1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can và bị cáo chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở việt nam

174 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can và bị cáo chưa thành niên trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Tác giả Phạm Thao
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Duy Hưng
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học
Năm xuất bản 2008
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Một số khái niệm cơ bản (9)
    • 1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên (9)
    • 1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên (13)
  • 1.2 Chính sách hình sự của nhà nước Việt nam đối với người chưa thành niên phạm tội (17)
  • 1.3 Thủ tục tố tụng hình sự trong những vụ án do người chưa thành niên thực hiện (24)
    • 1.3.1 Yêu cầu về người tiến hành tố tụng, áp dụng và chấp hành hình phạt (89)
    • 1.3.2 Đối tượng chứng minh trong vụ án do người chưa thành niên thực hiện (33)
    • 1.3.3 Các yêu cầu khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cơ chế giám sát đối với người chưa thành niên (89)
    • 1.3.4 Đảm bào quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên (89)
    • 1.3.5 Sự tham gia tố tụng của đại diện gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội (51)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO CHƯA THÀNH NIÊN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT (9)
    • 2.1 Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên (56)
      • 2.1.1 Thực trạng bào vệ quyền, lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên (89)
      • 2.1.2 Nguyên nhân của những vướng mắc và hạn chế (0)
      • 2.1.3 Nguyên nhân của những vướng mắc và hạn chế (68)
    • 2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền lợi của vị thành niên (72)
      • 2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật (0)
      • 2.2.2 Giải pháp “Thành lập hệ thống cơ quan chuyên trách giải quyết các vụ án do người chưa thành niên thực hiện” (75)
      • 2.2.3 Giải pháp “Tái hòa nhập cộng đồng” (79)
      • 2.2.4 Một số kiến nghị khác (80)
  • KẾT LUẬN (83)

Nội dung

Một số khái niệm cơ bản

Khái niệm người chưa thành niên

Để hiểu rõ khái niệm người chưa thành niên phạm tội, trước tiên cần xác định định nghĩa về người chưa thành niên Đây là một khái niệm phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học, nhưng mỗi ngành lại có cách nhìn nhận và nghiên cứu khác nhau về người chưa thành niên.

Khái niệm người chưa thành niên không được định nghĩa cụ thể trong từ điển tiếng Việt, nhưng có thể suy ra từ khái niệm người thành niên Người thành niên được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ quyền và nghĩa vụ, do đó, người chưa thành niên là người chưa đến tuổi được công nhận Mặc dù không có độ tuổi cụ thể nào được nêu ra, nhưng thông qua quy định pháp luật, độ tuổi để được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ thường là từ 18 tuổi trở lên Do đó, có thể kết luận rằng người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi.

Theo cách hiểu thông thường, người chưa thành niên là người chưa đạt đến một độ tuổi nhất định Theo Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005, “Người chưa đủ 18 tuổi” được định nghĩa rõ ràng trong khuôn khổ pháp lý.

Theo từ điển tiếng Việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên, người chưa thành niên được định nghĩa là người chưa đủ 18 tuổi Điều 119 Bộ luật Lao động 1995 (sửa đổi bổ sung năm 2002) cũng xác nhận rằng người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Cần phân biệt rõ giữa khái niệm người chưa thành niên và trẻ em, mặc dù hai khái niệm này có nội hàm gần giống nhau Theo Công ước về quyền trẻ em, trẻ em được định nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ khi pháp luật quy định tuổi thành niên sớm hơn Quy tắc 2.2 của “Quy tắc Bắc Kinh” cũng xác định người chưa thành niên là trẻ em hoặc người ít tuổi, tùy theo từng hệ thống pháp luật Do đó, có sự đồng nhất giữa hai khái niệm này trong luật pháp quốc tế, và nội hàm của khái niệm người chưa thành niên ở Việt Nam cũng phù hợp với định nghĩa trẻ em trong luật quốc tế.

Trong phạm vi pháp luật quốc gia, Việt Nam phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm liên quan đến trẻ em Theo Điều 1 của Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em năm 2004, trẻ em được định nghĩa là công dân Việt Nam dưới một độ tuổi nhất định.

