Tuy nhiên, nhiều vấn đề bất cập quy định trong luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng, cần tiếp tục nghiên cứu để có những kiến nghị và giải pháp nhằm làm cho “Nguyên tắc bảo đả
NHẬN THỨC CHUNG VÀ NỘI DUNG CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người bị tình nghi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm trong vụ án hình sự Họ chỉ là người bị tình nghi thực hiện tội phạm nên pháp luật quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có những quyền và nghĩa vụ nhất định trong quá trình giải quyết vụ án và một trong những quyền quan trọng đó là quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Do đó việc xác định rõ tư cách pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là yêu cầu thiết yếu phục vụ cho việc nghiên cứu nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
Theo khoản 1 Điều 48 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ’’
Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, họ bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, kể cả trường hợp người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, đã có quyết định bị tạm giữ Mặc dù họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ Họ bị hạn chế quyền tự do và có trách nhiệm khai báo hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra Chính vì lẽ đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng, có các quyền và nghĩa vụ nhất định
Người bị tạm giữ cũng có thể là người bị khởi tố về hình sự Bị can, bị cáo, người bị kết án, người đang chấp hành án, nếu bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ thì cũng là người bị tạm giữ Trong thời gian tạm giữ, họ cũng có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ được quy định cụ thể tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Theo khoản 1 Điều 49 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự’’ Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm Tư cách tố tụng của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát đình chỉ vụ án; Tòa án đình chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) đối với bị can; hoặc Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Khi một người bị khởi tố về hình sự (khởi tố bị can), họ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án, nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc xác định họ là người có tội Đây là vấn đề có tính nguyên tắc Điều 9 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật’’ Các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ được phép tiến hành các biện pháp tố tụng nhất định đối với họ để xác định sự thật vụ án Bên cạnh các nghĩa vụ, bị can còn được pháp luật quy định cho các quyền để họ có thể tự bảo vệ mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình không bị xâm phạm Các quyền và nghĩa vụ của bị can được quy định tại Điều 49 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Theo khoản 1 Điều 50 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
“Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử’’ Bị cáo tham gia tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Cũng như khái niệm bị can, bị cáo cũng là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào quyết định tố tụng được áp dụng đối với người đó Một người sẽ trở thành bị cáo khi có quyết định đưa ra xét xử của Tòa án
Vì vậy, bị cáo không đồng nghĩa với chủ thể của tội phạm Trên thực tế bị cáo cũng có thể không phải là chủ thể của tội phạm, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đã có hiệu lực pháp luật Bị cáo cũng có một số quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định tại Điều 50 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.1.2 Khái niệm về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Trong khoa học luật tố tụng hình sự ở nước ta, quan điểm phổ biến khi nói về nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự thường xuất phát từ nhận thức cho rằng nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo quá trình nhận thức, xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự hoặc là những phương châm, định hướng chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự, được các văn bản pháp luật ghi nhận Nhận thức như vậy hoàn toàn không sai nhưng không đầy đủ và dễ làm cho chúng ta ngộ nhận rằng các nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng là do các nhà làm luật nghĩ ra, phát minh ra hay đặt ra Nói một cách khác, dường như các nhà nghiên cứu mới chỉ nhấn mạnh tính chủ quan khi nói về những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Phải thấy rằng các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự trước hết luôn là những quy luật khách quan tồn tại không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Các quy luật khách quan này luôn phản ánh và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể mà nó tồn tại trong đó Các quy luật khách quan tồn tại tự thân nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của chúng ta, cũng như việc có nhận thức được những quy luật khách quan này hay không, nhận thức về chúng có đầy đủ hay không lại là chuyện khác Vì vậy, nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự còn là sản phẩm của hoạt động nhận thức, phản ánh quy luật khách quan trong hoạt động lập pháp của nhà làm luật Đây chính là một trong những thuộc tính quan trọng - thuộc tính chủ quan của nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Nếu như kết quả nhận thức về những quy luật khách quan mới chỉ tồn tại dưới dạng các học thuyết, các quan điểm khoa học thì cũng chưa thể được xem là những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Kết quả của nhận thức này phải được thể hiện trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự Chỉ lúc đó chúng mới được xem là những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, mới thực sự có vai trò là những tư tưởng pháp lý - chính trị chủ đạo, là xuất phát điểm, nền tảng có ý nghĩa định hướng cho hoạt động của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Được ghi nhận trong luật – có tính quy phạm thì các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự mới có hiệu lực bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và được bảo đảm tuân thủ 1 Như vậy khi nói về nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, nó phải bảo đảm ba yếu tố tồn tại trong nó là tính khách quan, tính chủ quan và tính quy phạm
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nên nó cũng có đầy đủ ba yếu tố trên Đó chính là kết quả nhận thức của các nhà làm luật về sự tồn tại khách quan trong hoạt động tố tụng hình sự, bởi khi xuất hiện chức năng buộc tội thì kéo theo sự xuất hiện của chức năng bào chữa Giữa chúng có một mối liên kết chặt chẽ, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc tội như một tất yếu khách quan Nguyên tắc này thừa nhận mối quan hệ giữa các chủ thể có quyền bào chữa (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) với các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội, trong đó quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được bảo vệ Hay nói cách khác, phải bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Điều này là cơ sở để các nhà làm luật nước ta nhìn nhận việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một nguyên tắc cơ bản quan trọng trong tố tụng hình sự, định hướng hoạt động tố tụng hình sự phải được vận hành trên tinh thần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo như sau: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là những quy luật khách quan của hoạt động tố tụng hình sự, được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, có ý nghĩa chỉ đạo, bảo đảm tất cả các quyền
1 Nguyễn Thái Phúc (2008), “Hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003”, Tạp chí khoa học pháp lý, (02), tr 46 – 47 mà pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ.
