Mặt khác, quy định tại Chương IV Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS 2003 thì chủ thể tham gia tố tụng bao gồm mười hai chủ thể, nhưng do thời gian nghiên cứu đề tài còn hạn chế nên người viế
Trang 1
Trang 2Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cha mẹ, những người đã lo cho em có điều kiện để được học tập tại trường Đại học Cần Thơ trong suốt bốn năm qua Đồng thời em cũng xin cảm ơn trường Đại học Cần Thơ, Khoa Luật đã tạo điều kiện cho em có cơ hội tham gia học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp lớp cử nhân luật
Cảm ơn Quý thầy cô trong những năm qua đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báo cho em trong suốt quá trình học tập Bên cạnh đó, em xin gửi lời cảm
ơn đến các anh chị, các bạn cùng khóa đã giúp đỡ em trong việc tìm kiếm tài liệu,
động viên em trong những lúc khó khăn Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Cô
Mạc iáng hâu – người đã hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ em nghiên cứu đề tài này
Cô đã nhiệt tình hướng dẫn em từ lúc tìm tài liệu tham khảo cho đến lúc đào sâu nghiên cứu, với sự nhắc nhở, gợi mở vấn đề của cô đã giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của mình Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn quý thầy
cô
Cần Thơ, ngày 7 tháng 5 năm 2012
Sinh viên thực hiện
YỄ Ồ À
Trang 3- -
……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Trang 4XÉ Ủ Ả V Ê P Ả B Ệ
- -
……… ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2012
Cán bộ phản biện
Trang 5Trang
Ó 1
1 Á Q Á VỀ Ủ Ể Ế À Ố Ụ VÀ M Ố Ụ 5
1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
1.1.1 Chủ thể tiến hành tố tụng 5
1.1.1.1 Khái niệm chủ thể tiến hành tố tụng 5
1.1.1.2 Vị trí, vai trò của chủ thể tiến hành tố tụng 5
1.1.1.3 Đặc điểm của chủ thể tiến hành tố tụng 9
1.1.1.4 Phân loại chủ thể tiến hành tố tụng 11
1.1.2 Người tham gia tố tụng 13
1.1.2.1 Khái niệm người tham gia tố tụng 13
1.1.2.2 Vị trí, vai trò của người tham gia tố tụng 14
1.1.2.3 Đặc điểm của người tham gia tố tụng 16
1.1.2.4 Phân loại người tham gia tố tụng 18
1.1.3 Giai đoạn tố tụng 19
1.1.3.1 Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự 19
1.1.3.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của từng giai đoạn tố tụng hình sự 20
1.2 ý luận chung về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng 22
1.2.1 an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i người tạm gi , an,
o, người ào h a à an h gi a m t n mang n nhà nư i
m t n không mang n nhà nư 22
1.2.2 an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i người tạm gi , an,
o, người ào h a à an h nh đ ng t ong i t anh n, đưa a h ng , tài i , đ t, ầ t ư T a n 24
2 Ữ Q Y Ị Ủ P ÁP Ệ À VỀ MỐ Q Ệ Ữ Ủ Ể Ế À Ố Ụ VỚ BỊ M Ữ , BỊ , BỊ Á , BÀ Ữ 29
Trang 6t ong giai đoạn khởi tố 29
2.1.2 Mối an h gi a Cơ an đi t a, Vi n kiểm s t i người ào h a t ong giai đoạn khởi tố 34
2.2 rong giai đoạn điều tra 34
2.2.1 Mối an h gi a Cơ an đi t a, Vi n kiểm s t i an t ong giai đoạn đi t a 35
2.2.2 Mối an h gi a Cơ an đi t a, Vi n kiểm s t i người ào h a t ong giai đoạn đi t a 38
2.3 rong giai đoạn truy tố 44
2.3.1 Mối an h gi a Vi n kiểm s t i an 45
2.3.2 Mối an h gi a Vi n Kiểm S t i người ào h a 48
2.4 rong giai đoạn xét xử 50
2 .1 Mối an h gi a T a n, Vi n kiểm s t i o 50
2 .2 Mối an h gi a T a n, Vi n kiểm s t i người ào h a 52
3 MỘ SỐ Ồ VÀ Ả P ÁP Ề X Ấ 56
3.1 Vấn đề pháp lý 56
3.1.1 Mối an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i người mời àm i , người tạm gi , người ào h a t ong giai đoạn khởi tố 56
3.1.1.1 Tồn tại 56
3.1.1.2 Đề xuất 59
3.1.2 Mối an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i an, người ào h a t ong giai đoạn đi t a 61
3.1.2.1 Tồn tại 61
3.1.2.2 Đề xuất 63
3.1.3 Mối an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i an, người ào h a t ong giai đoạn t tố 64
3.1.3.1 Tồn tại 64
3.1.3.2 Đề xuất 65
Trang 73.1.4.1 Tồn tại 66
3.1.4.2 Đề xuất 68
3.2 Về mặt thực tiễn 68
3.2.1 h ng t n tại 69
3.2.1.1 ối uan hệ gi a chủ thể tiến hành tố tụng v i người bị tạm gi trong giai đoạn h i tố vụ án 69
3.2.1.2 ối uan hệ gi a chủ thể tiến hành tố tụng v i bị can, người bào ch a trong giai đoạn điều tra 70
3.2.1.3 ối uan hệ gi a chủ th tiến hành tố tụng v i bị can, người bào ch a trong giai đoạn truy tố 72
3.2.1.4 ối uan hệ gi a chủ thể tiến hành tố tụng v i bị cá, người bào ch a trong giai đoạn x t x 73
3.2.2 g n nh n à gi i h 77
3.2.2.1 Nguyên nhân 77
3.2.2.2 iải pháp 80
Ế 83
D MỤ À Ệ M Ả
Trang 8NÓI
1 ý do chọn đề tài
Mục tiêu đặt ra của tố tụng hình sự là tìm ra sự thật của vụ án, xử lý nghiêm minh người phạm tội, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội Thế nhưng, sự thực là hệ thống tố tụng hình sự nào cũng gặp phải một mâu thuẫn hay một sức ép giữa một bên là những yêu cầu về giải quyết nhanh chóng, kịp thời các vụ án hình
sự để bảo đảm sự ngăn ngừa các hành vi phạm tội, với một bên là việc bảo đảm tính công bằng để bảo vệ các quyền lợi của công dân (khi người này bị tình nghi là phạm tội) Bởi rằng, nếu chúng ta kích hoạt các yếu tố nhấn mạnh sự ngăn ngừa tội phạm thì vô hình chung hay một tất yếu xảy ra là những “rào chắn” bảo vệ quyền lợi của công dân sẽ bị xâm hại và ngược lại Chính sự nhấn mạnh việc cần thiết phải giải quyết nhanh chóng và kịp thời các vụ án hình sự là một nguyên nhân mà hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam đã quá “coi trọng” các cơ quan tiến hành tố tụng và chưa coi trọng vai trò của người bị tình nghi, người bào chữa trong tố tụng như một
sự phản biện tích cực Cụ thể, từ năm 1945 đến 1975 nước ta luôn sống trong cảnh thời chiến bởi vậy, lực lượng công an có một quyền lực tương đối lớn và độc lập được Nhà nước trao cho để đối phó mạnh mẽ với tình hình thời điểm đó, với mục tiêu trên hết là an ninh quốc gia
Sau năm 1975, các lực lượng thù địch vẫn luôn chống phá và trong nước thì trãi qua một giai đoạn bao cấp kéo dài, việc cải cách tư pháp chưa chú trọng Pháp luật tố tụng hình sự được đặt ra với ý thức nhấn mạnh mặt đấu tranh tội phạm mà chưa chú trọng việc bảo đảm quyền công dân (khi những người này bị vướng vào vòng tố tụng); tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tố tụng giải quyết vụ án mà quên đi tính công bằng khi không tạo điều kiện đầy đủ cho công dân được bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ Phải thừa nhận rằng suốt một thời gian dài, hệ thống
tố tụng kiểu cũ này đã phát huy hiệu quả bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự xã hội Tuy nhiên, khoảng 10 năm trở lại đây, một nhu cầu cấp thiết về cải cách tư pháp, trong đó có cải cách hệ thống tố tụng hình sự Việc Bộ chính trị đã ban hành các Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2001 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã thể hiện một tư tưởng hoàn toàn mới mẻ đối với Việt Nam Trong đó định hướng xây dựng một hệ thống tố tụng hình sự coi trọng trước hết việc bảo đảm quyền lợi của công dân như tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm
Trang 9giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn và xử lý kịp thời các trường hợp oan sai trong bắt, giữ; các cơ quan có trách nhiệm tạo điều kiện để người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại tòa… Nhưng cho đến nay, những vấn đề trên vẫn chưa được đảm bảo về cả phía quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng luật Điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án không khách quan, dân chủ, công bằng dẫn đến việc Tòa án ra bản
án thiếu tính thuyết phục
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những bất cập, hạn chế của quy định pháp luật
và thực tế áp dụng về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tình nghi, người bào chữa là cấp thiết để đưa ra giải pháp khắc phục Nhằm đảm bảo cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa được bình đẳng với chủ thể tiến hành tố tụng trong một số hoạt động cần thiết để quá trình giải quyết vụ án được khách quan, dân chủ theo định hướng cải cách tư pháp là nâng cao hơn nữa quyền dân chủ của công dân Đó cũng là lý do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiên cứu
đề tài luận văn này
2 Phạm vi nghiên cứu
Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tố tụng hình sự được phân chia thành năm giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người tham gia tố tụng chỉ thể hiện trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà không có trong giai đoạn thi hành án Mặt khác, quy định tại Chương IV Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 thì chủ thể tham gia tố tụng bao gồm mười hai chủ thể, nhưng do thời gian nghiên cứu đề tài còn hạn chế nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa trong bốn giai đoạn nêu trên
3 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài “ ối uan hệ của chủ thể tiến hành tố tụng v i người
bị tạm gi , bị can, bị cáo, người bào ch a ua các giai đoạn tố tụng” với mục tiêu
hướng đến là nhằm làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn áp dụng của các quy định pháp luật về mối quan hệ giữa hai nhóm chủ thể trên Qua đó, thấy được những bất cập, tồn tại trong những quy định cũng như trong thực tiễn áp dụng để đề ra phương hướng, đường lối giải quyết nhằm nâng cao hơn nữa dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự Đảm bảo việc giải quyết các vụ án hình sự nhanh chóng, kịp thời ngăn ngừa hành vi phạm tội đồng thời đảm bảo tính công bằng để bảo vệ quyền cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa
Trang 104 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống pháp luật
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Khi nghiên cứu đề tài này người viết sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: sưu tầm và tổng hợp các bài nghiên cứu trên sách báo, tạp chí chuyên ngành của các luật gia, các bài báo trên internet, sau đó hệ thống, phân loại, chọn lọc cho phù hợp với nội dung từng chương Ngoài ra, trong quá trình làm bài, người viết cũng sử dụng phương pháp so sánh, liệt kê, chứng minh, giải thích
để làm rõ vấn đề
5 Bố cục luận văn
Ngoài những nội dung như lời cảm ơn, mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Khái uát về chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
Trong chương này, người viết tập trung trình bày những vấn đề chung về các khái niệm liên quan đến đề tài bao gồm: chủ thể tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng, các giai đoạn tố tụng hình sự Bên cạnh làm rõ các thuật ngữ cơ bản trên, người viết còn phân tích cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa qua từng giai đoạn tố tụng Những nội dung trên là tiền đề để người viết nghiên cứu quy định pháp luật ở Chương 2 và những hạn chế, bất cập từ thực tiễn áp dụng ở Chương 3
Chương 2: Nh ng uy định của pháp luật hiện hành về mối uan hệ gi a chủ thể tiến hành tố tụng v i người bị tạm gi ,bị can, bị cáo, người bào ch a
Trong chương này, người viết tập trung phân tích các quy định của pháp luật,