Ở tuổi 16, chúng ta nhận thấy rằng khái niệm người chưa thành niên không đồng nhất với trẻ em Người chưa thành niên có nội hàm rộng hơn, bao gồm cả trẻ em Do đó, trẻ em là một phần của người chưa thành niên, nhưng không phải tất cả người chưa thành niên đều là trẻ em, vì có những người từ 16 đến dưới 18 tuổi không được coi là trẻ em.

Người chưa thành niên phạm tội là khái niệm quan trọng trong khoa học pháp lý hình sự, chỉ những cá nhân chưa đủ tuổi thành niên nhưng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, được xác định là tội phạm theo luật Hình sự Để được coi là người chưa thành niên phạm tội, họ phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật hình sự.

Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nguy hiểm cho xã hội Theo luật Hình sự Việt Nam, để được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự, người đó phải đạt độ tuổi quy định và không rơi vào tình trạng mất khả năng nhận thức do bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định rõ về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, trong khi Điều 13 nêu rõ các trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự.

“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

Người từ 14 đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Điều này cho thấy người chưa thành niên phạm tội được phân chia thành hai nhóm theo quy định của pháp luật.

Nhóm thứ nhất bao gồm những người chưa thành niên từ 14 đến dưới 16 tuổi, chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng với mức án cao nhất là 15 năm tù, hoặc khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với mức án trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

- Nhóm thứ hai là nhóm người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi, nhóm này phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm

2 Xem trang 114 Giáo trình Luật hình sự (phần chung) – Trường Đại học luật Hà nội – Nhà xuất bản Công an nhân dân - 2005

Theo quy định của luật Hình sự, người chưa thành niên phạm tội được xác định là những cá nhân từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội.

Còn trong luật tố tụng hình sự thì thế nào là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên?

Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao, nếu bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhưng khi xét xử đã đủ tuổi, Tòa án sẽ áp dụng thủ tục tố tụng như phiên tòa bình thường, không yêu cầu có luật sư và không cần cử hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Tuy nhiên, do bị cáo lúc phạm tội là người chưa thành niên, nên cần tuân thủ quy định tại chương VII bộ luật Hình sự về người chưa thành niên phạm tội.

Trong pháp luật tố tụng hình sự, việc xác định độ tuổi của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện tại thời điểm giải quyết vụ án, không phải tại thời điểm thực hiện tội phạm Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã khẳng định quan điểm này tại điều 301 chương XXXII, quy định về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.

Thủ tục tố tụng áp dụng cho người chưa thành niên bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo được quy định trong chương này và các quy định khác của bộ luật không trái với chương này Điều này có nghĩa là thủ tục này chỉ áp dụng cho những người từ 14 đến chưa đủ 18 tuổi tại thời điểm bị bắt, tạm giữ, khởi tố, điều tra hoặc xét xử, không phải tại thời điểm phạm tội.

3 Xem Phan Thanh Điền “Bắt, tạm giữ, tạm giam và giám sát bị can, bị cáo chưa thành niên”, trang 33 Tạp chí Luật học số 3 năm 2002

Thời điểm xác định độ tuổi chưa thành niên trong luật Hình sự và luật Tố tụng hình sự là khác nhau, phản ánh nhiệm vụ và phương pháp điều chỉnh riêng của mỗi ngành luật Luật hình sự tập trung vào việc quy định tội phạm và hình phạt, trong khi luật tố tụng hình sự không chỉ nhằm áp dụng hình phạt mà còn bảo vệ quyền lợi của người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án Sự khác biệt này là hợp lý và không mâu thuẫn, đảm bảo quyền và lợi ích cho người chưa thành niên phạm tội.

Khái niệm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên

Trong khoa học luật tố tụng hình sự các thuật ngữ “người bị tạm giữ”,

“Bị can” và “bị cáo” là các thuật ngữ pháp lý chỉ tư cách tố tụng của một người bị nghi ngờ phạm tội trong các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng hình sự Mỗi giai đoạn này đi kèm với những quyền và nghĩa vụ riêng biệt Theo Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự, các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của họ được xác định rõ ràng.