Cơ sở của việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
1.2.1 Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo’’ đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền con người Ý thức về quyền con người và thực hiện quyền con người có một quá trình lịch sử lâu dài gắn với lịch sử loài người và giải phóng con người qua các hình thái kinh tế xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp, qua đó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại Quyền con người vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội Với tư cách là một thực thể sinh học và là thực thể xã hội con người cần được bảo đảm về quyền ăn, ở, mặc, đi lại để tồn tại Mặt khác, con người cần phải có quyền được học tập, hoạt động xã hội, tự do cá nhân và được pháp luật bảo vệ Nội dung và tiêu chuẩn của quyền con người được quyết định bởi chế độ kinh tế - chính trị của một xã hội nhất định nào đó, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của quan niệm văn hóa và giá trị truyền thống của một quốc gia và dân tộc Mỗi Nhà nước phải có trách nhiệm ghi nhận và bảo đảm quyền con người bằng những quy định của pháp luật, mức độ ghi nhận và bảo đảm tùy thuộc vào bản chất của nhà nước đó
Dưới chế độ chiếm hữu nô lệ, người nô lệ không được coi là con người, không có và không được thừa nhận các quyền con người ấy Đến chế độ phong kiến, so với chế độ chiếm hữu nô lệ đã tiến bộ hơn trong việc giành lại tự do và giải phóng con người, nhưng quyền con người trong chế độ phong kiến chưa được nhắc đến và được bảo vệ Giai cấp tư sản là những người đầu tiên nêu cao ngọn cờ nhân quyền, biết lợi dụng những tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, vốn là yêu cầu bức thiết của nhân dân lao động, tuyệt đối hóa tự do cá nhân, nhấn mạnh các yếu tố cá nhân trong khái niệm quyền con người
“quyền tư hữu thiêng liêng’’ Lần đầu tiên các quyền con người được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ’’ Khi Cách mạng tư sản Pháp thành công năm
1791, bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp cũng đã khẳng định:
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi’’ Tuy nhiên, giai cấp tư sản chỉ công nhận và bảo vệ quyền con người cho giai cấp mình, một giai cấp chiếm thiểu số đang thống trị và bóc lột các tầng lớp nhân dân lao động
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người được ghi nhận và bảo đảm trong tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội và cho mọi tầng lớp nhân dân lao động Ở nước ta, việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu bên cạnh công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Quyền con người được Nhà nước tôn trọng và bảo vệ, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của nước ta Trong đó, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới của nước ta đã khẳng định tại Điều 50 như sau: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật’’
Quyền con người, trong đó có quyền bào chữa đã trở thành một giá trị pháp lý được quốc tế hóa khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bản Tuyên ngôn về nhân quyền ngày 10/12/1948 Khoản 1 Điều 11 Tuyên ngôn này khẳng định: “Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một Tòa án công khai, nơi người đó có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp’’ 2
Quyền con người và bảo vệ quyền con người luôn là vấn đế quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người là nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm Trong tố tụng hình sự cũng vậy, việc giải quyết vụ án hình sự không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội Bởi vì khi tham gia vào tố tụng hình sự với tư cách là người bị buộc tội, người bị tạm
2 http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/05/03/2808/ giữ, bị can, bị cáo vẫn là một con người, một công dân Để bảo đảm quyền con người của họ, pháp luật tố tụng hình sự phải ghi nhận cho họ một số quyền nhất định, trong đó có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa (gọi chung là quyền bào chữa) Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là sự tự do bác bỏ các chứng cứ buộc tội và các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo những điều kiện cần thiết để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực thi sự tự do đó Như vậy, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng và quyền con người nói chung, pháp luật tố tụng hình sự đã quy định những người này có quyền bào chữa Việc thực hiện quy định này một mặt bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, mặt khác giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, đúng pháp luật
Có thể thấy rằng, quyền bào chữa là một nội dung cơ bản thể hiện quyền con người và quyền con người là cơ sở lý luận hình thành nên nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.2 Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo’’ thể hiện bản chất của Nhà nước ta Điều 2 Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ’’ Ở nước ta, nhân dân là người chủ của đất nước, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đều do nhân dân quyết định Đảng và Nhà nước ta quyết tâm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, phát huy quyền lực của nhân dân Mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân dân
Pháp luật do Nhà nước ban hành nên pháp luật luôn thể hiện bản chất của Nhà nước tạo ra nó Chính vì vậy pháp luật Nhà nước ta nói chung, pháp luật tố tụng hình sự nói riêng luôn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân lao động, bảo vệ công bằng xã hội Trong tố tụng hình sự của nước ta quyền của người dân luôn được bảo vệ khi tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định cho người bị buộc tội có các quyền để bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng, trong đó có một quyền đặc biệt quan trọng là quyền bào chữa Quyền bào chữa của người bị buộc tội được ghi nhận là một nguyên tắc Hiến định và là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự Tại Điều 11 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này’’ Như vậy người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa trong mọi giai đoạn tố tụng nhằm chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Mặt khác quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là điều kiện để giám sát hoạt động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa đã góp phần thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luật hình sự và tố tụng hình sự nước ta: Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể của nhân dân, quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Như vậy, một trong những cơ sở của việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân ’’
1.2.3 Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo’’ đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, chức năng bào chữa tồn tại song song với chức năng buộc tội như một nhu cầu tất yếu khách quan Nó xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của tố tụng hình sự được đặt ra đối với tất cả các cơ quan, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng Sẽ không xuất hiện sự tranh tụng nếu tố tụng hình sự chỉ đơn thuần là buộc tội Nếu quan niệm buộc tội là chức năng duy nhất của tố tụng hình sự thì sẽ dẫn đến sai lầm là người ta chỉ chú ý tới các chứng cứ buộc tội mà không chú ý đến những chứng cứ gỡ tội Điều này đến lượt nó gây ra các hiện tượng tiêu cực có thể có như mớm cung, bức cung, dùng nhục hình , hậu quả tai hại là truy tố, xét xử, làm oan người vô tội Vì vậy để vụ án hình sự được giải quyết khách quan, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải duy trì hai chức năng buộc tội và bào chữa Hai chức năng này tồn tại song song ở tất cả các giai đoạn của hoạt động tố tụng hình sự Nếu không thừa nhận hoặc tước bỏ chức năng bào chữa ở bất kỳ một giai đoạn nào của tố tụng hình sự đều đi ngược với mục đích hoặc làm giảm hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự
Lịch sử hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.3.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa thể hiện qua giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 có hiệu lực thi hành
