1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tiếp nhận văn học từ lý thuyết diễn ngôn của michel foucault và trường hợp tiếp nhận – tái sáng tạo truyện cổ trong truyện cổ viết lại và gót thị mầu, đầu châu long

136 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trước đây, phần lớn các nhà lý luận trên thế giới và Việt Nam đều chỉ quan tâm nghiên cứu người đọc hoặc như một kẻ chịu sự tác động thụ động từ phía văn bản và tác giả, hoặc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA: VĂN HỌC

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN

CẤP TRƯỜNG NĂM 2017

Tên công trình:

NGHIÊN CỨU TIẾP NHẬN VĂN HỌC

TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN CỦA MICHEL FOUCAULT

VÀ TRƯỜNG HỢP TIẾP NHẬN – TÁI SÁNG TẠO TRUYỆN CỔ

TRONG TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI

VÀ GÓT THỊ MẦU, ĐẦU CHÂU LONG

Sinh viên thực hiện:

Chủ nhiệm: Nguyễn Đình Minh Khuê, Lớp Văn học khóa học 2014 – 2018

Người hướng dẫn: ThS Lê Ngọc Phương

Bộ môn Lý luận và Phê bình văn học, Khoa Văn học

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu lên trong công trình đều là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ tài liệu, văn bản nào khác

Trang 3

Sau hơn bảy tháng nghiêm cẩn tìm hiểu và triển khai, chúng tôi đã hoàn thành báo cáo nghiên cứu khoa học sinh viên 2017 với đề tài “Nghiên cứu tiếp nhận văn học từ lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault và trường hợp tiếp nhận – tái sáng tạo truyện cổ trong

Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long” Trong suốt quá trình thực hiện đề tài,

chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt thành của ThS Lê Ngọc Phương về

cả kiến thức lẫn các kỹ năng nghiên cứu Cô đã ủng hộ, động viên và luôn sẵn sàng chia sẻ với chúng tôi những tài liệu, sách vở cũng như kinh nghiệm của mình Chúng tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Bên cạnh đó, người nghiên cứu xin gửi lời cảm tạ đến gia đình, đặc biệt là bố mẹ vì đã cho con những lời khuyên, lời góp ý chân thành trong suốt quá trình thực hiện công trình nghiên cứu Ngoài ra, chúng tôi cũng vô cùng biết ơn nhà văn Trần Chiến, nhà văn Lê Minh Hà và nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên vì đã sẵn lòng hỗ trợ, cung cấp cho người nghiên cứu nhiều thông tin lý thú và bổ ích phục vụ trực tiếp cho đề tài Cuối cùng, xin cảm ơn tất cả các thầy cô khoa Văn học và Ngôn ngữ – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐHQG TP.HCM, các bạn bè, anh chị em đã giúp đỡ, cung cấp cho chúng tôi những tư liệu, kiến thức quý báu, hỗ trợ chúng tôi về cả vật chất lẫn tinh thần, khuyến khích, khuyên bảo và nhận xét để đề tài của chúng tôi được hoàn thiện hơn

Có thể nói, hơn bảy tháng nghiên cứu vừa qua là cơ hội để chúng tôi dấn thân thể hiện những quan niệm cá nhân về một vấn đề lý luận văn học khá mới mẻ cũng như tích góp những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu mới, phục vụ cho định hướng nghề nghiệp sau này Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài, do hạn chế về thời gian, tư liệu cũng như năng lực chủ quan của người nghiên cứu, đề tài chắc chắn còn nhiều sai sót, nhiều thiếu hụt Chính vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đánh giá, đóng góp từ phía hội đồng khoa học, các thầy cô, bạn bè để khắc phục và hoàn thiện mình hơn trong những lần nghiên cứu tiếp theo

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 4

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5

3 Mục tiêu của đề tài 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7

4.1 Đối tượng nghiên cứu 7

4.2 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của đề tài 8

Chương 1: DẪN NHẬP LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN CỦA MICHEL FOUCAULT 10 1.1 Diễn trình của các lý thuyết diễn ngôn 10

1.1.1 Từ thời cổ đại đến thế kỷ XVI: diễn ngôn như là lời nói được tu sức 10

1.1.2 Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX: diễn ngôn và những biến thiên ngữ nghĩa 11

1.1.3 Từ thế kỷ XX đến nay: diễn ngôn như một khái niệm liên ngành 12

1.2 M Foucault – từ bác sĩ phẫu thuật đến triết gia về quyền lực/ tri thức 15

1.2.1 Cuộc chơi của những lựa chọn 15

1.2.2 Quyền lực/ tri thức như là phạm trù tư tưởng trung tâm 19

1.3 Lý thuyết của Michel Foucault về diễn ngôn trong phối cảnh quyền lực/ tri thức 22

1.3.1 Diễn ngôn và các khái niệm liên quan 22

1.3.2 Những nguyên tắc tạo lập và loại trừ diễn ngôn 27

1.3.2.1 Các nguyên tắc loại trừ bên ngoài 28

1.3.2.2 Các nguyên tắc loại trừ bên trong 32

1.3.2.3 Các nguyên tắc kiểm soát chủ thể diễn ngôn 37

1.3.2.4 Các luận đề triết học tham gia gia cố cho quy trình kiểm soát – hạn định diễn ngôn 38

TIỂU KẾT 40

Chương 2: DIỄN NGÔN TIẾP NHẬN – MỘT CÁCH SOI CHIẾU TIẾP NHẬN VĂN HỌC TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN CỦA MICHEL FOUCAULT 41

2.1 Vấn đề tiếp nhận trong bức tranh toàn cảnh các lý thuyết văn học 41

2.2 Khái niệm diễn ngôn tiếp nhận và mô hình của sự tiếp nhận văn học bán chủ động 49 2.3 Diễn ngôn tiếp nhận – một sản phẩm của các kiến tạo quyền lực/ tri thức 57

2.3.1 Quyền lực ngôn ngữ và sự kiến tạo tính “mở” cho tiếp nhận văn học 57

Trang 5

2.3.2.1 Các nguyên lý kiểm soát tự thân diễn ngôn tiếp nhận 60

2.3.2.2 Các nguyên lý kiểm soát khách thể của diễn ngôn tiếp nhận 75

2.3.2.3 Nguyên lý nghi lễ và sự kiểm soát chủ thể của diễn ngôn tiếp nhận 75

2.4 Diễn ngôn tiếp nhận – quyền lực kiến tạo [nhận thức của con người về] thực tiễn văn học 77

2.4.1 Hiệu lực kiến tạo đối với thực tiễn văn học của diễn ngôn tiếp nhận 77

2.4.1.1 Mỹ hóa thực tại văn học 78

2.4.1.2 Xú hóa thực tại văn học 80

2.4.2 Quy trình kiến tạo thực tiễn văn học của diễn ngôn tiếp nhận 81

2.4.3 Hướng đến một nền đạo đức học diễn ngôn tiếp nhận 83

TIỂU KẾT 85

Chương 3: TRUYỆN CỔ VIẾT LẠI VÀ GÓT THỊ MẦU, ĐẦU CHÂU LONG: NHỮNG DIỄN NGÔN TIẾP NHẬN HUYỀN THOẠI THỜI HIỆN ĐẠI 86

3.1 “Truyện giả cổ” như một hình thức tiếp nhận văn học: trường hợp Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long 86

3.1.1 Lê Đạt, Lê Minh Hà và Truyện cổ viết lại 89

3.1.2 Trần Chiến và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long 89

3.2 Sự soát xét các diễn ngôn tiếp nhận trong Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long – dấu vết và viễn tượng 91

3.2.1 Những dấu vết 93

3.2.1.1 Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long hay sự đọc huyền thoại dưới áp lực thông diễn của “siêu-ngôn-ngữ” 93

3.2.1.2 Viết như là quá trình “tự kiểm duyệt” 97

3.2.1.3 Trên chặng đường biên tập – xuất bản và phổ biến diễn ngôn đến cộng đồng tiếp nhận 104

3.2.2 Những viễn tượng 109

3.3 Diễn ngôn tiếp nhận trong Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long: những “cú đấm” vào nhận thức huyền thoại 111

3.3.1 Những khuynh hướng kiến tạo nhận thức huyền thoại chính yếu 113

3.3.1.1 Tái lập các nhân vật huyền thoại 113

3.3.1.2 Giải thiêng điểm nhìn trần thuật huyền thoại truyền thống 116

3.3.2 Cơ chế kiến tạo nhận thức huyền thoại 117

TIỂU KẾT 121

KẾT LUẬN 122

THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hình 1 Bức tranh Las Meninas của Diego Velázquez

Bức tranh trên đây – Las Meninas, họa phẩm nổi tiếng của nghệ thuật Tây Ban Nha

thế kỷ XVII từng được Thomas Lawrence vinh danh như một thứ “triết học của nghệ thuật” [32] – tái hiện cảnh Diego Velázquez (tác giả của bức tranh) đang trong phòng làm việc của mình ở cung điện Madrid (hình ảnh người họa sĩ cầm trên tay cây cọ vẽ ở bìa trái bức tranh), vẽ chân dung cho một gia đình hoàng tộc Tây Ban Nha dưới thời kỳ trị vì của vua Filipe IV Nhiều nhà phê bình nghệ thuật, trong đó có cả Michel Foucault, đã ngợi khen hết lời về kỹ thuật phối cảnh, phối sáng, tạo dựng bố cục hay thậm chí là việc Diego khắc họa

vị trí và tư thế của mười hai nhân vật trong tranh Song, riêng với bản thân người nghiên

Trang 7

cứu, bức tranh này lại gợi một niềm cảm hứng đặc biệt và độc đáo – một suy tưởng mới về

vị thế của người thưởng lãm nghệ thuật

Nói điều đó là bởi, ngay từ năm 1656 – thời điểm ra đời của bức tranh này, một họa

sĩ cung đình Tây Ban Nha đã dám đặt người thưởng lãm (có thể đó chính là ông, là những

vị quần thần ông đang phác họa, là đức vua, hoàng hậu của ông, và là hàng loạt những thế

hệ say sưa thưởng ngoạn nghệ thuật như chúng ta) vào trong một niềm ám ảnh, nhưng cũng

là niềm hân hưởng tột cùng: ngắm nhìn và được ngắm nhìn Vừa hân hoan chiêm ngưỡng bức tranh, ta dường như lại có cảm giác rằng những đôi mắt từ trong một căn phòng xa xưa nào từ tận thế kỷ XVII đang xuyên thấm qua cả những vệt sơn dầu để nhìn ngắm dung mạo

và nghĩ suy của ta Đó là ánh nhìn thăm thẳm thần bí của người họa sĩ Diego ở phía trái bức tranh, là cái liếc mắt ám ảnh của cô công chúa nhỏ đứng ở trung tâm bức vẽ, là ánh nhìn trực diện, đầy tâm sự của gã người hầu và con chó ở góc dưới cùng bên phải, hay khuất lấp hơn là đôi mắt nhìn ra từ bóng tối của một người đàn ông mặc áo choàng đen và cái ngoái nhìn tạo chiều sâu hun hút cho không gian căn phòng của một cận thận được vẽ rất chuẩn xác theo quy tắc phối cảnh cổ điển Hơn nữa, cái khung tranh xuất hiện nửa vời ở phía trái càng tô đậm hơn vẻ kỳ bí của màn sương huyền hoặc tỏa ra từ bức vẽ: liệu chúng ta – những người thưởng lãm tác phẩm – phải chăng cũng chính là đối tượng được tái hiện trên khung tranh bí ẩn này? Như vậy, có thể nói, cùng lúc tự do [thậm chí tạo lập quyền lực] chiêm ngắm và phát ngôn những diễn giải đối với nghệ thuật, người thưởng lãm cũng không ngừng

bị theo dõi, không ngừng bị ngắm nhìn, mà trường hợp Las Meninas là một cách cụ thể hóa

căn cước ấy của người thưởng lãm nghệ thuật thông qua hội họa

Tuy nhiên, điều đáng nói là, những suy tưởng từ bức tranh này đưa chúng tôi đến với tham vọng thực hiện chuyến hành trình chinh phục một chân trời nghiên cứu mới: liệu người đọc và sự đọc văn học có cùng mang bản chất ấy, bản chất lưỡng diện khi vừa được hân hoan đọc, hân hoan thưởng thức, hân hoan kiến tạo những diễn giải, nhưng cũng vừa chịu sự kiểm chế, trông nhìn từ những định chế khe khắt, đôi lúc lộ mặt, đôi lúc ẩn mình

như những ánh mắt đầy sắc thái trong Las Meninas? Và như một cuộc hạnh ngộ, chúng tôi

đọc được những quan điểm và kiến giải của triết gia Pháp Michel Foucault về diễn ngôn xét như một thực thể ngôn lời vừa có sức mạnh kiến tạo thế giới, vừa chịu sự kiềm tỏa, soát

Trang 8

xét của các hệ hình quyền lực/ tri thức Từ đây, ý tưởng về một cuộc tương chiếu giữa lý thuyết diễn ngôn M Foucault và bản chất của tiếp nhận văn học nảy nở trong chúng tôi