mà chủ yếu là quy định của BLTTHS 2003 về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành
tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa qua từng giai đoạn tố tụng Tương ứng với mỗi chương, ngoài việc phân tích quy định của pháp luật người viết cũng minh họa bằng các ví dụ với từng nội dung trình bày Việc nghiên cứu Chương 2 cũng giúp người viết phát hiện ra các tồn tại, thiếu sót của quy định pháp luật làm cơ sở nghiên cứu Chương 3
Trang 11Chương 3: Tồn tại và giải pháp đề xuất
Chương này, người viết tập trung nghiên cứu những tồn tại của quy định pháp luật và những bất cập từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật để đưa ra đề xuất, giải pháp có tính chất gợi mở nhằm khắc phục những hạn chế để nâng cao hơn nữa dân chủ trong quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa qua từng giai đoạn tố tụng
Mặc dù đã rất cố gắng trong việc nghiên cứu nhưng do chưa có điều kiện cọ xát nhiều với thực tế, kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên trong quá trình tìm hiểu, phân tích, trình bày đề tài người viết không tránh khỏi những khuyết điểm nhất định Rất mong được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô cũng như các bạn
sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn
Trang 121.1.1.1 Khái niệm chủ thể tiến hành tố tụng
Một trong những vấn đề đầu tiên khi tìm hiểu về BLTTHS là chủ thể có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng để thực thi tính nghiêm minh của pháp luật vào đời sống xã hội Việc xác định chủ thể có thẩm quyền thực thi các quy định của pháp luật góp phần làm rõ thẩm quyền cũng như chức năng của họ trong tố tụng hình sự
Trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng như trong khoa học pháp lý vẫn chưa có một khái niệm cụ thể về chủ thể tiến hành tố tụng Tuy nhiên, tại Điều 33 BLTTHS
có liệt kê hai chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng bao gồm cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng Trong đó, “Cơ uan tiến hành tố tụng là các cơ quan Nhà nư c c th m uyền đư c giao thực hiện các ch c năng tố tụng trong việc h i tố, điều tra, truy tố, x t x vụ án hình sự” 1
Để thực hiện nhiệm vụ của các
cơ quan tiến hành tố tụng, Nhà nước giao thẩm quyền cho một số người được quyền nhân danh Nhà nước, có quyền áp dụng các biện pháp hợp pháp do pháp luật quy định nhằm giải quyết vụ án đúng đắn, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân Những người này được gọi là người tiến hành tố
tụng Như vậy, “người tiến hành tố tụng là nh ng người đại iện cho cơ uan tiến hành tố tụng thực hiện nh ng nhiệm vụ đư c pháp luật uy định nh m giải uyết vụ
án hình sự” 2
Từ những khái niệm trên có thể suy ra chủ thể tiến hành tố tụng là những cơ quan (cơ quan tiến hành tố tụng), những cá nhân (người tiến hành tố tụng) có thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm ngăn chặn tội phạm, xử lý hành vi phạm tội, trừng trị, giáo dục người phạm tội đồng thời bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.1.2 Vị trí, vai trò của chủ thể tiến hành tố tụng
Chủ thể tiến hành tố tụng là chủ thể nhân danh Nhà nước thực hiện các hoạt
động như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong tố tụng hình sự o đó, tại Điều 10
1 Mạc Giáng Châu; Nguyễn Chí Hiếu, iáo trình Tố tụng hình sự Việt Nam – c phần 1 Nh ng vấn đề
chung của uật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr 21
2 Mạc Giáng Châu; Nguyễn Chí Hiếu, iáo trình Tố tụng hình sự Việt Nam – c phần 1 Nh ng vấn đề
chung của uật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr 32
Trang 13BLTTHS đã quy định “Trách nhiệm ch ng minh t i phạm thu c về các cơ uan tiến hành tố tụng ị can, bị cáo c uyền nhưng h ng bu c phải ch ng minh là mình
v t i” Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án sẽ tiến hành các hoạt động nhằm
làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Cả ba
cơ quan đều có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng mỗi
cơ quan sẽ có những hoạt động riêng biệt để đi tìm sự thật của vụ án
Vị trí, vai trò của Cơ uan điều tra
Trong tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra là một trong những cơ quan có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án Là một trong những cơ quan tiếp xúc đầu tiên với vụ án, Cơ quan điều tra có vai trò xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm hay không để từ đó ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự Bên cạnh
đó, Cơ quan điều tra cũng thực hiện hoạt động đặc thù của mình chính là trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra Cơ quan điều tra được giao nhiệm vụ tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ và có vai trò quan trọng trong việc lập hồ sơ
vụ án Giai đoạn điều tra là một giai đoạn có ý nghĩa cực k quan trọng trong tố tụng hình sự, là cơ sở để chứng minh tội phạm, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của
vụ án Để chứng minh thì phải có chứng cứ, do đó vấn đề quan trọng nhất của chứng minh là chứng cứ Trong giai đoạn này Cơ quan điều tra phải áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định nhằm thu thập chứng cứ, cả chứng cứ buộc tội và
gỡ tội nhằm xác định lại những vấn đề cần làm sáng tỏ để tìm ra sự thật của vụ án Nếu như không có Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ của mình thì tất cả
các giai đoạn tiếp sau cũng không thể tiến hành được Điều này xuất phát từ “m hình tố tụng của nư c ta là m hình tố tụng pha tr n” 3
của mô hình tố tụng thẩm
vấn và tố tụng tranh tụng, trong đó tính chất chủ đạo của n là tố tụng th m vấn” 4
Vì vậy, trong suốt các giai đoạn của tố tụng hình sự luôn tồn tại một hồ sơ được cơ quan tiến hành tố tụng thống nhất lập từ giai đoạn điều tra Cơ sở để lập hồ sơ chính
là từ những chứng cứ đã thu thập được Cơ quan điều tra tiến hành xem xét, đánh giá, so sánh rút ra những kết luận Đồng thời Cơ quan điều tra sử dụng những tài liệu có được và những lập luận chặt chẽ để từ đó đưa ra bản kết luận điều tra, đề nghị Viện kiểm sát truy tố người phạm tội ra trước Tòa Trong khi thực hiện nhiệm
vụ, Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm từ những hành động của mình
Trang 14Vị trí, vai trò của Viện iểm sát
Viện kiểm sát có vị trí, vai trò đặc biệt trong tố tụng hình sự không chỉ thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự mà còn có nhiệm vụ thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội Đây là hoạt động đặc biệt mà chỉ có Viện kiểm sát mới có thẩm quyền thực hiện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố thông qua các hoạt động như khởi
tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hay không khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố bị can Đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra, quyết định thay đổi hoặc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam Ngoài
ra, một hoạt động thể hiện rõ nhất vai trò của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là việc ra quyết định truy tố bị can sau khi xem xét bản kết luận của Cơ quan điều tra Quyền thay mặt Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa và đề nghị Tòa án áp dụng loại hình phạt và mức hình phạt đối với người phạm tội
Bên cạnh đó, Viện kiểm sát luôn giám sát mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, phê chuẩn các quyết định liên quan đến việc giải quyết vụ án Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật nếu phát hiện có hành vi vi phạm, Viện kiểm sát sẽ tiến hành kiến nghị khắc phục sửa chữa những thiếu sót sai lầm trong quá trình tố tụng, đề nghị cơ quan có thẩm quyền thay đổi người tiến hành tố tụng, yêu cầu điều tra bổ sung… Đồng thời, Viện kiểm sát cũng phải chịu trách nhiệm về các trường hợp oan sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, ra quyết định khởi tố vụ
án thuộc phạm vi thẩm quyền
Vị trí, vai trò của Tòa án
Tòa án là chủ thể duy nhất có chức năng xét xử Theo Hiến pháp 1992 thì Tòa
án là một trong bốn cơ quan quan trọng của bộ máy Nhà nước và là cơ quan duy nhất có quyền xét xử (Điều 127 Hiến pháp 1992) Tòa án có nhiệm vụ xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không phụ thuộc vào kết luận của hoạt động điều tra, quyết định truy tố của Viện kiểm sát cũng như ý kiến của những người tham gia tố tụng khác Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, bảo đảm cho việc xét xử được khách quan, toàn diện Việc xét xử của Tòa án là giai đoạn tiếp theo của quá trình đi tìm sự thật của vụ án Tòa án đóng vai trò chủ động, tích cực, phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án Cũng như Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, Tòa án được giao trách nhiệm chứng minh tội phạm, bảo đảm cho việc xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Theo quy định của pháp luật, Tòa án tiếp xúc với hồ sơ vụ
Trang 15án từ rất sớm, thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án của Tòa án tương đối dài Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, Tòa án có quyền trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thấy cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên tòa được, khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác, khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Tại phiên tòa mọi chứng cứ đều được xem xét công khai là cơ sở để Tòa án ra phán quyết cuối cùng
Ngoài ra, Tòa án cũng là cơ quan duy nhất có quyền xác định một người có tội
và phải chịu hình phạt Theo Điều 9 BLTTHS thì Kh ng ai bị coi là c t i và phải chịu hình phạt hi chưa c bản án ết t i của Tòa án đ c hiệu lực pháp luật”
Trong tố tụng hình sự, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ là người bị buộc tội hoặc nghi là có tội nhưng chưa phải là người có tội Cho đến khi Tòa án xem xét, đánh giá chứng cứ chính thức tại phiên tòa và có đủ cơ sở để kết tội bị cáo bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì người đó mới được xem là người phạm tội Chính vì vậy, người bị tình nghi thực hiện tội phạm được đối xử không phải như người đã bị kết án Họ vẫn được các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tạo điều kiện để thực hiện quyền như đưa ra chứng cứ, yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án để chứng minh họ không có tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Khi xem xét các tình tiết của vụ án, nếu bị cáo phạm tội thì Tòa án sẽ căn
cứ vào quy định của pháp luật đưa ra hình phạt tương xứng với hành vi mà họ thực hiện Tòa án sẽ sử dụng biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thi hành các quyết định
mà mình đã ban hành
Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng
Trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng là những cơ quan thực hiện nhiệm vụ giải quyết các vụ án Thế nhưng, đây chỉ là tên gọi cho đại diện chủ thể có thẩm quyền chung còn chủ thể trực tiếp triển khai cũng như tiến hành các hoạt động tố tụng lại là những con người cụ thể Pháp luật tố tụng hình sự gọi họ là người tiến hành tố tụng Tương ứng với mỗi cơ quan đều có đại diện thực hiện các hoạt động theo từng chuyên môn Người tiến hành tố tụng có trách nhiệm trực tiếp thực hiện các hoạt động như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử để giải quyết vụ án góp phần trừng trị, giáo dục người phạm tội đồng thời có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Vì trực tiếp tiến hành nên hoạt động của người tiến hành tố tụng có ảnh hưởng đáng kể đến việc giải quyết vụ án Nếu người tiến hành tố tụng thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm của mình thì việc giải quyết vụ án sẽ nhanh chóng, khách quan, dân chủ Ngược lại, nếu người tiến hành tố tụng có hành vi vi phạm pháp luật
Trang 16tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án có thể gây ra hậu quả về nhiều mặt Trước hết, việc này sẽ khiến quá trình giải quyết vụ án không thể đạt được mục đích
đề ra, làm giảm sút lòng tin của quần chúng nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Mặt khác, hành vi tiêu cực đó còn có thể xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác ghi nhận, bảo vệ o đó,
có thể thấy người tiến hành tố tụng có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án
vì vậy họ cần phải ý thức được nhiệm vụ và trách nhiệm của mình để thực hiện nghiêm khắc các hoạt động tố tụng Vì lẽ đó mà pháp luật ghi nhận khi thực hiện nhiệm vụ của mình nếu vi phạm thì người tiến hành tố tụng phải tự chịu trách nhiệm cá nhân Đây cũng là quy định tiến bộ để người tiến hành tố tụng thận trọng hơn trong việc giải quyết vụ án bảo đảm quyền và lợi ích của công dân và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa
Nhìn chung, cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là chủ thể có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự Mặc dù tên gọi có khác nhau nhưng tựu trung lại họ là chủ thể tiến hành tố tụng có nhiệm vụ chung là xác định sự thật của
vụ án
1.1.1.3 Đặc điểm của chủ thể tiến hành tố tụng
Khi tìm hiểu dưới góc độ pháp lý, thì chủ thể tiến hành tố tụng có những đặc điểm cơ bản sau:
Th nh t, chủ thể tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự là nh ng chủ thể
mang uyền lực Nhà nư c
Chủ thể tiến hành tố tụng là những cơ quan (cơ quan tiến hành tố tụng), người
có chức vụ quyền hạn (người tiến hành tố tụng) trong bộ máy nhà nước, được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật o tính chất phức tạp của vụ án hình sự mà không phải bất k cơ quan tổ chức nào cũng có quyền tiến hành các hoạt động tố tụng mà chỉ có những cơ quan được Nhà nước giao cho quyền lực thì mới được tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
o được Nhà nước trao quyền lực nên chủ thể tiến hành tố tụng mới có quyền
áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ra các quyết định mà các chủ thể khác bắt buộc phải chấp hành Nếu như các quy tắc đạo đức, phong tục được con người tuân thủ chủ yếu nhờ vào sự tự giác, lòng tin thì các quy phạm pháp luật nói chung và các quyết định mà chủ thể tiến hành tố tụng nói riêng ban hành được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế vì bản chất của các quyết định này là bắt buộc các chủ thể phải thực hiện Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế với nhiều mục đích khác
Trang 17nhau Đặc điểm của các biện pháp cưỡng chế là sự tác động một chiều không phụ thuộc vào ý chí của bên bị tác động xuất phát từ những căn cứ do pháp luật quy định Ví dụ như nhằm đảm bảo thu nhận và ghi nhận chứng cứ như khám người, khám chỗ ở, địa điểm, thu giữ thư tín, bưu kiện, bưu phẩm… Cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành tổ chức việc khám người tại nơi ở hoặc nơi làm việc để tìm ra bằng chứng chứng minh tội phạm Ngoài ra, để ngăn chặn tội phạm, trừng trị người phạm tội cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động giải quyết vụ án chủ thể tiến hành
tố tụng đã ra các quyết định như tạm giữ, tạm giam người bị tình nghi Những biện pháp cưỡng chế này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình lấy lời khai, giao các quyết định được thuận lợi mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xét
xử và thi hành án
Những biện pháp này là phương tiện hữu hiệu giúp các chủ thể tiến hành tố tụng kịp thời ngăn chặn tội phạm đang hoặc sẽ xảy ra cũng như khắc phục hành vi cản trở công lí của những người tham gia tố tụng thiếu thiện chí Tuy nhiên, khi các biện pháp đó được áp dụng, do tính chất cưỡng chế khá cao, chúng luôn tạo ra hệ quả tất yếu không mong muốn đối với các chủ thể bị áp dụng và đối tượng bị áp dụng là tạm thời tước đi hoặc hạn chế một số quyền công dân cơ bản của đối tượng
bị áp dụng như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm về chổ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do đi lại… Đây là những quyền con người thiêng liêng của mỗi công dân mà pháp luật của bất kì quốc gia văn minh nào cũng đều thừa nhận và bảo hộ
Th hai, chủ thể tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự giải uyết các vụ án
h ng vì l i ích cá nhân
Tại đoạn 2 Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự quy định luật tố tụng hình sự
g p phần bảo vệ chế đ x h i chủ ngh a, bảo vệ l i ích của Nhà nư c, uyền và l i ích h p pháp của c ng ân, t ch c, bảo vệ trật tự pháp luật x h i chủ ngh a, đồng thời giáo ục m i người ý th c tuân th o pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống
t i phạm” Vấn đề tội phạm là vấn đề xã hội, việc giải quyết nhằm bảo vệ lợi ích
công cộng, lợi ích của toàn xã hội Vì vậy, trong mục đích của BLTTHS việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước được đặt lên hàng đầu mà không phải vì chính lợi ích của chủ thể tiến hành tố tụng Chủ thể tiến hành tố tụng thay mặt Nhà nước thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo đảm quyền lợi của người bị xâm phạm Nếu người tiến hành tố tụng có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì phải từ chối hoặc bị thay đổi (Điều 42, 44, 45, 46, 47 BLTTHS 2003) Vì nếu việc giải quyết vụ án vì lợi ích của người tiến hành tố tụng sẽ
Trang 18không khách quan, dân chủ Vì vậy, chủ thể tiến hành tố tụng giải quyết vụ án không vì lợi ích của cá nhân sẽ bảo đảm việc xét xử được công minh, chính xác
Th a, chủ thể tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự chủ đ ng thực hiện
nhiệm vụ uyền hạn của mình m t cách đ c lập và chỉ tuân th o pháp luật
Ngay từ khi nhận được tin báo về tội phạm hoặc tự mình phát hiện hành vi phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp cần thiết để xác định xem vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm không Nếu vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chủ động khởi tố vụ án, tự mình tiến hành các hoạt động nhằm giải quyết vụ án mà không cần phải có sự yêu cầu từ phía quần chúng nhân dân Mặc dù sự việc có biểu hiện của tội phạm nhưng cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét cẩn trọng, dựa vào những chứng cứ thu thập được để đưa ra kết luận chứ không được dựa vào ý chí chủ quan của mình Bên cạnh đó chủ thể tiến hành tố tụng cũng chủ động trong hoạt động thu thập chứng cứ bởi vì họ có trách nhiệm chứng minh tội phạm Chủ thể tiến hành tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, yêu cầu các cơ quan khác cung cấp tài liệu và tình tiết liên quan đến vụ
tiến hành tố tụng được tiến hành theo một trật tự nhất định Đồng thời, các hoạt động này cũng mang tính cưỡng chế cao Chủ thể tiến hành tố tụng phải thực hiện các hoạt động được pháp luật quy định và chịu trách nhiệm về những hành vi sai trái khi tiến hành tố tụng
1.1.1.4 Phân loại chủ thể tiến hành tố tụng
Theo quy định tại Điều 33 BLTTHS thì chủ thể tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
Trong đó, cơ quan tiến hành tố tụng gồm có:
Cơ quan điều tra: Cơ quan điều tra là một trong số các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố người đã thực hiện hành vi phạm tội, tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng
Trang 19các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa5 Theo tinh thần tại đoạn 2 khoản 4 Điều 110 BLTTHS thì Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất cả các tội phạm theo nguyên tắc Cơ quan điều tra cấp nào thì điều tra những vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp đó Cơ quan điều tra bao gồm các đơn vị như
Cơ quan điều tra ở lực lượng Công an nhân dân, Cơ quan điều tra thuộc Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát nhân dân Cơ quan điều tra thuộc Quân đội nhân dân điều tra những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra các loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là các cơ quan tư pháp Còn đối với Cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân thì điều tra tất cả tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm thẩm quyền của Cơ quan điều tra thuộc Quân đội và Cơ quan điều tra thuộc Viện kiểm sát6 Tuy mỗi đơn vị được tổ chức và có chức năng, nhiệm
vụ riêng biệt nhưng mục đích chung của họ là tìm ra sự thật của vụ án
Viện kiểm sát: Hiến pháp 1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn cơ quan quan trọng tạo nên bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng kiểm sát và thực hành quyền công tố Viện kiểm sát được tổ chức thành Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện; các Viện kiểm sát quân sự Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở địa phương mình7 Đối với các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quân đội8 Trong đó, Viện kiểm sát nhân dân các cấp sẽ chịu sự lãnh đạo của Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Tòa án: Theo Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định thì “Tòa án nhân ân tối cao, các Tòa án nhân ân địa phương, các Tòa án o luật định là nh ng cơ uan
x t x của nư c C ng hòa x h i chủ ngh a Việt Nam” Tòa án nhân dân được tổ
chức thành Tòa án nhân dân tối cao; Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Tòa án nhân dân cấp huyện; các Tòa án quân sự Tòa án quân sự sẽ xét xử các vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật Còn đối với Tòa án nhân dân thì có thẩm quyền xét xử tất cả các vụ án (trừ trường hợp các vụ án thuộc
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=1464aWQ9MzM2NzYmZ3JvdXBpZD0zJmtp bmQ9JmtleXdvcmQ9&page=1
6 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002; Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002; Thông tư liên tịch Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Quốc phòng – Bộ Công an Số 01/2005/TTLT –
T N TC – VKSN TC – BQP – BC ngày 18 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa
án quân sự
7 Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002
8 Điều 1 Pháp lệnh số 05/2002/PL- BTVQH về tổ chức Viện kiểm sát quân sự
Trang 20thẩm quyền của Tòa án quân sự) Trong đó, Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét
xử cao nhất9 sẽ chỉ đạo việc xét xử Tòa án các cấp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 33 BLTTHS 2003 thì người tiến hành tố tụng gồm có:
