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan mỗi năm

- Đối với điểm du lịch địa

phương: Bảo đảm phục vụ

ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm (Điều 24 – Luật Du

lịch)

- Đối với khu du lịch

quốc gia: Có diện tích tối

thiểu một nghìn hecta; bảo đảm phụ vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm

- Đối với khu du lịch địa

phương: Có diện tích tối

thiểu hai trăm hecta; bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách du lịch một năm (Điều 23 –

Luật Du lịch)

Trang 16

Kinh doanh tại điểm và khu du lịch bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau Điều này xuất phát từ nhu cầu và đỏi hỏi chính đáng từ khách du lịch Các sản phẩm, dịch

vụ tại điểm và khu du lịch càng phong phú, độc đáo, chất lượng, giá cả hợp lý thì càng chiếm được cảm tình, tiêu dùng và quay lại của du khách Điều này đỏi hỏi những nhà quản lý, người kinh doanh tại điểm, khu du lịch cần có chính sách về sản phẩm cũng như giá hợp lý để “kích thích” khả năng tiêu dùng của khách du lịch

Nhìn chung các lĩnh vực kinh doanh tại điểm và khu du lịch gắn liền với việc đầu tư, bảo tồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có, xây dựng kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp, phát triển và bảo vệ tài nguyên du lịch theo hướng bền vững

1.1.5 Tuyến du lịch

Đây là khái niệm liên quan đến kinh doanh du lịch lữ hành Từ những điểm, khu du lịch có sẵn tại các vùng, địa phương, quốc gia khác nhau khách du lịch hoặc thông qua các công ty lữ hành vạch ra cho mình những tuyến du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, và hiểu biết của mình Có thể chia tuyến du lịch thành:

 Tuyến du lịch quốc tế

 Tuyến du lịch nội địa

 Tuyến du lịch ngắn ngày

 Tuyến du lịch dài ngày

 Tuyến du lịch văn hoá

 Tuyến du lịch danh lam thắng cảnh

Tuy có sự phân chia nhưng nhìn chung trong các tuyến du lịch đều có sự thống nhất và xen kẽ giữa các yếu tố Ví dụ khi tham quan tuyến du lịch: Vũng Tàu –

TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ (3 ngày 2 đêm), là một tuyến du lịch ngắn ngày, du khách vừa tham quan các di tích lịch sử Văn hoá, vừa thưởng ngoạn cảnh đẹp, Vừa Vui chơi giải trí

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu

du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung сấр dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không

1.1.6 Xúc tiến du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên

truyền, quảng bá, vận động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch

1.1.7 Du lịch bền vững

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017): Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch

đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả пӑпg đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai

Trang 17

1.2 DU LỊCH SINH THÁI

1.2.1 Khái niệm du lịch sinh thái

Du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) nói riêng đã và đang phát triển nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Đặc biệt trong những thập kỹ qua, DLST như một hiện tượng và một xu thế phát triển ngày càng chiếm được sự quan tâm của nhiều người, bởi đó là loại hình du lịch tự nhiên (du lịch thiên nhiên) có trách nhiệm,

hỗ trợ cho mục tiêu bảo tồn môi trường tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa, phát triển cộng đồng, đồng thời đem lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển du lịch nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung (Phạm Trung Lương, 2002)

DLST (ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã nhanh chóng thu

hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau Đây là một khái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc độ tiếp cận khác nhau Đối với một số người, DLST chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc Tuy nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm rằng DLST là một loại hình du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800 (Ashton R & Ashton P, 1993) Như vậy, với cách tiếp cận này, mọi hoạt động của du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, leo núi đều được hiểu

là DLST

DLST còn có thể được biết đến dưới nhiều tên gọi khác nhau

 Du lịch thiên nhiên (Natural tourism)

 Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natural-based tourism)

 Du lịch môi trường (Environmental tourism)

 Du lịch đặc thù (Particular tourism)

 Du lịch xanh (Green tourism)

 Du lịch thám hiểm (Adventure tourism)

 Du lịch bản xứ (Indigenous tourism)

 Du lịch có trách nhiệm (Responsible tourism)

 Du lịch nhạy cảm (Sensitized tourism)

 Du lịch nhà tranh (Cottage tourism)

 Du lịch bền vững (Sustainable tourism)

Năm 1987, thuật ngữ “DLST” được Ceballos và Lascurain (1996) chính thức đưa ra, ngay lập tức đã phát triển nhanh chóng và rộng khắp Sự ra đời của Hiệp hội DLST quốc tế (TIES) ba năm sau đó (1990) bước đầu khẳng định vị thế của DLST với tư cách là một hệ thống lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững trong du lịch

Trang 18

Ở Việt Nam, tại hội thảo về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt

Nam” năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về DLST là: “DLST là loại hình du lịch dựa

vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho

nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Ngoài những khái niệm và định nghĩa trên còn có một số định nghĩa mở rộng hơn về nội dung của DLST:

“DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững” (Lê Huy Bá, 2000)

“Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và thế giới động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này (Cebllos & Lascurain, 1996)

“DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con người làm biến đổi Nó phải đóng góp vào bảo tồn thiên nhiên và phúc lợi của dân địa phương” (Hens, 1998)

“DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên

và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” (Hiệp hội DLST Hoa kỳ, 1998)

“DLST là một hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lí một cách bền vững và có lợi cho sinh thái” (Hiệp hội DLST Australia, 1993)

Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017), DLST được quan niệm: “DLST là hình

thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”

Khái quát lại, có thể coi DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản:

 Phát triển dựa vào những giá trị (hấp dẫn) của thiên nhiên và văn hóa địa phương

 Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái

 Có giáo dục và diễn giải về môi trường

 Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng

Trang 19

Theo Lê Trọng Bình (2007), DLST có những tác động tích cực và tiêu cực như sau:

 Tác động tích cực của du lịch sinh thái:

Những dịch vụ xã hội và hạ tầng như y tế, nhà cửa, cấp thoát nước, điện đã:

 Góp phần thay đổi chất lượng cuộc sống của cộng đồng, bao gồm cải thiện

 Giúp cho việc bảo vệ và tôn tạo các di sản văn hoá lịch sử, làm tăng niềm

tự hào của địa phương và ý thức cộng đồng

 Góp phần tăng danh tiếng của địa phương, giúp cho khách khám phá những ý tưởng mới, giá trị mới và cách sống mới