Người bị tạm giữ là cá nhân đã nhận quyết định tạm giữ từ cơ quan có thẩm quyền Theo Điều 49 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị can là người bị khởi tố về hình sự, trong khi Điều 50 quy định rằng bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Khi một người bị bắt quả tang đang phạm tội, bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hoặc theo lệnh truy nã, họ có thể ra đầu thú và tự thú với cơ quan có thẩm quyền Nếu cơ quan xét thấy cần giữ họ lại để làm rõ hành vi phạm tội hoặc ngăn chặn việc bỏ trốn, thì sẽ ra quyết định tạm giữ Từ thời điểm này, những người đó được gọi là người bị tạm giữ.

Theo Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự, khi có đủ căn cứ chứng minh một người thực hiện hành vi phạm tội, cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố bị can Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm Tư cách bị can sẽ chấm dứt khi cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đình chỉ điều tra, hoặc khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử Theo Điều 50 BLTTHS, khi Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, tư cách bị can sẽ chấm dứt và người bị buộc tội sẽ có tư cách tố tụng là bị cáo.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 hiện chưa định nghĩa rõ ràng về bị can, bị cáo chưa thành niên Tuy nhiên, qua việc phân tích khái niệm người chưa thành niên và các thuật ngữ liên quan như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tác giả đề xuất khái niệm về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên.

Người bị tạm giữ là những cá nhân chưa thành niên, cụ thể là từ 14 đến dưới 18 tuổi, bị cơ quan có thẩm quyền bắt giữ do có hành vi vi phạm pháp luật hình sự.

Bị can là người chưa thành niên, từ 14 đến dưới 18 tuổi, bị khởi tố hình sự khi có đủ căn cứ xác định thực hiện hành vi tội phạm.

Bị cáo chưa thành niên, tức là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, sẽ bị đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự tại thời điểm Tòa án quyết định.

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên là những người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi tại thời điểm bị tạm giữ hoặc khởi tố Do đang trong độ tuổi chuyển tiếp từ “trẻ con” sang “người lớn”, họ có tâm sinh lý chưa ổn định và chưa phát triển toàn diện, nên pháp luật quy định thủ tục tố tụng đặc biệt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Chỉ áp dụng các quy định này khi họ từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 1991.

Khi tham gia tố tụng, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên vẫn chưa bị coi là có tội Hiện nay, có nhiều quan điểm trái ngược nhau về vấn đề này.

Những người theo quan điểm này cho rằng bị can và bị cáo là những người có tội, dựa trên lập luận rằng nếu không có lỗi của cá nhân trong những sự việc cụ thể, thì sẽ không thể tiến hành điều tra và xét xử.

Theo quan điểm thứ hai, cần loại bỏ sự vội vã và các ý kiến định trước trong quan hệ với người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự Những người này nhấn mạnh rằng bị can và bị cáo trong tố tụng hình sự không được coi là có tội, mà họ chỉ ở trong tình trạng trung gian giữa có tội và vô tội.

4 Xem Nguyễn Thái Phúc “Nguyên tắc suy đoán vô tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2006

5 Xem Nguyễn Thái Phúc “Nguyên tắc suy đoán vô tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2006

Theo quan điểm thứ ba, những người bị can và bị cáo được coi là chưa có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quan điểm này nhấn mạnh rằng chỉ khi có quyết định của Tòa án, họ mới bị xem là có tội.

Theo tác giả, hai quan niệm đầu tiên đều thiếu cơ sở khoa học và không chính xác Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm bị can, bị cáo với người có tội, điều này mâu thuẫn với yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Quan điểm thứ hai lại không rõ ràng và thiếu tính khoa học, vì không thể tồn tại cái gọi là “tình trạng trung gian của bị can”, trong khoa học pháp lý không có sự lựa chọn nước đôi như vậy.