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên: Là những chức danh tư pháp trong Cơ quan điều tra Trong đó, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động điều tra, ra các quyết định liên quan đến hoạt động điều tra Điều tra viên là người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập, nghiên cứu chứng cứ, xác định sự kiện phạm tội, tìm ra kẻ phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tính chất và mức
độ do tội phạm gây ra và những tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là các chức danh
tư pháp trong cơ quan Viện kiểm sát Trong đó, Viện trưởng, Phó viện trưởng có nhiệm vụ trực tiếp tổ chức và chỉ đạo các hoạt động thực hành quyền công tố, ra các quyết định liên quan đến hoạt động công tố Kiểm sát viên có nhiệm vụ trực tiếp tiến hành các hoạt động mà Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát giao đồng thời thực hiện việc buộc tội bị cáo tại phiên tòa Trong hoạt động của mình, Kiểm sát viên không chịu ảnh hưởng của bất cứ cơ quan nào, không chịu bất cứ áp lực nào mà chỉ tuân theo pháp luật
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án là những chức danh tư pháp trong Tòa án Chánh án, Phó Chánh án có nhiệm vụ tổ chức công tác xét xử, ra các quyết định liên quan đến hoạt động xét xử đồng thời kiểm tra, giám sát và quản lý các công việc của Thẩm phán Thẩm phán có nhiệm
vụ trực tiếp tiến hành xét xử vụ án, ra các quyết định phục vụ cho công tác xét xử Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật đại diện nhân dân cùng với Thẩm phán tiến hành xét xử các vụ án Thư ký tòa án có nhiệm vụ hỗ trợ
và phụ giúp Thẩm phán tiến hành các công việc liên quan đến quá trình giải quyết
vụ án
1.1.2 gười tham gia tố tụng
1.1.2.1 Khái niệm người tham gia tố tụng
Việc giải quyết vụ án là việc các chủ thể tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự nhằm tìm ra sự thật của vụ án Nếu là quan hệ thì ít nhất phải có hai bên cùng tham gia và có sự gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, trong quá trình giải quyết các vụ án, ngoài chủ thể tiến hành tố tụng mang quyền lực nhà nước có thẩm
9 Điều 18 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002
Trang 21quyền giải quyết vụ án thì còn có một nhóm người không mang quyền lực nhà nước tham gia vào quan hệ tố tụng đó là người tham gia tố tụng Theo từ điển Tiếng Việt
“tham gia” có nghĩa là “g p phần hoạt đ ng của mình vào m t hoạt đ ng, m t t
ch c chung nào đ 10 Bên cạnh đó “tố tụng” là việc “ hiếu iện tại Tòa án” Từ
những khái niệm này có thể thấy người tham gia tố tụng là người góp hoạt động của mình vào hoạt động chung của việc giải quyết vụ án
Khi xem xét đến chế định người tham gia tố tụng trong BLTTHS cũng như trong các văn bản liên quan đều có quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của những người tham gia tố tụng Tuy nhiên lại không đưa ra một khái niệm nào về người tham gia tố tụng Tại Chương IV từ Điều 48 đến Điều 61 BLTTHS có liệt kê mười hai chủ thể tham gia tố tụng Mỗi người đều có vai trò riêng biệt khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự, có người tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, có người tham gia tố tụng để giúp đỡ những người có quyền và lợi ích hợp pháp, có người tham gia tố tụng chỉ nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng
xác định sự thật của vụ án Vì vậy, có thể hiểu Người tham gia tố tụng là nh ng chủ thể c uyền và l i ích bản thân cần đư c bảo vệ trư c pháp luật, nh ng người
c ngh a vụ pháp lý phải tham gia vào việc giải uyết vụ án hình sự th o uy định của pháp luật tố tụng hình sự, và nh ng người tham gia tố tụng để h tr pháp lý cho nh ng người tham gia tố tụng hác” 11
1.1.2.2 Vị trí, vai trò của người tham gia tố tụng
Vị trí, vai trò của người bị tạm gi , bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tuy họ là đối tượng bị buộc tội hoặc nghi là có tội nhưng vẫn chưa phải là người có tội Tuy nhiên người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo không được xem là một bên trong quan hệ tố tụng mà họ
được xem như là đối tượng xem xét của các cơ quan tiến hành tố tụng “Khác v i
m hình tố tụng hình sự tranh tụng, tố tụng hình sự Việt Nam h ng coi vụ án hình
sự là tranh chấp, xung đ t pháp lý gi a các b n” 12 việc giải quyết vụ án hình sự hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những tên gọi đối với cùng một người qua các giai đoạn tố tụng khác nhau Họ không có quyền thương lượng với chủ thể tiến hành tố tụng về việc giải quyết vụ án cũng như tự đặt ra mức bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của họ gây ra Mặt khác, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng không được trang bị đầy đủ quyền
10 Từ điển tiếng Việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/
11 Mạc Giáng Châu; Nguyễn Chí Hiếu, iáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam – h c phần 1, Khoa Luật –
Trường Đại học Cần Thơ, 2010, tr 49
12 Lê Hữu Thể; Nguyễn Thị Thủy, Nghiên cứu lập pháp, oàn thiện m hình tố tụng hình sự Việt Nam th o
y u cầu cải cách tư pháp, mo-hinh-to-tung-hinh-su-viet-nam-theo-yeu-cau-cai-cach-tu-phap , truy cập ngày 16/02/2012
Trang 22http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/ly-luan-ve-nha-nuoc/hoan-thien-khi tham gia vào quan hệ tố tụng Nếu chủ thể tiến hành tố tụng được biết đến là chủ thể có trách nhiệm và thẩm quyền đi tìm sự thật của vụ án, vì vậy họ có vai trò tích cực, chủ động trong việc thu thập chứng cứ Ngược lại, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ có vai trò thụ động trong quá trình giải quyết vụ án, phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan tiến hành tố tụng Họ chỉ có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, được chủ thể tiến hành tố tụng tạo điều kiện để thực hiện quyền lợi của mình Chủ thể tiến hành tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tác động đến người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo để ngăn chặn tội phạm đồng thời đánh giá những hành động của họ nhằm rút ra những nhận xét, kết luận cần thiết cho việc giải quyết vụ
án hình sự
Vị trí, vai trò của người bào ch a trong tố tụng hình sự
Người bào chữa có vai trò tích cực thúc đẩy việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thông qua việc thực hiện chức năng tố tụng hình sự của mình một cách đầy đủ Sự tham gia của người bào chữa là một trong những bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo13 Tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự, người bào chữa có quyền sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Là người có kiến thức về pháp luật, người bào chữa
sẽ giúp cho việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đạt hiệu quả cao hơn khi đưa ra những lý lẽ cũng như những lập luận đanh thép Bên cạnh đó, người bào chữa còn có một số quyền mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có cũng như không có khả năng thực hiện do bị tạm giữ, tạm giam như quyền thu thập tài liệu,
đồ vật liên quan đến việc bào chữa, cũng như đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu liên quan đến việc bào chữa Vì vậy, người bào chữa có thể tận dụng hết những quyền của mình, cũng như khả năng để phối hợp với chủ thể tiến hành tố tụng nhằm tìm ra sự thật của vụ án, góp phần đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Vị trí, vai trò của nh ng người tham gia tố tụng hác tố tụng hình sự
Người tham gia tố tụng khác là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người làm chứng, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án, người giám định, người phiên dịch Họ là những người không phải là người bị tình nghi, cũng không phải tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội Vì không phải là người bị tình nghi nên họ không cần phải chứng minh là mình không liên quan đến vụ án Trái lại họ có quyền trình bày
13
Nguyễn Văn Tuân, Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự, N B Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội,
2001, tr 43
Trang 23những tình tiết để đòi quyền lợi cho mình (người bị hại, nguyên đơn dân sự) hoặc trình bày những vấn đề hay thực hiện công việc mà cơ quan tiến hành tố tụng giao phó (người giám định, người phiên dịch) hoặc yêu cầu (người làm chứng) Họ không bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tạm ngăn chặn tội phạm mà còn được tạo điều kiện và hỗ trợ để thực hiện quyền mà pháp luật tố tụng hình sự quy định
Mặt khác, người tham gia tố tụng khác cũng không phải là nhóm người tham gia để bào chữa cho người bị buộc tội Họ được biết đến như một nguồn chứng cứ thứ ba bên cạnh chứng cứ mà người bị buộc tội trình bày và từ những gì mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập được do thực hiện các nghiệp vụ điều tra Tuy nhiên, những chứng cứ mà họ cung cấp cũng không thiên về một phía gỡ tội hay buộc tội cho người bị tình nghi mà xuất phát từ thực tế khách quan của sự việc đã diễn ra Ví
dụ như nguời bị hại trình bày những thiệt hại mà người bị tình nghi đã gây ra, người giám định trình bày kết quả về những vẫn đề còn chưa rõ mà cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định
1.1.2.3 Đặc điểm của người tham gia tố tụng
Trong quá trình tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự, người tham gia tố tụng thể hiện những đặc điểm cơ bản sau:
Th nh t, người tham gia tố tụng là chủ thể h ng mang uyền lực nhà nư c
Là chủ thể thứ hai tham gia vào quan hệ tố tụng, người tham gia tố tụng là những công dân bình thường, họ không phải là những chủ thể có chức vụ quyền hạn, đây cũng là đặc điểm dễ dàng nhận thấy sự khác biệt giữa người tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng Họ tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự là vì có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo nghĩa vụ pháp lý hoặc hỗ trợ pháp lý cho người tham gia tố tụng khác Mọi hành động của họ đều không có tính cưỡng chế, vì vậy mọi người đều không cần phải thực hiện hoặc tuân theo Mọi đồ vật, tài liệu, cũng như những kết luận đưa ra của người tham gia tố tụng đều phải được sự thẩm tra của chủ thể tiến hành tố tụng mới được xem là chứng cứ để đưa vào việc giải quyết vụ án Một ví dụ tại phiên tòa xét xử bị cáo Đàm Văn Khương bị truy tố
về tội cố ý gây thương tích, luật sư của bị cáo đã đưa ra tờ tường trình của người bị hại cho rằng chưa rõ ai chém mình gây thương tích, có một người khác đã đến bồi thường cho mình Cả Viện kiểm sát và Tòa đều chưa hề nhận được tờ tường trình này Sau khi xem xét, mới đây, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong (Đắk Nông) quyết định tạm hoãn phiên tòa để xem xét lại vì tờ tường trình có thể được coi là chứng cứ liên quan đến vụ án nếu nó trùng với lời khai cùng những chứng cứ khác
mà Cơ quan điều tra thu thập được Vì vậy, Tòa đã tạm hoãn để triệu tập người bị
Trang 24hại và xem xét tờ tường trình này14 Qua vụ án này có thể thấy, mặc dù tờ tường trình được luật sư đưa ra xem xét công khai tại Tòa nhưng cần phải có sự thẩm tra của cơ quan tiến hành tố tụng xem có đủ điều kiện là chứng cứ không Việc cơ quan tiến hành tố tụng luôn kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ mà người tham gia tố tụng đưa ra là nhằm bảo đảm mọi chứng cứ đều được thu thập theo quy định của pháp luật