 Tạo điều kiện giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng, các quốc gia, phá vỡ những ngăn cách về văn hoá và dân tộc thông qua quan hệ này

 Du lịch sinh thái còn có tiềm năng mang lại lợi ích kinh tế cho nhân dân địa phương

 Những tác động tiêu cực của du lịch đến cộng đồng:

 Làm đảo lộn cấu trúc xã hội truyền thống

 Gây sự căng thẳng về xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống cá nhân

 Làm mai một về văn hoá do tác động của khách với dân địa phương

 Tăng thêm những vấn đề về xã hội như : cờ bạc, nghiện hút, mại dâm, trộm cắp

1.2.2 Các đặc trưng cơ bản của du lịch sinh thái

Mọi hoạt động phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng đều được thực hiện trên cơ sở khai thác những giá trị của tài nguyên du lịch tự nhiên, văn hoá, lịch

sử kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ Kết quả của quá trình khai thác đó là sự hình thành những sản phẩm du lịch từ các tiềm năng về tài nguyên, đem lại nhiều lợi ích cho xã hội

Trước tiên đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm, nâng cao đời sống kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua các dịch vụ du lịch, tạo điều kiện cho việc bảo tồn các giá trị văn hoá, lịch sử và sự đa dạng của thiên nhiên nơi có những hoạt động phát triển du lịch Sau nữa là những lợi ích đem lại cho khách du lịch trong việc hưởng thụ các cảnh quan thiên nhiên mới lạ

và độc đáo, các truyền thống văn hoá lịch sử, những đặc thù dân tộc mà trước đó họ chưa biết tới, từ đó xác lập ý thức trách nhiệm về bảo tồn sự toàn vẹn của các giá trị thiên nhiên, văn hoá lịch sử của nơi họ đến nói riêng và của hành tinh nói chung

Trang 20

Theo Phạm Trung Lương (2002), DLST là một dạng của hoạt động du lịch, vì vậy nó cũng bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung, bao gồm:

Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục

vụ du lịch (sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện, nước, nông sản, hàng hoá )

Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch,

những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch

Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên,

cảnh quan lịch sử - văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hoá, kinh tế và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội

Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch, với một quần thể các

điểm du lịch trong một khu vực, một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau

Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với

cường độ cao trong năm Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa (theo tính chất của khí hậu) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí (theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch)

Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch là hưởng thụ các sản phẩm

du lịch chứ không phải với mục tiêu kiếm tiền

Tính xã hội hoá: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã

hội tham gia (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) vào hoạt động du lịch

Bên cạnh các đặc trưng của ngành du lịch nói chung, DLST cũng hàm chứa những đặc trưng riêng, bao gồm:

Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận gần hơn

nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học

và rất nhạy cảm về mặt môi trường Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được coi là chiếc chìa khoá nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc bảo vệ môi trường

Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên

nhiên và môi trường, qua đó hình thành ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

Trang 21

Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Cộng đồng địa phương

chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại địa phương mình Phát triển DLST hướng con người đến các vùng tự nhiên hoang sơ, có giá trị cao về đa dạng sinh học, điều này đặt ra một yêu cầu cấp bách là cần phải có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại khu vực đó, bởi vì hơn ai hết chính những người dân địa phương tại đây hiểu rõ nhất về các nguồn tài nguyên của mình Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức cho cộng đồng, tăng các nguồn thu nhập cho cộng đồng

1.2.3 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động du lịch sinh thái

DLST là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hoá, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng địa phương và có đóng góp cho các

nỗ lực bảo tồn

Mục tiêu cơ bản của du lịch sinh thái là phát triển bền vững, nghĩa là đảm bảo đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến những nhu cầu cho các thế

hệ tương lai Do đó, hoạt động DLST cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:

Hình 1: Sơ đồ về mối quan hệ giữa các loại hình du lịch với DLST

(Nguồn: Lê Huy Bá, 2016)

Du lịch dựa vào thiên nhiên

Có trách nhiệm bảo tồn

Du lịch sinh thái

Trang 22

 Giáo dục nâng cao hiểu biết về môi trường tự nhiên qua đó tạo ý thức tham

gia vào các nỗ lực bảo tồn

Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa du lịch sinh thái với các hình thức du lịch tự nhiên khác Với những hiểu biết đó thái độ cư xử của du khách sẽ thay đổi được thể hiện bằng những nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển những giá trị về tự nhiên sinh thái và văn hoá khu vực Mục tiêu giáo dục phải được bắt nguồn từ mục tiêu phát triển du lịch và bảo tồn Các chiến lược phát triển du lịch sinh thái cần đi đôi với chương trình giáo dục cộng đồng, sao cho du lịch sinh thái hoạt động đúng bản chất của mình là không làm tổn hại mà sẽ trở thành động lực tích cực đối với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, và cùng với cộng đồng địa phương, hỗ trợ cho việc bảo tồn tính toàn vẹn của lãnh thổ tốt hơn

 Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái: là một trong những nguyên tắc cơ

bản:

 Là mục tiêu của hoạt động du lịch sinh thái

 Sự tồn tại của du lịch sinh thái gắn liền với việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái điển hình

Với nguyên tắc này, mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động tới môi trường, đồng thời một phần thu nhập từ hoạt động DLST

sẽ được đầu tư trở lại để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái

 Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá:

Là một trong những nguyên tắc quan trọng mà hoạt động du lịch sinh thái phải tuân theo bởi các giá trị về nhân văn là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường tự nhiên đối với một hệ sinh thái ở một nơi cụ thể

 Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:

Là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của du lịch sinh thái: Hoạt động của DLST đóng góp cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương; hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương; tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương; bảo tồn các giá trị tự nhiên vàvăn hoá của cộng đồng: truyền thống, lịch sử địa phương, những di sản văn hoá - lịch sử, kiến trúc

1.2.4 Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái

Theo Phạm Trung Lượng (2002), những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái bao gồm 4 yêu cầu như sau:

Yêu cầu thứ nhất: để có thể tổ chức được DLST là sự tồn tại của các hệ sinh

thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao

Trang 23

Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu

tự nhiên và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agricultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human

ecology)

Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh

học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài Đa dạng sinh thái thể hiện