Trước bối cảnh thế giới thuận lợi, cùng với sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã thành công và Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa - Nhà nước đầu tiên của giai cấp công nhân và nông dân ở Đông Nam Á được thành lập Nhiệm vụ của Nhà nước non trẻ lúc này là củng cố chính quyền, kịp thời ban hành pháp luật cách mạng làm vũ khí chống lại thù trong, giặc ngoài, xây dựng xã hội mới Mặc dù trong những ngày đầu khi cách mạng mới thành công, có biết bao nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó có nhiệm vụ đấu tranh chống các loại tội phạm nhưng chính quyền dân chủ nhân dân vẫn rất quan tâm tới nhiệm vụ bảo vệ các quyền dân chủ của công dân trong đó có quyền bào chữa trước Tòa án
Ngày 13/9/1945, Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 33C về việc thiết lập các Tòa án quân sự Đoạn 4 Điều V Sắc lệnh này quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho’’ Ngày 10/10/1945, Sắc lệnh số 46 - SL về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư ra đời Theo Điều thứ
2 Sắc lệnh này quy định: “Các luật sư có quyền bào chữa ở tất cả các Tòa án hàng tỉnh trở lên và trước các Tòa án quân sự’’
Ngày 23/11/1945, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 64 - SL, thiết lập một ban thanh tra đặc biệt, trong đó quy định một Tòa án đặc biệt được thành lập để xử những nhân viên của Ủy ban nhân dân hay các cơ quan của Chính phủ bị ban thanh tra truy tố (Điều III) Trước các Tòa án này “Bị cáo có thể tự bào chữa lấy hay nhờ luật sư bênh vực Ông Hội thẩm thuyết trình có thể cử một luật sư ra bào chữa không cho bị cáo’’(Điều V)
Sắc lệnh số 13 - SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán, tại Điều thứ 44 quy định: “Trong việc đại hình, nếu trước Tòa Thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn’’ Tại Điều thứ 46 quy định: “Các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Tòa án trừ những Tòa án sơ cấp’’
Ngày 23/8/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163- SL về việc tổ chức Tòa án binh lâm thời đặt tại Hà Nội Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định:
“ Bị can có thể tự bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho Đối với những tội có thể phạt trên năm năm tù mà bị can không có luật sư bào chữa cho thì Tòa sẽ yêu cầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn’’
Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám đã là vũ khí, là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó có quyền bào chữa trước Tòa án Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau, bước đầu quyền bào chữa đã được xác định bao hàm quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa và một số trường hợp đã được chỉ định người bào chữa Tuy nhiên, bảo đảm quyền bào chữa chưa được quy định như là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam; việc nhờ người khác bào chữa mới chỉ được quy định cho một số trường hợp; khái niệm bị can, bị cáo chưa được làm rõ và chưa được sử dụng một cách thống nhất trong các văn bản pháp luật; các trường hợp được chỉ định người bào chữa mới bước đầu được đề cập, các quy định chưa cụ thể và việc chỉ định luật sư bào chữa xem ra phụ thuộc nhiều vào ý kiến của Tòa án
Song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh những quan hệ xã hội trong tất cả các lĩnh vực, Nhà nước đã quan tâm xúc tiến những công việc cần thiết chuẩn bị cho việc dự thảo và ban hành Hiến pháp Ngày 09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Với ý nghĩa là luật cơ bản, Hiến pháp năm 1946 đã quy định nhiều nguyên tắc quan trọng trong đó có nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo Đoạn 2, Điều 67 Hiến pháp quy định: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư’’ Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam vấn đề bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo được quy định là một nguyên tắc Hiến định Đây là nền móng cho quá trình phát triển và hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Quyền bào chữa được Hiến pháp năm
1946 xác định gồm hai nội dung: Tự bào chữa và nhờ luật sư bào chữa
Ngày 18/6/1949, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 69 - SL, tại Điều 2 quy định: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử ra một người bào chữa cho bị can’’ Sau đó, Điều 1 của Sắc lệnh này đã được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 1 của Sắc lệnh số 144- SL ngày 22/12/1949 như sau: “ Từ nay, trước các Tòa án thường và
Tòa án đặc biệt xử các việc tiểu hình, đại hình, trừ các Tòa án binh tại mặt trận, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận’’ Có thể nói
Sắc lệnh số 69 - SL và Sắc lệnh số 144 - SL đã bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chế độ bào chữa viên nhân dân ở nước ta
Tiếp theo đó, ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ về việc ấn định điều kiện để làm bào chữa viên Theo Điều 1 Nghị định này, những công dân sau đây có thể được cử ra hay thừa nhận để bào chữa trước Tòa án:
- Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà;
- Hạnh kiểm tốt và chưa can án
Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyển sang Tòa án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư
Việc thừa nhận khi tham gia tố tụng, bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp lý như luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ nhằm thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo Để tạo điều kiện cho bị cáo có đủ thời gian chuẩn bị bào chữa tại phiên tòa, ngày 24/10/1956 Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 2225/HCTP trong đó quy định “việc giao bản cáo trạng cho bị cáo chậm nhất là ba ngày trước khi mở phiên tòa’’ Đây là quy định rất cần thiết để bị cáo và người bào chữa của họ có thể nghiên cứu, chuẩn bị trước những tình tiết, những chứng cứ có lợi khi tham gia phiên tòa
Hiến pháp năm 1959 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo một lần nữa được ghi nhận tại Điều 101 với nội dung: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm’’ Như vậy, nếu Hiếp pháp năm 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữa cho bị cáo thì Hiến pháp năm 1959 đã tiến bộ hơn, khẳng định cả cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Cùng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, ngày 15/7/1960 Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định cụ thể hơn quyền bào chữa của bị cáo, tại Điều 7 quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, ngoài việc tự bào chữa ra, bị cáo có thể nhờ luật sư bào chữa cho mình Bị cáo cũng có thể nhờ một công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệu hoặc được Tòa án nhân dân chấp nhận bào chữa cho mình Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo’’
Nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Theo quy định tại Điều 11 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì nội dung của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo gồm những nội dung chính sau:
- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa;
- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật
6 http://tks.edu.vn/law/detail/1280_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-Nhat-Ban.html
7 http://tks.edu.vn/law/detail/1280_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-Nhat-Ban.html
Như vậy quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa, hai quyền này tồn tại song song không tách rời nhau, không loại trừ lẫn nhau Nghĩa là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình bào chữa cho mình trong quá trình tham gia tố tụng hình sự và cũng có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Trong trường hợp nhờ người khác bào chữa thì người bị tạm giữ, bi can, bị cáo vẫn có quyền tự bào chữa cho mình