Th hai, người tham gia tố tụng là chủ thể chỉ đư c tham gia vào uan hệ tố
tụng hi và chỉ hi đư c cơ uan tiến hành tố tụng c ng nhận
Quá trình tố tụng là quá trình được tiến hành theo một trật tự nhất định và theo một khuôn mẫu quy định của pháp luật Vì vậy, bất cứ mọi hoạt động, mọi quyết định đều phải được cơ quan tiến hành tố tụng, chủ thể đại diện của quyền lực Nhà nước thông qua Đơn cử là trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tham gia tố tụng phải thông qua các quyết định tương ứng như quyết định tạm giữ người, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét xử Thông qua các quyết định này,
tư cách của họ mới được xác lập Bên cạnh đó, các chủ thể tham gia tố tụng khác cũng phải được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tư cách của từng người Ví dụ một người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần, tài sản Nhưng thiệt hại đó phải được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét đưa ra quyết định là thiệt hại đó do tội phạm gây ra thì người đó mới được xác lập tư cách người bị hại
Tương tự, các chủ thể khác cũng được Cơ quan điều tra xem xét tư cách tố tụng mới được quyền tham gia vào quan hệ này Một hoạt động thấy rõ nhất vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc công nhận tư cách của người tham gia tố tụng là hoạt động cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa (khoản 4 Điều
56 BLTTHS, Điều 27 Luật Luật sư) Mặc dù, pháp luật quy định cho người bào chữa tham gia vào quan hệ tố tụng để bào chữa cho thân chủ của mình Tuy nhiên, quyền bào chữa không đương nhiên phát sinh mà cần phải có sự cho phép của các
cơ quan tiến hành tố tụng, chỉ đến khi người bào chữa được cấp giấy chứng nhận thì
họ mới chính thức được thực hiện nhiệm vụ
Việc pháp luật quy định vai trò công nhận của cơ quan tiến hành tố tụng để xác lập tư cách của người tham gia tố tụng đã phần nào thấy được sự khác biệt vai trò, vị thế của người tham gia tố tụng với các chủ thể khác không liên quan đến vụ
án Đó là người tham gia tố tụng có những quyền mà những người bình thường không có Điều này có thể khẳng định sự nghiêm minh của pháp luật với quan niệm bất cứ sự việc nào liên quan đến vụ án cũng cần có thủ tục, quy định rõ ràng
http://phapluattp.vn/20120405114658602p1063c1016/xu-nham-nguoi-gay-an-trong-khuya.htm , truy cập 6/4/2012]
Trang 251.1.2.4 Phân loại người tham gia tố tụng
uất hiện trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có rất nhiều người với vai trò rất khác nhau trong đó tiêu biểu là hai nhóm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Nếu người tiến hành tố tụng được biết đến với vai trò cầm cân nảy mực nhân danh quyền lực nhà nước để thực thi công lý thì người tham gia tố tụng tham gia vào quan hệ tố tụng với nhiều mục đích rất đa dạng Tuy nhiên có thể chia người tham gia tố tụng thành ba nhóm, tùy thuộc vào địa vị pháp lý của họ mà BLTTHS quy định
* Người tham gia tố tụng để bảo vệ uyền và l i ích pháp lý của bản thân li n uan đến vụ án bao gồm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đây là nhóm chủ thể luôn luôn xuất hiện trong vụ án để bảo vệ chính bản thân mình (bao gồm cả theo hướng bác lại một phần hoặc toàn bộ sự tình nghi và cả theo hướng bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình trước những quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng Mặc dù, quyền và lợi ích của các chủ thể này không giống nhau, tuy nhiên điểm giống nhau giữa các chủ thể của nhóm này là vì lợi ích cá nhân của bản thân họ Khi tham gia tố tụng, họ có thể trình bày lời khai, diện dẫn những chứng
cứ, lý lẽ để bác lại ý kiến buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng để đưa ra những tình tiết giảm nhẹ tội hoặc chứng minh là mình vô tội Hoặc họ cũng có thể thực hiện các quyền mà pháp luật quy định để bảo vệ lợi ích của bản thân tương ứng với các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng ban hành như quyền được biết về nội dung quyết định, quyền khiếu nại,… Ngoài ra, họ cũng có thể chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và cần phải được cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ
* Người tham gia tố tụng th o ngh a vụ pháp lý là người bắt buộc phải tham
gia tố tụng theo yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm người làm chứng, người giám định, người phiên dịch Họ có trách nhiệm phải tham gia tố tụng, nếu họ không thực hiện đúng yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng đặt ra thì họ phải chịu các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (khoản 4 Điều
55, khoản 3 Điều 60 BLTTHS 2003) Khi tham gia tố tụng, những người này không
có quyền lợi cá nhân mà chỉ là những người có nghĩa vụ do cơ quan tố tụng triệu tập hoặc trưng cầu để giải quyết vụ án hình sự
* Người tham gia tố tụng để h tr pháp lý cho nh ng người tham gia tố tụng
nh m th nhất là người có kiến thức pháp luật hoặc kiến thức về những vấn đề
chuyên môn có liên quan cần phải có để trợ giúp cho những người tham gia tố tụng nếu họ có yêu cầu hoặc được chỉ định bao gồm người bào chữa, người bảo vệ quyền
Trang 26lợi của đương sự Họ tham gia tố tụng không chỉ để bảo vệ quyền lợi của những người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ những tình tiết liên quan đến vụ án, góp phần đảm bảo tính chính xác, khách quan, bảo vệ pháp chế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong một số trường hợp nhất định, sự tham gia của những người này là bắt buộc để đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố tụng hình sự
1.1.3 Giai đoạn tố tụng
1.1.3.1 Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự
Giải quyết vụ án là mục tiêu chung của các chủ thể tiến hành tố tụng Quá trình đó thường kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định để cơ quan tiến hành
tố tụng xem xét một người có hay không có tội Quá trình diễn ra các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được gọi là giai đoạn tố tụng hình sự Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay (kể cả trong Bộ luật tố tụng hình sự
1988 và BLTTHS 2003) vẫn chưa có một định nghĩa pháp lý quy định về khái niệm
giai đoạn tố tụng hình sự Nhìn chung, giai đoạn tố tụng chính là “bư c của uá trình tố tụng hình sự tương ng v i ch c năng nhất định trong hoạt đ ng tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng c th m uyền nh m thực hiện các nhiệm vụ cụ thể o luật định, c thời điểm bắt đầu và thời điểm ết thúc để giải uyết vụ án hình sự m t cách c ng minh và hách uan, c căn c và đúng pháp luật, g p phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ v ng chắc các uyền
h p pháp của c ng ân trong l nh vực tư pháp” 15
Từ khái niệm trên ta có thể thấy tính chất của giai đoạn tố tụng hình sự là quá trình trong đó được chia ra từng phần, ứng với mỗi phần là những công việc riêng biệt, giai đoạn trước là tiền đề cho giai đoạn sau cho nên mới được gọi là bước của quá trình tố tụng o đó, giai đoạn tố tụng được phân chia tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự Mỗi chức năng là đặc trưng của từng loại chủ thể với công việc nhất định Ví dụ điều tra là giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng với chức năng điều tra vụ án hình sự Mà chức năng đó là đặc trưng chỉ của hai chủ thể có thẩm quyền thực hiện – Cơ quan điều tra (trong đa số các trường hợp) và Viện kiểm sát (trong một số ít trường hợp) chứ không thể là Tòa án Bên cạnh đó, ở mỗi giai đoạn luôn quy định thời gian bắt đầu và kết thúc cụ thể, việc này góp phần phân định rành mạch chức năng của từng giai đoạn tạo điều kiện để giai đoạn sau được diễn ra Ví dụ như giai đoạn khởi tố được tính từ khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhận được những tin tức về tội phạm và kết thúc khi cơ
15 Lê Cảm, t số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự ,Tạp chí kiểm sát, số 2, 2004, tr 12
Trang 27quan tiến hành tố tụng ra một trong hai quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố
vụ án hình sự Vì vậy, việc quy định giai đoạn tố tụng hình sự đã làm cho việc giải quyết vụ án có một quy trình giải quyết cụ thể góp phần giải quyết vụ án một cách công minh, khách quan góp phần củng cố pháp chế và bảo vệ lợi ích của công dân trong lĩnh vực tố tụng hình sự
1.1.3.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của từng giai đoạn tố tụng hình sự
a) Giai đoạn khởi tố
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành
vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện Đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án hình sự có liên quan đến hành vi đó
Với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của tố tụng hình sự, giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra vụ án hình sự Vì vậy, việc khởi tố thiếu cân nhắc sẽ kéo theo hàng loạt hậu quả tiêu cực tiếp theo như điều tra không có căn cứ đối với những hành vi không chứa đựng dấu hiệu tội phạm, khám xét, bắt, giam giữ, buộc tội, xét xử một cách vô căn cứ và trái pháp luật, làm oan những người vô tội Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ
án hình sự có liên quan đến hành vi đó
b) Giai đoạn điều tra
Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó Cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự, giai đoạn điều tra
vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện
Trang 28pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các
cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm; giai đoạn này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy
tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng
c) Giai đoạn truy tố
Quyết định việc truy tố là giai đoạn thứ ba của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó Viện kiểm sát căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm đánh giá một cách toàn diện, khách quan các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố)
do Cơ quan điều tra chuyển đến và trên cơ sở đó Viện kiểm sát ra quyết định: Truy
tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của hoạt động tố tụng hình sự, giai đoạn truy tố về hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng mà Cơ quan điều tra
có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của Viện kiểm sát được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Viện kiểm
sát nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết luận điều tra và đề nghị
truy tố) do Cơ quan điều tra chuyển đến và kết thúc bằng việc Viện kiểm sát ra một trong ba loại quyết định sau: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng (kết luận về tội trạng); Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc là đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng
d) iai đoạn x t x
ét xử vụ án hình sự là giai đoạn thứ tư và cuối cùng, trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự, mà trong đó Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành áp dụng các biện pháp chuẩn bị cho việc xét