Tác giả hoàn toàn đồng ý với quan điểm rằng tố tụng hình sự là quá trình tìm kiếm chân lý khách quan, diễn ra qua một cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm làm sáng tỏ sự thật vụ án Chỉ khi sự thật được chứng minh và lỗi của bị can bị cáo được xác định, họ mới bị coi là có tội Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 khẳng định rằng "không ai có thể bị coi là có tội khi chưa có một bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật", đây là một điểm nổi bật của Bộ luật này.

Chính sách hình sự của nhà nước Việt nam đối với người chưa thành niên phạm tội

Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 đã ghi nhận chính sách xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành vi vi phạm của họ Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý của đối tượng này, các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử đã đưa ra những hướng dẫn thống nhất về đường lối xét xử, đảm bảo tính nhân đạo và hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện.

Việc phạm tội khi chưa đủ tuổi thành niên được coi là một tình tiết giảm nhẹ, do đó, người chưa thành niên sẽ nhận hình phạt nhẹ hơn so với người lớn tuổi phạm tội trong những trường hợp tương tự.

Việc xử lý nhẹ hay nặng đối với người chưa thành niên phụ thuộc vào trình độ nhận thức và trạng thái tâm lý của họ, được thể hiện qua độ tuổi, hoàn cảnh phạm pháp, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, cũng như nhân thân của người phạm tội và yêu cầu của tình hình chung.

Kế thừa những tư tưởng chỉ đạo nêu trên, trong Bộ luật Hình sự năm

Năm 1999, các nhà làm luật đã chính thức ghi nhận một chương độc lập (chương X) trong Bộ luật hình sự, bao gồm 10 điều (từ điều 68 đến điều 77) nhằm quy định các quy phạm đối với người chưa thành niên phạm tội Chương này xác định mức độ trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên sẽ được giảm nhẹ hơn so với những người đã thành niên phạm tội.

Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại điều 69 Bộ luật Hình sự, thể hiện nguyên tắc xử lý đặc biệt nhằm bảo vệ quyền lợi và tạo điều kiện cho sự tái hòa nhập của các em.

Nhà nước ta chủ trương không áp dụng hình phạt nặng đối với người chưa thành niên phạm tội, mà tập trung vào việc giáo dục và hỗ trợ họ sửa chữa sai lầm Mục tiêu là giúp các em phát triển lành mạnh, trở thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Trong các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án liên quan đến người chưa thành niên, yêu cầu bắt buộc là phải xem xét một cách khách quan và toàn diện Điều này nhằm xác định rõ các yếu tố liên quan đến hành vi phạm tội, bao gồm khả năng nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cũng như những nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tội phạm.

Trong một số trường hợp nhất định, người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự Theo bộ luật Hình sự năm 1985, Viện kiểm sát có quyền quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho những người này nếu họ phạm tội ít nghiêm trọng, gây hại không lớn và có tình tiết giảm nhẹ.

Theo chuyên đề sơ kết kinh nghiệm số 37/NCPL ngày 16/1/1976 của TANDTC, gia đình hoặc tổ chức xã hội có trách nhiệm giám sát và giáo dục người chưa thành niên (khoản 3 điều 59) Trong giai đoạn điều tra hoặc xét xử, theo điều 48 bộ luật Hình sự năm 1985, người chưa thành niên có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và điều kiện như người đã thành niên phạm tội.

Bộ luật Hình sự năm 1999 đã khắc phục những hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1985 bằng cách quy định rõ ràng về miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội Theo đó, miễn trách nhiệm hình sự được coi là một trong chín trường hợp theo pháp luật hình sự Việt Nam Cơ quan tư pháp có thẩm quyền, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, có thể quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên nếu họ đáp ứng các điều kiện tại khoản 2 điều 69, bao gồm: phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm không gây hại lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục.

Trong quá trình tố tụng, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Tòa án có quyền áp dụng khoản 2 điều 69 Bộ luật Hình sự năm 1999 để miễn trách nhiệm hình sự cho người chưa thành niên phạm tội Ngoài ra, các cơ quan này cũng có thể áp dụng điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 để miễn trách nhiệm hình sự cho họ nếu đáp ứng các điều kiện tương tự như những người đã thành niên phạm tội khác.