ở sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự

sống như: đất, nước, địa hình, khí hậu đó là các hệ sinh thái (eco - systems) và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa

dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro về môi trường)

Như vậy có thể nói DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên

(natural - based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát

triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung Điều này giải thích tại sao hoạt động

DLST thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (natural reserve), đặc biệt

ở các vườn quốc gia (natural park), nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng

sinh học cao và cuộc sống hoang dã Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại

của một số loại hình DLST phát triển ở những vùng nông thôn (rural tourism) hoặc các trang trại (farm tourism) điển hình

Yêu cầu thứ hai: có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của DLST ở 2

điểm:

Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được hiểu biết cho khách DLST, người

hướng dẫn viên ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương Điều này rất

quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động DLST, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này ở người hướng dẫn viên Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để

có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch giỏi

 Hoạt động DLST đòi hỏi phải có được người điều hành có nguyên tắc Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc vĩnh viễn mất đi Ngược lại, các nhà điều hành DLST phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích

Trang 24

đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch

Yêu cầu thứ ba: nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt

động DLST đến tự nhiên và môi trường, theo đó DLST cần được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa” Khái niệm “sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm

Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du

khách mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ

Đứng ở góc độ sinh học, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu

lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môi trường, làm xuất hiện các tác động sinh thái do hoạt động của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Sức chứa này

sẽ đạt tới giới hạn khi số lượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởng tới tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và làm cho hệ sinh thái bị xuống cấp (như làm phá vỡ tập quán kết bầy, làm đất bị xói mòn )

Đứng ở góc độ tâm lý, sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu

vượt quá thì bản thân du khách sẽ bắt đầu cảm thấy khó chịu vì sự “đông đúc” và hoạt động của họ bị ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Nói một cách khác, mức độ thoả mãn của du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá đông đúc Sức chứa này đạt tới ngưỡng khi có quá nhiều du khách đến điểm tham quan làm du khách phải chịu nhiều tác động do du khách khác gây ra (như khó quan sát được các loài thú hoang dã, đi lại khó khăn hơn, sự khó chịu nảy sinh do rác thải ) Những tác động này làm giảm đáng kể sự hài lòng của du khách

Đứng ở góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt

đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá -

xã hội, kinh tế xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập

Đứng ở góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du

lịch có khả năng phục vụ Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản

lý (lực lượng nhân viên, trình độ và phương tiện quản lý ) của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội

Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, vì vậy khó có thể xác định một con số chính xác về sức chứa cho một khu vực Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm

Trang 25

Yêu cầu thứ tư: là thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch

Việc thoả mãn mong muốn của khách DLST về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành DLST Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì họ tham quan

1.2.5 Đặc điểm của các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái

Theo Phạm Trung Lượng (2002), các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái bao gồm: nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý lãnh thổ, nhà điều hành du lịch, hướng dẫn viên du lịch, khách du lịch sinh thái Mỗi đối tượng này có những đặc điểm khác nhau khi tham gia hoạt động du lịch sinh thái

 Các nhà hoạch định chính sách

Các nhà hoạch định chính sách thường là các nhà khoa học làm công tác quy hoạch, xây dựng các chính sách phát triển DLST trong các viện nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước Vai trò của họ là nghiên cứu để xác định các định hướng phát triển phù hợp với tiềm năng và điều kiện thực tế, đề xuất các chính sách, giải pháp nhằm đảm bảo cho việc thực hiện những định hướng đó Vì vậy họ là những người có vai trò quan trọng đối với sự phát triển du lịch nói chung và DLST nói riêng

Đứng trên quan điểm của công tác quản lý lãnh thổ thì mục tiêu bảo tồn được xem trọng hàng đầu, trong khi đó các tổ chức kinh doanh du lịch lại coi trọng các mục tiêu thương mại trong việc khai thác lãnh thổ Điều đó đòi hỏi các nhà quy hoạch và lập chính sách phát triển DLST phải có được phương án và các giải pháp phù hợp để tối đa hoá lợi ích từ hoạt động phát triển DLST đồng thời đảm bảo việc phát triển DLST phải như một công cụ hữu hiệu để phục vụ cho công tác bảo tồn Quá trình tổ chức khai thác tài nguyên lãnh thổ nhằm phục vụ phát triển DLST được các nhà quy hoạch và xây dựng chính sách tiến hành theo các bước:

 Quy hoạch phát triển DLST chỉ được xem xét để thực hiện trên những vùng lãnh thổ đặc trưng, đảm bảo các yêu cầu cần thiết Quá trình thực hiện quy hoạch cần được tiến hành trong khuôn khổ của các quy định và luật pháp, sao cho Chính phủ chấp nhận các đề xuất được đưa ra

 Trên một số vùng được các nhà quy hoạch cân nhắc để tổ chức DLST câu hỏi đầu tiên cần đặt ra là: “Loại hình du lịch này có được phép phát triển ở đây không?”

 Nếu như hoạt động DLST có thể được tiến hành thì vấn đề nghiên cứu tiếp theo sẽ là: “Hoạt động phát triển đến mức độ nào là phù hợp?”

 Các nhà hoạch định chính sách cần nhận thức đầy đủ trách nhiệm hướng tới những nguyên tắc của DLST để cân nhắc: “Những hoạt động du lịch được hoạch định phát triển có thể được coi là DLST không?”

Trang 26

 Các nhà hoạch định chính sách cần có được những hiểu biết về yêu cầu điều chỉnh giới hạn bảo vệ lãnh thổ khỏi các tác động của hoạt động du lịch, để một mặt phù hợp với quyền lợi thực tế của cộng đồng địa phương và mặt khác đảm bảo các lợi ích kinh doanh du lịch

Điều này yêu cầu các nhà quản lý lãnh thổ phải có sự đánh giá đầy đủ về hiện trạng sinh thái môi trường, các tác động chủ yếu do hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của khu vực trước và trong quá trình phát triển DLST để có thể đề xuất những biện pháp thích hợp trong việc điều chỉnh và quản lý các tác động tiêu cực

Trong quá trình phát triển du lịch, việc tuyên truyền giáo dục cộng đồng là một trong những giải pháp quan trọng mà các nhà quản lý lãnh thổ cần thực hiện nhằm khuyến khích người dân địa phương và các nhà điều hành du lịch có được những nỗ lực chung cho sự phát triển bền vững