xử, đưa vụ án hình sự ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm để xem xét về thực chất vụ án, đồng thời trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của hai bên buộc tội và bào chữa phán xét về vấn đề tính chất tội phạm hay không của hành vi, có tội hay không của bị cáo (hoặc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm) Nếu bản án hay quyết định sơ thẩm đã được tuyên và chưa có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, kháng nghị thì sẽ được xét xử lần thứ hai theo trình tự phúc thẩm Trường hợp bản
Trang 29án tuyên mà không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật thì được bảo đảm thi hành
Thời điểm của giai đoạn này được bắt đầu từ khi Tòa án nhận được hồ sơ
vụ án hình sự (với quyết định truy tố bị can trước Tòa án kèm theo bản cáo trạng)
do Viện kiểm sát chuyển sang và kết thúc bằng một bản án (quyết định) có hiệu lực
pháp luật của Tòa án
1.2 ý luận chung về mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng
1.2.1 an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i người tạm gi , an,
o, người ào h a à an h gi a m t n mang n nhà nư i
m t n không mang n nhà nư
Quan hệ tố tụng hình sự chỉ phát sinh khi có dấu hiệu tội phạm và chủ thể tiến hành tố tụng can thiệp vào quan hệ này để giải quyết vụ án Vì thế, chủ thể tiến hành tố tụng nắm trong tay quyền lực để trực tiếp xử lý vụ án và phán xét một người có hay không có tội Điều này xuất phát từ nguyên tắc mà Hiến pháp đã quy
định “ i c ng ân đều bình đ ng trư c pháp luật”, nguyên tắc này đã được ghi
nhận qua các Điều 7 Hiến Pháp 1946, Điều 22 Hiến Pháp 1959, Điều 55 Hiến Pháp
1980, Điều 52 Hiến Pháp 1992 Vì lẽ đó, bất cứ một chủ thể nào cũng không có quyền áp dụng bất k sự tác động làm phương hại, ảnh hưởng đến chủ thể khác Tuy nhiên, chủ thể tiến hành tố tụng nói riêng và các cơ quan nhà nước nói chung
có một thẩm quyền riêng biệt là họ được phép thực hiện các hoạt động có thể sẽ tác động đến các chủ thể khác mà những người đó không mong muốn Đây cũng là yếu
tố tạo nên vị thế đặc biệt của chủ thể tiến hành tố tụng
Các hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng thể hiện rõ hơn vị thế đặc biệt của chủ thể này Thực vậy, chủ thể tiến hành tố tụng là chủ thể có trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10 BLTTHS) Để chứng minh tội phạm, họ phải tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Tất cả các giai đoạn này đều được thực hiện thông qua một quy trình chặt chẽ, trật tự theo quy định của pháp luật
và có tính chất bắt buộc đối với người tham gia tố tụng Điều này đã được khẳng định ở phương pháp điều chỉnh của luật tố tụng hình sự là phương pháp quyền uy Bên cạnh đó, một sự thể hiện khác của tính quyền lực nhà nước của chủ thể tiến hành tố tụng chính là việc các quyết định mà chủ thể này ban hành đều được bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước Từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử chủ thể tiến hành tố tụng đã đưa ra rất nhiều quyết định để phục vụ công tác phá án Hầu hết, các quyết định này đều ràng buộc đối tượng bị áp dụng bắt buộc phải chấp hành nếu không sẽ bị áp dụng các biện pháp trừng phạt Một điển
Trang 30hình quan trọng nhất là bản án của Tòa án tuyên sau khi có hiệu lực pháp luật bắt buộc người phạm tội phải thi hành (Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự) Trong quá trình tố tụng, trường hợp người phạm tội bỏ trốn, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng biện pháp truy nã để tìm ra tung tích Một ví dụ thực tế vào ngày 12/10/2010 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46)
đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hồ Thị Yến Vy (sinh năm 1969, ngụ 4/5, Cách mạng tháng tám, Phường Hòa Bình, Thành phố Biên Hòa), Giám đốc Công ty bất động sản Trúc Vân, trụ sở tại số 11/2 Hu nh Văn Nghệ, phường Bửu Long, Thành phố Biên Hòa) với hai tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Đến ngày 21/10/2010 thì Vy bỏ trốn và ôm theo số tiền là 174 tỷ đồng Ngày 24/11/2010, Thượng tá Nguyễn Hữu Sào, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC46) Công an tỉnh Đồng Nai cho biết, Cơ quan này đã ra quyết định truy nã đối với bị can Hồ Thị Yến Vy16 Đây là một biện pháp hữu hiệu để truy tìm người bị buộc tội, giải quyết triệt để tình trạng bị can, bị cáo sống ngoài vòng pháp luật, không được đưa ra xử lí bằng quyết định của cơ quan tố tụng (đình chỉ) hoặc không được đưa ra Toà án để xét xử bằng bản án có hiệu lực pháp luật
o đó, có thể nói việc chủ thể tiến hành tố tụng mang quyền lực Nhà nước là một tất yếu khách quan để họ thực hiện vai trò của mình Góp phần làm cho các hoạt động, các quyết định của chủ thể tiến hành tố tụng được tuân thủ triệt để Một vấn đề đặt ra là tại sao trong quan hệ tố tụng hình sự, chủ thể tiến hành tố tụng đại diện cho bên xử lý vụ án mới mang quyền lực nhà nước nhưng người tham gia tố tụng nói chung và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa đại diện cho bên gỡ tội nói riêng lại không mang quyền lực nhà nước Điều này xuất phát từ việc người bị tình nghi là đối tượng bị phán xét chịu sự chế ước của cơ quan tiến hành tố tụng Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được biết đến với vai trò là đối tượng
để chủ thể tiến hành tố tụng xem xét có hay không có tội Mặt khác, khi tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự, họ nhân danh cá nhân mình để đòi hỏi các quyền lợi của bản thân mà không phải là đòi hỏi quyền lợi cho Nhà nước o đó, người bị tình nghi không mang quyền lực nhà nước cũng là một tất yếu khách quan Đây là một điểm khác biệt rõ nét giữa người bị tạm giữ, bị can, bị cáo với chủ thể tiến hành
tố tụng Thậm chí, nếu họ là người mang quyền lực nhà nước thì khi xuất hiện trong
vụ án hình sự với tư cách là người bị tình nghi thì quyền lực nhà nước đó cũng bị tước bỏ Theo quy định tại Điều 128 thì khi xét thấy việc bị can giữ chức vụ gây
16
Phan Hữu, Báo mới, Truy n n giám đốc m 174 tỷ bỏ trốn, doc-om-174-ty-bo-tron/58/5263994.epi , truy cập 25/11/2010
Trang 31http://www.baomoi.com/Truy-na-nu-giam-khó khăn cho việc điều tra thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý bị can tạm đình chỉ chức vụ của bị can Ngoài ra, cơ quan tiến hành tố tụng cũng gián tiếp tước đi quyền lực của họ khi ra các quyết định như tạm giữ, quyết định khởi tố bị can, quyết định đưa vụ án ra xét
xử đã làm cho họ chuyển sang tư cách khác với quyền và nghĩa vụ tương ứng là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Khi đó, tư cách tham gia tố tụng của họ gắn với tên gọi mà pháp luật tố tụng hình sự quy định chứ không phải gắn với chức vụ mà họ đã đảm nhiệm trước khi phạm tội
o không mang quyền lực nhà nước nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo luôn thụ động trong quá trình giải quyết vụ án, phụ thuộc rất lớn vào các cơ quan tiến hành tố tụng Điều này thể hiện ở việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo muốn thực hiện các quyền mà pháp luật quy định phải thông qua các cơ quan tiến hành tố tụng
Ví dụ như quyền đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu hoặc được cơ quan tiến hành tố tụng giải thích quyền và nghĩa vụ (điểm đ khoản 2 Điều 48, điểm d khoản 2 Điều 49, điểm đ khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003) Mặc dù là quyền nhưng có được thực hiện hay không phải do ý chí của cơ quan tiến hành tố tụng Tiếng nói của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có giá trị bắt buộc hay cưỡng chế đối với các chủ thể khác Nếu người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mang quyền lực nhà nước thì việc giải quyết vụ
án lúc này không phải là sự phán xét của Nhà nước đối với công dân mà là tranh chấp pháp lý giữa các bên mang quyền lực nhà nước
1.2.2 an h gi a hủ thể tiến hành tố tụng i người tạm gi , an,
o, người ào h a à an h nh đ ng t ong i t anh n, đưa a h ng , tài i , đ t, ầ t ư T a n
Vì là đối tượng bị xem xét nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được pháp luật quy định một số quyền để bảo vệ bản thân như quyền được biết lý do bị bắt, bị khởi
tố về tội gì,… Trong đó có một quyền quan trọng nhất là quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa (điểm d khoản 2 Điều 48, điểm e khoản 2 Điều 49, điểm e khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003) Vì vậy, việc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bình đẳng trong việc tranh luận đưa ra chứng cứ là nhằm phát huy những quy định của
pháp luật về bào chữa Theo quy định tại Điều 19 BLTTHS thì Kiểm sát vi n, bị cáo, người bào ch a,… c uyền bình đ ng trong việc đưa ra ch ng c , tài liệu, đồ vật, đưa ra y u cầu và tranh luận ân chủ trư c Tòa án Tòa án c trách nhiệm tạo điều iện cho h thực hiện các uyền đ nh m làm rõ sự thật hách uan của vụ án” Như một lẽ tự nhiên “ở đâu có buộc tội, tức là đem đến những bất lợi cho con
Trang 32người thì ở đó xuất hiện gỡ tội để phản bác, phản biện lại hành vi buộc tội”17 Bởi
vì, khi tham gia xét hỏi cũng như tranh luận tại phiên tòa, mỗi bên tham gia tố tụng đều khai thác các yếu tố có lợi cho lợi ích của mình Ví dụ tại phiên tòa hình sự, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố (thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa) tập trung thu thập chứng cứ buộc tội Bởi lẽ, khi đã truy tố bị can ra trước Tòa án, Viện kiểm sát không thể đưa ra chứng cứ chứng minh không có sự việc phạm tội, hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm, bị cáo chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự… Đối với bị cáo, người bào chữa cho bị cáo thì chỉ thu thập chứng cứ chứng minh sự vô tội, và chứng minh theo hướng làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Vì lẽ
đó, chủ thể buộc tội có quyền trình bày ý kiến và đưa ra chứng cứ buộc tội thì bên bào chữa cũng có quyền đưa ra lập luận cũng như chứng cứ để đối trọng lại, phản biện lại quan điểm của bên buộc tội o đó, trong giai đoạn tranh luận, các bên tham gia tố tụng có quyền bình đẳng đưa ra các quan điểm của mình về đánh giá chứng cứ, kết luận về bản chất pháp lý của vụ việc, phân tích các quy định của pháp luật đề nghị áp dụng và đề xuất các ý kiến giải quyết vụ án là yếu tố để nhanh chóng tìm ra sự thật của vụ án, bảo đảm quyền bào chữa được thực hiện Việc này sẽ giúp cho việc tìm ra sự thật của vụ án một cách nhanh chóng, hạn chế oan sai
Trước hết, cần phải hiểu quyền bình đẳng trước Tòa án là bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Tòa chứ không phải bình đẳng trong mọi lĩnh vực Thể hiện ở việc Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa có quyền đưa ra chứng cứ như nhau, tranh luận công bằng Theo đó, họ phải có thái độ tôn trọng lẫn nhau, không nên có những lời lẽ, cử chỉ có tính chất mạc sát lẫn nhau Khi đó, Hội đồng xét xử phải tôn trọng, không phân biệt người đưa ra chứng cứ, yêu cầu đó là ai, Kiểm sát viên hay bị cáo hay người bào chữa của bị cáo Mặt khác, phải tạo điều kiện để các bên đưa ra chứng cứ, quan điểm của mình, không hạn chế