Không phải mọi trường hợp người chưa thành niên phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự; việc này chỉ diễn ra khi các biện pháp giáo dục, cải tạo khác không còn hiệu quả Nếu có thể giáo dục và cải tạo họ thành người có ích cho xã hội, thì không nên truy cứu trách nhiệm hình sự Ngay cả khi cần thiết phải truy cứu, không nhất thiết phải áp dụng hình phạt; có thể sử dụng các biện pháp tư pháp khác hoặc miễn hình phạt nếu có đủ căn cứ.

Căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm tính chất nguy hiểm của hành vi, đặc điểm nhân thân và yêu cầu phòng ngừa Điều quan trọng là cần nhấn mạnh yêu cầu phòng ngừa thay vì yêu cầu chống tội phạm.

Khi xét xử, nếu Tòa án nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, sẽ áp dụng các biện pháp tư pháp theo điều 70 Bộ luật Hình sự Việc cân nhắc này nhằm đảm bảo tính nhân đạo và phù hợp với lứa tuổi của người vi phạm.

Tòa án có quyền quyết định không áp dụng hình phạt dựa trên các tình tiết cụ thể của vụ án và đặc điểm của người bị kết án Các biện pháp tư pháp như giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng có thể được áp dụng Những biện pháp này mang tính chất thay thế cho hình phạt đối với người chưa thành niên.

Thủ tục tố tụng hình sự trong những vụ án do người chưa thành niên thực hiện

Đối tượng chứng minh trong vụ án do người chưa thành niên thực hiện

Khi tiến hành tố tụng đối với vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên, cơ quan điều tra, viện kiểm sát và Tòa án cần xác định rõ tuổi của họ để đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt phù hợp Điều này là cần thiết để tuân thủ quy định của pháp luật và đảm bảo chế độ thi hành án đúng đắn Ngoài việc chứng minh các vấn đề chung theo điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự, cần xem xét các tình tiết ảnh hưởng đến ý thức phạm tội của người chưa thành niên theo khoản 2 điều 302 Chỉ khi có đủ căn cứ xác định họ đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cơ quan tố tụng mới được khởi tố, truy tố và xét xử, đồng thời áp dụng quy định xử lý như đối với người thành niên.

Pháp luật Tố tụng hình sự yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ trình độ phát triển thể chất và tinh thần, cũng như mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên Những yếu tố này rất quan trọng để đánh giá chứng cứ và xác định trách nhiệm hình sự Đặc điểm về tính cách, tình trạng sức khỏe, trình độ văn hóa và thói quen của người chưa thành niên thường được thể hiện qua lời khai của những người gần gũi như cha mẹ, thầy cô và bạn bè, cũng như qua nhận xét của tổ dân phố và chính quyền địa phương Ngoài ra, kiến thức từ các chuyên gia tâm lý học và giáo viên có kinh nghiệm cũng có thể được sử dụng để xác định khả năng nhận thức Điều kiện sống và giáo dục cũng cần được xem xét, vì chúng ảnh hưởng đến thái độ và tâm lý của người chưa thành niên đối với hành vi phạm tội, cũng như khả năng giáo dục và cải tạo họ.

Hoàn cảnh gia đình của người chưa thành niên bao gồm cơ cấu gia đình, lối sống, quan niệm đạo đức và phương pháp giáo dục từ ông bà, cha mẹ và anh chị em ruột Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mức độ quan tâm, chăm sóc lẫn nhau đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của trẻ.

Hoàn cảnh kinh tế của người chưa thành niên bao gồm các yếu tố như tình hình kinh tế của gia đình họ, cũng như việc làm và thu nhập của chính bản thân họ.

- Ba là trình độ văn hóa của người chưa thành niên; chất lượng, nội dung giáo dục; phẩm chất đạo đức, phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo

Môi trường sống của người chưa thành niên bao gồm tình hình an ninh trật tự và các hoạt động văn hóa, giải trí diễn ra tại đó.