Các nhà quản lý lãnh thổ cũng cần phải kết hợp chặt chẽ với những người điều hành du lịch ở khu vực mình quản lý nhằm:

 Đảm bảo hiệu quả của công tác điều hành du lịch trong những giới hạn cho phép

 Đảm bảo an toàn cho khách, trật tự xã hội ở khu vực quản lý

 Đảm bảo hiệu quả của hoạt động kinh doanh và qua đó đảm bảo sự đóng góp vào quá trình bảo tồn và phát triển bền vững lãnh thổ được quản lý

 Các nhà điều hành du lịch

Là những người có vai trò quan trọng trong việc tổ chức điều hành cụ thể hoạt động DLST, họ trực tiếp chịu trách nhiệm xác định các phương thức tiến hành hoạt động, lựa chọn địa điểm tổ chức DLST, xây dựng các chương trình tour chọn gói, xác định các dịch vụ mà Công ty có thể cung cấp cho khách với cơ chế giá cả

Trang 27

kinh doanh, song phải luôn tôn trọng những nguyên tắc của du lịch sinh thái Điều

này cần được thể hiện trong mọi hoạt động điều hành của họ

Trách nhiệm của các nhà điều hành là hết sức lớn bởi họ phải đảm bảo lợi ích của tổ chức kinh doanh du lịch; đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững Điều này đòi hỏi nhà điều hành có sự phối hợp chặt chẽ với các nhà quản lý Nhà nước, các nhà quy hoạch, các nhà quản lý lãnh thổ và người dân địa phương

 Hướng dẫn viên du lịch

Là những người được xem là cầu nối giữa khách du lịch và đối tượng du lịch

để thoả mãn các nhu cầu của khách, chất lượng những đóng góp của họ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của hoạt động DLST Chính vì vậy hướng dẫn viên du lịch phải là những người có kiến thức, nắm được đầy đủ thông tin

về môi trường tự nhiên, các đặc điểm sinh thái, văn hoá cộng đồng địa phương để giới thiệu một cách sinh động nhất, đầy đủ nhất với du khách về những vấn đề mà họ quan tâm Bên cạnh đó, các hướng dẫn viên DLST cũng phải là những người có mối quan hệ đặc biệt với người dân địa phương nơi tổ chức hoạt động du lịch Hướng dẫn viên DLST có thể là người dân địa phương hoặc nhà quản lý lãnh thổ - đặc biệt ở các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên

 Đó thường là những người đã trưởng thành, có thu nhập cao có giáo dục và

có sự quan tâm đến môi trường thiên nhiên

 Khách DLST thường là những người thích hoạt động ngoài thiên nhiên Tỷ lệ khách nam, nữ là ngang nhau và đây thường là những khách du lịch có kinh nghiệm

 Khách DLST thường có thời gian đi du lịch dài hơn và mức chi tiêu/ ngày nhiều hơn so với khách du lịch ít quan tâm đến thiên nhiên

 Họ không đòi hỏi thức ăn hoặc nhà nghỉ cao cấp đầy đủ tiện nghi, mặc dù họ

có khả năng chỉ trả cho các dịch vụ này Điều này phản ánh nhận thức của họ

rằng “các cơ sở vật chất mà họ sử dụng ít ảnh hưởng nhất đến môi trường tự

nhiên”

Trang 28

1.2.6 Mối quan hệ giữa cung và cầu của du lịch sinh thái

DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, các môi trường tự nhiên

để có thể tổ chức hoạt động DLST (phía “cung”), bao gồm một số loại cơ bản sau:

Loại I: Là nơi có các hoạt động du lịch mà cách ứng xử với môi trường tự

nhiên mới chỉ ở mức độ tuân thủ theo các quy định của pháp luật hiện hành Phần lớn các hoạt động phát triển du lịch dựa vào thiên nhiên hiện nay ở các trung tâm du lịch lớn như Haoai là thuộc loại này Mặc dù phần lớn những dự án loại I nằm ngoài giới hạn của DLST theo phần lớn các định nghĩa về nó, tuy nhiên hình thức phân loại này cũng tạo nên một tiêu chuẩn để thấy rõ hơn nữa các định nghĩa về bảo tồn

Loại II: Bao gồm những nơi được thiết kế và xây dựng gắn với thiên nhiên,

môi trường hơn, thể hiện qua “tính nhạy cảm của các điểm, các cụm có mật độ thấp

ít sử dụng thiết kế và các vật liệu hạn chế tầm quan sát, gây ảnh hưởng đến môi trường Tuy nhiên vẫn cung cấp đầy đủ các tiện nghi, dịch vụ và hoạt động của một khu du lịch truyền thống” Loại này phản ánh việc chấp nhận tầm quan trọng của môi trường hơn là thực tiễn của du lịch sinh thái

Loại III: là nơi du khách có cơ hội tham quan môi trường còn hoang sơ,

nguyên vẹn, nơi các “sản phẩm” đúng theo nghĩa đen đưa con người ngược lại với

thực tế của tự nhiên Các cơ sở lưu trú tiện nghi với hạn chế tối đa tác động tới môi trường được xem là tiêu chuẩn

Loại IV: Là những nơi “thiên nhiên” được xem trọng hàng đầu để nghỉ ngơi

và giáo dục với nỗ lực tăng cường trực tiếp ý thức bảo tồn và gìn giữ môi trường Các chuyến thám hiểm trong ngày, các trung tâm tham quan và các tour có phiên dịch là chìa khoá Hạn chế bất cứ việc xây dựng phát triển nào, để tăng khả năng cảm nhận của khách Các khu bảo tồn thiên nhiên, các VQG, các vườn thực vật và các bảo tàng biển đều được xếp vào loại này

Loại V: Dành cho du khách “thám hiểm” đến các vùng thiên nhiên xa xôi

còn hoang sơ Các chương trình du lịch được thiết kế nhằm hướng tới việc nâng cao nhận thức, tính nhạy cảm và bảo tồn môi trường tự nhiên và văn hoá

Về phía “cầu”, khách du lịch thiên nhiên bao gồm các loại sau:

Loại A: Là những khách du lịch thiên nhiên tình cờ, ngẫu nhiên do một phần

của chuyến du lịch lớn có liên quan đến thiên nhiên

Loại B: Loại khách du lịch thiên nhiên chiếm số đông Họ là những người

muốn tham gia vào những chuyến du lịch lạ thường đến với thiên nhiên

Loại C: Là những khách du lịch có lòng say mê thiên nhiên Họ luôn muốn

có được những chuyến đi đến những nơi đặc trưng như các VQG, các khu bảo tồn để tham quan và tìm hiểu tự nhiên, lịch sử và văn hoá bản địa