1.4.1 Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước hết là quyền tự bào chữa Họ có quyền tự mình thực hiện các quyền mà pháp luật dành cho họ để gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Đây là quyền năng tố tụng đặc thù mà pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phát sinh từ khi có quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp vụ án có người bị tạm giữ thì quyền này phát sinh từ khi có quyết định tạm giữ Xuất phát từ việc quy định tên gọi của người bị buộc tội tương ứng với từng giai đoạn tố tụng mà họ được pháp luật quy định các quyền cụ thể Bên cạnh những quyền riêng mà pháp luật tố tụng hình sự quy định cho họ tương ứng với từng giai đoạn tố tụng thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có những quyền chung sau:
- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đều có những hiểu biết về pháp luật nói chung, cũng như quyền và nghĩa vụ của mình trong tố tụng hình sự nói riêng Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn kẽ cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quy định này giúp cho những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có kiến thức về pháp luật hiểu được họ có những quyền và nghĩa vụ như thế nào Từ đó họ biết được họ được làm gì, để tránh trường hợp họ có quyền mà không biết để thực hiện Đây là một quyền có thể nói là quyền gián tiếp cho việc bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bởi vì thông qua việc giải thích quyền và nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo biết được mình có những quyền gì và từ đó họ thực hiện các quyền đó để bào chữa cho mình
- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền trình bày lời khai: Lời khai của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là việc họ khai về những tình tiết liên quan đến vụ án mà họ bị tình nghi là đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm
Họ bày tỏ quan điểm của mình về việc chứng minh tình trạng phạm tội của họ, từ đó thể hiện quan điểm tự bào chữa Lời khai của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được coi là một trong những chứng cứ của vụ án và được kiểm tra đánh giá theo trình tự luật định Ở đây cần phải khẳng định rằng, việc đưa ra lời khai hay nói cách khác là trình bày về những tình tiết của vụ án là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứ không phải là nghĩa vụ của họ Nếu họ thực hiện một cách thành khẩn với thái độ ăn năn, hối cải thì họ sẽ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Trường hợp họ không muốn khai báo thì họ không bị bắt buộc khai báo, còn nếu người có thẩm quyền ép buộc họ khai báo thì người có thẩm quyền đã vi phạm pháp luật Khoản 2, Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội’’ Pháp luật không quy định trách nhiệm với bị can, bị cáo về hành vi từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, trong khi đó pháp luật nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, mớm cung, dùng nhục hình để buộc họ phải nhận tội Nếu Điều tra viên, Kiểm sát viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 299 và Điều 298 của Bộ luật hình sự năm
1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009
- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật nhằm chứng minh mình không phạm tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình Đây là quyền quan trọng giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Cơ quan tiến hành tố tụng khi nhận được các tài liệu, đồ vật do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cung cấp phải tiến hành kiểm tra, đánh giá một cách khách quan theo quy định của pháp luật Ngoài ra họ cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như: Yêu cầu xác minh lại sự việc, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra những bằng chứng được coi là căn cứ bắt giữ họ; yêu cầu được tham dự việc khám nghiệm hiện trường; tham gia hoạt động thực nghiệm điều tra; yêu cầu được thông báo về kết quả giám định; yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng; yêu cầu hoãn phiên tòa; yêu cầu được xem biên bản phiên tòa
- Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Đây là một quyền tố tụng quan trọng của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, thông qua quyền này họ không chỉ bảo vệ được quyền lợi của mình mà còn góp phần bảo đảm cho các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng được đúng đắn hơn Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là những người có quyền tiến hành những hoạt động tố tụng hình sự, có quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế, những quyết định tố tụng mà khi tiến hành hay khi áp dụng chúng thì quyền và lợi ích thiết thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị hạn chế, bị xâm hại Vì vậy nếu pháp luật bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thì các quyết định tố tụng, các hành vi tố tụng sai trái của cơ quan, người tiến hành tố tụng sẽ được phát hiện và khắc phục kịp thời Việc bảo đảm thực hiện quyền này từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng là sự bảo đảm quyền tố tụng cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ
Bên cạnh những quyền chung thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có những quyền riêng mang tính đặc thù của từng giai đoạn tố tụng
* Đối với người bị tạm giữ:
- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ: Để bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện quyền tự bào chữa của mình, điểm a, khoản 2, Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ’’ Ngay từ lúc bị bắt, họ được nghe đọc biên bản bắt người và có quyền ghi ý kiến của mình vào biên bản Quyết định tạm giữ được giao cho người bị tạm giữ một bản Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ, đây là một quyền cơ bản và tiếp theo là các quyền và nghĩa vụ khác mà họ phải được bảo đảm thực hiện Khi biết được lý do mình bị tạm giữ, người bị tạm giữ có quyền tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người khác bào chữa, quy định này nhằm chuẩn bị cho người bị tạm giữ có quyền lựa chọn các quyền của mình, thực hiện hay không thực hiện quyền đó Đồng thời đây cũng là căn cứ để người bị tạm giữ khiếu nại về việc bị tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền liên quan đến việc bị tạm giữ của mình
- Bị can có quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì: Được biết mình bị khởi tố về tội gì, bị can sẽ có những chuẩn bị tốt hơn cho việc gỡ tội và minh oan cho mình hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can đó cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn việc khởi tố Cơ quan điều tra cũng phải giao ngay quyết định khởi tố bị can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can theo quy định tại Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay cho người đã bị khởi tố Đây là một quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 so với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, giúp tránh được những sai sót trong việc ra quyết định khởi tố bị can, sự chặt chẽ này cũng làm cho bị can tin tưởng hơn vào tính nghiêm minh của pháp luật Đây là quyền đầu tiên và căn bản của bị can được quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, nhằm giúp cho bị can nhận biết được việc cần hay không cần người bào chữa cũng như chuẩn bị tốt hơn việc bào chữa cho mình
- Bị can có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch: Trong quá trình điều tra, bị can có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch nếu thấy những người này có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ Việc họ tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ án được giải quyết không khách quan, công bằng làm xấu thêm tình trạng của bị can Đây là một quyền tố tụng rất quan trọng giúp cho bị can bảo vệ một cách tích cực các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi họ thấy những người tiến hành tố tụng hoặc những người tham gia tố tụng (người giám định, người phiên dịch) có những căn cứ hoặc có những biểu hiện không vô tư khi làm nhiệm vụ, làm cho kết quả điều tra bị sai lệch, không đúng sự thật Các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết yêu cầu của bị can nếu yêu cầu đó là có căn cứ Đồng thời với việc quy định quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch cho bị can, Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định những trường hợp người tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi và người giám định, người phiên dịch phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi
- Bị can có quyền được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng; quyết định truy tố; các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quyền được giao nhận các quyết định tố tụng của các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền và sự bảo đảm thực hiện nó từ phía cơ quan và cá nhân có thẩm quyền không chỉ giúp cho bị can bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà còn bảo đảm cho họ biết được diễn biến của tiến trình giải quyết vụ án và những khả năng, tình huống có thể xảy ra đối với họ Quy định này hết sức quan trọng giúp cho bị can thực hiện tốt quyền bào chữa của mình Có đọc và biết được những tình tiết của vụ án liên quan đến bản thân thì bị can mới có khả năng chuẩn bị việc bào chữa cho mình Để bảo đảm cho các quyền trên của bị can được thực hiện, khoản 6 Điều 126 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can của mình hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát; khoản 2 Điều 160 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, bị hại; khoản 4 Điều 162 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can; khoản 1 Điều 166 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ra một trong những quyết định: truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo, giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc tạm đình chỉ vụ án cho bị can
- Bị can có quyền tham gia một số hoạt động điều tra: Để tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền bào chữa, tại khoản 2 Điều 150 và khoản 2 Điều
153 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: Khi khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra, trong trường hợp cần thiết bị can cũng có thể tham gia Quy định này nhằm bảo đảm tính khách quan trong việc thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bị can thực hiện quyền bào chữa của mình
Nội dung pháp luật thực định có liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
2.1.1 Những quy định trong Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một nguyên tắc Hiến định và là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự nước ta Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, là đạo luật chính, đạo luật cơ bản, là cơ sở cho mọi ngành luật hình thành và phát triển Tại Điều 132 Hiến pháp năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm
2001 của nước ta quy định: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa’’ Như vậy Hiến pháp đã ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm hai nội dung tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi thiết chế Nhà nước, xã hội đều phải nhằm phục vụ và bảo đảm lợi ích của nhân dân Nhân dân là nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần của xã hội, là chủ nhân của đất nước Hiến pháp ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội cũng nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân, bảo vệ quyền con người, thể hiện bản chất của nhà nước ta Để cụ thể hóa quyền bào chữa của người bị buộc tội ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã ghi nhận quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự và được bảo đảm thực hiện bằng việc quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội, của người bào chữa và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội Tại Điều 11 của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này’’ Bên cạnh nguyên tắc, để bảo đảm cho quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện, Bộ luật tố tụng hình sự cũng đã quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội, của người bào chữa và trách nhiệm của cơ quan tố tụng xuyên suốt quá trình tố tụng, trong đó tập trung nhất ở các Điều 48, 49,
50, 56, 57, 58 của Bộ luật tố tụng hình sự
2.1.2 Những quy định trong các văn bản dưới luật, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Để bảo đảm cho quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện một cách có hiệu quả, ngoài quy định của Hiếp pháp và Bộ luật tố tụng hình sự thì còn có các văn bản quy phạm dưới luật quy định về quyền bào chữa của người bị buộc tội Liên quan vấn đề này, cần xem xét nội dung một số Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Bộ Công an quy định về việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội như sau:
- Nghị quyết số: 03/2004/NQ- HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung’’ của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Tại phần II của Nghị quyết hướng dẫn chi tiết về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Cụ thể: Tại mục 1 phần II của Nghị quyết quy định về việc kiểm tra các thủ tục liên quan việc nhờ người bào chữa trước và sau khi thụ lý vụ án hình sự để xử lý theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Tại mục 2 phần II của Nghị quyết hướng dẫn thi hành khoản 1 Điều 57 của Bộ luật tố tụng hình sự Theo đó tại điểm b.2 mục 2 phần II của Nghị quyết đã thừa nhận việc nhờ người bào chữa đối với người thân thích của bị can, bị cáo với điều kiện họ phải hỏi ý kiến của bị can, bị cáo, nếu đồng ý thì Tòa án xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa Ngoài ra tại mục
3 phần II của Nghị quyết cũng quy định chi tiết cách thức, thủ tục để Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho các bị can, bị cáo là người chưa thành niên
- Nghị Quyết số: 05/2005/NQ - HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm’’ của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Tại mục 1 Phần I của Nghị quyết đã quy định chi tiết về quyền kháng cáo của bị cáo, trong đó quy định ngoài bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo (trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất) có quyền kháng cáo thì người bào chữa cho bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Ngoài ra tại mục 3 Phần II của Nghị quyết còn quy định việc bảo đảm sự có mặt của người bào chữa tại phiên tòa, theo đó Tòa án có trách nhiệm triệu tập người bào chữa tham gia phiên tòa Nếu người bào chữa không được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa thì phải hoãn phiên tòa
- Để bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, mới đây Bộ Công an đã ban hành Thông tư 70/TT - BCA ngày 10/10/2011 của Bộ trưởng
Bộ công an quy định chi tiết thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Mặc dù những quy định của Thông tư chưa thật sự tháo gỡ hết những vướng mắc trong thực tiễn nhưng cũng đã góp phần vào việc bảo đảm hơn quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can Tại Điều 4 của Thông tư quy định trách nhiệm giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị buộc tội của Điều tra viên khi giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ, quyết định khởi tố bị can cho bị can Trong biên bản giao nhận quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố, Điều tra viên phải ghi rõ ý kiến của người bị tạm giữ, bị can về việc có nhờ người bào chữa hay không Nếu người bị tạm giữ, bị can có yêu cầu thì Điều tra viên có trách nhiệm hướng dẫn họ thực hiện yêu cầu của mình Một quy định mới, tiến bộ trong Thông tư là việc quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa Thông tư đã quy định cụ thể về thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho từng đối tượng là Luật sư; Bào chữa viên nhân dân; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can (các Điều 5,
6) Ngoài ra Thông tư còn quy định chi tiết về việc người bào chữa có mặt khi hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị tạm giữ; trường hợp thay đổi Điều tra viên, người giám định, người phiên dịch theo đề nghị của người bào chữa; việc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa của người bào chữa; việc người bào chữa gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam; việc thực hiện quyền của bị can, người bào chữa sau khi kết thúc điều tra vụ án.