Khi tiến hành tố tụng đối với vụ án do người chưa thành niên thực hiện, cơ quan điều tra và Tòa án cần xác định xem có sự xúi giục từ người đã thành niên hay không Nhiều người trưởng thành lợi dụng sự nhẹ dạ và cả tin của người chưa thành niên để lôi kéo họ vào con đường phạm tội Việc xác định yếu tố này là cần thiết để tránh bỏ lọt tội phạm và bảo vệ người vô tội, đồng thời ngăn chặn tội phạm từ người chưa thành niên Xúi giục người chưa thành niên phạm tội cũng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người trưởng thành và có thể làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên Do đó, việc làm rõ tình tiết này có ý nghĩa quan trọng trong việc phân hóa trách nhiệm hình sự và đảm bảo tính khách quan của vụ án.

Yếu tố cuối cùng cần chứng minh trong vụ án liên quan đến bị cáo chưa thành niên là nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội Việc xác định các yếu tố này không chỉ quan trọng trong việc phân định trách nhiệm hình sự mà còn hỗ trợ trong công tác phòng chống tội phạm vị thành niên, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa hiệu quả Để làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cần chú ý đến các tình tiết liên quan.

Những thói quen xấu và quan niệm lệch lạc ở người chưa thành niên thường xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm sự thiếu quan tâm hoặc nuông chiều quá mức từ gia đình, sự lôi kéo của bạn bè, và sự dụ dỗ từ những phần tử xấu trong xã hội.

Những yếu tố như sự sơ hở và thiếu cảnh giác của nạn nhân, cùng với tình trạng đông đúc, chen lấn tại hiện trường, đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành ý đồ phạm tội và thực hiện hành vi phạm tội.

Động cơ chính khiến người chưa thành niên phạm tội thường xuất phát từ tình trạng thiếu thốn về vật chất hoặc do những mâu thuẫn cá nhân.

1.3.3 Các yêu cầu khi áp dụng biện pháp ngăn chặn và cơ chế giám sát đối với người chưa thành niên

Biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, áp dụng cho bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành quy định 6 biện pháp ngăn chặn: Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Các biện pháp này được quy định rõ ràng về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Có ý kiến cho rằng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chỉ áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, quan điểm này là sai do điều 301 quy định khác.

Bộ luật Tố tụng hình sự quy định rõ ràng rằng thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên, bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo, phải tuân theo quy định của chương XXXII và các quy định khác trong bộ luật, miễn là không trái với chương này.

Điều 303 trong chương XXXII Bộ luật Tố tụng hình sự quy định về việc bắt giữ, tạm giữ, tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng không cấm áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác Điều này có nghĩa là các biện pháp như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản bảo đảm vẫn có thể được thực hiện Thủ tục áp dụng các biện pháp này sẽ tuân theo các quy định chung.

Điều 303 BLTTHS quy định ba biện pháp nghiêm khắc: bắt, tạm giam và tạm giữ, vì chúng ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do của người phạm tội, đặc biệt là quyền tự do đi lại và thân thể Đối với người chưa thành niên, đang trong giai đoạn phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, việc áp dụng các biện pháp này cần sự quan tâm từ gia đình và xã hội Do đó, khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên, các cơ quan tố tụng phải tuân thủ các quy định chung tại các điều 80, 81, 82, 86 và 88 của BLTTHS.

303 Bộ luật TTHS Việc bắt, tạm giữ và tạm giam được chia thành hai cấp độ như sau:

Các yêu cầu khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cơ chế giám sát đối với người chưa thành niên

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO CHƯA THÀNH NIÊN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 54

2.1 Thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên 54

2.1.1 Thực trạng bào vệ quyền, lợi ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên 54

THỰC TRẠNG BẢO VỆ QUYỀN, LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN, BỊ CÁO CHƯA THÀNH NIÊN VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