Loại D: Là những khách du lịch thiên nhiên thực thụ Họ có thể là các nhà

Trang 29

Mối quan hệ giữa phía cung (supply side) và phía cầu (demand side) đối với hoạt động DLST được thể hiện trong “du lịch dựa vào thiên nhiên” (nature - based

tourism) Căn cứ vào bản chất của DLST có thể thấy sự giống và khác

Bảng 2: Mối quan hệ giữa cung và cầu của du lịch sinh thái

Loại khách

du lịch Các môi

Theo Phạm Trung Lượng (2002), căn cứ vào bản chất của DLST có thể thấy

sự giống và khác nhau giữa DLST với một số loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên khác

 Các điểm giống nhau:

 Tài nguyên du lịch chủ yếu là tài nguyên du lịch tự nhiên, sản phẩm để thoả mãn các nhu cầu DLST và các loại hình du lịch khác đều có thuộc tính biểu hiện trên hai mặt: giá trị và giá trị sử dụng

 Các sản phẩm được tiến hành trao đổi, mua bán thông qua các hình thức dịch

 Tổ chức hoạt động DLST phức tạp hơn nhiều trên các phương diện: an ninh

và an toàn, chi phí bảo hiểm, hướng dẫn

 Khách DLST không chỉ là những người yêu thiên nhiên đơn thuần mà còn là những người muốn chia sẻ trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên, văn hoá, muốn khám phá những bí mật của thiên nhiên, đồng thời ham thích mạo hiểm

Trang 30

1.3 PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI BỀN VỮNG

1.3.1 Khái niệm DLST bền vững

Khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) lần đầu tiên xuất hiện trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của ủy ban môi trường và phát triển

thuộc ngân hàng thế giới (WB) vào năm 1987

Trong phát triển bền vững, điều cần chú ý nhất là thỏa mãn các nhu cầu hiện tại và không làm tổn hại đến sự thỏa mãn các nhu cầu trong tương lai, đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống Như vậy, phát triển bền vững không chỉ là phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội một cách bền vững nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn phải đảm bảo những điều kiện môi trường thiết yếu cho con người đang tồn tại và cho các thế hệ sẽ tồn tại (những người đang sống và những người sẽ sống)

Hình 2: Du lịch sinh thái được tạo thành bởi sự thống nhất và bổ sung của du lịch

học và sinh thái học

(Nguồn: Lê Huy Bá, 2016)

Hình 3: DLST là kết tinh của khoa học, du lịch, văn hóa,kinh tế, xã hội và hệ sinh

thái môi trường học

Sinh thái học

Du lịch học

Du lịch sinh thái

Nhà hàng, khách sạn

Tổ chức

Hướng dẫn Hội nghị

Hệ sinh thái

Tài nguyên môi trường

Môi trường cảnh quan

Trang 31

Hình 4: Tương quan giữa DLST, du lịch văn hóa, du lịch lịch sử và các loại hình du

lịch khác

(Nguồn: Lê Huy Bá, 2016)

“DLST bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi đó vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên và phát triển du lịch trong tương lai” Du lịch bền vững đưa ra kế hoạch quản lí các nguồn tài nguyên nhằm thỏa

mãncác nhu cầu về kinh tế, xã hội và thẩm mỹ của con người, mặt khác vẫn duy trì được sự toàn vẹn về mặt xã hội, sự đa dạng về sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho con người (Lê Huy Bá, 2016)

Phát triển DLST bền vững không những đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững mà còn làm giảm tối thiểu các tác động của khách du lịch đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng nguồn lợi tài nguyên do du lịch mang lại và cần chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Phát triển DLST bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và các giá trị đạo đức (Allen, 1993)

Theo đánh giá của các chuyên gia nghiên cứu về du lịch, muốn cho ngành du lịch thật sự có thể phát triển bền vững cần phải dựa vào ba yếu tố:

 Thứ nhất là thị trường thế giới về những điểm du lịch mới và các sản phẩm

du lịch ngày càng gia tăng;

 Thứ hai là phát triển phải coi trọng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên;

 Thứ ba là du lịch trực tiếp mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và cải thiện phúc lợi cho các cộng đồng

Du lịch sinh thái

Du lịch văn hóa,

lịch sử

Các loại hình du lịch khác (Du lịch khám phá, giải trí )

Trang 32

Trong nền công nghiệp du lịch đương đại, cả ba nhân tố trên gắn bó chặt chẽ với nhau, để cho người ta nhận biết như một ngành DLST, đảm bảo môi trường và cảnh quan cho mọi điểm du lịch Chính vì vậy, các chuyên gia du lịch đã khẳng định

“cần chú ý sự tập trung vào du lịch bền vững cùng với vai trò của nó trong sự phát triển cộng đồng và bảo tồn là vô cùng quan trọng” Vì nếu chỉ riêng phát triển du lịch không thôi thì không phải là sự phát triển bền vững, vấn đề đặt ra là sự phát triển bền vững ấy như thế nào và để cho ai?

Như chúng ta đã biết, du lịch dựa trên cơ sở khai thác các lợi thế từ tự nhiên

là hình thức phát triển du lịch nhanh nhất trên thế giới Trong bối cảnh hiện nay những nước biết kết hợp giữa phát triển du lịch, bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo

vệ quyền lợi của cộng đồng địa phương sẽ là những nước thu được nhiều lợi ích nhất trong hoạt động du lịch Việt Nam có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và nền văn hóa dân tộc hội đủ điều kiện để phát triển du lịch; song song với quá trình phát triển cần phải luôn luôn nhấn mạnh đến yếu tố bền vững theo nguyên tắc phù hợp với DLST, tức là phát triển du lịch theo hướng đẩy mạnh việc giữ gìn môi trường tự nhiên với đảm bảo lợi ích cộng đồng dân cư trong vùng