Những kết quả đạt được
2.2.1 Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Quyền tự bào chữa là một quyền quan trọng trong quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Vì nhiều lý do khác nhau mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thường tự bào chữa cho mình Theo báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư năm 2006 của Bộ Tư pháp thì “các luật sư trên toàn quốc đã tham gia 64.173 vụ án hình sự, chiếm khoảng 21% tổng số vụ án hình sự được điều tra, xử lý’’ 8 Qua báo cáo trên cho thấy bình quân mỗi năm (từ năm
2007 - 2011) số vụ án hình sự do bị cáo tự bào chữa chiếm 79% Đất nước ngày càng phát triển, trình độ dân trí và sự hiểu biết về pháp luật của người dân cũng ngày một nâng cao Do đó bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo phần nào cũng nhận thức được những quyền mà pháp luật quy định cho mình khi tham gia tố tụng hình sự, nhận thức đúng về vị trí, vai trò của bản thân Điều này cho phép họ tự mình bào chữa bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh đó, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng nâng cao nhận thức, tôn trọng quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tạo thuận lợi cho họ thực hiện đầy đủ các quyền mà pháp luật quy định cho họ để tự bào chữa cho mình, đặc biệt là bảo đảm quyền tranh tụng của bị cáo tại phiên tòa
Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2012 của ngành Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đã giải quyết, xét xử được 75.014 vụ án với 127.247 bị cáo, đạt 97%, tăng hơn cùng kỳ năm trước 6.633 vụ với 12.259 bị cáo Trong đó giải quyết,
8 Bộ tư pháp (2012), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật Luật sư, Số 46/BC/BTP, tr.4 xét xử theo thủ tục sơ thẩm 60.925 vụ với 107.000 bị cáo, theo thủ tục phúc thẩm 13.896 vụ với 19.989 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 193 vụ với 258 bị cáo Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,5% (do nguyên nhân chủ quan là 0,4% và do nguyên nhân khách quan là 0,1%), bị sửa là 4,8% (do nguyên nhân chủ quan là 0,4% và do nguyên nhân khách quan là 4,4%) So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan giảm 0,04%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0.05% 9
Trong Báo cáo trên cũng cho biết: Trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án đã bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ Các phán quyết của Tòa án chủ yếu căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét một cách khách quan, toàn diện các chứng cứ của vụ án nên đã bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Như vậy, trong một chừng mực nhất định, qua các báo cáo trên đã gián tiếp cho thấy rằng quyền bào chữa, trong đó có quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã phần nào được bảo đảm Mặc dù, tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan còn khá cao, trong đó một phần là do sự tham gia của người bào chữa trong các vụ án hình sự còn ít
2.2.2 Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Ngoài quyền tự bào chữa thì người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn có quyền nhờ người khác bào chữa cho mình Người bào chữa (chủ yếu hiện nay là luật sư) là chủ thể đem lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, giúp việc giải quyết vụ án diễn ra một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội Có thể nói, trong lịch sử tư pháp nước ta, chưa bao giờ người bào chữa nói chung, Luật sư nói riêng có cơ hội thực hiện quyền bào chữa như hiện nay Chính sự phát triển kinh tế, sự mở rộng dân chủ cộng hưởng với quá trình cải cách tư pháp đã nâng cao vị thế của người bào chữa trong tố tụng
9 Tòa án nhân dân tối cao (2011), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và nhiệm vụ trọng tâm công tác năm
2012 của ngành Tòa án nhân dân, Số 36/BC – TA, tr 2 hình sự Trong những năm qua, đặc biệt từ khi Đảng và Nhà nước phát động công cuộc cải cách tư pháp, vị trí, vai trò của người bào chữa ngày càng được khẳng định Có được điều đó, trước hết là do đội ngũ những người làm công tác bào chữa (chủ yếu là luật sư) đã từng bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Theo báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, “cả nước có 62 Đoàn luật sư, với 6.824 luật sư và 3.500 luật sư tập sự’’ 10 Cũng theo báo cáo trên, trong năm 2011 “theo thống kê của 53/62 Đoàn luật sư, các luật sư đã tham gia được 17.507 vụ án hình sự ’’ 11 Như vậy số vụ án hình sự có sự tham gia của người bào chữa ngày càng tăng, hoạt động bào chữa của luật sư đã đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu giúp đỡ pháp lý nói chung và nhu cầu bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong vụ án hình sự nói riêng, đóng góp đáng kể cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Bên cạnh đó, từ khi thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, các cơ quan tiến hành tố tụng đã chấn chỉnh rất nhiều và tạo điều kiện cho người bào chữa tham gia tố tụng tốt hơn so trước đây, góp phần bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
Có thể khẳng định, việc tạo điều kiện thuận lợi cho luật sự tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra cho bị can đã có bước chuyển từ phía cơ quan điều tra các cấp, thể hiện qua việc nhanh chóng xem xét các thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa Một số cơ quan An ninh và Cảnh sát điều tra Bộ công an, các địa phương đã đơn giản hóa trình tự và thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa, bảo đảm thời hạn và chỉ đạo cho Điều tra viên trao đổi, thống nhất kế hoạch tham gia của luật sư từ giai đoạn điều tra, bao gồm việc tham gia các buổi hỏi cung bị can, xem xét tài liệu, giám định, chứng kiến việc bán đấu giá Trong một số vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố
Hồ Chí Minh còn tạo điều kiện mời luật sư tham gia chứng kiến quá trình
10 Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Số 01/BC – LĐLSVN, tr 5
11 Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và phương hướng hoạt động năm 2012 của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Số 01/BC - LĐLSVN, tr 4 giám định văn hóa phẩm đồi trụy, trong quá trình hỏi cung bị can, cho phép luật sư tham gia đặt câu hỏi để làm rõ hành vi khách quan và nhận thức của bị can Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia từ giai đoạn điều tra bằng những hành động cụ thể: Chấp thuận ngay khi luật sư có yêu cầu tham dự buổi hỏi cung; tiến hành xác minh điều tra những tài liệu, vật chứng do luật sư và gia đình bị can cung cấp; xem xét các yêu cầu xin bảo lĩnh, tại ngoại điều tra; tổ chức khám, điều trị hoặc giám định y khoa cho những bị can bị mắc bệnh nặng hoặc hiểm nghèo Trong giai đoạn quyết định truy tố, cần ghi nhận các Vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong những năm qua đã rất quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia nghiên cứu hồ sơ sau khi kết thúc điều tra vụ án Đặc biệt, do tính chất kiểm sát điều tra một số vụ án hình sự đặc biệt lớn do Cơ quan điều tra Bộ công an tiến hành điều tra xảy ra ở nhiều địa bàn khác nhau, nhưng thường hồ sơ vụ án được chuyển về Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội, nên các Vụ chức năng và Kiểm sát viên đã chấp thuận cả hình thức cấp giấy chứng nhận người bào chữa qua đường bưu điện khi xét thấy hội đủ các thủ tục theo luật định Trong một số trường hợp, Kiểm sát viên còn tạo điều kiện cho các luật sư ở khu vực phía Nam trình các thủ tục luật sư tại Văn phòng 2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao sau đó nhận được giấy chứng nhận người bào chữa và được tham khảo hồ sơ tại Thành phố Hồ Chí Minh Một số Viện kiểm sát nhân dân các địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Cà Mau, Kiên Giang đã tạo điều kiện nhanh chóng trong việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa và cho phép luật sư tham khảo, sao chụp hồ sơ vụ án và giải quyết những kiến nghị, đề xuất hợp lý, hợp pháp của luật sư Thực tiễn tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự thời gian qua đã cho thấy các cấp Tòa án đã quán triệt và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư được nghiên cứu, sao chụp hồ sơ mà không có bất cứ hạn chế nào Trước đây, một số thủ tục tố tụng đơn giản như tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giao bản án sau khi kết thúc phiên tòa thường ít khi gửi cho luật sư, nay đã được khắc phục Các Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án và các Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã lưu tâm đến các kiến nghị của luật sư trước phiên tòa, chấp nhận việc yêu cầu triệu tập các nhân chứng và người liên quan, xem xét vật chứng tại phiên tòa Trong một số phiên tòa xét xử các vụ án lớn như Trương Văn Cam, Lã Thị Kim Oanh, vụ án Lầu Lý Sáng (Công ty Việt Hùng), vụ án Nguyễn Gia Thiều (Công ty Đông Nam), vụ án Nguyễn Quang Thường và Dương Quốc Hà (VSP và PTSC), vụ án Huỳnh Liên Thuận (Sinhanco) , các Kiểm sát viên và luật sư đã thể hiện được một bước phát triển về văn hóa tranh tụng, ngôn từ được sử dụng chặt chẽ, đúng mức, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau với mục đích nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan, bảo đảm cho việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật 12
Có thể nói, hoạt động bào chữa của luật sư gắn liền với việc mở rộng dân chủ, đã trở thành một nếp sinh hoạt mới của xã hội, một nhân tố tích cực của quá trình lành mạnh hóa xã hội, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, trên cơ sở tôn trọng quyền con người, quyền công dân.