Thực ra, tiếp nhận văn học, khởi đi từ những thập niên giữa thế kỷ XX, đã luôn là một vấn đề lý luận thu hút nhiều sự quan tâm từ phía các nhà phê bình, bởi đây vừa là một chủ đề nghiên cứu mới mẻ so với các lý thuyết văn học trước đó chủ yếu chuyên chú vào tác giả và văn bản, vừa là một con đường bí ẩn vào loại bậc nhất trên bản đồ các luận thuyết văn chương khi có khả năng dẫn dắt các nhà nghiên cứu đến với những vùng đất lạ lẫm và tân kỳ, khơi mở những điểm nhìn, những khuynh hướng độc sáng về người đọc, sự đọc nói riêng và bản diện của văn học nói chung Tuy nhiên, trước đây, phần lớn các nhà lý luận trên thế giới và Việt Nam đều chỉ quan tâm nghiên cứu người đọc hoặc như một kẻ chịu sự tác động thụ động từ phía văn bản và tác giả, hoặc như một kẻ mạnh đầy uy quyền trong không gian văn học, chủ động đối với văn bản, thậm chí giết chết cả nhà văn mà lại hầu như chưa từng soát xét lại, chưa từng phản tư về một khuôn diện mới, một khuôn diện khác của tiếp nhận văn học: tiếp nhận không thể chỉ được nhìn nhận như một chỉnh thể độc lập trong sự trừ xuất các yếu tố ngoại vi, mà còn phải được nghiên cứu trong sự chi phối, tác động không ngừng của phối cảnh quyền lực/ tri thức, của phông văn hóa dung chứa nó

Chính vì vậy, việc tạo lập khái niệm diễn ngôn tiếp nhận như một cách soi chiếu căn cước

của tiếp nhận văn học trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn của M Foucault – một triết thuyết khá mới mẻ và phức tạp, hiện vẫn chưa được giới thiệu một cách có hệ thống trong không gian nghiên cứu Việt Nam – là một hướng đi nhiều hứa hẹn

Bên cạnh đó, những mẫu thử cho những tiền đề lý luận về diễn ngôn tiếp nhận của chúng tôi là hai tác phẩm thuộc dòng văn học “giả cổ” đương đại Việt Nam – Truyện cổ viết lại của Lê Đạt, Lê Minh Hà và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long của Trần Chiến Đây

không phải là những tác phẩm giả cổ tiêu biểu nhất hay duy nhất, song là những diễn ngôn tiếp nhận huyền thoại được tạo sinh trong một không gian quyền lực/ tri thức vô cùng đặc biệt – không gian đan xen, giằng xé, tranh đấu phức tạp giữa những thiết chế truyền thống

và hiện đại, hướng đến phản hồi một tra vấn đã tồn tại từ rất lâu: liệu huyền thoại có nên/ được phép giải thiêng? Có thể nói, những vấn đề đặt ra ở đây là vô cùng thú vị, hấp dẫn và

đầy tiềm năng nghiên cứu

Trang 9

Chính từ những lý do này, trong khuôn khổ một nghiên cứu khoa học sinh viên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu tiếp nhận văn học từ lý thuyết diễn ngôn của Michel

Foucault và trường hợp tiếp nhận – tái sáng tạo truyện cổ trong Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long” để đưa ra những quan niệm cá nhân về những vấn đề đã đề cập

trên đây Thiết nghĩ, những vấn đề này sẽ khởi xuất cho những cách nhìn, những hướng nghĩ mới về quá trình tiếp nhận văn học – một khía cạnh lý thuyết, cho đến ngày nay, vẫn còn là nguồn cơn của rất nhiều làn sóng tranh cãi, bất đồng trong cộng đồng nghiên cứu

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

2.1.1 Về vấn đề tiếp nhận văn học

Ở Việt Nam, theo quan sát chủ quan của người nghiên cứu, tiếp nhận văn học hầu như chưa từng được nghiên cứu chuyên sâu dưới tư cách một vấn đề lý thuyết mới; nói cách khác, các nhà nghiên cứu – phê bình trong nước chủ yếu học tập và vận dụng tư tưởng của các lý thuyết tiếp nhận hiện đại phương Tây vào thực hành khảo sát, lý giải các hiện

tượng văn học thế giới và Việt Nam như công trình Vấn đề tiếp nhận F Dostoevsky tại Việt Nam của Phạm Thị Phương, Vấn đề tiếp nhận thơ Nôm Hồ Xuân Hương của Hoàng Phong Tuấn hay Một số vấn đề tiếp nhận văn học Pháp ở Việt Nam dưới góc nhìn của lý thuyết phức hệ của nhóm tác giả Nguyễn Duy Bình (chủ biên), Đinh Trí Dũng, Phùng Ngọc

Kiên,… Các sách vở, luận văn, luận án mà chúng tôi vừa kể ra trên đây hầu như đều được tiến hành nghiên cứu các trường hợp cụ thể dựa trên các lý thuyết như mỹ học tiếp nhận, lý thuyết phức hệ,… mà chưa từng thử đưa ra một nhận thức mới về quá trình tiếp nhận

2.1.2 Về lý thuyết diễn ngôn của M Foucault

Ở Việt Nam, lý luận về diễn ngôn của M Foucault đã manh nha xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XXI trong một vài công trình nghiên cứu mang tính chất giới thuyết như

tiểu mục Michel Foucault: tri thức, quyền lực, trách nhiệm trích từ chương II thuộc chuyên khảo Lý thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu, các bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay của Trần Đình Sử, Dẫn nhập lý thuyết diễn ngôn của

M Foucault và nghiên cứu văn học của Trần Văn Toàn hay Bước đầu nhận diện diễn ngôn,

Trang 10

diễn ngôn văn học, diễn ngôn thơ của Trần Thiện Khanh,… Bên cạnh đó, căn cứ trên lý

thuyết này, một số bài báo, tạp chí lấy đối tượng nghiên cứu là diễn ngôn tính dục, diễn

ngôn nữ quyền,… trong các trường hợp tác phẩm cụ thể, tiêu biểu có Một cách hiểu về diễn ngôn tính dục trong thơ Trần Dần của Đinh Minh Hằng, Diễn ngôn nữ quyền trong văn học Việt Nam 1945 – 1975 nhìn từ trường hợp Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi của Nguyễn Thị Vân Anh hay Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật (Trường hợp của Dũng trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh) của Trần Văn Toàn… Đáng chú ý hơn cả là các

bài nghiên cứu được công bố trong Hội thảo khoa học với chủ đề “Diễn ngôn – những vấn

đề lý thuyết và ứng dụng” do Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội dự định tổ chức vào tháng 12/20091

Nhìn chung, tuy việc giới thiệu quan điểm diễn ngôn của M Foucault ở Việt Nam

là đã có, song hầu hết các nhà khoa học đều chỉ quan tâm đến khái niệm diễn ngôn như là văn bản tác phẩm nghệ thuật được sáng tác bởi các nhà văn chuyên nghiệp mà hầu như quên đi các hình thức diễn ngôn khác cùng tồn tại trong trường văn học, trong đó không thể không nhắc tới diễn ngôn tiếp nhận Nói cách khác, vấn đề tiếp nhận như một quy trình tạo lập và loại trừ diễn ngôn, biểu hiện ở người đọc, nhà phê bình, hay thậm chí là ở nhà văn – một người đọc đặc biệt và là người sáng tạo nối tiếp – vẫn chưa nhận được nhiều sự quan tâm Đề tài này hy vọng đóng góp vào khoảng trống đó để nhìn nhận văn học rõ hơn

ở cả phương diện sáng tạo lẫn tiếp nhận

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Vị trí của M Foucault ở nước ngoài, nhất là các nước phương Tây, đã được khẳng định rất sớm từ những thập niên 80 của thế kỷ trước Người ta không chỉ đọc, thích thú mà còn đào sâu nghiên cứu những vấn đề triết học, tâm thần học, xã hội học được đặt ra trong

các công trình nổi tiếng của ông như Khảo cổ học tri thức, Bệnh điên và văn minh, Trật tự của diễn ngôn, Sự ra đời của bệnh viện chuyên khoa hay Quy tắc và trừng phạt: Sự ra đời của nhà tù,… Nổi bật trong số ấy có lý thuyết về diễn ngôn đã thu hút sự quan tâm từ phía

1 Vì nhiều lý do, hội thảo này cuối cùng không thể diễn ra như mong đợi Tuy nhiên, rất may mắn, chúng tôi đã được PGS.TS Trần Văn Toàn – khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội cung cấp bản thảo của một số tham luận

Trang 11

nhiều nhà nghiên cứu trên khắp các lĩnh vực, mà minh chứng là sự ra đời của các công trình

nổi tiếng có thể kể đến như Foucault (Tạm dịch: Về Foucault) của Gilles Deleuze, Discourse (Tạm dịch: Về diễn ngôn), Michel Foucault (Tạm dịch: Về Michel Foucault) của Sara Mills, Foucault for beginners (Nhập môn Foucault) của Lydia Alix Fillingham, A Foucault primer: Discourse, power and subject (Tạm dịch: Nhập môn Foucault: diễn ngôn,

quyền lực và chủ thể) của Alec McHoul và Wendy Grace,… Nhìn chung, các chuyên khảo nêu trên đã có những đóng góp tích cực không chỉ trong việc giới thiệu lý thuyết diễn ngôn đến nhiều bộ phận độc giả, mà còn trong công tác hệ thống hóa và phân tích, triển khai những ý tưởng của M Foucault về vấn đề này Thế nhưng, theo quan sát của chúng tôi, hiện vẫn chưa có đề tài khoa học hay công trình, sách vở nào có sự quan tâm nhất định đến mối liên hệ giữa diễn ngôn và bản chất của quá trình tiếp nhận văn học, duy chỉ có một số

các bài báo (ví như Activating the Multitude (Audience Powers and Cultural Studies) (Tạm

dịch: Kích hoạt quần chúng (Những quyền lực của độc giả và nghiên cứu văn hóa)),…) của Jack Bratich, Negri on Negri,… là ít nhiều chú ý đến mối tương cận độc đáo này, tuy chúng chỉ dừng lại trên lĩnh vực học thuyết truyền thông và triết học chính trị

Như vậy, qua khảo sát sơ lược tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài, có thể thấy, vấn đề tiếp nhận như một quy trình tạo lập và loại trừ diễn ngôn mà chúng tôi đặt

ra trong đề tài này là khá mới mẻ Tuy sự thiếu hụt về tiền đề lý luận ấy đặt ra nhiều thách thức cam go, song thiết nghĩ, đó chính là cơ hội để chúng tôi thể hiện được quan niệm, góc nhìn cá nhân về diễn ngôn và một phần bản chất rất đặc biệt của quá trình tiếp nhận văn học

3 Mục tiêu của đề tài

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi hướng đến các mục tiêu sau:

Thứ nhất, góp phần khái quát, hệ thống hóa quan niệm và lý luận của M Foucault –

triết gia Pháp nổi danh của thế kỷ XX – về khái niệm diễn ngôn

Thứ hai, bước đầu giới thuyết khái niệm diễn ngôn tiếp nhận trên căn cứ lý thuyết

diễn ngôn của M Foucault, xem tiếp nhận văn học vừa như một loại hình diễn ngôn chịu

Trang 12

tác động của những hệ hình quyền lực/ tri thức, vừa như một quyền năng đầy uy lực kiến tạo nhận thức về thực tại của con người

Thứ ba, ứng dụng lý thuyết về tạo lập và loại trừ diễn ngôn của M Foucault cũng

như những kiến giải về diễn ngôn tiếp nhận vào việc phân tích, lý giải một số sáng tác văn xuôi mang cảm thức giải thiêng các hình mẫu lịch sử, huyền thoại của Lê Đạt, Lê Minh Hà,

Trần Chiến trong Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long

Thứ tư, qua việc thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn tích lũy cho bản thân

mình những kiến thức, hiểu biết mới về diễn ngôn, diễn ngôn tiếp nhận cũng như học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, trau dồi những kỹ năng cần thiết trong quá trình nghiên cứu khoa học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài khoa học của chúng tôi hướng đến nghiên cứu hai đối tượng chính: một là quá trình tiếp nhận văn học hiểu như là hoạt động đọc, nhận định, phê bình, tái sáng tạo,… văn

học; hai là hai tập truyện giả cổ Truyện cổ viết lại của Lê Đạt, Lê Minh Hà và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long của Trần Chiến

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với tính chất của một đề tài thiên về lý luận văn học, chúng tôi sẽ khảo sát, phân tích, lý giải các đối tượng nghiên cứu trên bình diện rộng lớn và phổ quát nhằm phát hiện, truy xuất những vấn đề bản chất của chúng

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh các thao tác thông dụng như tổng thuật,

so sánh – đối chiếu, thống kê, sơ đồ hóa,…, chúng tôi sử dụng các phương pháp chính yếu

sau đây nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác nghiên cứu: thứ nhất, chúng tôi vận dụng

phương pháp tương chiếu, đối sánh giữa lý thuyết diễn ngôn và tiếp nhận văn học, từ đó

phát hiện một khuôn diện khác của quá trình tiếp nhận; thứ hai, vận dụng lý thuyết về diễn

ngôn tiếp nhận được tạo lập vào trong nghiên cứu hai tác phẩm “giả cổ”, chúng tôi còn sử