về thời gian tranh luận cũng như không thiên vị bên nào mà phải căn cứ vào chứng
cứ được đưa ra và lập luận của mỗi bên để đưa ra phán quyết đúng đắn
Nếu chỉ quy định chủ thể tiến hành tố tụng có quyền tranh luận, đưa ra chứng
cứ thì vô hình chung chỉ thừa nhận chứng cứ buộc tội vì phần lớn chủ thể tiến hành
tố tụng chỉ quan tâm đến việc xác định các chứng cứ xác định có tội Khi đó, có thể dẫn đến việc Hội đồng xét xử chỉ nhìn phiến diện một khía cạnh của vấn đề mà không tìm hiểu toàn diện các chứng cứ mà bị cáo và người bào chữa đưa ra Việc này có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng oan sai Vì vậy, việc quy định bị cáo,
17
Nguyễn Thị Tuyết, oàn thiện pháp luật về ch c năng tố tụng hình sự của Tòa án trong giai đoạn x t x
sơ th m đáp ng y u cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Tòa án Nhân dân, số 5, 2011, tr.1
Trang 33người bào chữa, Kiểm sát viên có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tranh luận trước tòa là một quy định cần thiết để bảo đảm quyền dân chủ của công dân trong tố tụng hình sự
Nhìn chung, việc quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bình đẳng trong việc tranh luận đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu với chủ thể tiến hành tố tụng sẽ giúp cho việc xem xét toàn diện “hai mặt của cùng một vấn đề” Có nghĩa là, trong cùng một vụ án sẽ xem xét cả chứng cứ buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng và chứng cứ gỡ tội của bị can, bị cáo, người bào chữa Điều này cũng
xuất phát từ quan niệm của V.I Lênin là uốn thực sự hiểu đư c sự vật, cần phải nhìn bao uát và nghi n c u tất cả các mặt, các mối li n hệ và uan hệ gián tiếp của sự vật đ ”18 Ngoài ra, Lênin còn khẳng định cần thiết phải x m x t tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta hỏi phạm sai lầm và sự c ng nhắc”19
Bị cáo, người bào chữa đã được pháp luật quy định quyền bình đẳng trong khuôn khổ tranh luận và đưa ra chứng cứ Thế nhưng, một vấn đề cần phải tìm hiểu
là tại sao pháp luật chỉ quy định cho họ được quyền bình đẳng chỉ trong vấn đề tranh luận và đưa ra chứng cứ tại phiên tòa, ngoài ra thì không Trả lời cho câu hỏi
đó cần phải xem xét quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Theo đó, thực hiện đường lối cải cách tư pháp của Đảng, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 về Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam Trong đó, Nghị quyết 08 đề ra yêu cầu: Nâng cao chất lư ng c ng tố của Kiểm sát vi n tại phi n tòa, bảo đảm tranh tụng ân chủ v i uật sư, người bào
ch a và nh ng người tham gia tố tụng hác…”; Nghị quyết 49 đã xác định: “xác định rõ ch c năng, nhiệm vụ, th m uyền và hoàn thiện t ch c, b máy các cơ uan tư pháp Tr ng tâm là xây ựng, hoàn thiện t ch c và hoạt đ ng của Tòa án nhân ân” Đ i m i việc t ch c phi n tòa x t x , xác định rõ hơn vị trí, uyền hạn, trách nhiệm, của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng… nâng cao chất lư ng tranh tụng tại các phi n x t x , coi đây là hâu đ t phá của hoạt đ ng
tư pháp” Chính vì lẽ đó, việc bình đẳng trong việc tranh luận đưa ra chứng cứ là
nhằm để nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa Trước tiên, muốn tranh tụng thì phải có chứng cứ và hiểu biết về vụ án Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có thể tự mình đưa ra những chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành thu thập, xem xét chứng cứ mà mình khai nhận Tuy nhiên, quyền này ít
18
V.I.Lênin: Toàn tập, N B Tiến bộ, Mátxcơva, 1979 (tiếng Việt)
19 V.I.Lênin: Toàn tập, N B Tiến bộ, Mátxcơva, 1979 (tiếng Việt)
Trang 34khi họ thực hiện, bởi họ thường bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam Ngoài ra,
họ cũng không hiểu biết pháp luật để tự bào chữa cho mình Vì thế, người bào chữa
là người có thể giúp họ thực hiện việc bào chữa o đó, cùng với bị cáo người bào chữa phải có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ mới có thể đưa ra bằng chứng phản bác lại căn cứ buộc tội của cơ quan có thẩm quyền
Ngoài ra, bình đẳng trong tranh luận tại phiên tòa mới có thể giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trình bày quan điểm của mình một cách công khai và là cơ hội để quan điểm của họ được cọ xát với quan điểm buộc tội của cơ quan tiến hành
tố tụng Nếu ở các giai đoạn trước, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền trình bày quan điểm của mình mà không thể phản bác lại quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng thì khi tranh luận sẽ giải quyết được vấn đề này Bởi vì, tranh luận là
“sự bàn c i c phân tích lí lẽ để tìm ra lẽ phải” 20 o đó, việc bình đẳng khi tranh
luận sẽ giúp mỗi bên bảo vệ quan điểm của mình Thực tiễn, trong nhiều vụ án thông qua quá trình tranh luận mà Kiểm sát viên đã nhận ra căn cứ truy tố thiếu luận
cứ buộc phải rút một phần quyết định truy tố Ví dụ như vụ bị cáo Hu nh Ngọc Sĩ
bị truy tố về tội nhận hối lộ xảy ra tại Ban quản lý dự án đại lộ Đông - Tây và môi trường nước Thành phố Hồ Chí Minh Sau quá trình tranh luận với ba luật sư, Kiểm sát viên đã xin rút lại một phần nội dung cáo trạng truy tố hành vi ký, thanh toán tạm ứng tiền cho nhà thầu (một trong 4 vấn đề cáo trạng ông Sĩ làm lợi cho PCI) của bị cáo Sĩ vì chưa có luận cứ21
Trong một số vụ án khác cũng nhờ tranh luận mà
bị cáo được tuyên vô tội đó là vụ bà Phan Thị Thường (trú tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) bị truy tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Sự vụ là do từ một tranh chấp dân sự nhưng lại bị cơ quan tiến hành tố tụng hình sự hóa Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm (lần hai), sau khi xét hỏi, nghe phần tranh luận giữa đại diện Viện kiểm sát nhân dân với luật sư Nguyễn uân Chung - người bào chữa bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho bà Thường, Hội đồng xét xử đã tuyên bố bà Thường không phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và trả tự do ngay tại phiên tòa22 Rõ ràng qua hai
ví dụ trên có thể thấy vai trò quan trọng của quá trình tranh luận tại phiên tòa đối với phán quyết một người có tội hay vô tội đồng thời cũng khẳng định nguyên tắc bình đẳng tại Tòa là một quy định cần thiết trong tố tụng hình sự
20 Từ điển Tiếng Việt, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/
21 Công Quang, Dân trí, uật sư c i uyết liệt, Viện iểm sát như ng b , 429995/luat-su-cai-quyet-liet-vien-kiem-sat-nhuong-bo.htm , truy cập 16/10/2010
http://dantri.com.vn/c20/s20-22
Lê Nga, Việt báo, à Rịa – Vũng Tàu: m t c ng ân đư c Tòa tuy n v t i, Phap-luat/Ba-Ria-Vung-Tau-Mot-cong-dan-duoc-toa-tuyen-vo-toi/45226631/218/ , truy cập 6/2/2007
Trang 35http://vietbao.vn/An-ninh-Tuy nhiên, bất cứ quyền nào mà Nhà nước quy định cho công dân đều có giới hạn nhằm để bảo đảm quyền lợi của Nhà nước Vì vậy chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ bình đẳng trong việc tranh luận, đưa ra chứng
cứ Đó cũng là một vấn đề được áp dụng nhằm ngăn chặn những người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo ngoan cố, người bào chữa cố tình tiết lộ bí mật điều tra, thực hiện các hoạt động khác gây ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án Họ có thể lợi dụng việc bình đẳng của mình để gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng Nếu bình đẳng trong tất cả các hoạt động thì cơ quan tiến hành tố tụng không thể áp dụng các biện pháp nhằm để ngăn chặn tội phạm như tạm giữ, tạm giam, cũng như các quyết định giúp cho việc giải quyết vụ án Hơn nữa, các quyết định mà cơ quan tiến hành
tố tụng ban hành cũng không có hiệu lực bắt buộc người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện Chính vì vậy, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ bình đẳng với chủ thể tiến hành tố tụng trong việc tranh luận đưa ra chứng cứ nhằm cân bằng giữa hai lợi ích vừa bảo đảm lợi ích của Nhà nước đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Nhìn chung, việc tìm hiểu vị trí, vai trò của các chủ thể góp phần làm rõ được địa vị pháp lý của từng chủ thể trong tố tụng hình sự Qua đó càng thấy rõ tầm quan trọng của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án Từ việc phân tích các giai đoạn tố tụng đã cho thấy việc giải quyết vụ án được tiến hành theo một quy trình nhất định Đồng thời, cũng thấy rõ mối quan hệ giữa chủ thể tiến hành tố tụng với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa Đó không chỉ là quan hệ giữa một bên mang quyền lực Nhà nước với một bên không mang quyền lực mà còn là mối quan hệ bình đẳng trong việc tranh luận, đưa ra chứng cứ Điều này tạo cơ sở lý luận để thấy rõ sự chế ước, sự phối hợp giữa các chủ thể trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án
Trang 36là mối quan hệ được thiết lập trên cơ sở pháp luật tố tụng chỉ phát sinh khi những cơ quan, người tiến hành tố tụng và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa xác lập trong quá trình giải quyết vụ án Đó có thể là mối quan hệ đối trọng hoặc là mối quan hệ phối hợp nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy định của pháp luật, giải quyết vụ án đúng đắn Trong phạm vi chương này, dựa trên các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản có liên quan, mối quan hệ giữa hai nhóm chủ thể này sẽ được tìm hiểu qua từng giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Từ đó để xây dựng mối quan hệ này càng phát triển, phát hiện những tồn tại, bất cập để việc giải quyết vụ án vừa bảo đảm quyền và lợi ích của công dân vừa bảo đảm quyền và lợi ích của Nhà nước
2.1 rong giai đoạn khởi tố
Như đã tìm hiểu ở Chương 1, giai đoạn khởi tố vụ án là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự có nhiệm vụ xác định có hay không có căn cứ khởi tố vụ
án hình sự Trong giai đoạn này, theo pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và đối tượng bị xem xét về hành vi bị nghi thực hiện tội phạm là người bị tạm giữ Đây cũng là căn
cứ để xem xét mối quan hệ giữa hai cơ quan này với người bị tạm giữ trong quá trình xác định những cơ sở ban đầu cho việc giải quyết vụ án
2.1.1 Mối an h gi a Cơ an đi t a, Vi n kiểm s t i người tạm
gi t ong giai đoạn khởi tố
iai đoạn h i tố là giai đoạn mà sự nghi ngờ của Cơ uan điều tra, Viện iểm sát v i người bị tạm gi m c đ thấp nhất
Theo quy định tại Điều 48 BLTTHS thì người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Tuy nhiên, căn cứ để bắt họ tạm giữ thì còn rất mập mờ Đơn cử là trường hợp căn cứ bắt khẩn
Trang 37cấp quy định tại Điều 81 BLTTHS Mặc dù người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hay bị người khác khẳng định là người đã thực hiện tội phạm, hoặc có những dấu vết tội phạm trên người, chổ ở thì cũng không thể khẳng định người đó là người phạm tội mà chỉ có thể nói người đó có liên quan đến vụ án và cần phải được Cơ quan điều tra thẩm định Những vấn đề trên chỉ có thể là căn cứ để tạm giữ người chứ không thể đưa ra khẳng định người đó là người thực hiện hành vi phạm tội