Một số bất cập trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
Bên cạnh những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, thực trạng thi hành các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn nhiều bấp cập, vướng mắc xuất phát từ cả ba phía: Cơ quan, người tiến hành tố tụng; người bào chữa; người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
2.3.1 Những bất cập từ phía cơ quan, người tiến hành tố tụng
- Thứ nhất, tình trạng mớm cung, bức cung
Lời khai là một loại nguồn chứng cứ quan trọng, giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định đúng sự thật khách quan của vụ án, đồng thời cũng là cách thức giúp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bào chữa cho mình Lời khai của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ trở thành một loại nguồn chứng cứ khi bảo đảm được tính khách quan và tính hợp pháp, nó phải thể hiện ý chí
12 Phan Trung Hoài (2006), “Thực trạng và định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền của luật sư tham gia tranh tụng trong các vụ án hình sự’’, Tài liệu hội thảo đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, tr 192 – 193 đích thực của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Mọi hành vi bức cung, mớm cung đều gây ảnh hưởng đến tính hợp pháp, khách quan, chính xác của lời khai, vi phạm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bị pháp luật nghiêm cấm Tuy nhiên, tình trạng mớm cung, bức cung vẫn xảy ra ở cả giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Ở giai đoạn điều tra, tình trạng mớm cung, bức cung khá phổ biến, do không ít cán bộ điều tra muốn rằng những lời khai của bị can phải phù hợp với chứng cứ mà họ thu thập được mà không phải là những lời khai phản ánh đúng sự thật của vụ án Nếu chứng cứ mà bị can đưa ra mâu thuẫn với những chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được sẽ khiến cho Cơ quan điều tra có thể quy kết bị can quanh co, chối tội gây khó khăn, kéo dài vụ án Ở giai đoạn xét xử, các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên vẫn sử dụng các câu hỏi mang tính chất mớm cung như các câu hỏi có đuôi “phải không’’, các câu hỏi có liên từ “hay là’’ Có trường hợp Kiểm sát viên còn quát nạt bị cáo trước phiên tòa
Luật sư Trần Vũ Hải là người tham gia bào chữa trong vụ án “Vườn Điều’’, ông Hải cho biết: Trong vụ án này, không chỉ khâu giám định và khám nghiệm hiện trường có nhiều thiếu sót mà ngay cả hành vi của Điều tra viên cũng trái các quy định của pháp luật, khiến việc giải quyết vụ án không khách quan, chính xác, gây bất bình trong dư luận xã hội Theo tố cáo của các bị can, Điều tra viên nhiều lần sử dụng các biện pháp thẩm vấn trái pháp luật như mớm cung, dụ cung, dùng nhục hình Chẳng hạn, Điều tra viên mớm cung bằng cách cho xem các bức ảnh chụp hiện trường vụ án; cho nghe chi tiết lời khai của người khác trước khi lấy lời khai của bị can, “dạy’’ bị can khai các thông tin “hợp lý’’, đánh gãy răng bị can, hứa hẹn “khai ra sẽ được tha’’ Điều tra viên chỉ tập trung vào hướng xác định sự có tội của bị can nên dẫn đến làm oan nhiều người vô tội Luật sư Hải còn nhấn mạnh, không chỉ vụ án “Vườn Điều’’ mà trong nhiều vụ án khác ông từng tham gia, khi tiếp xúc với bị can, bị cáo, họ đều khẳng định không có tội, không có những hành vi như quyết định khởi tố của Cơ quan điều tra Lý do khiến họ khai những điều mà bản thân họ không muốn là vì bị Điều tra viên xui, khiến, ép buộc
Tuy nhiên, nếu đưa ra Tòa thì cả Viện kiểm sát và Tòa án thường cho rằng không đủ chứng cứ chứng minh 13
Một ví dụ khác, phiên tòa ngày 29/03/2007 tại Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Châu về tội cố ý gây thương tích, bị cáo Châu đã nhiều lần kêu oan vì kết luận khác nhau giữa bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát Trong khi xét hỏi Kiểm sát viên Đ.T.D đã nhiều lần lớn tiếng, dùng những lời lẽ uy hiếp bị cáo Châu Đến cao trào, vị Kiểm sát viên này đùng đùng đứng dậy chỉ tay vào mặt bị cáo thì bị cáo rút từ trong túi quần ra chai thuốc sâu hiệu Dibamerin uống cạn Phiên tòa tạm hoãn và bị cáo Châu phải nhập viện Rất may bị cáo đã không nguy hiểm đến tính mạng và hiện nay đã dần hồi phục 14
- Thứ hai, về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa
Khoản 4, Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định rất cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người bào chữa Tuy nhiên trong thực tế người bào chữa vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp giấy chứng nhận bào chữa Điển hình là việc cơ quan tiến hành tố tụng từ chối cấp giấy chứng nhận bào chữa vì không có giấy yêu cầu người bào chữa của người bị buộc tội, hay giấy nhờ người thân liên hệ nhờ người bào chữa của người bị buộc tội (trong trường hợp người thân yêu cầu người bào chữa) Trong trường hợp người bị buộc tội đang bị tạm giữ, tạm giam, người bào chữa muốn tiếp xúc để có giấy đồng ý chấp nhận người bào chữa của họ thì trước hết người bào chữa phải được cơ quan tố tụng cấp giấy chứng nhận bào chữa Đối với người thân thích của người bị buộc tội đang bị tạm giữ, tạm giam thì việc người thân thích có được giấy nhờ người thân liên hệ nhờ người bào chữa của người bị buộc tội còn khó hơn Ngoài ra, hiện nay một số cơ quan tiến hành tố tụng còn gây khó khăn trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa bằng việc đòi hỏi các loại giấy
13 http://www.baomoi.com/Chung-cu-buc-cung-dung-nhuc-hinh-Lay-dau-ra/58/4104013.epi
14 http://vnexpress.net/Vietnam/Phap-luat/2007/03/3B9F483F/Untitle-12.jpg tờ không nằm trong quy định của pháp luật như hợp đồng dịch vụ pháp lý, chứng chỉ hành nghề, hóa đơn thù lao luật sư…
