1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

135 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

57 2.2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa trong giai đoạn điều tra, 2.4 Nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm Chương 3: thực tiễn áp dụng và những giảI phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI BẢO TRÂM NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO Chuyên ngành : Luật hình sự Mã số : 60 38 40 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2008 Công trình được hoàn thành tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Chí Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Vào hồi giờ , ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

Chương 1: khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 7

1.1 Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS 7

1.1.2 Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm

1.1.2.2 Chủ thể thực hiện quyền bào chữa 11

1.1.2.3 Hình thức thực hiện quyền bào chữa 12

1.1.3 Cơ sở để quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS 13

1.2 Vị trí, vai trò của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 18

1.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo trong quan hệ với việc bảo vệ quyền con người trong quá

trình giải quyết vụ án hình sự 20

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền

bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam 23

1.4.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật

1.4.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến

2.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

2.1.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ 34 2.1.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can 37 2.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử 43 2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa 50 2.2.1 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật TTHS 50 2.2.1.1 Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa 52 2.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 54 2.2.1.3 Việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa 57 2.2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa trong giai đoạn điều tra,

2.4 Nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm

Chương 3: thực tiễn áp dụng và những giảI pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của

Trang 3

Chương 1: khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 7

1.1 Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS 7

1.1.2 Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm

1.1.2.2 Chủ thể thực hiện quyền bào chữa 11

1.1.2.3 Hình thức thực hiện quyền bào chữa 12

1.1.3 Cơ sở để quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS 13

1.2 Vị trí, vai trò của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị

tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 18

1.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo trong quan hệ với việc bảo vệ quyền con người trong quá

trình giải quyết vụ án hình sự 20

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền

bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam 23

1.4.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật

TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành 24

1.4.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến

2.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

2.1.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ 34 2.1.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa của bị can 37 2.1.2 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn xét xử 43 2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa 50 2.2.1 Địa vị pháp lý của người bào chữa trong pháp luật TTHS 50 2.2.1.1 Thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa 52 2.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa 54 2.2.1.3 Việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa 57 2.2.2 Đảm bảo quyền nhờ người khác bào chữa trong giai đoạn điều tra,

2.4 Nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm

Chương 3: thực tiễn áp dụng và những giảI pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt nam

Trang 4

74

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc bảo đảm quyền bào chữa của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 74

3.1.1.1 Đối với quyền tự bào chữa 74

3.1.1.2 Đối với quyền nhờ người khác bào chữa và quyền có người bào

chữa trong các trường hợp do pháp luật quy định của người bị tạm

3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong việc bảo đảm quyền bào chữa của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 79

3.1.2.1 Về phía cơ quan tiến hành tố tụng 79

3.1.2.3 Về phía người bị tạm giữ, bị can, bị cáo 89

3.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình

sự Việt Nam về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

3.2.3.1 Đội ngũ những người THTT thiếu về số lượng, yếu về chất lượng 94

3.2.3.2 Đội ngũ luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp 97

3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện

nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những thành tựu về mặt kinh tế xã hội kể từ khi chúng ta tiến hành đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định định hướng đúng đắn cho con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại mới Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho việc thực hiện công cuộc đổi mới trong các lĩnh vực Bên cạnh những thành tựu

đã đạt được, về mặt xã hội: tình hình vi phạm pháp luật, tội phạm xảy ra nghiêm trọng, diễn biến ngày càng phức tạp, quá trình giải quyết vụ án hình sự còn gặp nhiều vướng mắc Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đưa ra mục tiêu: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao"

Nghị quyết số 08/NQ-TW đã chỉ rõ: "Nâng cao chất lượng hoạt động và

đề cao trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ tư pháp", trong đó có nhiệm vụ cụ thể là: "nâng cao chất lượng công tố của kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư (LS), người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác" "Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để LS tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa".

Trang 6

Đảng và Nhà nước ta đang tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng một hệ thống pháp luật bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do dân chủ của công dân Quyền bào chữa là một quyền quan trọng của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền bào chữa đã được ghi nhận thành nguyên tắc hiến định trong tất cả các bản Hiến pháp của nước ta đồng thời đây cũng là nguyên tắc đặc thù của luật tố tụng hình sự (TTHS)

Việc thực hiện nguyên tắc này trên thực tế đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; giúp cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS) và toà án giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và chính xác Tuy vậy, thực tiễn TTHS cho thấy việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa được thực hiện triệt để, các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT), người THTT và người tham gia tố tụng còn xem nhẹ nguyên tắc này Chất lượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn chưa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ, còn bộc lộ nhiều yếu kém, bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của xã hội và công dân (theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, tuy số lượng án oan có giảm dần, nhưng vẫn còn: năm 2002 toàn bộ ngành Tòa án có 23 trường hợp bị kết tội oan, năm 2003 còn 7 trường hợp, năm 2004 còn 5 trường hợp), gây nhiều hậu quả đáng tiếc cho người bị kết án oan, người thân và xã hội Tình trạng bắt, giam giữ, xét xử oan sai vẫn còn tồn tại trong thực tế tố tụng Việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học các quy định của pháp luật TTHS hiện hành về quyền bào chữa, vấn đề áp dụng trong thực tiễn đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền này cũng như nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc trong thực tiễn không những có ý

Trang 7

nghĩa quan trọng về mặt lý luận - thực tiễn pháp lý mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu

Là một trong những nguyên tắc quan trọng của pháp luật TTHS, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là cơ sở lý luận, pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền con người, góp phần xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực, hiệu quả đáp ứng được yêu cầu bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được ghi nhận trong pháp luật hình

sự ở nhiều nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Pháp, Trung Quốc

Ở Việt Nam, nguyên tắc này được quy định rải rác trong các điều luật riêng: tại Hiến pháp năm 1992 (điều 132), Bộ luật TTHS năm 2003 (điều 11), Luật tổ chức toà án nhân dân (điều 13)

Bảo đảm quyền bào chữa có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình đấu tranh và chống tội phạm, thể hiện quan điểm nhân đạo, đường lối chính trị mang đậm nét nhân văn của Đảng và Nhà nước ta Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đăng trên một số tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành nghiên cứu về đề tài này như:

- Hoàng Thị Sơn: Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong luật TTHS Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học, H.2003

- Hoàng Thị Sơn: Thực trạng thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học, số 4/2002

- Hoàng Thị Sơn: Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, Tạp chí Luật học số 5/2000

Trang 8

- Trần Văn Bảy: Người bào chữa và vấn đề bảo đảm quyền của người bào chữa trong TTHS Việt Nam, Tạp chí KHPL số 1/2001