o mới có dấu hiệu nghi ngờ nên trong một số trường hợp sự việc xảy ra vẫn chưa được khởi tố vụ án hình sự Cụ thể theo quy định tại khoản 2 Điều 103
BLTTHS 2003 thì “Trong thời hạn hai mươi ngày ể từ ngày nhận đư c tố giác, tin báo về t i phạm, iến nghị h i tố, Cơ uan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải iểm tra, xác minh nguồn tin và uyết định việc h i tố hoặc uyết định
h ng h i tố vụ án hình sự” Quy định một khoảng thời gian như vậy là tạo điều
kiện cho cơ quan tiến hành tố tụng có thể thực hiện việc kiểm tra, xác minh nguồn tin và thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu như khoanh vùng đối tượng, theo dõi, giám sát… để xác định có hay không hành vi phạm tội và người thực hiện hành
vi phạm tội Bởi trong giai đoạn này cơ quan tiến hành tố tụng vẫn chưa đủ yếu tố xác định sự việc có phải là vụ án hình sự hay không và cũng chưa đủ cơ sở để xác định một người có liên quan đến vụ án Điều này xuất phát từ việc, cơ quan tiến hành tố tụng mới chỉ nhận được thông tin về vụ việc qua các nguồn như tố giác của công dân; tin báo của cơ quan, tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện hoặc người phạm tội tự thú (Điều 100 BLTTHS 2003) Đôi khi đây chỉ là thái độ chủ quan của người tố giác nhầm tưởng rằng sự việc có dấu hiệu tội phạm hoặc cố tình lợi dụng việc báo tin hay tố cáo sự việc đáng lẽ không phải là hành vi phạm tội để bảo vệ quyền lợi của bản thân Một ví dụ xảy ra tại thành phố Hà Nội, theo đó ông Vũ Đình Khôi do làm
ăn thất bát, ông phải vay 200 triệu đồng và bị chủ nợ là Phạm Thanh Thủy “cài bẫy,
tố cáo sai sự thật” để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đống Đa khởi tố, bắt tạm giam về “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.Ngày 17/1/2011, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đống Đa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
và ra lệnh bắt Vũ Đình Khôi để tạm giam với thời hạn 2 tháng Hết thời hạn điều tra, văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC44) Công an Thành phố Hà Nội đã có văn bản báo cáo về việc Vũ Đình Khôi “không có sự việc phạm tội”23 Từ vụ việc
23 Nhóm PVPL, Báo mới, Kh i tố thiếu căn c m t c ng ân: ao giờ cơ uan tố tụng m i đình chỉ điều tra,
tra/58/7501164.epi , truy cập 8/12/2011
Trang 38http://www.baomoi.com/Khoi-to-thieu-can-cu-mot-cong-dan-Bao-gio-co-quan-to-tung-moi-dinh-chi-dieu-trên có thể thấy không phải tin báo, tố giác của công dân có thể xác định chính xác được một người thực hiện hành vi phạm tội hay không mà cần có sự xem xét của cơ quan chức năng
Vì vậy, căn cứ để xác định sự việc có phải là vụ án hình sự hay không, người
bị tình nghi có liên quan đến vụ án hay không còn rất mập mờ cần phải có sự thẩm định của cơ quan tiến hành tố tụng Nếu có dấu hiệu tội phạm và căn cứ một người
có liên quan đến vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất nhiều yếu
tố để xác định người đó thực hiện hành vi phạm tội Rất nhiều nghi vấn được đặt ra xung quanh đối tượng bị xem xét và để giải tỏa các nghi vấn thì cơ quan tiến hành
tố tụng áp dụng các biện pháp như khám nghiệm, xem xét dấu vết trên thân thể để kiểm chứng lại nghi vấn đó có đúng không Tuy nhiên, điều đầu tiên, cơ quan tiến hành tố tụng cần đối chiếu sự việc xảy ra có rơi vào trường hợp được quy định tại Điều 107 BLTTHS hay không Liên quan đến đối tượng bị tình nghi cần xét xem hành vi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm không, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hay chưa, người mà hành vi phạm tội của họ có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật chưa, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội còn sống hay đã chết Đây là những nghi vấn mà cơ quan tiến hành tố tụng cần làm rõ mới có thể ra quyết định khởi tố vụ án Trường hợp nếu những sự việc xảy ra và người bị tình nghi không thỏa những quy định trên thì cũng không thể khởi tố vụ án được o căn cứ để nghi ngờ một người phạm tội còn chưa rõ ràng nên nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng rất khó
để đưa ra quyết định khởi tố đúng đắn, đây cũng là tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo tiếp tục gây oan sai
Ví dụ minh họa là vào ngày 20/4/2006, con ông Phạm Lượng là anh Phạm Vũ
bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Trọng khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác Ngày 15/5/2006, anh Phạm Vũ bị công an huyện Đức Trọng bắt tạm giam Đến ngày 21/9/2006, anh Vũ được Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đức Trọng cho tại ngoại với lý do thay đổi biện pháp ngăn chặn Bốn năm sau đó, vào 7/6/2010, gia đình ông Phạm Lượng nhận được quyết định đình chỉ bị can của công an huyện Đức Trọng với lý do đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện hành vi phạm tội24 Có thể thấy, đến giai đoạn điều tra mới chứng minh được hành vi của Vũ chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Điều này càng làm nổi bật vấn đề không phải lúc nào ở giai đoạn khởi tố tất cả các
24
Khắc Lịch, Pháp lý, Kh i tố oan sai Viện iểm sát phải bồi thường 100 triệu đồng, so-vu-an/khoi-to-oan-sai-vksnd-huyen-phai-boi-thuong-tren-100-trieu.html , truy cập 3/6/2011
Trang 39http://phaply.net.vn/ho-tình tiết của vụ án, căn cứ để nghi ngờ người bị http://phaply.net.vn/ho-tình nghi cũng vững chắc do đó cơ quan tiến hành tố tụng cần phải thận trọng để hạn chế oan sai đến mức thấp nhất
iai đoạn h i tố là giai đoạn thể hiện sự bất bình đ ng về uyền lực nhà
nư c của Cơ uan điều tra, Viện iểm sát v i người bị tạm gi m c đ thấp nhất
Về cơ bản, trong giai đoạn này người bị tình nghi có địa vị tương đối bình đẳng với cơ quan tiến hành tố tụng Người bị tình nghi có quyền lợi ngang bằng với chủ thể tiến hành tố tụng Điều đó được minh chứng ở các hoạt động như họ được
cơ quan tiến hành tố tụng tạo điều kiện thực hiện các quyền của mình như được biết
lý do mình bị tạm giữ, được giải thích quyền và nghĩa vụ, trình bày lời khai, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đưa ra tài liệu đồ vật yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (khoản 2 Điều 48 BLTTHS) Có thể thấy, nếu cơ quan tiến hành tố tụng được quyền thực hiện các hoạt động điều tra ban đầu để xác định tội phạm thì người bị tình nghi cũng có quyền thực hiện các hoạt động để phản biện lại lời buộc tội đó Được biết lý do mình bị tạm giữ và được giải thích về quyền và nghĩa vụ là điều kiện rất quan trọng đối với người bị tạm giữ Thông thường, người bị tạm giữ thường có tâm lý sợ hãi và cũng rất ít người am hiểu pháp luật Vì vậy, họ cũng không biết mình có những quyền và nghĩa vụ gì để thực hiện Chính lúc này, Điều tra viên phải là người đầu tiên hướng dẫn, phổ biến cho họ o đó việc cơ quan tiến hành tố tụng làm tốt các quy định này sẽ giúp cho người bị tạm giữ thực hiện quyền của mình tốt hơn đồng thời tránh các trường hợp vi phạm tố tụng
Ngoài ra, người bị tạm giữ được quyền trình bày lời khai về sự việc liên quan đến vụ án Việc trình bày lời khai cũng là cơ hội để người bị tạm giữ trình bày về trường hợp ngoại phạm của mình hoặc cũng có trường hợp họ trình bày về quá trình thực hiện hành vi phạm tội Điều này sẽ giúp Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát củng
cố chứng cứ ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên thường khuyến khích người bị tạm giữ khai trung thực về các tình tiết của vụ
án Tuyệt đối không được sử dụng biện pháp trái pháp luật để lấy lời khai, nhất là bức cung, dùng nhục hình Trong quá trình bị tạm giữ, người bị tạm giữ được thực hiện quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Hoạt động này không những giúp cho người bị tạm giữ có thể đưa ra lý lẽ để giúp bảo vệ quyền lợi của mình mà còn giúp Cơ quan tiến hành tố tụng thận trọng trong hoạt động tố tụng, kịp thời phát hiện những sai lầm để khắc phục ngay từ đầu Để thực hiện quyền tự bào chữa người bị tạm giữ cũng có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu bên cạnh những tài liệu mà cơ quan tiến hành tố tụng đã dựa vào đó làm cơ sở để bắt người Các tài liệu có thể là sổ sách, hóa đơn, chứng từ, những số liệu, báo cáo có liên quan đến vụ
Trang 40án hình sự… Trong khi tạm giữ nếu có đủ căn cứ xác định người bị tạm giữ đã thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, ngược lại nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ Tức là việc tạm giữ không nhất thiết phải kéo dài cho đến ngày hết hạn tạm giữ mà có thể trả tự do cho người bị tạm giữ trước ngày hết hạn tạm giữ Đây là một quy định mới so với quy định tại BLTTHS 1988 (khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người đã bị tạm giữ) Việc thay đổi này xuất phát từ các lý do Nhà nước đã chú ý hơn đến việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm thân thể của công dân; quy định chặt chẽ hơn việc tạm giữ người; hạn chế việc phải bồi thường thiệt hại cho người bị bắt oan
Mặt khác, trong giai đoạn này cơ quan tiến hành tố tụng vẫn chưa có nhiều tác động quyền lực đến người bị tình nghi mà mới chỉ thực hiện các hoạt động đơn thuần để thu thập thêm căn cứ khởi tố bị can như khám nghiệm hiện trường (Điều
150 BLTTHS), xem xét dấu vết trên thân thể (Điều 152 BLTTHS), thực nghiệm điều tra (Điều 153 BLTTHS)… Tuy các biện pháp này được Cơ quan điều tra tiến hành để xác định tội phạm nhưng người bị tình nghi vẫn được quyền tham gia để tạo điều kiện cho họ thực hiện việc khiếu nại, chứng minh sự vô tội
Ví dụ trong hoạt động thực nghiệm điều tra quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát với người bị tạm giữ là các cơ quan này phải tạo điều kiện để họ có thể ghi nhận những chứng cứ, những tình tiết ngoại phạm của mình Việc tham gia của người bị tạm giữ lúc này có thể giúp họ quan sát hiện trường nhận định được những chứng cứ thu nhận được nếu có liên quan đến mình để kịp thời trình bày lý
do mình không liên quan đến vụ án Hai bên trên cơ sở xem xét các chứng cứ tồn tại khách quan mà cơ quan tiến hành tố tụng không được quy kết bất cứ sự buộc tội nào với người bị tạm giữ Khi Điều tra viên tiến hành thực nghiệm, người bị tạm giữ phải cùng Kiểm sát viên quan sát, theo dõi các hoạt động, thao tác của Điều tra viên
để thực hiện các yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện đúng thủ tục tố tụng hoặc đưa
ra yêu cầu khắc phục kịp thời đối với Điều tra viên không tuân thủ các quy định tại Điều 154 BLTTHS Sau khi kết thúc việc thực nghiệm điều tra Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng với người tạm giữ phải ký vào biên bản để kết quả thực nghiệm điều tra được khách quan, dân chủ tiến hành đúng theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, vẫn có một số hoạt động thể hiện người bị tình nghi bất bình đẳng với cơ quan tiến hành tố tụng Đó là việc Cơ quan điều tra có quyền áp dụng biện pháp bắt người để bảo đảm hoạt động điều tra, ngăn chặn tội phạm như bắt người trong trường hợp khẩn cấp (Điều 81 BLTTHS), bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã (Điều 82 BLTTHS) và có thể áp dụng biện pháp tạm giữ đối với