Về thời hạn cấp giấy chứng nhận người bào chữa: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa để bào chữa cho bị can, bị cáo trong thời hạn ba ngày, cho người bị tạm giữ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa, kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu lý do Thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện việc cấp giấy chứng nhận bào chữa chưa bảo đảm về mặt thời gian quy định trên Nhiều người bào chữa cho rằng, Cơ quan điều tra lảng tránh việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa bằng cách chỉ dẫn gặp Thủ trưởng, phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên một cách lòng vòng gây ra nhiều khó khăn Từ đó dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian cấp giấy chứng nhận người bào chữa
“Trong thư gửi Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, kiêm Trưởng ban Nội chính trung ương, Chủ nhiệm đoàn luật sư Hà Nội, Phạm Hồng Hải khẳng định, quá trình tham gia các vụ án hình sự, luật sư thường bị các cơ quan tiến hành tố tụng gây khó khăn, cản trở như không kịp thời cấp giấy chứng nhận bào chữa để luật sư có thể vào trại gặp bị can’’ 15
Luật sư Đỗ Ngọc Quang cho biết, biểu hiện “cản trở’’ của các cơ quan tiến hành tố tụng với việc hành nghề của luật sư được minh chứng qua việc đơn giản là cấp giấy chứng nhận bào chữa Theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, trong thời hạn 03 ngày, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa, nhưng ông Quang cho rằng, thực tế đã không diễn ra như vậy Ông Quang đánh giá “Gần 100% các trường hợp không được cấp giấy chứng nhận bào chữa đúng thời hạn 03 ngày, cá biệt có khi kéo dài hơn một năm’’ Cùng quan điểm trên, luật sư Nông Thị Hồng Hà nhận xét: “Hầu như rất ít trường hợp luật sư được cấp giấy chứng nhận bào chữa đúng thời hạn Tại một số trường hợp, giấy chứng nhận người bào chữa được Cơ quan điều tra sử dụng như một “công cụ’’ để hạn chế luật
15 http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Gap-kho-gioi-luat-su-to-kho-voi-pho-thu-tuong/10970452/218 sư tham gia tố tụng’’ Lý do được đưa ra cho việc này thường là bưu điện chuyển đến chậm hoặc người có thẩm quyền cấp giấy đi công tác vắng 16
Thứ ba, về giá trị của giấy chứng nhận người bào chữa và việc bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo
Theo khoản 4, Điều 27 Luật luật sư, giấy chứng nhận người bào chữa có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, được hiểu luật sư được cấp giấy chứng nhận người bào chữa một lần từ giai đoạn điều tra cũng có giá trị áp dụng ở giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, kể cả sơ thẩm và phúc thẩm, nếu người bị buộc tội còn yêu cầu Tuy nhiên, thực tế hiện nay, ở mỗi giai đoạn tố tụng người bào chữa vẫn phải làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận người bào chữa Điều này dẫn đến một thực trạng là sau khi xét xử sơ thẩm, cơ quan tiến hành tố tụng không cho phép người bào chữa vào gặp bị cáo để trợ giúp pháp lý cho bị cáo trong việc làm đơn kháng cáo, mà việc kháng cáo chỉ do một mình bị cáo làm đơn kháng cáo Điều này dẫn đến việc không bảo đảm được quyền bào chữa của bị cáo Kháng cáo cũng là một hình thức bào chữa của bị cáo và không phải bị cáo nào cũng có đủ kiến thức pháp luật để bào chữa cho mình thông qua nội dung của đơn kháng cáo, thế nhưng sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo chỉ tự mình kháng cáo mà không được sự trợ giúp của người bào chữa, vô hình trung chúng ta đã tước đi một quyền bào chữa của bị cáo đó là quyền nhờ người khác bào chữa, đi ngược nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
- Thứ tư, trong việc gặp giữa người bào chữa với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị tạm giam Để được cấp giấy chứng nhận người bào chữa đã khó nhưng trong trường hợp nhận được giấy chứng nhận bào chữa thì việc tiếp cận người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng chưa hẳn được thuận lợi Trên thực tế việc người bào chữa gặp bị can, bị cáo gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi phải xuất trình nhiều giấy tờ, thủ tục phiền hà Việc gặp người bị tạm giữ lại càng khó khăn hơn Trong trường hợp được gặp bị can, bị cáo thì việc gặp đó đều có sự giám
16 http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhung-rao-can-voi-luat-su-trong-to-tung/1131876/218/ sát của Điều tra viên hoặc cán bộ trại giam, thời gian gặp và số lần gặp rất hạn chế
Luật sư Nguyễn Việt Hùng, bào chữa cho bị can Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý trong vụ án “Giết người - Chống người thi hành công vụ’’ xảy ra ngày 05/01/2012 tại thôn Chùa Trên, xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng không bảo đảm quyền của người bào chữa trong giai đoạn điều tra Ông nêu rõ: “Trong quá trình điều tra, tôi (Luật sư Nguyễn Việt Hùng - PV) đã có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra bố trí cho tôi gặp bị can theo điểm e, khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự “Gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam’’, nhưng khi tôi làm giấy giới thiệu cử cán bộ của Văn phòng luật sư Kinh Đô đến nhận giấy chứng nhận người bào chữa và nộp văn bản đề nghị gặp bị can vào chiều ngày 08/2/2012 thì cán bộ của Văn phòng chỉ được giao giấy chứng nhận người bào chữa; còn việc nộp văn bản đề nghị gặp bị can thì Điều tra viên không nhận văn bản đề nghị, buộc lòng chúng tôi phải gửi văn bản đề nghị gặp bị can bằng thư bảo đảm từ Hà Nội Sau đó, luật sư cũng không được Cơ quan điều tra giải quyết cho gặp bị can 17
- Thứ năm, trong việc tạo điều kiện để người bào chữa có mặt trong các buổi lấy lời khai, hỏi cung người bị buộc tội