Ngày đăng: 12/07/2023, 09:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
33. Nguyễn văn Tuân (1993), “Bàn về sự tham gia của Luật sư trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 6/1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về sự tham gia của Luật sư trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Tác giả: Nguyễn văn Tuân
Nhà XB: tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 1993
34. Thông tin Khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, tháng 1/2000 - “Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường năng lực hệ thống tư pháp người chưa thành niên tại Việt nam
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý
Nhà XB: Thông tin Khoa học pháp lý
Năm: 2000
35. Trịnh Tiến Việt (2005), “Về bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật TTHS năm 2003”, tạp chí TAND số 06/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phạm tội trong Bộ luật TTHS năm 2003
Tác giả: Trịnh Tiến Việt
Nhà XB: tạp chí TAND
Năm: 2005
36. Vũ Hồng Thiêm (2004), “Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên”, tạp chí TAND tháng 9/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Tác giả: Vũ Hồng Thiêm
Nhà XB: tạp chí TAND
Năm: 2004
37.Trần Đức Châm (2002), “Thanh thiếu niên làm trái pháp luật, thực trạng và giải pháp”, Nhà xuất bản CTQG, Hà nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh thiếu niên làm trái pháp luật, thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Đức Châm
Nhà XB: Nhà xuất bản CTQG
Năm: 2002
38.Lê Văn Cường cùng đồng nghiệp (1999): “Tâm lý tội phạm và vấn đề phòng chống tội phạm lứa tuổi vị thành niên, NXB CAND, Hà nội 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tội phạm và vấn đề phòng chống tội phạm lứa tuổi vị thành niên
Tác giả: Lê Văn Cường
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 1999
39. Nguyễn Tiến Đạm (2004), “Quyền lựa chọn người bảo chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên phạm tội”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 07/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền lựa chọn người bảo chữa của bị can, bị cáo chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạm
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2004
40. Nguyễn Tiến Đạt (2006), “Đảm bảo quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 03/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: Tạp chí Khoa học pháp lý
Năm: 2006
41. Phạm Thanh Điền (2003), “BLTTHS cần quy định cụ thể hơn về việc xét xử người thành niên mà khi phạm tội họ là người chưa thành niên”, Tạp chí Kiểm sát số 02/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BLTTHS cần quy định cụ thể hơn về việc xét xử người thành niên mà khi phạm tội họ là người chưa thành niên
Tác giả: Phạm Thanh Điền
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2003
42. Phạm Hồng Hải (1999), “Vị trí của Luật sư bào chữa trong phiên Tòa xét xử”, Tạp chí Luật học số 04/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của Luật sư bào chữa trong phiên Tòa xét xử
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 1999
43. Nguyễn Thanh Nga (1997), “Khía cạnh tâm lý – xã hội về tình trạng phạm tội cua người chưa thành niên (Tạp chí Luật học số 01/1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khía cạnh tâm lý – xã hội về tình trạng phạm tội cua người chưa thành niên
Tác giả: Nguyễn Thanh Nga
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 1997
44. Nhà pháp luật Việt – Pháp (1997), “Tố tụng hình sự và vai trò của viện công tố trong Tố tụng hình sự”, NXB CTQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng hình sự và vai trò của viện công tố trong Tố tụng hình sự
Tác giả: Nhà pháp luật Việt – Pháp
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1997
45. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (2003), NXB CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Nhà XB: NXB CAND
Năm: 2003
46. Đỗ Thị Hoàng Yến, “Hoàn thiện thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội”, luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, TP. HCM, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Tác giả: Đỗ Thị Hoàng Yến
Nhà XB: TP. HCM
Năm: 2006
47. Nguyễn Ngọc Thương, “Thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án do người chưa thành niên thực hiện – Lý luận và thực tiễn”, luận văn tốt nghiệp cao học luật, TP. HCM, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án do người chưa thành niên thực hiện – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thương
Nhà XB: luận văn tốt nghiệp cao học luật
Năm: 2006
48. Nguyễn Phương Hồng, “Bảo vệ quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt nam”, luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, TP. HCM, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt nam
Tác giả: Nguyễn Phương Hồng
Nhà XB: luận văn tốt nghiệp cử nhân luật
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w