1.3.2 Cơ sở của phát triển bền vững trong DLST

 Giảm đến mức thấp nhất việc khánh kiệt tài nguyên môi trường: đất, nước ngọt, các thủy vực, khoáng sản… đảm bảo sử dụng lâu dài các dạng tài nguyên không tái tạo lại được bằng cách tái chế, tránh lãng phí, sử dụng ít hơn hoặc thay thế chúng Như vậy, cần phải sử dụng tài nguyên theo nguyên tắc “nhu cầu sử dụng chúng không vượt quá khả năng bù đắp (tái tạo) tài nguyên đó”

 Bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo tồn tính di truyền của các loại động vật và thực vật nuôi trồng cũng như hoang dã Đảm bảo việc sử dụng lâu bền bằng cách quản lí phương thức và mức độ sử dụng, làm cho các nguồn tài nguyên

a Cơ sở của các nguyên tắc DLST

Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu của du khách, giảm thiểu các tác động lên môi trường sinh thái và đem lại phúc lợi (sinh thái, kinh tế, xã hội) cho cộng đồng địa phương, DLST lấy một số cơ sở sau để phát triển:

Trang 33

 Giáo dục môi trường

 Phải có tổ chức về nghiệp vụ du lịch, hạn chế tới mức thấp nhất đối với môi trường

 Phải hỗ trợ cho bảo vệ môi trường

 Chương trình giáo dục và huấn luyện để cải thiện, quản lí di sản và các tài nguyên thiên nhiên nên được thành lập Giảm tiêu thụ, giảm chất thải một cách triệt để nhằm nâng cao chất lượng môi trường

 Duy trì tính đa dạng về tự nhiên, văn hóa… (chủng loài thực vật, động vật, bản sắc văn hóa dân tộc…)

 Lồng ghép các chiến lược phát triển du lịch của địa phương với quốc gia

 Phải hỗ trợ kinh tế địa phương, tránh gây thiệt hại cho các hệ sinh thái ở đây

 Phải thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương Điều này không chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường sinh thái mà còn nhằm tăng cường khả năng đáp ứng các thị hiếu của du khách

 Phải biết tư vấn các nhóm quyền lợi và công chúng Tư vấn giữa công nghiệp

du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan nhằm đảm bảo cho

sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh

 Đào tạo các cán bộ, nhân viên phục vụ trong hoạt động kinh doanh du lịch nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch

 Nghiên cứu hỗ trợ cho du lịch, phải cung cấp cho du khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa khu du lịch, qua đó góp phần thỏa mãn các nhu cầu của du khách

Trang 34

Hình 5: Phát triển DLST bền vững phải đảm bảo phát triển cân bằng cả ba mục tiêu

liên quan

(Nguồn: Lê Huy Bá, 2016)

1.3.4 Mục tiêu nghiên cứu về DLST

Nhằm phát triển một ngành “kinh tế xanh”, có sức cạnh tranh và đóng góp

được vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương; những mục tiêu, chiến lược được vạch ra cho DLST là phải đặt dưới sự chỉ đạo của hoạt động toàn ngành du lịch, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của vùng, theo định hướng phát triển du lịch của từng quốc gia Các mục tiêu cụ thể sau cần được quan tâm:

a Mục tiêu sinh thái – môi trường

Xem xét đến khả năng gánh chịu của vùng sinh thái về lượng du khách Tính nhạy cảm của sinh vật và các hệ sinh thái, vấn đề ô nhiễm môi trường, tải lượng rác thải, nước thải và các quá trình làm gián đoạn sinh thái do du khách gây ra

Phát triển DLST phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, từ

đó đặt racác kế hoạch và cơ chế quản lí phù hợp với việc khai thác,tôn tạo các loại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái

b Mục tiêu tăng tính thẩm mỹ

Tối thiểu hóa những thiệt hại sinh thái do du khách mang lại là một phần

trong mục tiêu thẩm mỹ của DLST Du khách có thể giảm “thiện chí trả tiền” một

khi tính hấp dẫn về thẩm mỹ, sinh thái của cảnh quan đã bị suy giảm, bị phá vỡ

Mục tiêu xã hội:

nâng cao sức khỏe, trình độ văn hóa cộng đồng

Mục tiêu kinh tế:

tăng trưởng GDP

Mục tiêu môi trường:

bảo vệ tài nguyên, môi trường

Du lịch Sinh thái bền vững

Trang 35

Về bản chất thì DLST là một loại hình du lịch nhằm làm gia tăng sự mong

đợi và đồng thời cũng làm tăng nguy cơ về một loại hình du lịch “đến rồi chạy xa

một cách vô trách nhiệm” một sự tràn vào của những dòng người yêu thích thiên

nhiên đến “điên dại” tại những điểm mới nhất và sau đó chúng lại bị bỏ rơi một khi

đã được khám phá và môi trường ở đó đã bị thoái hóa Vì vậy, trong quy hoạch và điều hành DLST phải dự tính đến khả năng này

c Mục tiêu kinh tế

Việc xác định lợi ích từ du lịch dựa trên cơ sở “tổng thu nhập” đơn thuần giờ

đây không còn phù hợp nữa DLST theo chúng tôi, nếu chỉ quan tâm đến những

trang giấy với những “cột cân đối tiền tệ” thì chắc chắn sẽ không phản ánh được gì

cả Cần so sánh về thiệt hại bỏ ra so với tổng lợi ích kinh tế, các yếu tố ngoại vi và chi phí cơ hội đối với du khách được thu hút và vấn đề phụ thuộc kinh tế do DLST mang lại

Rõ ràng mục tiêu kinh tế đạt được của DLST thể hiện ở khía cạnh kinh tế sinh thái và thôi thúc sự phát triển kinh tế của những vùng có khu DLST

d Mục tiêu an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội

Quy hoạch và phát triển DLST không ngoài mục tiêu thu hút lữ hành thiên nhiên trong và ngoài nước đến với cộng đồng địa phương Tuy nhiên, không vì thế

mà chúng ta bỏ qua vấn đề an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội Cần chú ý tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập và góp phần ổn định kinh tế, xã hội và bảo vệ

an ninh quốc phòng cho khu vực

e Mục tiêu văn hóa - xã hội

Văn hóa đã từng là một nhân tố bị bỏ rơi trong bảo tồn Bảo tồn và phát triển

du lịch mà từ chối quyền lợi và mối quan tâm của cộng đồng địa phương là tự chuốc hại vào mình, nếu không muốn nói là xâm phạm đến văn hóa và làm hỏng đến nền kinh tế bản địa; nguy cơ về thất bại trong DLST sẽ rất cao