Trang 13

dụng một số thao tác cơ bản của thi pháp học, tự sự học và phê bình huyền thoại nhằm có cái nhìn chân thực và xác đáng hơn về các mẫu thử này

6 Cấu trúc của đề tài

Bên cạnh các phần mục cơ bản như Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính yếu của luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Dẫn nhập lý thuyết diễn ngôn của Michel Foucault

Trong chương đầu tiên, sau khi khái quát bức tranh tổng thể miêu tả diễn trình các

lý thuyết diễn ngôn, chúng tôi tập trung tổng thuật, nghiên cứu, đánh giá cuộc đời, sự nghiệp,

tư tưởng chính yếu của Michel Foucault và quan niệm của triết gia này về khái niệm diễn ngôn – hành vi sử dụng ngôn lời một mặt chịu sự chi phối gay gắt, khắt khe của quyền lực/

tri thức, một mặt lại là một trung tâm quyền lực vô cùng ghê gớm, có khả năng kiến tạo thực tại và nhận thức của con người về thực tại

Chương 2: Diễn ngôn tiếp nhận – một cách soi chiếu tiếp nhận văn học từ lý thuyết

diễn ngôn của Michel Foucault

Trong chương hai, chúng tôi tạo lập thuật ngữ diễn ngôn tiếp nhận như một cách tái

nhìn nhận căn cước tiếp nhận văn học từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn của M Foucault: tiếp nhận là một quy trình bán chủ động chứ không hoàn toàn chủ động hay thụ động như nhiều quan niệm trước đây, bởi diễn ngôn tiếp nhận vừa chủ động chi phối thực tại văn học, vừa thụ động trước sự kiến tạo, kiểm soát của các hệ hình quyền lực/ tri thức Từ mấu chốt này, chúng tôi tiến hành xây dựng một hệ thống lý thuyết lý giải các mô thức, phương tiện kiến tạo diễn ngôn tiếp nhận của quyền lực/ tri thức cũng như cách thức các diễn ngôn tiếp nhận này đã vận dụng nhằm kiểm soát, chi phối [nhận thức của con người về] thực tại văn học

Chương 3: Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long: những diễn ngôn tiếp

nhận huyền thoại thời hậu hiện đại

Trên cơ sở hệ thống lý thuyết diễn ngôn tiếp nhận đã được xây dựng và kiến giải ở

chương 2, chúng tôi thử tiếp cận Truyện cổ viết lại của Lê Đạt, Lê Minh Hà và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long của Trần Chiến như những trường hợp diễn ngôn tiếp nhận đặc biệt

Trang 14

– những diễn ngôn được tạo lập trên tinh thần tiếp nhận và tái tạo truyện cổ, huyền thoại Trong không gian hậu hiện đại nhiều hỗn mang và thường biến, các hệ hình quyền lực/ tri thức đã tác động, kiểm soát rất gắt gao các diễn ngôn này thông qua nhiều nguyên lý đa

dạng, song chính những diễn ngôn tiếp nhận huyền thoại trong Truyện cổ viết lại và Gót Thị Mầu, đầu Châu Long lại là những quyền lực lớn lao góp phần kiến tạo nhận thức huyền

thoại của cộng đồng tiếp nhận

Trang 15

Chương 1 DẪN NHẬP LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN

CỦA MICHEL FOUCAULT

1.1 Diễn trình của các lý thuyết diễn ngôn

Diễn ngôn không chỉ là một sự kiện ngôn ngữ đơn thuần chủ yếu được quan tâm về mặt nội tại tính và cấu trúc tính, mà còn là một sự kiện xã hội nên cần được nghiên cứu trong mối quan hệ với các sự kiện, các thiết chế khác, đặc biệt là với phối cảnh xã hội – văn hóa trong đó nó được dung chứa và chi phối Tuy nhiên, không phải đợi đến những thập kỷ gần đây diễn ngôn mới được thức nhận một cách tương đối khách quan, đa chiều và toàn diện như vậy, mà từ thời cổ, trung đại, nhiều công trình nghiên cứu đã chú ý phân tích, nghiên cứu, đối chiếu sự thực hành diễn ngôn theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Nói cách khác, thực hành diễn ngôn đã “chu du” qua một diễn trình dài hơn mấy nghìn năm, được soi rọi, mổ xẻ bởi rất nhiều các lý thuyết nghiên cứu – ứng dụng, từ tu từ học, triết học, ngôn ngữ học đến lý luận và phê bình văn học,…

1.1.1 Từ thời cổ đại đến thế kỷ XVI: diễn ngôn như là lời nói được tu sức

Thuật ngữ diễn ngôn thực ra đã xuất hiện rất sớm từ thời kỳ phồn thịnh của những thành bang Hy Lạp – La Mã cổ đại dưới vỏ ngữ âm “discursus” (mà sau này trở thành từ

nguyên của “discours” trong tiếng Pháp, “discourse” trong tiếng Anh hay “diskurse” trong tiếng Đức,…) “Discursus” có mặt trong khá nhiều văn bản diễn thuyết và đối thoại triết học thời kỳ này, mà Gorgias của Plato – tác phẩm về cuộc đối thoại giữa hai triết gia Socrates và Gorgias – là một ví dụ điển hình Fee-Alexandra Haase, trong bài viết The history of Discourse as Literary history (Tạm dịch: Lịch sử diễn ngôn như là lịch sử văn chương), đã giới thiệu một đối thoại ngắn thuộc Gorgias; trong đó, hai nhân vật chính luận

bàn vô cùng sôi nổi về nội hàm của khái niệm “discursus” [71; 3] Ở đây, nhìn chung, tương

tự nhiều khái niệm mỹ học, văn học, triết học,… khác xuất hiện trong thời kỳ Hy Lạp – La

Mã cổ đại, “discursus” (tuy có nghĩa gốc là “sự lang thang, lêu lổng”) ít nhiều có liên quan

Trang 16

đến vấn đề tu từ và thường được dùng với ý nghĩa lời nói, thuật hùng biện, văn bản diễn thuyết hay “những phương tiện thuyết phục về mặt xã hội và chính trị” [4; 146]

Thế nhưng, trong suốt nhiều thế kỷ sau đó (gần như là đến tận cuối thế kỷ XV), người ta hầu như không hề chứng kiến một sự biến thiên về nghĩa nào của khái niệm này

Thời gian này, diễn ngôn xuất hiện trong rất nhiều văn bản, văn cảnh khác nhau nhưng đều

được dùng với cùng ý nghĩa lời nói hay bài phát biểu, luận thuyết (với tư cách một thể loại văn học) [71; 4] Ở đây, để chứng minh cho nhận định trên của mình, Fee-Alexandra Haase tiếp tục dẫn ra các ví dụ từ nhiều nguồn (văn học, triết học, thần học,…) như cách giải nghĩa

từ “discours” của Godefroy trong Dictionairre de l’Ancienne Langue Français et de Tous Ses Dialectes du IXe au XVe Siècle (Tạm dịch: Từ điển tiếng Pháp cổ và thổ ngữ từ thế kỷ

IX đến XV), cách dùng khái niệm discursus của nhà thần học người Đức Nicolaus Cusanus trong các trước tác của mình, sự xuất hiện của từ “discourse” với ý nghĩa lời nói trong Paradise Lost (Thiên đường đã mất) của John Milton hay việc Niccolo Machiavelli đặt tên cho tác phẩm của mình là Discourses Upon The First Ten Books of Titus Livy (Tạm dịch:

Những bài luận về mười quyển sách đầu tiên của Titus Livy) [71; 4-5]

1.1.2 Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX: diễn ngôn và những biến thiên ngữ nghĩa

Kể từ khoảng thế kỷ XVII trở đi, khái niệm diễn ngôn bắt đầu được quan chú nhiều

hơn và thường xuyên được mở rộng về biên độ nghĩa Khi nghiên cứu các sách vở, công trình vào thời đại của triết học duy lý ở châu Âu, Fee-Alexandra Haase phát hiện ra khá nhiều trường hợp đặc biệt mà ở đó, thuật ngữ này được giới thuyết cho một cách hiểu, một

cách dùng mới Đơn cử là cách sử dụng thuật ngữ “discourse” rất khác biệt của Thomas

Hobbes – nhà triết học chính trị nổi tiếng ở Anh đầu thế kỷ XVII Trong quyển sách khảo

luận về chính quyền và đạo đức học nổi tiếng mang tên Leviathan, cụ thể là ở chương thứ III mang tên Of the Consequences or Train of Imaginations (Tạm dịch: Về những hệ lụy hay dòng tưởng tượng), triết gia xứ Malmesbury từng nhắc đến khái niệm mental discourse

như “dòng chảy liên tục từ suy tư này sang suy tư khác” và nhấn mạnh tính chất đối trọng giúp “phân biệt với ‘discourse’ bằng lời” của thuật ngữ này [71; 6-7]

Trang 17

Đến thế kỷ XIX, như nhận định của Fee-Alexandra Haase, thuật ngữ diễn ngôn quay

về với xuất phát điểm tu từ học, mà một trong những đại diện đã hệ thống hóa nội hàm của

diễn ngôn theo định hướng này là Theodore W Hunt – một vị giảng sư tại đại học Princeton Hoa Kỳ vào những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Trong công trình The Principles

of Written Discourse (Tạm dịch: Những nguyên lý của diễn ngôn viết), ông nhấn mạnh sự xuất hiện từ rất sớm của khái niệm diễn ngôn với tư cách một thuật ngữ tu từ và lý giải lý

do vì sao trong suốt một khoảng thời gian dài, nét nghĩa này của diễn ngôn lại giảm sút độ

phổ biến Bên cạnh đó, Hunt còn chỉ ra những phẩm chất cơ bản của diễn ngôn như: bao gồm cả thơ ca lẫn văn xuôi, diễn thuyết (nói) lẫn luận văn (viết); là sự dung hòa giữa nghệ thuật và khoa học; là sự thể hiện của tư duy [71; 8]

1.1.3 Từ thế kỷ XX đến nay: diễn ngôn như một khái niệm liên ngành

Một cái nhìn toàn cảnh các quan niệm về diễn ngôn từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XIX trên đây đủ cho ta thấy được sự đa dạng, chồng chéo của các cách tiếp cận đối với khái niệm này Tuy nhiên, mức độ của sự nhập nhằng, phức tạp ấy còn tăng lên gấp nhiều lần nếu tiến hành hệ thống hóa các cách hiểu, các lý thuyết về diễn ngôn được tạo sinh và vận dụng trong khoảng hơn 100 năm trở lại đây, hay nói cách khác là trong thời kỳ hiện đại và

hậu hiện đại Có lẽ cũng chính vì điều này mà trong phần Dẫn nhập cho quyển sách Discourse (Tạm dịch: Diễn ngôn) của mình, Sara Mills – một nữ tác giả Mỹ đương đại có

nhiều công trình nghiên cứu về lý thuyết giải kiến tạo, về Michel Foucault và diễn ngôn –

đã viết: “Trong số các thuật ngữ văn hóa và văn học, diễn ngôn là khái niệm có biên độ nghĩa rộng lớn nhất nhưng cũng ít khi được định nghĩa nhất trong các văn bản lý thuyết” [75; 1] Tuy vậy, trong những thập niên gần đây, nhiều học giả Việt Nam (như Trần Đình

Sử, Trần Văn Toàn, Nguyễn Thị Ngọc Minh,…) đã có những nỗ lực vượt bậc trong việc thu thập, tổng hợp và trình bày lại một cách khá đầy đủ, toàn diện, chi tiết các quan niệm

về diễn ngôn, mà cụ thể là cho rằng, diễn ngôn có thể được tiếp cận theo ba xu hướng chủ đạo: hướng tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tiếp cận văn học (hay phong cách học, thi pháp học) và hướng tiếp cận xã hội học – văn hóa học Chính vì thế, trong phần này, chúng tôi chỉ khái quát lại những nét chính yếu nhất như một cách dẫn nhập vào quan niệm của

Trang 18

Michel Foucault cũng như định vị quan niệm ấy trong lịch sử các lý thuyết về diễn ngôn

thời hiện đại – hậu hiện đại

Theo tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh, câu chuyện ngôn ngữ học về diễn ngôn được khơi nguồn từ “sự đối lập lời nói – ngôn ngữ trong quan điểm của Saussure” [38] Thế nhưng, ở đây, nội hàm của diễn ngôn không trùng khớp với khái niệm ngôn ngữ (langue) –