- Nguyễn Duy Hưng: Bị can và bảo đảm quyền của bị can trong Bộ luật TTHS 2003 - thực trạng và định hướng hoàn thiện

- Phạm Hồng Hải: Những điểm mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của người bào chữa trong Bộ luật TTHS 2003, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 5/2004

- Lê Hồng Sơn: Vấn đề thực hiện quyền của người bào chữa trong TTHS, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2002

Nhưng những bài viết đó chỉ đề cập đến một số vấn đề nhất định, chưa nghiên cứu được tất cả các chủ thể của quyền bào chữa theo quy định hiện hành Liên quan đến vấn đề này vẫn còn khá nhiều ý kiến trái ngược nhau trong lý luận nhận thức, quá trình thực thi, xây dựng và hoàn thiện pháp luật

Bảo đảm quyền bào chữa là một trong những vấn đề có nội dung phong

phú và phức tạp, vẫn đang là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện hơn nữa trong khoa học Luật TTHS cũng như thực tiễn áp dụng ở nước

ta hiện nay

3 Mục đích, ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở lý

luận và thực tiễn, quá trình hình thành, nội dung của nguyên tắc, chỉ ra những kết quả và những bất cập còn tồn tại khi áp dụng nguyên tắc ở nước ta hiện nay Qua

đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc trong thực tiễn và hoàn thiện pháp luật, đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, chính xác, khách quan và toàn diện trong hoạt động TTHS

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt

Trang 9

1 Nghiên cứu quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS như: khái niệm, cơ sở của nguyên tắc; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nguyên tắc

2 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam

3 Tìm hiểu nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS Việt Nam

4 Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế

5 Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng thực hiện nguyên tắc, luận văn nêu ra những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS Việt Nam

4 Phạm vi - nhiệm vụ nghiên cứu

Với phạm vi nghiên cứu này, luận văn nghiên cứu về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo dưới góc độ lý luận, phân tích những quy định của pháp luật về nội dung của nguyên tắc và chỉ ra vướng mắc trong hoạt động thực tiễn của chế định này Trên cơ sở đánh giá tổng quan thực trạng thực hiện nguyên tắc để đưa ra những quan điểm, kiến nghị góp phần thực hiện tốt các quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng của hoạt động xét xử nói riêng và của các cơ quan tư pháp nói chung

Luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ chính như sau:

- Khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: khái niệm, ý nghĩa, cơ sở quy định, sự hình thành nguyên tắc

Trang 10

- Nội dung cơ bản của nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: về quyền bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; chủ thể thực hiện, hình thức thực hiện, trách nhiệm của cơ quan THTT; thời điểm tham gia

tố tụng

- Thực tiễn áp dụng và những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả các chế định của pháp luật TTHS về quyền bào chữa của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về cải cách tư pháp

Phương pháp nghiên cứu: phương pháp so sánh, phân tích và phương pháp tổng hợp kết hợp với việc phân tích thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa thông qua các vụ án cụ thể, điều luật cụ thể để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng để nghiên cứu

Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; kết hợp với việc phân tích thực tiễn

6 Bố cục của Luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn bao gồm ba chương với kết cấu như sau:

Chương 1: Khái quát chung về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của

người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 11

Chương 2: Nội dung cơ bản của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa

của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và những giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng

cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Chương 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO

CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO

1.1 Khái niệm quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS

1.1.1 Khái niệm quyền bào chữa

Trong khoa học pháp luật TTHS, khái niệm quyền bào chữa được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau

Quan điểm thứ nhất: TTHS được coi là bắt đầu từ thời điểm vụ án hình

sự được chuyển sang Toà án và quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo (các nước theo hệ thống Commonlaw)

Quan điểm thứ hai: quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo [17]

Quan điểm thứ ba: E.ph Cutsova-Nga cho rằng: “Trong TTHS, bị can,

người bị tình nghi cũng như những công dân khác, trong đó có cả người bị hại

đều cần có sự bảo vệ các lợi ích có thể xâm phạm” [26] Như vậy, theo quan

điểm này thì quyền bào chữa có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội

Trang 12

Một số tác giả khác cũng cho rằng: “Không chỉ có bị cáo mà người bị hại cũng cần đến việc bào chữa Nhân chứng, giám định viên và những người khác cũng vậy nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm” [24]

Quan điểm thứ tư: “Trong TTHS, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà

ở đó có sự buộc tội và quyền bào chữa thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội” “Sự buộc tội đôi khi xuất hiện cả khi chưa có quyết định khởi tố bị can trong trường hợp có người bị tạm giữ và kết thúc khi TTHS kết thúc” [30]

Quan điểm thứ năm: Thẩm phán Nguyễn Đức Mai xác định các chủ thể

thực hiện chức năng bào chữa gồm: “Người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bào chữa, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ Thuộc nhóm này, còn có thể người đang thi hành án hoặc người đã thi hành án xong bản án trong trường hợp có kháng nghị giám đốc thẩm (tái thẩm) đối với họ” [34]

Quan điểm thứ sáu: là quan điểm trong Bộ luật TTHS Việt Nam năm

2003: quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003)

Ngoài các quan điểm trên, trong Bộ luật TTHS của các nước trên thế giới cũng có những quan điểm khác nhau về chủ thể của quyền bào chữa

Bộ luật TTHS Liên bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia

tố tụng từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị giam giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi tố bị can thì khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam” [44]

Theo giáo sư M.X.Xtrôgôvích thì : “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng hướng tới bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can” [36]

Trang 13

Theo Bộ luật TTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa chỉ thuộc về người bị tình nghi và bị cáo Điều 30 Bộ luật này quy định: “Bị cáo hoặc người bi tình nghi có thể lựa chọn luật sư bất cứ lúc nào” [19].

Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân Điều 17 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm… Nghiêm cấm mọi hình thức bức cung, dùng nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân”

Có thể hiểu: “Bào chữa là hành vi của một người đưa ra các tình tiết và chứng cứ chứng minh cho sự không có lỗi hoặc làm giảm lỗi của mình” Vì vậy, quyền bào chữa chỉ thuộc về người nào bị coi là có lỗi bao gồm cả lỗi kỷ luật, lỗi hành chính, lỗi dân sự, lỗi hình sự Quyền bào chữa với ý nghĩa là khái niệm chung bao hàm cả quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hành chính, lỗi kỷ luật, quyền bào chữa của bị đơn dân sự (trong tố tụng dân sự) và quyền bào chữa của người bị coi là có lỗi hình sự (quyền bào chữa trong TTHS)

Người nào bị coi là có lỗi hình sự, bị buộc tội thì có quyền bào chữa trong TTHS

“Như một chức năng tố tụng, bào chữa tồn tại ở tất cả các giai đoạn của TTHS, ở đâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa” [30]

“Buộc tội trong TTHS là hành vi của các cơ quan THTT nhằm xác định trách nhiệm hình sự đối với người buộc tội trên cơ sở các chứng cứ về hình sự đó được xác định ở thời điểm ấy” [30]

Bị can bị buộc tội bằng quyết định khởi tố bị can, phải chịu những hậu quả pháp lý: bị điều tra hình sự, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS…

Trang 14

Bị cáo bị buộc tội bằng bản cáo trạng của VKS, hậu quả pháp lý của việc buộc tội này là bị cáo có thể bị kết án, có thể phải chịu hình phạt… Người bị tạm giữ tuy chưa bị buộc tội bằng một văn bản có tính chất pháp lý nhưng đối với họ

đã có quyết định tạm giữ và họ đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế tố tụng là tạm giữ “Cơ sở coi một người là người bị tình nghi phạm tội là các dữ kiện khách quan và không thể bắt giữ một người khi ĐTV và CQĐT “nghi” là họ phạm tội

vì bản thân sự nghi ngờ mang tính chủ quan” [36]

Theo từ điển tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án” còn “tự bào chữa là tự mình thực hiện” [42]

Quyền bào chữa trong TTHS được hiểu như sau: “Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan THTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong TTHS quyền bào chữa chỉ thuộc về những chủ thể: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Ngoài những chủ thể trên, những người khác không chịu sự buộc tội thì không có quyền bào chữa So với bộ luật TTHS năm 1988 thì quyền bào chữa được qui định trong bộ luật TTHS năm 2003 có sự sửa đổi quan trọng, đó là sự bổ sung vào nguyên tắc này

là ngoài bị can, bị cáo thì người bị tạm giữ cũng có quyền không những tự bào chữa mà cả quyền nhờ người khác bào chữa Quy định này thể hiện quan điểm bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung và trong TTHS nói riêng

1.1.2 Khái quát về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Trang 15

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được hiểu như sau: “Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo là một quy định của luật TTHS trong đó xác định người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa đồng thời quy định các cơ quan THTT có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của pháp luật” Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình họ có thể sử dụng những quyền năng khác được pháp luật quy định và bảo đảm thực hiện

Khái niệm đã làm rõ chủ thể thực hiện quyền bào chữa; hình thức thực hiện; quyền, nghĩa vụ của chủ thể cũng như cơ quan THTT trong việc bảo đảm quyền đó

1.1.2.2 Chủ thể thực hiện quyền bào chữa

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

đã khẳng định rõ, chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mới được bảo đảm quyền bào chữa theo quy định của pháp luật

- Người bị tạm giữ: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp

khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (Khoản 1 Điều

48 Bộ luật TTHS năm 2003)

Như vậy chỉ có những người bị bắt trong các trường hợp nêu tại Khoản 1 điều 48 và đã có quyết định tạm giữ nhưng chưa bị khởi tố về hình sự tức là chưa

có quyết định khởi tố về hình sự thì được gọi là người bị tạm giữ

- Bị can: là người đã bị khởi tố về hình sự (Khoản 1 điều 49 Bộ luật

TTHS năm 2003) tức là một người khi đã có quyết định khởi tố bị can thì được gọi là bị can

Trang 16

- Bị cáo: là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử (Khoản 1 điều

50 Bộ luật TTHS năm 2003) Kể từ khi có quyết định của toà án đưa bị can ra xét xử thì người đó được gọi là bị cáo

Tại các điểm d khoản 2 điều 48, điểm e khoản 2 điều 49 và điểm e khoản

2 điều 50 đều có quy định cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa

1.1.2.3 Hình thức thực hiện quyền bào chữa

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện dưới

hai hình thức là tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa

- Tự bào chữa là hình thức người bị tạm giữ, bị can, bị cáo sử dụng các

quyền mà pháp luật cho phép để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc bảo vệ những lợi ích hợp pháp của mình

- Nhờ người khác bào chữa là hình thức người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

uỷ thác việc bào chữa cho người bào chữa Người bào chữa được sử dụng mọi biện pháp do luật định để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp

- Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

- Bào chữa viên nhân dân

Đồng thời tại khoản 2 điều 56 quy định những người sau đây không được bào chữa:

Trang 17

- Người đã THTT trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang THTT trong vụ án đó

- Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch

Như vậy theo quy định tại khoản 1 điều 56 Bộ luật TTHS, người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bao gồm 3 đối tượng là: LS, người đại diện hợp pháp và bào chữa viên nhân dân So với qui định tại khoản 1 điều 35

Bộ luật TTHS năm 1988 thì trong khoản 1 điều 56 Bộ luật TTHS năm 2003 được bổ sung thêm người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ cũng có thể là người bào chữa cho người bị tạm giữ

1.1.3 Cơ sở để quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong pháp luật TTHS

Cũng giống như những quy phạm pháp luật mang tính nền tảng, chỉ đạo cho việc xây dựng và ban hành những quy phạm pháp luật thực định khác Khi ban hành quy phạm pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, các nhà làm luật phải căn cứ vào cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để xây dựng và ban hành quy phạm pháp luật đó được chính xác, có hiệu lực pháp lý cao

1.1.3.1 Cơ sở lý luận

Có thể khẳng định rằng những căn cứ đầu tiên có tính chất nền móng và

cơ sở để quy định quyền bào chữa trở thành một nguyên tắc cơ bản, đặc thù trong pháp luật TTHS xuất phát từ quyền con người Tìm hiểu những nội dung

về quyền con người ta sẽ thấy rõ điều đó

Những ý tưởng về: "quyền con người" ra đời rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước Khác với các Nhà nước

Trang 18

phong kiến và tư bản phương Tây, chế độ Nhà nước phong kiến Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử, nói chung vẫn mang tính hà khắc Song, thời kỳ đó

"phép vua" và "lệ làng" có tính dân tộc, nhân đạo, tiến bộ và được thể hiện rõ nét trong Quốc triều Hình luật năm 1843 Thời kỳ này con người cũng có được một

số yếu tố về các quyền dù còn nhỏ nhặt và mang tính cộng đồng

Khi cách mạng tư sản nổ ra thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận Có thể nói rằng, sự kiện này được đánh dấu bằng Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ 1776 và sau đó là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1789

Tiếp theo đó, các quyền và tự do của con người được ghi nhận tại Hiến chương Liên hiệp quốc 1945 và Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm

1948 Cụ thể hoá quyền con người trong các văn bản trên, năm 1966, Liên hiệp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá (ngày 24/9/1982 Việt Nam gia nhập 2 Công ước này) Ở Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho thời kỳ phát triển mới về quyền con người trên đất nước ta

Quyền con người là một trong những giá trị xã hội cao quý nhất, được hiểu là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có Đó là những đặc quyền mang tính tự nhiên mà nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự

do phát triển

Như vậy, quyền con người là hệ thống các quyền của con người được xã hội thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật Chính vì vậy, quyền con người mang hai đặc tính cơ bản là tính nhân đạo và tính pháp luật

Trang 19

Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, quyền con người được bảo vệ Để bảo đảm quyền con người, pháp luật đưa ra những điều cấm và những hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm quyền con người Quyền con người được pháp luật xác lập là thiêng liêng, không thể xâm hại một cách tuỳ tiện và được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, Nhà nước Điều 50 Hiến pháp 1992 khẳng định: quyền con người được quy định trong Hiến pháp và luật - là những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, nó buộc mọi người phải tôn trọng, phục tùng

Nhà nước ban hành pháp luật là tạo cơ sở vững chắc cho mọi người tôn trọng, nghiêm chỉnh chấp hành và thực hiện các giá trị xã hội được thừa nhận, bảo vệ, mà nổi bật trong các giá trị đó là quyền con người "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật" (Điều 12 Hiến pháp 1992) Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo đảm thực hiện quyền con người

Quyền con người, quyền công dân được chia thành các nhóm chính sau:

- Các quyền tự do, dân chủ về chính trị: tham gia quản lý nhà nước, bầu

cử, bình đẳng nam nữ

- Các quyền về kinh tế – xã hội: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp, quyền thừa kế

- Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân): quyền được pháp luật bảo hộ

về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo … [27] Tuyên ngôn về nhân quyền ngày 10/12/1948 khẳng định: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp

Trang 20

trong một phiên toà xét xử công khai với đầy đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ” Khoản 1 điều 11 [41]

Như vậy, trước khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn chưa bị coi là có tội, họ vẫn là những công dân, những con người, chỉ khác là họ đang chịu sự buộc tội và phải chịu những biện pháp tố tụng Những biện pháp tố tụng được tiến hành đối với họ có thể hạn chế quyền tự do hay động chạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự, nhân phẩm … những nội dung cơ bản của quyền con người Để đảm bảo các biện pháp đó được tiến hành một cách cần thiết và hợp pháp tránh được sự độc đoán một chiều từ phía các cơ quan THTT, pháp luật đã quy định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền bào chữa được bảo đảm thực hiện

Có thể thấy rằng quyền bào chữa là một nội dung cơ bản thể hiện quyền con người và cơ sở lý luận của việc ban hành quy phạm pháp luật về nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo xuất phát từ quan điểm xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân theo học thuyết của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời dựa trên quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta về xây dựng nhà nước Việt Nam trở thành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, tăng cường vai trò bảo vệ của Nhà nước đối với xã hội, đối với công dân Trong đó có việc đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật

1.1.3.2 Cơ sở thực tiễn

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các hoạt động của cơ quan THTT ảnh hưởng tới các quyền của công dân, đặc biệt là các quyền cơ bản như:

Trang 21

dự, nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện tín, điện báo Vì vậy, Luật TTHS qui định các nguyên tắc nhằm đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo góp phần đảm bảo cho việc giải quyết vụ án nhanh chóng chính xác, đòi hỏi CQĐT, cơ quan THTT thực hiện nghiêm chỉnh chức năng, nhiệm vụ của mình Điều 4 Bộ luật TTHS qui định: “Khi THTT, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, ĐTV, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, KSV, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy

có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chỉ được đảm bảo khi các cơ quan THTT, người THTT thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan THTT cần tạo điều kiện thuận lợi để người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện được quyền bào chữa mà pháp luật đã qui định Mọi biểu hiện ngăn cản người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa đều là vi phạm pháp luật nghiêm trọng và bị xử lý

Do vậy, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan THTT, người THTT trong các hoạt động TTHS, tránh việc cơ quan và người THTT lạm quyền trong khi thi hành công vụ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

đã được pháp luật bảo vệ

Thực tiễn cho thấy việc tôn trọng thực hiện quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo còn hạn chế; đó là trong các việc thu thập, đưa ra các tài liệu, đồ vật, yêu cầu để chứng minh sự vô tội hoặc tình tiết giảm nhẹ TNHS; quyền được gặp gỡ bị can, bị cáo khi bị tạm giam; đảm bảo để bị cáo thực hiện

Trang 22

quyền bào chữa tại phiên toà, tranh luận với KSV mà ta sẽ xem xét tại Phần 3 luận văn này

Trước tình hình vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ theo thủ tục

tố tụng ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, làm mất lòng tin của quần chúng nhân dân đối với các cơ quan THTT, đòi hỏi việc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để hạn chế những sai sót nói trên, giúp cho việc xử lý chính xác các hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Vì vậy việc ban hành quy phạm pháp luật về nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong TTHS là một yêu cầu tất yếu

Như vậy, việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo là rất cần thiết xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm quyền con người và từ thực tiễn của quá trình tố tụng

1.1.3.3 Cơ sở pháp lý

Xuất phát từ điều 132 Hiến pháp 1992 qui định: "Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình"

Để cụ thể hoá quy định trên Bộ luật TTHS năm 2003 đã qui định một nguyên tắc quan trọng tại điều 11 đó là: "Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo" Nguyên tắc này có ý nghĩa lớn đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và là cơ sở để ban hành quy định tại các điều 56, 57, 58 và điều 305 Bộ luật TTHS

1.2 Vị trí, vai trò của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Trang 23

Đất nước ta đang trên đà phát triển song Nhà nước luôn chú ý tới việc phát huy toàn diện quyền tự do dân chủ của công dân, bảo đảm các quyền con người Việc Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan ghi nhận quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trước cơ quan THTT và cơ chế bảo đảm việc thực hiện là nhiệm vụ của cơ quan đó chứng tỏ bản chất ưu việt của Nhà nước ta

Nguyên tắc này có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Thứ nhất: Là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS,

nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cho ta cái nhìn tổng quan, thấy được bản chất của nguyên tắc cũng như những bất cập, hạn chế của nó để định hướng cho việc xây dựng và áp dụng pháp luật Đồng thời góp phần vào việc bảo đảm cho quá trình THTT được thực hiện một cách thống nhất

Thứ hai: Nguyên tắc là cơ sở quan trọng cho việc bảo đảm quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân khi tham gia TTHS,

Thứ ba: Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị

can, bị cáo thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính dân chủ XHCN trong hoạt động TTHS

Nguyên tắc được quy định tạo điều kiện thuận lợi cho người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo có cơ hội đưa ra những chứng cứ minh oan hoặc làm giảm nhẹ tội cho mình, cơ hội được tranh tụng bình đẳng trước Toà án

Thứ tư: Việc thực hiện nguyên tắc góp phần tích cực vào việc bảo vệ

pháp chế XHCN, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của

hệ thống tư pháp hình sự; góp phần động viên và tạo điều kiện để các cơ quan, tổ

Trang 24

chức và mọi công dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm và dân chủ hóa quá trình tố tụng

Thứ năm: Việc thực hiện nguyên tắc góp phần vào việc xác định sự thật

khách quan của vụ án, bảo đảm trong quá trình tố tụng không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; tránh sự áp đặt duy ý chí chủ quan của một bên

Thứ sáu: Khi đã hiểu sâu, nắm vững bản chất của nguyên tắc sẽ giúp cho

các chủ thể trong quan hệ TTHS chủ động sử dụng quyền cũng như nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng các yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật, đây chính là cơ sở tiền đề cho quá trình TTHS được vận hành một cách đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả Qua đó ta có thể kịp thời sửa đổi bổ sung điều chỉnh quyền bào chữa cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh tố tụng nước ta

Tóm lại: nghiên cứu về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có ý nghĩa thiết thực trên tất cả các phương diện lý luận nhận thức và áp dụng pháp luật

1.3 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quan hệ với việc bảo vệ quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không những được pháp luật ghi nhận mà còn được pháp luật bảo vệ Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục được quy định chặt chẽ trong pháp luật

Đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ là những người mà quyền con người dễ có nguy cơ xâm hại từ phía các cơ quan THTT " Sự xâm hại đó có thể do trình độ non kém trong tổ chức quản lý, do năng lực làm việc hoặc do

Trang 25

thiếu tinh thần trách nhiệm và cũng có thể do một bộ phận công chức thoái hoá biến chất, vô đạo đức" [35]

Khác với các quan hệ pháp luật khác (hành chính, dân sự, kinh tế), trong quan hệ pháp luật hình sự (cả hình sự và TTHS), hàng loạt các quy định riêng được đặt ra nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân của các bên tham gia tố tụng nói chung và của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng Đó là các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của công dân, nghĩa vụ của Nhà nước, của các cơ quan, người THTT, quy định về tội phạm, hình phạt, trình tự, thủ tục THTT Tổng thể các quy định đó được tập hợp thành những tư tưởng, nguyên tắc: công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế mà hướng tới mục tiêu chung là bảo đảm quyền con người Các quy định đó không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp luật cần thiết cho các cơ quan, cá nhân THTT và tránh được lạm dụng mà trước hết và chủ yếu là để bảo vệ con người, giúp mọi người biết rõ pháp luật để phòng tránh việc vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời cũng biết được quyền của mình

mà thực hiện, bảo vệ

Để bảo đảm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, pháp luật đưa ra một loạt các quy định buộc các bên tiến hành và tham gia tố tụng phải tuân thủ “Pháp luật bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự là tổng thể các qui phạm pháp luật qui định về tội phạm, hình phạt và xét xử hình

sự cùng các quy định khác nhằm bảo đảm cho các quyền và lợi ích hợp pháp của

bị cáo và các bên có liên quan không bị xâm hại trái pháp luật”

Như vậy, việc bảo đảm quyền con người trong xét xử hình sự phải được thể hiện trên tất cả các phương diện vừa nêu Nó không dừng lại ở việc qui định tội phạm, hình phạt mà còn qui định việc xét xử các vụ án hình sự Có nghĩa là nó phải được bảo đảm ở trong cả lĩnh vực lập pháp và áp dụng pháp luật, ở cả trong luật nội dung và luật hình thức Ở đó, quyền, nghĩa vụ của các bên tiến hành và tham gia tố

Trang 26

tụng được khẳng định, sự thật của vụ án và trách nhiệm hình sự phải được xác định một cách khách quan, chính xác nhất Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giam, bị can, bị cáo được đưa thành một nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết

vụ án hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự yêu cầu phải tuân theo một trình

tự luật định và hàng loạt các nguyên tắc Các nguyên tắc trong xét xử hình sự là một chỉnh thể thống nhất, không thể quá chú ý đến nguyên tắc này mà hạ thấp nguyên tắc kia hoặc tập trung vào nguyên tắc này mà bỏ qua nguyên tắc khác Tuy nhiên, có những nguyên tắc chỉ áp dụng trong thủ tục, trình tự này mà không áp dụng trong thủ tục, trình tự khác được

Một trong những quyền quan trọng nhất của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền bào chữa Quyền này của bị cáo đồng thời cũng là nguyên tắc quan trọng được qui định tại Điều 132 Hiến pháp, Điều 12 Bộ luật TTHS Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình

Nguyên tắc này bảo đảm cho bị cáo quyền chống lại việc buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từ phía các cơ quan THTT Nó có ý nghĩa to lớn

và là điều kiện thiết thực để bị cáo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời cũng là điều kiện để Toà án xem xét một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ đối với vụ án

Bào chữa (trong đó có tự bào chữa) là vấn đề vô cùng quan trọng, cốt lõi trong việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong xét xử vụ án hình sự Điều này càng có ý nghĩa khi mà trong thực tế còn tồn tại quan niệm "án tại hồ sơ", "Thẩm phán trở nên người trực diện đấu tranh với các

bị cáo, hướng bị cáo vào tội danh đã được xác định trong bản cáo trạng của VKS

Trang 27

cáo phải đối mặt với hai kiểu luận tội, luận tội của người giữ quyền công tố tại phiên toà và luận tội của bản thân các vị Thẩm phán Tình trạng này đã không phát huy được quyền bào chữa của bị cáo và làm cho các hoạt động LS không thật sự phát huy được tác dụng và hiệu quả mong muốn [40].

Để tạo cho việc bào chữa của bị cáo được thuận lợi, Điều 133 Hiến pháp và Điều 21 Bộ luật TTHS qui định: Toà án nhân dân bảo đảm cho công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc các dân tộc quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trước Toà án Đây là nghĩa vụ của Toà

án, đồng thời là quyền bình đẳng của công dân tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam Việc xét xử được tiến hành thực hiện bằng tiếng Việt Song, người THTT, tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của mình thông qua phiên dịch tại phiên toà Bởi vì ngôn ngữ bất đồng thường tạo ra tâm lý tự ti, mặc cảm và khó khăn trong việc trao đổi, đề xuất nguyện vọng, tranh luận trước Toà

Với qui định này, pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo trình bày được những ý nghĩ, quan điểm của mình, đồng thời thực hiện quyền bào chữa của họ

Vai trò của phiên dịch là không thể phủ nhận, song các văn bản tố tụng được giao cho bị cáo lại bằng tiếng Việt nên ít nhiều còn gây khó khăn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu nó của bị cáo

Nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, Điều 2 Bộ luật

TTHS qui định: "Mọi hoạt động TTHS phải được tiến hành theo qui định của bộ luật này" Đây là một nguyên tắc vừa khẳng định nghĩa vụ của cơ quan THTT

vừa tuyên bố bảo đảm quyền con người, quyền công dân của bị cáo rằng: quá trình tố tụng phải được diễn ra theo đúng qui định của pháp luật mà không theo ý muốn chủ quan của bất cứ người nào Có nghĩa là trong quá trình xét xử, Toà án

Trang 28

chỉ được làm những gì pháp luật qui định, cho phép Đồng thời Toà án các cấp

có nghĩa vụ tuân thủ trình tự, thủ tục xét xử mà pháp luật qui định Chẳng hạn: thẩm quyền xét xử, thủ tục tố tụng tại phiên toà, xét xử theo hai cấp, giám đốc việc xét xử

Vì vậy, việc xét xử phải được tiến hành theo qui định của pháp luật là vừa bảo đảm tính pháp chế, vừa là cơ sở, cách thức cho Toà án thực hiện chức năng của mình

Qui định này vừa nhằm ngăn ngừa sự tuỳ tiện, cẩu thả trong xét xử, vừa tạo điều kiện cho việc tìm ra sự thật của vụ án, đồng thời xây dựng được hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quyền, lợi ích của bị cáo khỏi bị nhũng nhiễu, xâm hại trái pháp luật

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo ở Việt Nam

1.4.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ đầu này là củng cố chính quyền Cách mạng

Giai đoạn này, quyền bào chữa được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp qua quyền của người bào chữa

Đoạn 4 điều V Sắc lệnh 33c ngày 13/9/1945 về việc thiết lập các Toà án quân sự quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho”

Trang 29

Điều thứ hai sắc lệnh số 46-SL ngày 10/10/1945 về việc quy định tổ chức các đoàn thể luật sư: “Các luật sư có quyền bào chữa ở tất cả các Toà án hàng tỉnh trở lên và trước các Toà án quân sự”

Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ chức Toà án và các ngạch thẩm phán, tại điều thứ 44 quy định: “Trong việc đại hình, nếu trước toà thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn” Cũng tại điều thứ 46:“ Các luật sư có quyền biện hộ trước tất cả các Toà án trừ những Toà án sơ cấp”

Tuy vậy quyền bào chữa của bị can, bị cáo lúc này chưa được coi trọng bởi nó chỉ được đề cập thông qua quyền biện hộ của luật sư

Khắc phục thiếu sót này, tại điều 5 Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946

về tổ chức Tòa án quân sự đã quy định rõ ràng hơn và mở rộng hình thức thực hiện quyền bào chữa: “Bị cáo có quyền tự bênh vực hay nhờ luật sư hoặc người khác bênh vực cho”

Trong sắc lệnh số 40 ngày 29/03/1946 về việc bảo vệ tự do cá nhân, người bị bắt: “do có lời nói hay việc làm có thể làm hại cho sự đấu tranh giành độc lập, cho chế độ dân chủ, cho sự an toàn của công chúng và cho sự đoàn kết của quốc gia có quyền gửi bài trần tình hoặc nhờ vợ hay chồng, ông bà con cháu, anh em ruột, chú bác cô dì, anh em thúc bá hay luật sư đại diện bào chữa cho mình”

Ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chức Toà án binh lâm thời đặt tại Hà Nội Điều thứ 10 Sắc lệnh quy định: “Bị can có thể tự bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa cho Đối với những tội có thể phạt trên 5 năm tù mà bị can không có luật sư nào bào chữa cho thì Tòa án sẽ yêu cầu hội đồng luật sư chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn”

Trang 30

Như vậy pháp luật TTHS của Việt Nam sau cách mạng tháng Tám là vũ khí, là cơ sở pháp lý để bảo vệ và củng cố các quyền của công dân trong đó có quyền bào chữa trước Toà án Có thể thấy rằng, dù chưa rõ ràng và được quy định ở các văn bản pháp luật khác nhau nhưng qua các quy định đã dẫn ở trên, bước đầu quyền bào chữa được xác định bao hàm quyền tự bào chữa, quyền nhờ người khác bào chữa và một số trường hợp sẽ được chỉ định người bào chữa; người bị bắt giam cũng được quy định là có quyền bào chữa Tuy nhiên bảo đảm quyền bào chữa chưa được quy định như là một nguyên tắc của luật TTHS Việt Nam; việc nhờ người khác bào chữa mới chỉ được quy định cho một số bị cáo; khái niệm bị can, bị cáo chưa được làm rõ và chưa được sử dụng một cách thống nhất trong các văn bản pháp luật; các trường hợp được chỉ định người bào chữa mới bước đầu được đề cập, các quy định chưa cụ thể và việc chỉ định luật sư bào chữa còn phụ thuộc nhiều vào ý kiến của Toà án

Ngày 09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hiến pháp đầu tiên đã được thông qua đề cập đến nhiều nguyên tắc quan trọng trong đó có nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” (khoản 2, điều 67) Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo được quy định là một nguyên tắc Hiến pháp - đây là nền tảng cho quá trình phát triển và hoàn thiện chế định về quyền bào chữa trong TTHS Việt Nam sau này Quyền bào chữa được xác định gồm hai nội dung: bị cáo được quyền tự bào chữa lấy và mượn luật sư bào chữa cho

Cụ thể hóa hai nội dung trên, tại Sắc lệnh số 69-SL ngày 18/06/1949 quy định: “Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử ra một người bào chữa cho bị can” và được sửa đổi bổ sung bởi sắc lệnh số 144-SL ngày 22/12/1949: “Từ nay, trước các Toà án thường

Trang 31

và Toà án đặc biệt xử các việc tiểu hình, đại hình, trừ các Toà án binh tại mặt trận, … bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận” Có thể nói sắc lệnh

số 69-SL và sắc lệnh số 144-SL đó bước đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chế độ bào chữa viên nhân dân ở nước ta Tiếp theo đó, ngày 12/01/1950, Bộ tư pháp ban hành nghị định số 01/NĐ về việc ấn định điều kiện để làm bào chữa viên Theo điều 1 Nghị định này, những công dân sau đây có thể được cử ra hay thừa nhận để bào chữa trước Toà án:

- Có quốc tịch Việt Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà

- Ít nhất 21 tuổi

- Hạnh kiểm tốt và chưa can án

Khi được phép tham gia tố tụng (bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được chuyển sang Toà án), bào chữa viên nhân dân cũng có địa vị pháp lý như luật sư

Khoản 1, điều 4 Nghị định trên cũng quy định: “Người bào chữa được cử

ra hoặc thừa nhận để bào chữa có quyền đến phòng lục sự xem xét và chép hồ sơ”

Việc quy định bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp lý như luật sư là một trong những điểm mới, tiến bộ thể hiện tính dân chủ trong TTHS nhằm thu hút quần chúng nhân dân tham gia vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Đến năm 1959, Hiến pháp 1959 ra đời, quyền bào chữa của bị cáo một lần nữa được ghi nhận tại Điều 101 với nội dung: “quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm” thể hiện một bước tiến mới trên nền dân chủ Điều này thể hiện ở chỗ nếu Hiến pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữa cho

Trang 32

bị cáo thì Hiến pháp 1959 khẳng định cả cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo

Cùng với sự ra đời của Hiến pháp, ngày 14/07/1960, Quốc hội ban hành luật Tổ chức TAND quy định mở rộng sự tham gia của luật sư ở Tòa án các cấp

và cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo Theo đó bị cáo được bảo đảm quyền bào chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình (luật sư hoặc một công dân được đoàn thể nhân dân giới thiệu chấp nhận bào chữa cho mình) Khi cần thiết, TAND chỉ định người bào chữa cho bị cáo

Để hướng dẫn cụ thể về quy định trên, TAND đã ban hành thông tư 06/TT ngày 09/09/1967 hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo trong đó có nhiều vấn đề mới, cụ thể và tiến bộ hơn so với các văn bản trước đây như:

- Đối với quyền của bị cáo: trong phiên toà, Toà án phải xem bị cáo đó được tống đạt bản cáo trạng hay chưa; bị cáo có quyền yêu cầu toà án thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân nếu nhận thấy những người này có quan hệ đối với vụ án có thể làm cho việc xét xử không được công bằng; trình bày chứng cứ,

đề xuất những lời thỉnh cầu và phát biểu lời cuối cùng trước khi Toà án vào nghị

án Toà án có nhiệm vụ giải thích cho bị cáo biết những quyền đó trong phần chuẩn bị phiên toà xét xử Sau khi VKS luận tội, Toà án cần để cho bị cáo trình bày lời bào chữa nếu họ không có người bào chữa; Toà án phải chú ý sắp xếp lịch phiên toà để người bào chữa có thể xin hoãn phiên toà, nếu nhận thấy không

có đủ thời gian cần thiết cho việc bào chữa

- Về chế độ bào chữa viên nhân dân: danh sách bào chữa viên nhân dân

do các đoàn thể nhân dân giới thiệu Đây là những người có trình độ chính trị, có khả năng làm công tác bào chữa, nhiệt tình, có tư cách đạo đức tốt, bị cáo có thể

Trang 33

cho mình Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận người được bị cáo cử

ra để bào chữa, thông tư 06 cũng đã có quy định về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo

Ngày 27/08/1974, TAND tối cao ban hành thông tư số 16-TATC, bản hướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư này khẳng định: quyền bào chữa là quyền của bị cáo nên Toà án phải bảo đảm cho

họ thực hiện đầy đủ quyền đó và phải nghiên cứu những lời bào chữa của bị cáo một cách khách quan Theo thông tư 16 – TATC thì thời gian giao bản cáo trạng cho bị cáo không chỉ là 03 ngày trước khi mở phiên toà như văn bản trước đây

mà là “chậm nhất là 5 ngày trước khi xét xử, bị cáo phải nhận được bản cáo trạng” Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể hơn những trường hợp TAND phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo, đó là các trường hợp: bị cáo có thể bị phạt tù chung thân hoặc tử hình; bị cáo là vị thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất (mù, điếc) hoặc về tinh thần (bệnh động kinh ) vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ tư pháp của Chính Phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam đã có Thông tư số 06 ngày 11/06/1976

về việc thực hiện chế độ bào chữa ở miền Nam

Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tại Điều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý”

Sau khi Việt Nam thống nhất về mặt Nhà nước, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư số 691/QLTA ngày 31/10/1983 về công tác bào chữa trong toàn quốc, trong đó xác định đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bảo

vệ chân lý, bảo vệ pháp chế XHCN thông qua hoạt động của mình

Trang 34

Ngày 18/12/1987, một văn bản pháp luật quan trọng về công tác bào chữa được ban hành, đó là pháp lệnh tổ chức luật sư và tiếp theo đó là Quy chế Đoàn luật sư kèm theo Nghị định 15-HĐBT ngày 21/02/1989 đã giải thích cụ thể quyền, nghĩa vụ, cơ chế hoạt động của luật sư và tổ chức luật sư

Như vậy, giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến trước khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành là giai đoạn lịch sử đặc biệt, Nhà nước

ta đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Cùng với quá trình đó, mặc dù có rất nhiều khó khăn nhưng nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS vẫn được phát triển theo hướng dân chủ và ngày càng hoàn thiện Quyền bào chữa đã được mở rộng, phát triển và được bảo đảm thể hiện tính nhân đạo và dân chủ trong pháp luật TTHS nước ta Tuy nhiên, những quy định về quyền bào chữa trong thời kỳ này không tránh khỏi những hạn chế nhất định như quy định quyền bào chữa chỉ thuộc về bị cáo và việc thực hiện quyền bào chữa chỉ được thực hiện ở giai đoạn xét xử

1.4.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 1988 có hiệu lực thi hành đến năm 2003

Kế thừa và phát triển pháp luật TTHS nước ta từ Cách mạng tháng Tám

1945 đến năm 1988, và để phù hợp với những đổi mới về mọi mặt của đời sống

xã hội, ngày 20/06/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội thông qua Bộ luật TTHS đầu tiên của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ 01/01/1989 Đây là một bước tiến lớn trong lịch sử lập pháp TTHS nói chung và chế định bào chữa nói riêng ở nước ta, đánh dấu sự thay đổi về chất của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa Điều 12: “Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị

Trang 35

cáo” quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”

Bộ luật TTHS năm 1988 xác định không chỉ có bị cáo mà bị can cũng có quyền bào chữa; Bộ luật cũng đã phân biệt rõ khái niệm bị can, bị cáo, theo đó:

“bị can là người đã bị khởi tố về hình sự Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử ” (khoản 1, điều 34) Đồng thời, tại khoản 2 điều 34 quy định: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình” Như vậy nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong Bộ luật TTHS năm 1988 đó thể hiện rõ ba nội dung:

- Thứ nhất: bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa;

- Thứ hai: bị can, bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa;

- Thứ ba: CQĐT, VKS và Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định tại điều

132 Hiến pháp năm 1992: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Bị cáo có thể tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình Tổ chức luật sư được thành lập để giúp đỡ bị cáo”

Bảo đảm quyền bào chữa cũng được ghi nhận tại Điều 9 Luật tổ chức TAND năm 1992 và năm 2002: “Toà án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo ”

Pháp lệnh luật sư năm 2001 thay thế cho Pháp lệnh luật sư năm 1987 là một đảm bảo pháp lý, góp phần quan trọng cho nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo được thể hiện trên thực tế

1.4.3 Giai đoạn từ khi có Bộ luật TTHS năm 2003 đến nay

Trải qua các giai đoạn, với sự hoàn thiện của các chế định pháp luật liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa là căn cứ pháp lý giúp CQĐT, VKS, Toà

Trang 36

án tiến hành các hoạt động của mình một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ góp phần vào việc bảo đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước trên tất cả các lĩnh vực trong đó có cải cách tư pháp, Bộ luật TTHS năm 1988 đã không còn phù hợp nữa và bộc lộ những hạn chế nhất định Trước tình hình đó, Quốc hội khoá XI tại kỳ họp thứ tư đã thông qua Bộ luật TTHS 2003, Bộ luật có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004

Với Bộ luật TTHS năm 2003, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa được quy định theo hướng mở rộng hơn Điều 11: “bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa CQĐT, VKS, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của bộ luật này” Như vậy, theo Bộ luật TTHS năm 2003, chủ thể của quyền bào chữa được mở rộng bao gồm cả người bị tạm giữ

Ngoài việc mở rộng quyền bào chữa cho người bị tạm giữ thì Bộ luật TTHS năm 2003 cũng có nhiều quy định thể hiện sự tiến bộ và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa như: người bào chữa được tham gia tố tụng sớm hơn so với quy định của Bộ luật TTHS năm 1988; quy định cụ thể thủ tục chỉ định người bào chữa trong những trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo; thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa được bổ sung một cách đầy đủ hơn; mở rộng thêm quyền của người bào chữa; đặc biệt nhấn mạnh quyền mới của người bào chữa là được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan tới việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo

Trang 37

Năm 2006, Quốc hội ban hành Luật Luật Sư và Luật trợ giúp pháp lý thể hiện sự phát triển ngày càng hoàn thiện của quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa ở nước ta

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 38

Qua nghiên cứu một số nội dung về quyền bào chữa, lịch sử hình thành

và phát triển của nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong luật TTHS có thể rút ra một số nhận xét như sau:

1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của pháp luật TTHS nước ta theo những giai đoạn lịch sử cách mạng khác nhau

2 Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định xuất phát từ việc bảo đảm thực hiện quyền con người và những quyền cơ bản của công dân Đồng thời, việc thực hiện tốt nguyên tắc cũng giúp các cơ quan THTT xác định được sự thật khách quan của vụ án, giúp TTHS được tiến hành đúng mục đích xét xử công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

3 Về thực tiễn, việc áp dụng đúng đắn nguyên tắc trong thực tiễn sẽ góp phần tăng cường pháp chế và củng cố trật tự pháp luật, bảo vệ quyền tự do của con người

4 Việc thực hiện tốt nguyên tắc góp phần bảo đảm cho việc thực hiện nhất quán nguyên tắc công bằng, nhân đạo, tôn trọng quyền con người của pháp luật hình sự

Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng của pháp luật TTHS Việt Nam Mặc dù quyền bào chữa đã được quy định và thừa nhận trong pháp luật các nước trên thế giới nhưng xung quanh khái niệm và nội dung của nó cũng còn nhiều ý kiến khác nhau cần được xem xét và làm rõ từ góc độ lý luận

và thực tiễn

*

Trang 39

Ch-¬ng 2

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG PHÁP

LUẬT TTHS VIỆT NAM

2.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự mình thực hiện các quyền

mà pháp luật quy định để chống lại việc buộc tội hoặc làm giảm trách nhiệm hình sự cho mình Họ có thể tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Quyền tự bào chữa được pháp luật ghi nhận và được bảo đảm thực hiện trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự

2.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra, truy tố

Quyền tự bào chữa được thực hiện từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự Trong giai đoạn này, quyền bào chữa thuộc về người bị tạm giữ và bị can

2.1.1.1 Bảo đảm quyền tự bào chữa của người bị tạm giữ

Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, trường hợp người phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, đã có quyết định tạm giữ Mặc dù họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ Họ bị hạn chế quyền tự do,

bị buộc phải khai báo hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra

Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự Bị can,

bị cáo, người bị kết án, người đang chấp hành án, nếu bị bắt theo quyết định truy

nã hoặc ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ thì cũng là người bị

Trang 40

tạm giữ, trong thời gian tạm giữ, họ sẽ có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ

- Người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ

Pháp luật quy định: “người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ” (điểm a khoản 2 điều 48 Bộ luật TTHS năm 2003) Ngay từ lúc bị bắt,

họ được nghe đọc biên bản bắt người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ký xác nhận Lý do tạm giữ được ghi trong Quyết định tạm giữ và khi có quyết định này người bị tạm giữ được giao một bản Lý do tạm giữ này cũng được bảo đảm về tính cần thiết và có căn cứ pháp luật khi pháp luật quy định trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ được gửi cho VKS cùng cấp; nếu thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì VKS ra quyết định huỷ bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

- Người bị tạm giữ có quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ

Người bị tạm giữ có các quyền và nghĩa vụ theo luật định và họ phải được biết các quyền và nghĩa vụ này để có thể thực hiện Các cơ quan có thẩm quyền khi tạm giữ người phải giải thích các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ cho họ biết Không phải người nào khi tham gia tố tụng với tư cách người bị tạm giữ đều có những hiểu biết pháp luật nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của mình trong TTHS nói riêng Giải thích quyền và nghĩa vụ một cách cụ thể và cặn

kẽ cho người bị tạm giữ biết sẽ khiến họ yên tâm hơn, tin tưởng vào pháp luật và

có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Để đảm bảo quyền này cho người bị tạm giữ, pháp luật quy định, người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho người bị tạm giữ theo quy định tại điều 48 Bộ luật TTHS 2003

Ngày đăng: 13/01/2020, 19:22

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w