Do đó, trong quy hoạch DLST, theo chúng tôi cần phải gắn kết việc giữ gìn

và tôn tạo các truyền thống văn hóa đặc trưng của địa phương, bảo tồnđược môi trường nhân văn trong sạch, đồng thời khai thác tốtcác di sản văn hóa có giá trị phục

vụ cho du lịch

f Mục tiêu hỗ trợ phát triển

Nghiên cứu về DLST ở đâykhông chỉ nhằm mục đíchđơn thuần là tìm hiểu về thị hiếu du khách để tối đa hóa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường mà còn phải cung cấp các thông tin tư liệu, những định hướng chiến lược cơ bản để khuyến khích

hỗ trợ cho sự phát triển, xúc tiến, lập kế hoạch, thiết lập mối quan hệ giữa các ban

ngành, tạo lực đẩy cho sự phát triển của ngành “công nghiệp xanh” này

Trang 36

Như vậy, DLST phải hội đủ các yêu cầu sau:

 Kích thích sự gia tăng lữ hành về với thiên nhiên

 Bảo tồn các giá trị của tự nhiên, các giá trị của đa dạng sinh học

 Giải quyết các mối quan tâm trăn trở về môi trường, kinh tế - xã hội… lấy bảo tồn tài nguyên thiên nhiên làm trọng tâm

 Thúc đẩy sự phát triển bền vững - một trong những nền tảng cơ bản của

ngành kinh tế “sạch” và “xanh”

1.3.5 Phương pháp nghiên cứu DLST

a Phương pháp luận

 Nghiên cứu DLST là nghiên cứu sự tương tác giữa các thành phần của nó

Có người cho rằng, DLST được tạo thành bởi hai thành phần chính là du lịch

và sinh thái Nói như vậy cho đơn giản, dễ hiểu chứ thực ra nó không hề là một phép cộng số học đơn thuần mà nó có sự tương tác vớinhau rất chặt chẽ, thông qua nhiều hình thức và nhân tố Ngoài hai phần chính này, chúng còn những thành phần phụ và những thành phần trung gian

Trong phần sinh thái gồm có nhiều thành phần nhỏ nữa cấu tạo nên như đất,

nước, không khí, sinh vật và con người Các thành phần này liên quan chặt chẽ và rất hữu cơ với nhau trong một hệ sinh thái

Trong phần du lịch lại cũng có các phần nhỏ nữa tạo nên như: cơ sở hạ tầng,

người quản lý, người hướng dẫn…

Xin nhắc lại, giữa các thành phần nhỏ trong một thành phần chính luôn tương quan với nhau và giữa các thành phần phụ của hai thành phần chính, đôi lúc, tưởng như không liên quan, ấy vậy mà nó lại có sự liên quan

Vì vậy, khi nghiên cứu môi trường sinh thái, tuyệt nhiên chúng ta phải chú ý một cách đặc biệt đến sự tương hỗ lẫn nhau này

 Mối tương quan lẫn nhau

Sự tương quan (relationship) biểu hiện ở mức độ liên hệ lẫn nhau giữa 2, 3 hay nhiều yếu tố Đó là sự phụ thuộc lẫn nhau theo chiều thuận hay nghịch, chặt hay

không chặt

Sự tương quan này được thể hiện qua hệ số tương quan R mà 0 ≤ |R| ≤ 1 Khi

|R| > Rstandard, chúng ta nói nó có tương quan, có thể tin cậy, chặt hoặc rất chặt

Nếu R > 0 đó là tương quan thuận

Nếu R < 0 đó là tương quan nghịch

Trang 37

Tuy nhiên, các mối tương quan theo cách tính này cũng chỉ biểu hiện một phần của mối liên hệ giữa các yếu tố DLST Thậm chí, đôi lúc còn có tương quan giả Ví dụ A tương quan với B, B lại tương quan với C thì theo toán học đơn thuần A

sẽ tương quan với C Tuy nhiên trong thực tế sinh động của DLST có thể A và C lại không có biểu hiện gì là tương quan cả Vì vậy, khi nghiên cứu DLST người ta không dừng lại ở tìm sự tương quan mà quan trọng hơn là tìm sự tương tác giữa chúng

 Sự tương tác giữa các thành phần và các yếu tố DLST

Sự tương tác (interaction) biểu thị sự liên quan cả bên trong lẫn bên ngoài của các yếu tố Không những nó loại trừ sự ngẫu nhiên, mà còn biểu hiện sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố, các thành phần cấu trúc môi trường Sự tác động này mang tính chủ động và thuận nghịch Vì vậy các nghiên cứu về DLST cũng phải đặc biệt chú ý đến các sự tương tác này Nó biểu hiện sức sống và hoạt động của một hệ DLST nhất định, bởi vì mỗi hệ DLST có một kiểu, một dạng tương tác đặc trưng Tìm các tương tácnày là cốt lõi của phương pháp luận nghiên cứu DLST Nếu như một nghiên cứu DLST nào đó không hoặc rất ít quan tâm đến sự tương tác thì nghiên cứu ấy coi như không thành công

Biểu thị sự tương tác có thể có nhiều cách:

 Sử dụng mô hình toán

 Sử dụng mô hình khônggian nhiều chiều

Ví dụ để biểu diễn sự tương tác giữa các yếu tố tạo nên sự suy thoái của một khu DLST, người ta đưa dạng mô hình không gian nhiều chiều vào phương pháp nghiên cứu Ví dụ, người ta có thể dùng mô hình kết hợp GIS (hệ thống thông tin địa lí) và RS (đo đạc viễn thám) để xây dựng nên các mô hình tương tác 2 hay 3 hay nhiều yếu tố

Người ta có thể biểu diễn yếu tố tổng hợp của sự thoái hóa DLST nào đó dưới dạng tọa độ trên mặt phẳng nghiêng lượn sóng ba chiều (3D) mà mỗi trục tọa độ biểu hiện một yếu tố riêng rẽ tác động vào khu DLST đấy

 Nghiên cứu DLST không được coi nhẹ thành phần nào trong toàn hệ thống

Ví dụ khi nghiên cứu để đầu tư một khu DLST nào đó, ta cũng phải nghiên cứu cả hai thành phần sinh thái và tổ chức DLST như thế nào cho phù hợp Trả lời câu hỏi:

 Vì sao ta phải tổ chức DLST ở đây?