đối tượng chính yếu của ngôn ngữ học như trong quan niệm của Ferdinand de Saussure, mà

tương đương với thuật ngữ lời nói (parole), tức ngôn ngữ đã đi vào hành chức trong thực tiễn giao tiếp Cách định nghĩa diễn ngôn này nhận được nhiều sự đồng tình từ phía các nhà ngữ học hiện đại như Gillian Brown và George Yule trong công trình Discourse Analysis (1983) (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn) [75; 9], David Crystal trong The Cambridge Encyclopedia of Language (1987) (Tạm dịch: Bách khoa thư Cambridge về ngôn ngữ) [SMills; 3] hay Michael Stubbs trong Discourse Analysis: The Sociolinguistic Analysis of Natural language (1983) (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn: Phân tích ngôn ngữ học xã hội

về ngôn ngữ tự nhiên) [75; 4],…

Không dừng lại ở đây, theo Sara Mills, diễn ngôn dưới góc nhìn ngôn ngữ học còn

có thể được hiểu theo hai cách khác nữa Thứ nhất, trong xu hướng nhấn mạnh độ dài và

tính liên tục của văn bản/ phát ngôn, diễn ngôn được định nghĩa là “một đoạn văn bản mở rộng” [75; 9] như cách lý giải của Zeling Harris trong Discourse Analysis (1952) (Tạm dịch: Phân tích diễn ngôn) [47], John Sinclair và Malcolm Coulthard trong Towards an Analysis

of Discourse: The English Used by Pupils and Teachers (1975) (Tạm dịch: Hướng đến một

sự phân tích diễn ngôn: tiếng Anh của học sinh và giáo viên) [75; 9] hay Ron Carter và Paul

Simpson trong Language, Discourse and Literature: An Introductory Reader in Discourse Stylistics (1989) (Tạm dịch: Ngôn ngữ, diễn ngôn và văn chương: giới thuyết về phong

cách học diễn ngôn) [75; 9],… Thứ hai, diễn ngôn còn có thể được xem như “ngữ cảnh cho

sự xuất hiện của những phát ngôn nhất định” và chính những ngữ cảnh này sẽ “xác quyết

sự cấu thành nội tại của những văn bản cụ thể được sản xuất ra” [75; 9]

Tuy có tính chất khá phức tạp, đan xen, chồng chéo lên nhau, nhưng chính các quan niệm ngôn ngữ học vể diễn ngôn kể trên đã tạo nên nền tảng cơ bản cho sự thành hình của một phương pháp ngữ học hiện đại mới mẻ được áp dụng rất thường xuyên trong nghiên

Trang 19

cứu ngôn ngữ giai đoạn gần đây – phương pháp phân tích diễn ngôn (discourse analysis)

Sự ra đời của phương pháp này là một phản ứng đối nghịch lại ngôn ngữ học truyền thống

từ thời Saussure với quan niệm chỉ tập trung quan tâm đến “các đơn vị cấu thành và kết cấu của câu” mà quên đi “việc phân tích ngôn ngữ trong quá trình hành chức” [75; 135], quên

đi việc “phân tích các cấu trúc biểu nghĩa trong tương tác với ngữ cảnh để hiểu thực chất nội dung của diễn ngôn” [47]

Tiếp thu và bổ khuyết cho cách tiếp cận diễn ngôn của ngôn ngữ học thuần túy, thi pháp học (hay nói chung là lĩnh vực nghiên cứu, lý luận phê bình văn học) khởi đi từ

Mikhail Bakhtine đã tiến hành nhìn nhận diễn ngôn từ một cái nhìn thiên về văn học và nghệ thuật tiểu thuyết Trong các công trình như Vấn đề các thể loại lời nói của M Bakhtine hay Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ của V.N Voloshinov, các nhà thi pháp học phê

phán quyết liệt thói quen chỉ quan tâm đến cấu trúc bên trong hệ thống ngôn ngữ của các nhà ngữ học mà đòi hỏi phải hướng đến đối tượng “siêu ngôn ngữ” [47], phải nhấn mạnh môi trường hành chức, hoạt động của ngôn ngữ và lời nói, phải xem ngôn ngữ là một chỉnh thể mang tính động chứ không hề tĩnh tại và trừu tượng

Chính từ tư duy ấy, các nhà thi pháp học hết sức quan tâm và xem diễn ngôn như là khái niệm trung tâm, bởi diễn ngôn “là ngôn ngữ trong chỉnh thể sống động, cụ thể, là ngôn ngữ trong sử dụng, trong bối cảnh xã hội, của những giọng xã hội mâu thuẫn và đa tầng”,

“là lãnh thổ chung của người nói và người nghe, khu vực tiếp xúc giữa ta và người” [38] Diễn ngôn tạo nên không gian của những cuộc giao tiếp, tranh biện giữa các quan niệm, tư tưởng mà trong đó, mỗi phát ngôn là một đơn vị, một khâu, một mắt xích cấu thành Chính

vì vậy, theo Bakhtine, diễn ngôn về bản chất mang tính chất đối thoại, lưỡng giọng, nhấn

mạnh vấn đề thể loại lời nói (tức các loại hình nhóm-phát-ngôn-có-hình-thức-ổn-định) và

quá trình giao tiếp giữa các chủ thể phát ngôn Có thể thấy, quan niệm kể trên của các nhà thi pháp học mang đậm tính thực tiễn và liên ngành, đã làm cơ sở, nền tảng quan trọng cho

sự hình thành của các lý thuyết về diễn ngôn khác xuất hiện muộn hơn trong kỷ nguyên của tinh thần hậu hiện đại

Khuynh hướng phổ biến thứ ba trong việc tiếp cận khái niệm diễn ngôn gắn liền với tên tuổi một trong những triết gia nổi tiếng nhất thế kỷ XX – Michel Foucault Ở đây, diễn

Trang 20

ngôn không còn đơn thuần là ngôn từ, lời nói trong ngữ cảnh, văn bản thường được phân tích “ở cấp độ vi mô” [24], tức được nhìn nhận dưới lăng kính những quy ước giao tiếp, sử dụng ngôn từ hay cũng không mang hàm ý “kiểu tư duy”, “chiến dịch phát ngôn” [47] như một phạm trù tu từ học, thi pháp học, mà là khái niệm được quan tâm xem xét từ góc nhìn văn hóa, xã hội học và lịch sử tư tưởng Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, chúng tôi chủ

yếu vận dụng khuynh hướng tiếp cận này để thông hiểu nội hàm khái niệm diễn ngôn và sẽ

giới thuyết rõ hơn về vấn đề này trong các phần tiếp theo của đề tài

1.2 M Foucault – từ bác sĩ phẫu thuật đến triết gia về quyền lực/ tri thức

1.2.1 Cuộc chơi của những lựa chọn

Có thể xem cuộc đời và sự nghiệp triết luận của Michel Foucault là một cuộc chơi miên viễn của các lựa chọn, mà lựa chọn nào cũng hoặc hết sức bất thường, hoặc vô cùng cay đắng Tuy nhiên, hẳn không thể phủ nhận rằng tất cả những định quyết trong đời Foucault, bất kể đúng sai, đều là những ngẫu nhiên số mệnh đã dẫn lối ông trên hành trình nhiều chông gai đến vị thế một thiên tài, một thiên tài của những đối lập tưởng chừng phi

lý, một thiên tài nghịch dị

Ngày 15 tháng 10 năm 1926, tại thành phố Poitiers miền trung tây nước Pháp, Foucault chào đời trong một gia đình giàu có, danh giá và quyền uy [73; 3] với tên trong khai sinh là Paul-Michel Foucault Thực ra, theo Didier Eribon, ban đầu, nếu không có sự gợi ý và can thiệp của người mẹ, chữ “Michel” đã không được có mặt trong tên của Foucault, bởi theo truyền thống gia đình, tên ông phải giống với tên của bố – Dr Paul Foucault [64; 4-5] Ngay từ điểm này, truyền thống gia đình Foucault đã bộc lộ tính chất định đặt và áp chế sâu sắc đối với các thế hệ trên nhiều phương diện

Sự áp chế ấy còn thể hiện rõ ràng hơn trong những sự kiện về sau có liên quan đến việc lựa chọn sở thích, đam mê và định hướng nghề nghiệp, học thuật của M Foucault Theo tư liệu của Didier Eribon và David Macey, bố của Foucault là một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng ở thành phố Poitiers và có một phòng khám riêng thừa hưởng từ gia sản của người

bố vợ – Dr Prosper Malapert, một bác sĩ, giảng sư môn phẫu thuật học tại khoa Y trường Đại học Poitiers [64; 5] [73; 1-2] Chính vì truyền thống y học dày dặn ấy của gia đình, M

Trang 21

Foucault luôn bị bố và ông ngoại thúc buộc đi theo con đường trở thành một bác sĩ phẫu

thuật Tuy vậy, trong Nhập môn Foucault, Lydia Alix Fillingham và Moshe Süsser nêu lên

một thông tin khá thú vị rằng: “Khi được 17 tuổi, bất chấp một cuộc choảng nhau dữ dội với ông bố, Paul-Michel quyết định rằng mình không thể trở thành một bác sĩ” [17; 19] Thực ra, sự phản ứng này đã được thể hiện ngay từ việc trong hai năm theo học tại trường Lycée Henri IV tại Poitiers, Foucault tỏ ra không thích thú mấy với toán học, số học cũng như nhiều môn khoa học tự nhiên, nhưng lại rất tỏa sáng trong các môn ngôn ngữ, cổ ngữ

và lịch sử [73; 8-9] Những năm đầu thập niên 40, khuynh hướng học thuật này của Foucault tiếp tục được khai triển và phát huy khi ông ghi danh dự học tại Collège Saint-Stanislaus trong ba năm và chuyên chú nghiên cứu triết học, lịch sử và văn học [73; 10] Đây cũng chính là thời điểm Foucault đứng trước lựa chọn quan trọng đầu tiên, và cuối cùng đã can đảm xác quyết con đường học thuật theo niềm đam mệ của chính mình, mặc những lời phản đối, thậm chí là đe dọa từ gia đình và nhất là từ người bố có phần độc đoán

Tuy nhiên, thời điểm ghi dấu mốc quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp triết học của M Foucault không thể không kể đến chính là khi ông quyết định rời Poitiers, đến Paris

để theo học tại Lycée Henri IV vào năm 1945 và được dìu dắt bởi Jean Hyppolite – một triết gia lập thuyết trên cơ sở dung hợp lý thuyết hiện sinh và phép biện chứng Đặc biệt, Hyppolite cũng chính là người đã góp phần khai mở khuynh hướng nghiên cứu triết học thông qua lịch sử của M Foucault [74; 40-41] và được Foucault vô cùng kính trọng Bằng

chứng là, trong bài diễn văn nhậm chức L’Ordre du discours (Tạm dịch: Trật tự của diễn

ngôn) tại Collège de France năm 1970, Foucault gần như dành trọn phần cuối cùng để nói

về những ảnh hưởng của Jean Hyppolite đến con đường triết học của mình và bày tỏ đến ông lòng biết ơn sâu sắc [68; 74-76]

Mùa thu năm 1946, Foucault trúng tuyển vào trường École Normale Supérieure –

“trường cao đẳng sư phạm đặc biệt trí tuệ và tinh tuyển nhất nước Pháp” [17; 20], xếp hạng thứ tư trong trong giới học sinh toàn quốc Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp và con đường học thuật của Foucault, bởi đây là cơ hội vô cùng quý giá để ông được học hỏi, thụ giáo các giảng viên – các triết gia nổi tiếng đương thời như Georges Canguilhem, Pierre-Maxime Schuhl, Louis Althusser,… và tập trung nghiên cứu triết học

Trang 22

một cách chuyên nghiệp Trong suốt hơn ba năm theo học tại đây, Foucault đã đọc nhiều công trình, sách vở của các tiền nhân như Hegel, K Marx, I Kant, E Husserl, M Heiddeger,

say mê triết học khoa học của G Bachelard và hoàn thành xuất sắc luận văn thạc sĩ La Constitution d'un transcendental dans La Phénoménologie de l'esprit de Hegel (Tạm dịch:

Sự cấu thành của một Triết học tiên nghiệm trong Hiện tượng học tinh thần của Hegel)

dưới sự dẫn dắt của người thầy Hyppolite [77; 126]

Tuy vậy, những năm tháng nghiên cứu tại École Normale Supérieure cũng là khoảng thời gian vô cùng khó khăn về mặt tâm lý đối với Foucault, bởi ông phải đứng trước một lựa chọn, một sự giằng xé đau đớn khác: có thể chấp nhận mình là một người đồng tính hay không Ngay từ những ngày đầu tiên vào học và ở tại ký túc xá của ngôi trường này, Foucault đã sống rất biệt lập, ít giao thiệp với người khác, ham thích bạo hành và nhiều lần toan tự sát [64; 26] đến nỗi bố ông phải đưa ông đến gặp một chuyên gia tâm lý Trong những lần trị liệu này, Foucault đã thổ lộ xu hướng ham thích tình dục với đàn ông của mình [17; 22] và theo như lời Didier Eribon, các bác sĩ tâm lý đã kết luận rằng chứng trầm cảm của Foucault xuất nguồn từ chính những giằng xé về giới tính của ông, bởi trong khoảng thời gian này, đồng tính là một cấm kỵ ở Pháp [64; 26] Tuy nhiên, sau tất cả những mặc cảm, thất vọng, sợ hãi, băn khoăn, Foucault đã lựa chọn để sống với cảm xúc thật của chính ông Những năm tháng sinh viên, Foucault tham gia vào một nhóm đồng tính nam ở Paris, thậm chí còn thử qua nhiều loại chất kích thích [74; 55-56] Sau này, khi đã trở thành một nhà nghiên cứu, nhà triết học, một vị giảng sư tại nhiều trường đại học danh tiếng, Foucault vẫn âm thầm quan hệ với nhiều người tình đồng tính của mình Trong những năm đầu thập niên 80, khi được các trường đại học ở Mỹ mời đến thuyết giảng, mà nhất là khi

ở lại California, Foucault đã dành nhiều đêm tham dự các hoạt động của nhiều hội nhóm gay (người đồng tính nam), thậm chí là các sinh hoạt có phần lập dị có liên quan đến bạo dâm, khổ dâm, và ông không may nhiễm phải virus HIV mà ở thời điểm ấy, kiến thức nhân loại về căn bệnh thế kỷ vẫn còn vô cùng ít ỏi Như một hệ quả tất yếu, năm 1983, sức khỏe Foucault giảm sút hẳn vì AIDS, nhiều bệnh tật kéo dài nhưng ông vẫn nằng nặc xem đó chỉ

là biểu hiện của bệnh cảm cúm thông thường [64; 324-325] Theo nhiều tài liệu, ngày 9 tháng 6 năm 1984, có triệu chứng nhiễm trùng máu, Foucault được đưa vào bệnh viện

Trang 23

Salpêtrière – Paris và nằm điều trị ở đây cho đến khi mất vào ngày 25 tháng 6 năm 1984 [64; 327] [74; 21,24]

Hành trình hiện thực hóa ước mơ và khẳng định giới tính, như trình bày ở phần trên, quả thật đã đặt M Foucault vào những ngã ba khó định Tuy nhiên, sự nghiệp học thuật của ông còn chứng kiến một cuộc chọn lựa khác, cuộc chọn lựa phức tạp có liên quan đến con đường triết học mà ông theo đuổi Thực ra, không nhiều triết gia có ý thức tự giác định danh trường phái cho hệ tư tưởng của mình; đồng thời, các tên gọi này hẳn nhiên cũng chỉ mang tính chất hậu nghiệm và được đặt ra để khu biệt, khoanh vùng các hệ tư tưởng chia

sẻ nhiều đặc trưng tương đồng Chính vì vậy, cuộc lựa chọn mà chúng tôi muốn nhắc đến

ở đây là cuộc lựa chọn của các nhà nghiên cứu và phê bình triết học, tư tưởng trong việc cân đối, soát xét xem M Foucault nên được xếp vào nhóm các triết gia nào, mà cụ thể là

cấu trúc hay hậu cấu trúc Trong nhiều sách vở, bài nghiên cứu như Contemporary Perspectives on Rhetoric (Tạm dịch: Những góc nhìn đương đại về Tu từ học) của Sonja

K Foss, Karen A Foss và Robert Trapp, M Foucault vẫn thường được xem là một thành viên của “bộ tứ triết gia cấu trúc” (Structuralism’s “Gang of Four”) cùng với Claude Lévi-Strauss, Jacques Lacan và Roland Barthes [69; 355] bởi tính chất nhị nguyên trong các công trình khảo luận của ông Tuy nhiên, có một luồng ý kiến trái ngược (như quan điểm của

Christopher Horrocks, Zoran Jetvic trong Introducing Foucault: A Graphic Guide (Tạm

dịch: Dẫn nhập Foucault: một hướng dẫn kiểu sơ đồ)) cho rằng, khuynh hướng cấu trúc luận ở Foucault không rõ rệt bằng hậu cấu trúc, bởi lý thuyết của triết gia này hầu như đặt trọng tâm vào “lịch sử và các vấn đề hiện tượng học” [70; 90] – những yếu tố không nhận được nhiều sự chú ý từ phía các nhà cấu trúc luận

Tuy vậy, chúng tôi lại đồng ý hơn với quan điểm thứ ba có phần trung tính, rằng không thể xếp Foucault trực tiếp vào khuynh hướng cấu trúc hay hậu cấu trúc Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Phương Lựu lý giải:

“M Foucault không hề nhận mình theo chủ nghĩa cấu trúc đã đành, nhưng nếu xếp ông vào chủ nghĩa giải cấu trúc thì hình như có chỗ vướng, vì ông đã không ngừng tranh luận với Jacques Derrida, tuy là học trò mình, nhưng là một kiện tướng của chủ nghĩa giải cấu trúc” [34; 110]

Trang 24

Tuy nhiên, trong quan điểm của chúng tôi, lý do quan trọng hơn cả ở đây chính là, triết luận của M Foucault đã tự khu biệt mình thành một hệ hình, một khuynh hướng tư tưởng khác hẳn, dung hợp giữa cấu trúc và giải cấu trúc, tức vận dụng cả những phương pháp và đường hướng tư duy của cả hai xu thế triết học này: vừa chú trọng khái quát hóa mối quan hệ giữa quyền lực và tri thức (biểu hiện cấu trúc luận), vừa chủ trương phá vỡ cấu trúc các thiết chế

xã hội như nhà tù, bệnh viện, trường học (biểu hiện giải cấu trúc luận), v.v

Qua những trình bày trên, dễ dàng nhận thấy rằng, cuộc đời và sự nghiệp triết luận của M Foucault là một cuộc chơi nhiều sóng gió, một cuộc cá cược nhiều tương tranh, giằng xé giữa những áp lực bên ngoài và thôi thúc của bản thể bên trong để có thể sống đúng với bản mệnh, tư chất của chính mình Thế nhưng, không thể phủ nhận được rằng chính những sóng gió, căng thẳng, những trải nghiệm cá nhân tích lũy được trong suốt nhiều năm tháng phân vân, băn khoăn vì những lựa chọn này đã trở thành đối tượng nghiên cứu và niềm cảm hứng triết học bất tận cho Foucault trên hành trình sáng tạo và khám phá tri thức

1.2.2 Quyền lực/ tri thức như là phạm trù tư tưởng trung tâm

Trong suốt hơn 30 năm nghiên cứu chuyên sâu triết học và các lĩnh vực có liên quan,

M Foucault đã tích lũy được cho mình một bộ sưu tập các công trình khảo luận vô cùng dày dặn, có giá trị và đặc biệt là mang đậm tính chất liên ngành Mối quan tâm của M Foucault trải dài từ lịch sử, triết học, xã hội học, chính trị học, phê bình văn hóa – văn học đến sinh vật học, y học và một số lĩnh vực khoa học tự nhiên khác nữa Chính vì vậy, khuynh hướng và đối tượng nghiên cứu cụ thể của ông cũng không kém phần phong phú,

đa dạng, mà danh sách các công trình khảo luận chính yếu của ông sau đây là một minh chứng thuyết phục cho nhận định ấy:

 Folie et déraison: Histoire de la folie à l'âge Classique (Tạm dịch: Chứng điên và

văn minh: Lịch sử chứng điên thời Trung cổ), 1961;

 Naissance de la clinique: Une archéologie du regard médical (Tạm dịch: Sự ra

đời của bệnh viện chuyên khoa: Khảo cổ học về các nhận thức y học), 1963;

Trang 25

 Les Mots et les Choses: Une archéologie des sciences humaines (Tạm dịch: Lời

và vật: Khảo cổ học về các khoa học nhân văn), 1966;

 L'Archéologie du savoir (Tạm dịch: Khảo cổ học tri thức), 1969;

 Qu'est-ce qu'un auteur? (Tạm dịch: Thế nào là tác giả), 1969;

 L’Ordre du discours (Tạm dịch: Trật tự của diễn ngôn), 1971;

 Surveiller et punir: Naissance de la prison (Tạm dịch: Kỷ luật và trừng phạt: Sự

ra đời của nhà tù), 1975;

 Histoire de la sexualité (Tạm dịch: Lịch sử tính dục), bộ gồm ba quyển:

- La volonté de savoir (Tạm dịch: Ý chí tri nhận), 1976;

- L’usage des plaisirs (Tạm dịch: Tận hưởng khoái lạc), 1984;

- Le souci de soi (Tạm dịch: Chăm sóc bản ngã), 1984; v.v

Thế nhưng, qua quá trình lược khảo, chúng tôi nhận thấy rằng, tuy lựa chọn những mẫu nghiên cứu rất đa dạng và khác biệt, song hầu như các công trình kể trên đều xoay quanh một vấn đề đóng vai trò trung tâm luận cho toàn bộ hệ thống tư tưởng của M Foucault: vấn đề quyền lực/ tri thức Ở đây, phải xen dấu xuyệt (/) vào giữa hai khái niệm

quyền lực và tri thức là bởi, trong triết luận Foucault, tri thức là sức mạnh, là quyền lực, và quyền lực bộc lộ quyền năng tối hậu của nó bằng việc tác động đến tri thức và các hệ hình

tri thức Nói cách khác, giữa quyền lực và tri thức có mối quan hệ hỗ tương, biện chứng qua lại với nhau, bao chứa nhau và tác động trực tiếp lẫn nhau, như chính M Foucault từng

phát biểu trong Surveiller et punir: Naissance de la prison (Kỷ luật và trừng phạt: Sự ra đời

của nhà tù):

“Chúng ta phải thừa nhận rằng quyền lực tạo nên tri thức (nhưng không phải đơn thuần khuyến khích nó [tức tri thức] vì nó phục vụ quyền lực hay tận dụng nó vì nó hữu ích); rằng quyền lực và tri thức bao hàm một cách trực tiếp lẫn nhau; không có quan hệ quyền lực nằm ngoài sự cấu lập có tính chất tương ứng của một trường tri

Trang 26

thức và cũng không có bất kì một tri thức nào không tiền giả định và được cấu thức đồng thời với những quan hệ quyền lực” [65; 27]

Theo đó, trong công trình Les Mots et les Choses: Une archéologie des sciences humaines (Lời và vật: Khảo cổ học về các khoa học nhân văn), M Foucault mô tả lại toàn

bộ diễn trình lịch sử cận đại các quốc gia Tây phương thông qua 3 hệ hình tri thức (episteme)

cơ bản (bao gồm tri thức hệ Phục hưng, tri thức hệ cổ điển và tri thức hệ hiện đại) mà mỗi

hệ hình gắn liền với một kiểu quyền lực riêng và quy định những thứ chân lý riêng phù hợp Như vậy, theo ý kiến của M Foucault, tất cả những tri-thức-được-xem-là-chân-lý mà chúng

ta lĩnh hội được đều chỉ là sản phẩm của sự định đặt, áp chế từ phía một quyền lực tối thượng chứ chưa hẳn phản ánh được chân xác những hiện tượng, quy luật của thế giới khách quan; trong khi đó, hằng ngày, chúng ta vẫn đang ngây thơ, tuyệt đối tin vào những sở học

có được từ giáo dục, lịch sử, sách vở,… mà không hề hoài nghi hay ít nhất là có ý thức tra vấn về chúng

Không dừng lại ở đây, M Foucault còn khai triển khái niệm trung tâm này bằng cách soát xét nhiều thiết chế quyền lực cụ thể trong xã hội như nhà tù, trường học, bệnh viện, nhà thương điên,… mà ở đó, việc nhận thức (hay tri thức) của con người bị bó buộc, hạn định bởi quyền lực từ các thiết chế gần như là một chân lý không thể chối từ Trong

Folie et déraison: Histoire de la folie à l'âge Classique (Chứng điên và văn minh: Lịch sử

chứng điên thời Trung cổ), M Foucault đặt ra một vấn đề rất đáng quan tâm, rằng thực ra, chứng điên (folie) là gì nếu không phải chỉ là hiện tượng một cá nhân thoát ly, gián cách khỏi quy chuẩn được dán mác “bình thường” bởi một thứ quyền lực vô hình phát xuất từ

chính trị, văn hóa và những quan hệ, tương tranh xã hội? Hay trong Surveiller et punir: Naissance de la prison (Kỷ luật và hình phạt: Sự ra đời của nhà tù), M Foucault cho rằng,

tất cả các không gian xã hội như nhà tù, trường học, trại lính,… đều là những thiết chế quyền lực đã chủ ý đặt ra vô số những quy định thưởng – phạt và tiêm nhiễm vào tiềm thức,

vô thức của binh sĩ, tù nhân, sinh viên,… ý thức nội tại phải phục tùng, phải chịu sự kìm hãm khe khắt ấy như một điều hiển nhiên, một thứ “thiên kinh địa nghĩa” [34; 114] không cần bàn cãi

Trang 27

Ngoài ra, người đọc cũng có thể tìm thấy cung cách lý giải xã hội dựa trên nguyên

tắc quyền lực này của M Foucault trong ba tập thuộc bộ Histoire de la sexualité (Lịch sử

tính dục) Theo ông, tính dục từ chỗ một hiện tượng mang tính bản thể đã trở nên một cấm

kỵ suốt hàng nghìn năm dưới bàn tay quyền lực Tri thức đơn nhất về tình dục mà con người trong suốt những thế kỷ vừa qua được tiếp nhận chính là: tình dục là một thứ nhơ bẩn, sai trái, phải giấu giếm đi Đồng thời, trong bộ ba tác phẩm này, M Foucault còn đề cập đến việc quyền lực đã tác động ra sao đến tâm lý của chủ thể tình dục cũng như những kiểu quan hệ phi dị tính (như đồng tính, song tính,…) trong hàng ngàn năm qua

Đặc biệt, điều chúng tôi quan tâm hơn cả khi tìm hiểu triết thuyết của M Foucault

chính là việc quyền lực/ tri thức “vận hành chủ yếu thông qua ngôn ngữ” [17; 12], hay nói

cách khác, sức mạnh của ngôn ngữ đã được quyền lực/ tri thức tận dụng để hoàn thành sứ

mạng của nó Trong rất nhiều công trình khảo luận của mình, đặc biệt là trong L'Archéologie

du savoir (Khảo cổ học tri thức), Foucault thường xuyên nhấn mạnh ngôn ngữ như một

công cụ của quyền lực xuất hiện xuyên suốt, âm thầm, tác động đến gần như toàn bộ ý thức, thậm chí là vô thức của con người, mà biểu hiện cụ thể của nó là những diễn ngôn về tính dục, những diễn ngôn về bệnh điên, về chân lý, về ngôn ngữ,… từ lâu đã trở thành gọng kìm hãm chế xã hội nói chung và từng cá nhân nói riêng dưới bàn tay quyền lực/ tri thức

mà đôi lúc, chúng ta không hề nhận thấy

1.3 Lý thuyết của Michel Foucault về diễn ngôn trong phối cảnh quyền lực/ tri thức

1.3.1 Diễn ngôn và các khái niệm liên quan

Như đã trình bày ở những phần trước của đề tài, có thể thấy, sự phân lập về khuynh hướng, trường phái trong cách định nghĩa khái niệm diễn ngôn (discours; discourse) là vô cùng phong phú và đa dạng Song, diễn ngôn trong quan niệm của M Foucault còn rối rắm,

đa diện, phức tạp hơn như chính ông từng thừa nhận: “[…] thay vì giảm dần các nét nghĩa

đã khá mơ hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa cho nó” [67; 80] Thực ra, theo như khảo sát của chúng tôi, M Foucault hầu như chưa từng đưa ra một

định nghĩa cụ thể về khái niệm này và lý giải nó một cách rõ ràng, đầy đủ trong các công

Trang 28

trình của mình, mà phần lớn chỉ trình bày những nguyên tắc tạo lập và loại trừ diễn ngôn hay chỉ đơn thuần đề cập đến thuật ngữ này khi luận bàn về các thuật ngữ, khái niệm khác

Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu về lý thuyết diễn ngôn của M Foucault, mà tiêu biểu hơn

cả là Sara Mills, thường dựa vào một trích đoạn ngắn từ chương 1 (Définir l’énoncé (Tạm dịch: Định nghĩa nhận định)) thuộc phần 3 (L’énoncé et l’archive (Tạm dịch: Nhận định và thư khố)) trong công trình L'Archéologie du savoir (Khảo cổ học tri thức) sau đây để lý giải nội hàm của khái niệm đặc biệt này:

“[…] tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa cho nó [tức diễn ngôn – NĐMK]:

lúc thì coi nó như một miền chung của tất cả các nhận định, lúc thì coi nó như một nhóm các nhận định mang tính cá thể, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn nhằm tạo nên một tập hợp xác định các nhận định” [67; 80]

Trên cơ sở này, trong một công trình khảo luận mang tính chất dẫn nhập về Michel Foucault và triết thuyết của ông, Sara Mills xem xét khái niệm diễn ngôn trên ba tầng nghĩa

cơ bản như sau:

(1) Diễn ngôn là những nhận định, phát ngôn được con người tạo lập hàng ngày thông qua quá trình giao tiếp Tuy nhiên, ở đây, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm

diễn ngôn với ngôn ngữ như là đối tượng của ngôn ngữ học thuần túy Trong công trình Michel Foucault, Sara Mills nhấn mạnh: “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và

có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi là diễn ngôn” [75; 7] Chính đặc trưng “mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực” đã đưa khái niệm diễn ngôn của M Foucault ở nét nghĩa này vượt ra khỏi cái bóng lớn của F de Saussure khi trong các công trình ngôn ngữ học cổ điển của mình, Saussure chủ trương kết luận rằng

diễn ngôn (hay ngôn từ) là sự tái phản ánh thế giới hiện thực khách quan – cái được biểu đạt - vào hình thức cái biểu đạt hay ký hiệu ngôn ngữ

Không đồng tình với quan điểm của nhà ngữ học tiền bối, M Foucault cho rằng diễn ngôn không phải là thứ được tạo ra chỉ để “truyền dẫn hiện thực vào trong ngôn ngữ”, mà nên được hiểu như một “hệ thống cấu trúc nên cái cách thức ta hiểu biết về hiện thực” [76; 55], cung cấp và tạo lập nên vốn liếng tri thức trong mỗi con người Nói cách khác, với M

Trang 29

Foucault, con người chỉ có thể hiểu biết về thế giới xung quanh thông qua hệ thống những diễn ngôn:

“[…] chúng ta không nên dung nhập diễn ngôn vào cuộc chơi của những ý nghĩa tiền hiện; không nên ảo tưởng rằng khuôn diện của thế giới đã được bày sẵn rõ ràng đến nỗi ta chỉ cần tuần tự giải mã mà không có bất kỳ khó khăn nảo; thế giới không phải là kẻ “đồng lõa” với tri thức của chúng ta; không hề có một định mệnh tiền diễn ngôn sắp đặt thế giới theo đúng sở nguyện của chúng ta Chúng ta nên xem diễn ngôn như một loại bạo lực mà ta đã giáng xuống các sự vật, hoặc một dạng thực hành mà ta đã áp đặt vào chúng, trong mọi trường hợp; và cũng chính trong sự thực hành này mà các sự kiện diễn ngôn phát hiện ra tính quy luật của mình” [68; 67] Thật ra, nói như vậy không có nghĩa M Foucault cho rằng tất cả không là gì hết ngoài diễn ngôn và không hề thừa nhận sự tồn tại của một vùng phi diễn ngôn như nhiều người thường nghĩ, mà ở đây, ông chỉ nhấn mạnh rằng “chúng ta chỉ có thể suy tư, trải

nghiệm những đối thể vật chất và thế giới như một toàn thể thông qua diễn ngôn và những

cấu trúc mà nó khuôn định vào suy nghĩ của chúng ta” [76; 56] Có thể xét một ví dụ sau đây: “Sư tử” là một loài động vật tự nhiên tồn tại độc lập với tư duy con người (tức bản thân thực thể sư tử là một thực thể phi diễn ngôn), nhưng ngay khi chúng ta “cắt nghĩa” (chữ dùng của Trần Văn Toàn) để “sư tử” trở thành một “ý niệm” thì nó đã không còn nằm ngoài diễn ngôn nữa mà bắt đầu tồn sinh trong nhận thức con người, trở thành một tri thức

của con người gắn liền với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau phụ thuộc vào loại hình diễn ngôn

đã “cắt nghĩa” về nó Như vậy, ở cấp độ nghĩa này, M Foucault cho rằng diễn ngôn là một hình thái ý thức có tầm ảnh hưởng, có hiệu lực kiến tạo sâu rộng đối với thế giới khách quan, với thực tại xã hội

(2) Diễn ngôn là một nhóm các nhận định được tổ chức theo một quy cách, được tập hợp trên cơ sở một bình diện nhằm tạo lập một hiệu lực chung; hay nói như M Foucault, những nhóm nhận định này “được cá thể hóa” thành các tên riêng như diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn phân tâm học, diễn ngôn khí tượng, diễn ngôn thiên văn, diễn ngôn triết học,… Như vậy, ở cách định nghĩa này, M Foucault đã xác lập được một phương pháp mang tính

Trang 30

tương đối để phân loại diễn ngôn, cho phép người tham gia giao tiếp dễ dàng “nhận dạng”

[54] các diễn ngôn cụ thể

(3) Diễn ngôn là tập hợp các “hoạt động được kiểm soát/ điều chỉnh” [67; 80] Với định nghĩa này, M Foucault đã bỏ qua hoàn toàn cái gọi là cấu trúc nội tại mang tính chất ngôn ngữ học thuần túy của diễn ngôn để tập trung nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa

diễn ngôn và quyền lực/ tri thức Cần lưu ý rằng, quyền lực theo quan niệm của M Foucault

không phải là nguyên lý quyền lực trong mối quan hệ giữa nhà vua chuyên chế và kẻ nô lại với đặc trưng là các hình phạt thảm khốc, hay cũng không là “quyền lực thuộc về một cá nhân hoặc một nhóm người được sử dụng để cai trị phần còn lại của xã hội” [54], mà là một phạm trù lịch sử vô danh (tức không thuộc về một chủ thể cụ thể nào), có mặt trong mọi thiết chế, bao trùm lên toàn bộ xã hội, trong đó mỗi cá thể, mỗi thiết chế là một mắt xích của quyền lực có sự tác động, chi phối nhất định đối với diễn ngôn Quyền lực ấy không phải chỉ là quyền lực chính trị mà còn là quyền lực văn hóa, quyền lực kinh tế,…,

đã trở thành những sức mạnh vô hình chi phối đến tiềm thức – vô thức trong mỗi người, và

từ đó, vô hình trung ảnh hưởng rõ rệt đến những phát ngôn/ diễn ngôn của họ Như vậy,

diễn ngôn trong cách hiểu này là sự thể hiện của toàn bộ những hệ thống quy luật – sự cụ

thể hóa quyền lực, là sự thực hành chịu tác động bởi “những nguyên tắc và cấu trúc (không được viết ra) để tạo sinh những phát ngôn và nhận định nhất định” [76; 53]

Có thể xem xét ví dụ sau đây để rõ hơn cách hiểu thứ ba về diễn ngôn Ở một chương

trong tiểu luận nổi tiếng Căn phòng riêng, Virginia Woolf từng đặt ra một câu hỏi bi hài

rằng, nếu William Shakespeare có một cô em gái với tài năng, trí óc sánh ngang được với đại văn hào, thì liệu cô ta có thể có được những tác phẩm để đời và danh tiếng như anh ruột? Câu hỏi ấy đích xác là sản phẩm của một diễn ngôn, một diễn ngôn nữ quyền Chính mặc cảm của những người phụ nữ sống hàng ngàn năm trong xã hội nam quyền đã vô thức thôi thúc Woolf phát ngôn một nhận định hòng đặt ra vấn đề bình đẳng giới, vì nếu tâm thức nam nữ bất bình quyền không tồn tại thì câu hỏi ấy làm sao xuất hiện? Mặc cảm ấy chính

là thứ siêu quyền lựcđã chi phối đến gần như toàn bộ các thiết chế xã hội, đã ăn sâu bén rễ trong suốt cuộc hành trình văn hóa của hầu hết các dân tộc mà Simone de Beauvoir, trong

công trình Giới tính thứ 2, từng đặt một câu hỏi lớn rằng đến khi nào thì giới nữ mới thoát

Trang 31

khỏi sự định nghĩa của đàn ông về chính họ và cái thế giới bất công nằm dưới bàn tay nam quyền

Xuất phát từ quan điểm ấy, song điều M Foucault quan tâm hơn cả nằm ở chỗ đâu

là cấu thức và quy tắc của việc tạo lập và kiểm soát sự thực hành diễn ngôn, hay bàn tay quyền lực/ tri thức đã vận dụng những phương pháp, nguyên lý nào để câu thúc, kiềm hãm, định hướng sự ra đời và luân chuyển của các diễn ngôn trong xã hội, mà sự lý giải của ông cho những vấn đề ấy phần lớn đã được gợi mở trong rất nhiều các công trình nghiên cứu

được công bố rộng rãi, in thành sách và tái bản nhiều lần trong các thập kỷ qua như Khảo

cổ học tri thức, Chứng điên và văn minh, Trật tự của diễn ngôn, Sự ra đời của bệnh viện chuyên khoa, Lịch sử tính dục hay Kỷ luật và trừng phạt: Sự ra đời của nhà tù,… Đây cũng

là định nghĩa thu hút được nhiều sự quan tâm nhất từ phía các học giả, thường được dùng làm tiền đề khái niệm cơ bản trong các công trình lý luận, thực hành phân tích và lý giải diễn ngôn

Ba cách giải nghĩa diễn ngôn như chúng tôi trình bày trên đây, tuy có những sai khác

cơ bản, nhưng về bản chất chỉ là sự mô tả khái niệm này từ ba góc độ khác nhau, dễ dàng giúp độc giả có một cái nhìn chân xác và toàn diện nhất về thực tại diễn ngôn Nếu định nghĩa thứ hai chỉ ra một cách dùng phổ biến của thuật ngữ này – xem diễn ngôn như một danh từ số nhiều chỉ một nhóm, một tập hợp các nhận định có chung hiệu lực, thì định nghĩa thứ nhất trình bày uy quyền của diễn ngôn đối với nhận thức của con người về hiện thực khách quan, còn định nghĩa thứ ba lại xem diễn ngôn như sự thực hành mang tính chất của một đối thể chịu sự tác động mạnh mẽ và liên tục của các hệ hình quyền lực/ tri thức để cấu tạo phát ngôn Như vậy, có thể hình dung mối quan hệ khá phức tạp, chồng chéo của các định nghĩa trên đây về diễn ngôn qua sơ đồ sau:

Trang 32

Hình 2 Nghĩa của diễn ngôn trong quan niệm M Foucault

Tóm lại, theo ý kiến của chúng tôi, trên cơ sở tổng hợp các quan niệm trên đây của

M Foucault, có thể định nghĩa diễn ngôn một cách khái quát rằng: diễn ngôn là một (hoặc

một tập hợp) các nhận định, phát ngôn chịu sự quy định, áp chế (thông qua những nguyên tắc tạo lập và loại trừ) của nhiều hệ hình quyền lực như chính trị, kinh tế, văn hóa,…; đồng thời, bản thân nó cũng là một thứ uy quyền to lớn áp đặt lên nhận thức của con người về hiện thực khách quan

1.3.2 Những nguyên tắc tạo lập và loại trừ diễn ngôn

Sự áp đặt của quyền lực diễn ngôn lên cách con người nhìn về thế giới đã được chúng tôi lý giải khá rõ trong phần trước của đề tài, trong khi đó, sự chi phối của các hệ hình quyền lực lên sự thực hành diễn ngôn vẫn còn là một vấn đề cần được phân tích, lý giải kỹ càng hơn, nhất là khi trong bài diễn văn nhậm chức2 L’Ordre du discours (Trật tự

của diễn ngôn) tại Collège de France năm 1970, M Foucault đã hệ thống hóa toàn bộ những nguyên lý mà quyền lực áp đặt lên các quy trình tạo lập và loại trừ diễn ngôn trong suốt

2 Diễn văn nhậm chức: leçon inaugurale Trong truyền thống các nước Tây phương, khi một người nhận

lãnh chức vụ đứng đầu một văn phòng, một bộ phận, anh ta sẽ có cơ hội được phát biểu một bài diễn văn nhậm chức để thông cáo đến mọi người những thành tựu cá nhân và những định hướng cho công việc sắp tới Năm 1970, Michel Foucault nhậm chức trưởng bộ môn Lịch sử những hệ thống tư tưởng (thay cho chiếc

trưởng bộ môn Triết học và lịch sử của người tiền nhiệm Jean Hyppolite) tại Collège de France, và L’Ordre

du discours (Trật tự của diễn ngôn) là bài thuyết giảng nhậm chức nổi tiếng của ông

DIỄN NGÔN

Quyền lực/

tri thức

Nhận thức của con người về hiện thực khách quan

Nhóm những phát ngôn, nhận định có chung hiệu lực

Trang 33

hàng ngàn năm lịch sử nhân loại từ thời cổ đại Đây cũng chính là chủ đề trọng tâm mà bài diễn văn hướng tới, như Foucault từng lập luận một cách rõ ràng rằng:

“Trong mọi xã hội, ngay khi một diễn ngôn vừa thành hình thì nó đã bị quản thúc, chọn lọc, sắp xếp và tái phân bố bởi một loạt các quá trình mà vai trò chính yếu của chúng là hòng loại bỏ đi mọi sức mạnh và hiểm nguy mà diễn ngôn ấy có thể gây ra, nhằm làm chủ mọi biến cố bất ngờ và tránh đối đầu với thực chất buồn chán và đầy

uy quyền của diễn ngôn” [68; 52]

Như vậy, có thể nói, diễn ngôn không chỉ được tạo lập trong sự chi phối, ảnh hưởng của các hình thái quyền lực/ tri thức, mà vòng luân chuyển của chúng cũng bị quản thúc, kiểm soát hết sức gắt gao Điều này là tất yếu, bởi diễn ngôn cung cấp, kiến tạo tri thức và có tác động, hiệu lực rất mạnh mẽ đối với thực tại xã hội cũng như nhận thức, tri giác của con người về hiện thực khách quan

Đứng từ góc độ này, M Foucault hình dung và diễn giải một mô hình/ quy trình loại trừ/ quản thúc các diễn ngôn, bao gồm các nguyên tắc loại trừ bên ngoài diễn ngôn, bên trong diễn ngôn, các nguyên lý hãm thúc chủ thể chiếm giữ diễn ngôn cùng những luận đề triết học chính yếu đã tham gia gia cố cho những quy trình hạn định và loại trừ diễn ngôn

1.3.2.1 Các nguyên tắc loại trừ bên ngoài

Hệ thống loại trừ bên ngoài mang tính chất như một cơ chế đề kháng của thực thể

xã hội nhằm chống lại những diễn ngôn không tuân theo các mô hình quyền lực/ tri thức – những khách thể được xem như “mầm bệnh” nguy hại cần được loại trừ Trong hệ thống này, có ba nguyên lý được vận dụng phối hợp và xuyên suốt để kiểm soát và quản thúc các

diễn ngôn, bao gồm: nguyên lý cấm đoán, nguyên lý phân biệt giữa bệnh điên – lý tính và nguyên lý đối lập giữa đúng và sai

a Nguyên lý cấm đoán (interdiction; prohibition) được M Foucault đặt lên hàng

đầu trong hệ thống loại trừ bên ngoài diễn ngôn bởi sự phổ biến cũng như tính chất dễ nhận thấy của nguyên lý loại trừ này M Foucault cho rằng: “Chúng ta biết rõ rằng chúng ta không có quyền để nói bất cứ điều gì, rằng chúng ta không thể cùng nói một điều nào đó ở bất kỳ hoàn cảnh nào, và rằng không phải ai cũng được phát ngôn cùng một chuyện” [68;

Trang 34

52] Như vậy, cấm đoán, theo M Foucault, không chỉ là những cấm kỵ về nội dung phát

ngôn mà còn là sự ngăn cấm về hoàn cảnh phát ngôn và quyền ưu tiên được phát ngôn Ông còn nhấn mạnh thêm rằng, có thể hình dung hệ thống ba loại hình cấm đoán trên như một mạng lưới cấm kỵ mà trong đó, vai trò của chúng đan xen, chồng chéo lên nhau, bù trừ và củng cố lẫn nhau Tuy nhiên, các mạng lưới cấm kỵ này không hề được mắc nối theo một quy chuẩn nhất định mà biến đổi không ngừng Có lúc, những mắt lưới trên mạng lưới cấm

kỵ rất rộng, thoáng; trong khi đó, một số ít những kiểu hình mạng lưới khác lại tập hợp vô

số những “điểm đen” và vô cùng chặt khít, hay nói cách khác, ở những khu vực này, hệ

thống nguyên tắc áp chế vào diễn ngôn là hết sức khắt khe Trong L’Ordre du discours

(Trật tự của diễn ngôn), hai khu vực được Foucault cho là chặt khít nhất là khu vực của diễn ngôn chính trị và diễn ngôn tính dục, bởi đây là “một trong những môi trường nơi dục tính và chính trị được ưu tiên thi triển những quyền lực đáng sợ nhất của chúng” [68; 52] đối với diễn ngôn

b Nguyên lý thứ hai được M Foucault nêu ra – lược bỏ (rejet; rejection) hay sự phân biệt (partage; division) giữa chứng điên (folie; madness) và lý tính (raison; reason) –

có phần phức tạp hơn so với nguyên lý cấm đoán

Như đã đề cập ở những phần trước của đề tài, chứng điên trong quan niệm của M

Foucault không phải là một nhiễu loạn về mặt sinh học, không phải là một loại bệnh lý bao gồm các triệu chứng “rối loạn tinh thần, rối loạn các hành vi cá biệt, mất khả năng cư xử hoặc phát triển bình thường” như cách định nghĩa của trang web Bách khoa toàn thư nổi

tiếng Wikipedia, mà thực chất là một cái khác so với cái thông thường hay lý tính như Foucault từng lý giải trong Folie et déraison: Histoire de la folie à l'âge Classique (Chứng điên và văn minh: Lịch sử chứng điên thời Trung cổ) Cái gọi là lý tính ấy không là gì khác

ngoài đứa con thành hình từ trong lòng xã hội, hay nói khác đi, chính con người đã tự tạo

ra những chuẩn mực thông thường ấy, nên hiển nhiên cái khác so với lý tính cũng chỉ là một sự kiến tạo có chủ ý của xã hội mà thôi

Tuy nhiên, điều cần quan tâm hơn cả ở đây chính là việc chứng điên biểu hiện rất rõ rệt thông qua hành vi ngôn ngữ Cùng với hành động, dáng vẻ, ngoại hình, lời nói là một trong những dấu hiệu quan trọng để xã hội xác quyết liệu một cá nhân nào đấy có phải là

Trang 35

một “người điên” hay không Chính vì lý do này, khu vực của diễn ngôn cũng là nơi quyền lực của sự phân biệt lý tính và chứng điên hoạt động vô cùng mạnh mẽ, quyết liệt Ngay khi một lời nói, một văn bản được phát ngôn, các hệ hình quyền lực lập tức sẽ tham gia vận dụng nguyên tắc phân biệt giữa lý tính và chứng điên này để tiến hành soi chiếu, soát xét hết sức khe khắt Trong trường hợp diễn ngôn phù hợp với những “tiêu chí” của các hệ hình quyền lực ấy, nó sẽ được gắn mác “lý tính” và có khả năng tiếp tục tồn tại và lưu chuyển Ngược lại, những diễn ngôn được cho là của người điên sẽ phải hứng chịu những hệ lụy khôn lường từ phía các thiết chế như Foucault từng miêu tả:

“Ngay từ buổi đầu thời trung cổ, những diễn ngôn được tạo lập bởi những người điên đã không được đặt ngang hàng với những kẻ khác Lời anh ta nói ra thường

được cho là đần độn và vô nghĩa, không thể khiến người ta chú ý vì tầm quan yếu của nó và cũng không hề mang chứa một tí sự thật nào Khi những lời ấy được dùng làm bằng chứng pháp luật, chúng thường bị cho là vô giá trị, hay cũng không thể dùng chúng để xác thực các văn bản, hợp đồng, thậm chí chúng còn không thể dự phần trong lời nguyện thánh hóa bánh thánh thành Thánh thể trong những thánh lễ Misa.” [68; 53]

Thế nhưng, không như nhiều người thường đoán định, sự phân biệt giữa lý tính và chứng điên không chỉ xuất hiện và thi triển những quyền năng của mình trong thời kỳ trung

cổ M Foucault nhấn mạnh rằng, trong bất kỳ một thời đại hay không gian xã hội nào, nguyên lý kiểm soát diễn ngôn này cũng luôn hằng tồn, hoặc nếu có chỉ là biến thiên về mặt hình thái và tính chất: “[…] sự phân biệt, không hề biến mất đi, mà chỉ là hoạt động theo một thiết chế khác với những ảnh hưởng khác” [68; 53] Theo đó, trong thời hiện đại,

sự phân biệt này hành chức một cách tinh vi hơn, phức tạp hơn với sự ra đời của các bệnh viện thần kinh, sự xuất hiện của các học thuyết phân tâm với phương pháp trị liệu bệnh học thần kinh thông qua ngôn ngữ,…

Tuy nhiên, theo Trần Văn Toàn, những luận điểm trên đây của M Foucault không đơn thuần trình bày quan niệm của ông về vấn đề chứng điên và lý tính, mà hơn hết, thông

qua đó ông muốn có lời kiến giải cho cơ cấu thực sự của nguyên lý lược bỏ diễn ngôn, rằng:

“sự hình thành của một diễn ngôn nào đó bao giờ cũng bao hàm trong nó sự loại trừ một/

Trang 36

một số diễn ngôn khác, biến những diễn ngôn này trở thành những tồn tại bất thường, không

tự nhiên, thiếu hợp thức” [54]

c Nguyên lý cuối cùng trong hệ thống loại trừ bên ngoài đối với diễn ngôn, theo M

Foucault, chính là sự đối lập giữa đúng (vrai; true) và sai (faux; false) – một mô thức loại

trừ thông qua việc phẩm bình giá trị chân lý của diễn ngôn

M Foucault cho rằng, khi thực hành diễn ngôn, không ai trong chúng ta không có

một ý chí chân lý (volonté de vérité; will to truth) nhất định, tức ý hướng về điều

được-cho-là-đúng-đắn và khao khát được xã hội thừa nhận vì tính đúng đắn ấy trong diễn ngôn của

mình Từ đây, chính thứ ý chí chân lý này đã trở thành một can dự quyền lực ghê gớm nằm

sâu trong tiềm thức của chúng ta, sẽ lên tiếng ngăn cấm và loại trừ ngay những ý nghĩ hay

những lời sắp được phát ngôn có nội dung đi ngược lại với điều đúng mà những thiết chế quyền lực đã quy ước Tuy nhiên, ý chí chân lý không hề ổn định, hằng tồn mà sẽ luôn thay đổi hệ hình theo từng thời kỳ lịch đại Theo M Foucault, ý chí chân lý hay mô hình của sự

phân biệt giữa đúng và sai đã có mặt từ thời cổ đại trong những nghi lễ và tập tục tôn giáo, tín ngưỡng:

“Sự phân biệt này (phân biệt giữa đúng và sai – NĐMK) đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử Với những nhà thơ Hy Lạp thế kỷ VI trước Công nguyên, diễn ngôn đúng (với từ ngữ mạnh mẽ và dũng mãnh) là thứ diễn ngôn khiến người ta phải kính trọng

và sợ sệt, thứ diễn ngôn mà trước nó ai cũng phải cúi đầu, và là thứ chỉ có thể được nói ra bởi người phát ngôn quyền lực và theo một nghi lễ nhất định” [68; 54]

Từ thế kỷ XV trở về sau – trong kỷ nguyên của kỹ thuật và công nghiệp, ý chí chân lý này

bắt đầu thay đổi tính chất và hình thái Sự ra đời của triết học thực nghiệm và sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên, khoa học cơ bản đòi hỏi phải đầu tư xác nhận tri thức, chân lý trên cơ sở chứng thực

Như vậy, có thể nói, ở đây, dụng ý M Foucault không phải là để đánh giá tính chân

lý của một diễn ngôn dựa trên hệ thống những tri thức khách quan, mà là muốn nêu lên một mối hoài nghi rằng tại sao và làm thế nào một số cá thể trong xã hội này lại có quyền hạn

định vị chân lý, đưa những diễn ngôn của họ lên làm chân lý và cho rằng diễn ngôn của

Trang 37

những kẻ khác là sai lầm Lời của thiết chế (institution; institution) trong cuộc đối thoại đầy màu sắc triết học với ham muốn (désir; desire) trong phần đầu tiểu luận L’Ordre du discours (Trật tự của diễn ngôn) đã thể hiện phần nào sự kiến giải của M Foucault về vấn

đề này:

“[…] chúng tôi (những thiết chế – NĐMK) đều có mặt ở đây để cho anh (ham muốn

– NĐMK) thấy rằng diễn ngôn thuộc về trật tự pháp luật, rằng từ lâu chúng tôi đã chăm sóc cho hình vóc nó, rằng nó đã được dọn sẵn chỗ nơi – một nơi tôn vinh nó nhưng cũng đồng thời tước đi sức mạnh của nó, và rằng nếu đôi khi diễn ngôn có một chút sức mạnh, thì đó cũng từ chúng tôi và chỉ từ chúng tôi mà ra thôi” [68; 51-52]

Như vậy, M Foucault cho rằng thiết chế chính là nguồn gốc, là chủ thể của quyền lực định

vị chân lý: “Ý chí chân lý này, giống như những hệ thống loại trừ diễn ngôn khác, có được

sự chống lưng từ các thiết chế” Các thiết chế này đó bao gồm “một hệ thống sách vở, nhà xuất bản, thư viện”, các trường đại học, chính phủ, “những cộng đồng học tập trong quá khứ và những phòng thí nghiệm hiện nay”,… [68; 55]

Trong ba nguyên lý hạn định bên ngoài diễn ngôn đã kể trên, M Foucault cho rằng,

nguyên lý thứ ba, tức nguyên lý của sự phân biệt đúng – sai có hiệu lực và vai trò quan

trọng nhất Ngược lại với hai nguyên lý đầu tiên được Foucault cho là khá “yếu ớt, thiếu kiên định”, nguyên lý thứ ba này, dù đôi khi khá khó nắm bắt, khó tiếp cận hay thậm chí

vô hình, nhưng lại có những ảnh hưởng sâu sắc đến diễn ngôn, thậm chí còn “xâm chiếm” hai nguyên lý còn lại để làm chúng “mạnh mẽ, sâu sắc và khó bị thay thế hơn” [68; 56]

1.3.2.2 Các nguyên tắc loại trừ bên trongNếu hệ thống loại trừ bên ngoài đối với diễn ngôn được hình dung như một bộ lọc khuẩn trong quy trình thành phẩm, thì hệ thống loại trừ bên trong chính là bộ máy được thiết kế để kiểm soát từ bên trong quá trình sản xuất sản phẩm Bộ máy này được lập trình với những quy trình vận hành chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của sản phẩm đầu ra, cũng giống như hệ thống loại trừ diễn ngôn bên trong với những nguyên lý, mô thức được vận

Trang 38

dụng để đảm bảo sự ra đời của các diễn ngôn luôn nằm trong vòng câu thúc, kiểm soát như

M Foucault từng diễn giải trong L’Ordre du discours (Trật tự của diễn ngôn):

“[…] thiết nghĩ, chúng ta có thể phân biệt thêm một nhóm khác nữa: nhóm các quy trình nội tại, bởi tự bên trong diễn ngôn cũng diễn ra những quy trình kiểm soát tự thân hết sức nghiêm ngặt; những quy trình hành chức như những nguyên lý phân loại, sắp xếp và phân phối” [68; 56]

Tuy nhiên, hệ thống loại trừ này khó để nhận ra hơn so với hệ thống loại trừ bên ngoài, và những nguyên lý của nó cũng tương đối phức tạp, không dễ dàng để thông hiểu và diễn giải

Ba nguyên lý chính yếu thuộc hệ thống này bao gồm: nguyên lý bình luận, nguyên lý tác giả và nguyên lý bộ môn [khoa học]

a Nguyên lý đầu tiên phải được kể đến trong hệ thống này là nguyên lý bình luận (commentaire; commentary) Tuy nhiên, trong L’Ordre du discours (Trật tự của diễn ngôn),

M Foucault không đi thẳng vào trình bày những phương pháp hay tính chất của nguyên lý này, mà trước hết đề cập đến sự “định cấp” trong nội bộ các diễn ngôn như một cách lý giải

vai trò hạn định và áp chế đối với diễn ngôn của sự bình luận: loại thứ nhất là những diễn

ngôn được phát ngôn trong giao tiếp thông thường và sinh hoạt hằng ngày – những diễn ngôn sẽ biến mất ngay lập tức sau khi hoàn thành chức năng truyền đạt thông tin đơn thuần; loại thứ hai là những văn bản tôn giáo, pháp luật, văn chương, khoa học,… – những diễn ngôn “được phát ngôn một cách bất định, luôn được nhắc đến và lặp lại không ngừng” [68;

57] Như vậy, theo M Foucault, nguyên lý bình luận nhấn mạnh đến tính tái lặp của kiểu

diễn ngôn thứ hai – những diễn ngôn thuộc về hệ thống văn hóa, đúng như sự giới thuyết

khái lược của ông về nguyên lý này trong chương III của bài diễn giảng L’Ordre du discours

(Trật tự của diễn ngôn):

“Tôi cho rằng – nhưng không chắc chắn lắm – khó có một xã hội nào không tồn tại những đại tự sự của riêng nó, những đại tự sự được thuật lại, lặp lại và thay đổi; những công thức; những văn bản, và những chuỗi diễn ngôn mang tính lễ nghi được thực hành trong những trường hợp cụ thể; những thứ được nói ra một lần nhưng mãi

Trang 39

được lưu giữ bởi người ta nghi hoặc rằng đằng sau chúng ẩn chứa một một bí mật hay một kho tàng nào đấy” [68; 56]

Ở đây, có thể thấy, nguyên lý bình luận trong quan niệm của M Foucault có liên

quan mật thiết đến văn bản cũng như mối quan hệ giữa văn bản nguyên gốc (texte premier; primary text) và văn bản thứ sinh (texte second joue; secondary text) mà trong đó, các văn bản thứ sinh luôn đối đáp, bình luận về văn bản nguyên gốc và cũng vì thế luôn quy chiếu

về văn bản nguyên gốc này Văn bản nguyên gốc, do luôn được nhắc đến và dẫn giải bởi văn bản thứ sinh, nên luôn là một vấn đề đa hồi đáp, luôn có sự cách tân và không phải trở nên lạc hậu Trong khi đó, văn bản thứ sinh, do luôn bắt nguồn từ nền tảng văn bản nguyên

gốc, lại gợi nhắc về khái niệm liên văn bản (intertextuality) của lý luận văn học hậu hiện

đại mà chính M Foucault cũng từng nhắc đến bằng cách nói rất hình ảnh:

“[…] Cuốn sách chỉ là một điểm nối kết nhỏ bé trong một mạng lưới vô cùng rộng lớn […] Cuốn sách không phải là một vật thể độc lập mà người ta có cầm nắm một cách tách biệt trên tay mình, tính chỉnh thể thống nhất của nó rất mong manh, dễ thay đổi và hết sức tương đối” [67; 23]

Tuy nhiên, ở đây, điều M Foucault quan tâm và muốn nhắc nhở nhiều hơn cả chính là việc tất cả mọi thứ được phát ngôn trong thời điểm hiện tại đều có nền tảng từ những gì đã được nói đến trước đây Nói cách khác, diễn ngôn không phải là một sự kiện nguyên sơ, ngẫu nhiên mà chất chứa bên trong rất nhiều trầm tích phát ngôn khởi sinh từ quá khứ Quyền

lực của sự bình luận hạn định diễn ngôn trong khuôn khổ của những gì đã trở thành “chân

lý” luôn được nhắc đến trong các văn bản nguồn và khiến nó chỉ có thể “cải trang” những vấn đề ấy bên dưới một chiếc mặt nạ mới, từ đó giảm thiểu sự hỗn loạn, tùy tiện của các diễn ngôn

b Nguyên lý loại trừ bên trong thứ hai đối với diễn ngôn – nguyên lý tác giả (auteur; author) – đi ngược lại gần như hoàn toàn với nguyên lý thứ nhất Nếu nguyên lý bình luận

cố gắng làm giảm thiểu đến mức thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình tạo lập diễn ngôn bằng cách chủ trương hình thức lặp lại trong tinh thần cách tân, thì nguyên

lý tác giả lại khuyến khích sự thể hiện cái cá thể, cái tôi trong quá trình diễn ngôn được tạo

Trang 40

dựng Trong đó, tác giả không đơn thuần là một cá nhân phát ngôn hay viết ra một văn bản,

mà vai trò của anh ta là “nhóm gộp các diễn ngôn, thống nhất và tạo sinh các tầng nghĩa

diễn ngôn cũng như đóng vai trò trung tâm điểm đối với sự kết nối của các diễn ngôn” [68; 58] Ở đây, M Foucault cho rằng, trên thực tế vẫn có rất nhiều các loại hình diễn ngôn không chứa đựng mối liên hệ mật thiết với chủ thể phát ngôn ra chúng, ví như các loại hướng dẫn sử dụng, những sắc lệnh, hợp đồng hay những văn bản vô danh Tuy nhiên, đối với diễn ngôn khoa học hay diễn ngôn triết học, văn chương, đó lại là một câu chuyện khác Theo Foucault, trong thời kỳ Trung cổ, người ta rất khắt khe với chủ thể phát ngôn của diễn ngôn khoa học, bởi “điều đó được hiểu như một biểu đạt cho sự uy tín của diễn ngôn ấy;

và người ta xem xét giá trị khoa học của một mệnh đề từ uy tín của tác giả” [68; 58] Tương

tự, đối với các diễn ngôn văn chương như thơ ca, truyện kể, kịch nghệ,…, tác giả là một vấn đề rất được quan tâm tra vấn, bởi đây chính là chủ thể duy nhất có khả năng mang lại tính nhất thống, mạch lạc cho hệ thống các tác phẩm của mình bằng nét cá tính, riêng biệt không hòa lẫn vào đám đông

Tuy đặt vấn đề và luận giải khá nhiều, nhưng điều M Foucault quan chú nhất ở đây chính là, trong quá trình tạo lập diễn ngôn, chủ thể phát ngôn luôn ý thức được rằng mình

đang là một tác giả, tức hiểu biết rằng các tác phẩm của mình luôn bị kiểm thúc và hầu như

luôn biết lo sợ về trách nhiệm mà mình phải gánh chịu nếu văn bản gắn với tên tuổi mình làm nảy sinh những hệ quả tiêu cực (về văn hóa, chính trị, đạo đức, ) Chính vì lý do này,

ý niệm về tác giả thực sự đã trở thành một gọng kìm bóp chặt các chủ thể phát ngôn trong,

thậm chí là trước khi, tạo lập một diễn ngôn, khiến cho nghiệp viết của một cá nhân không chỉ là một trò chơi tung tẩy của những khác biệt, của cá tính, mà còn là một địa hạt của sự cấm kỵ và đầy áp lực, “run sợ” như M Foucault miêu tả

c Nguyên lý cuối cùng trong hệ thống loại trừ bên trong đối với diễn ngôn mà chúng

tôi muốn nhắc đến là nguyên lý bộ môn [khoa học] (disciplines; disciplines) Bộ môn [khoa học] ở đây là những lĩnh vực liên quan đến khoa học cơ bản, khoa học nhân văn,… với đầy

đủ các thành tố của chúng bao gồm đối tượng, phương pháp, lý thuyết, khái niệm, v.v Ở

đây, giới thuyết nguyên lý bộ môn [khoa học] như một nguyên lý chủ chốt trong quy trình

tạo lập diễn ngôn, M Foucault chủ ý hướng tới đối tượng các diễn ngôn mang tính khoa

Ngày đăng: 14/04/2021, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w