 Tổ chức ở đây có tác hại gì đến tài nguyên môi trường?

 Hệ sinh thái ở đây là hệ sinh thái gì? Điểm đặc thù là gì, để hấp dẫn du khách?

Trang 38

 Hệ sinh thái môi trường: đất, nước, không khí và con người ở đây tương tác với nhau như thế nào?

 Tác động hoạt động DLST lên sinh vật và cuộc sống, kinh tế và tình cảm con người địa phương ra sao?

 Tải lượng ô nhiễm tối đa và tối thiểu của hê STDL ở đây là bao nhiêu?

 Loại du khách cho khu DLST này là ai? bao nhiêu? Họ sẽ tác động lợi hại như thế nào đến sinh vật?

 Loại hình DLST nào là phù hợp trong khu DLST?

 Tính bảo tồn tài nguyên DL ra sao?

 Phân vùng chi tiết dựa vào các chỉ tiêu DLST chưa?

 Có khả năng du nhập các sinh vật lạ vào khu DLST này không? loại gì? số lượng bao nhiêu?

 Khách DLST người thích gì? phản ứng ra sao với từng mô hình sinh thái?

 Tại sao khách nuớc ngoài chỉ có 15% quay Việt Nam trong đó có vai trò gì của DLST?

Đó chỉ là một vài vấn đề cần nêu ra trong nghiên cứu, có thể còn nhiều nữa Tuy vậy mà lâu nay nhiều hoạt động nghiên cứu hay ứng dụng ít khi lưu tâm đồng đều đến các tương tác này

 Nghiên cứu DLST cũng tức là tìm các yếu tố trội, chủ đạo trong hệ tương tác

để tìm ra thế mạnh cho phát triển

Như phần trên chúng ta đã nói, nghiên cứu DLST cần phải tìm hiểu không những các mối tương quan, mà còn phải tìm sự tương tác của không những một vài yếu tố mà của hầu hết các thành phần trong hệ thống DLST Bên cạnh đó có một điều không thể thiếu được trong phương pháp luận, đó là: cần phải tìm yếu tố bên trong các yếu tố Có thể lí giải quan điểm này như sau:

Một đối tượng A xuất hiện trong môi trường luôn luôn và tất yếu chịu tác động của nhiều yếu tố cùng một lúc Ngược lại, vật A cũng tác động trở lại các yếu

tố tác động vào nó Các tác động này mang tính vừa sinh thái môi trường lại vừa mang tính du lịch, không phải là tác động vật lí đơn thuần

Tuy nhiên, các tác động này lên vật thể hoặc sinh vật A là không đồng đều về thời gian, không gian cũng như cường lực Hay nói cách khác, trong một môi trường DLST, trong một giới hạn không gian và thời gian, bao giờ cũng có yếu tố trội Yếu

tố trội sẽ quyết định xu hướng, tốc độ của sự phát triển của từng thành phần, từng cá thể sinh vật hay nhóm sinh vật và kể cả người tổ chức, hướng dẫn viên và du khách

Trang 39

Phương pháp luận nghiên cứu DLST cho rằng có xác định được tính đồng nhất (với hệ số đồng nhất entropi) và tính trội mới xác định được chiều hướng của sự phát triển của đối tượng nghiên cứu, thậm chí của cả hệ DLST

 Nghiên cứu DLST phải đặt trong sự sự tương tác với các loại hình du lịch

Có những lúc thành tố văn hoá nằm trong DLST và ngược lại

Vì vậy, sự bổ trợ giữa chúng là một điều cần lưu ý khi nghiên cứu tính hấp dẫn, tính kinh tế, xã hội của DLST

Ví dụ ta nói DLST Huế ta không chỉ nghiên cứu về sinh thái cảnh quan hùng

vĩ, nên thơ của sông Hương - núi Ngự mà phải nghiên cứu trong sự thiêng liêng của cảnh quan sinh thái ấy có cả một nền văn hoá cố đô người Việt, hoà quyện âm hưởng của nhạc nhã cung đình, có tiếng hò mái đẩy trên bến Kim Long

 Nghiên cứu DLST phải đặt trong sự tương tác với các loại hình kinh tế xã hội

và khoa học kỹ thuật đương đại

Khi nghiên cứu DLST ta cũng phải đặt nó trong hoàn cảnh kinh tế xã hội mà

nó đang hoạt động

Ta xem nó là một mảng kinh tế, vậy phải có lợi nhuận Nhưng lợi nhuận không được là yếu tố hàng đầu trong nghiên cứu khả thi và tiền khả thi Bên cạnh lợi nhuận phải xét về tác động bảo vệ tài nguyên và tính bền vững của môi trường

Sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật để phát triển DLST là cần thiết

và nên làm nhưng phải đặt chúng vào trong sự hài hoà của cảnh quan sinh thái

 Phương pháp nghiên cứu DLST cũng mang nội dung sự kết hợp các khoa

học đa liên ngành nhưng có đặc thù của riêng mình

DLST là một khoa học đa liên ngành, nghĩa là sự kết hợp nhiều ngành khoa học (du lịch, sinh thái môi trường, sinh học, tài nguyên, kinh tế, xã hội học, lâm học )

Vì vậy để nghiên cứu môi trường sinh thái có kết quả tốt cần phải kết hợp một số ngành học với nhau, kế thừa thành tựu, phát huy tính mới, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại Phương pháp luận nghiên cứu DLST cũng quan niệm đây

Trang 40

ngoài và nhiều chiều giữa các yếu tố, các thành phần của môi trường Môi trường sinh thái là một dạng đặc biệt luôn luôn biến động nên cần nghiên cứu chiều hướng của sự biến động đó Để xác định chiều hướng và tốc độ phát triển của DLST, lại cần phải nghiên cứu tính đồng nhất, tính trội của các nhân tố tác động.Cần tìm hiểu đối tượng khách họ thích gì, phản ứng như thế nào với những hiện trạng, loại hình DLST

Có như vậy mới tránh được những kết quả và kết luận phiến diện và dự đoán được tương lai một cách đúng đắn

b Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

 Phương pháp nhờ chuyên gia

 Phương pháp lấy mẫu phân tích hoá lí sinh

 Cá phương pháp sinh thái ứng dụng trong DLST

 Phương pháp mô hình mô phỏng

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN