ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN THỊ THU QUỲNH QUAN NIỆM VỀ “THÂN” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN LUẬN VĂN TH
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU QUỲNH
QUAN NIỆM VỀ “THÂN” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THU QUỲNH
QUAN NIỆM VỀ “THÂN” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Thu Hằng
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công
bố trong bất cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Dương Thu Hằng về sự hướng dẫn tận tình, đầy đủ, chu đáo và đầy tinh thần trách nhiệm của cô trong toàn bộ quá trình em hoàn thành luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn sự tạo điều kiện giúp đỡ của Ban chủ nhiệm Khoa Ngữ Văn và các thầy cô giáo Phòng đào tạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiện đề tài luận văn này
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thu Quỳnh
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Dự kiến đóng góp của luận văn 8
8 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10
1.1 Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận tác phẩm văn học 10
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 10
1.1.2 Khái niệm về mã và mã hệ tư tưởng, mã thể loại của lý thuyết diễn ngôn 13
1.2 Đôi nét về quan niệm “thân” 18
1.2.1 Quan niệm của các tôn giáo về “thân” 18
1.2.2 Quan niệm về “thân” trong văn học trung đại Việt Nam 20
1.3 Đôi nét về Nguyễn Dữ và hệ thống nhân vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục 24
1.3.1 Đôi nét về thân thế và thời đại của Nguyễn Dữ 24
1.3.2 Phác thảo hệ thống nhân vật người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục 25
* Tiểu kết chương 1 30
Trang 6Chương 2: QUAN NIỆM VỀ “THÂN” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT PHỤ NỮ TRUYỀN THỐNG THEO QUAN ĐIỂM NHO GIÁO TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN 32
2.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ nữ truyền thống trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ mã hệ tư tưởng 32
2.1.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về nhu cầu vật chất 32
2.1.2 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về tình yêu chung thủy, gắn liền với hạnh phúc gia đình 39
2.1.3 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về vấn đề sinh - tử 46
2.2 Quan niệm “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ nữ truyền thống trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ mã thể loại 53
2.2.1 Yếu tố kì ảo 53
2.2.2 Sự hòa thanh diễn ngôn 58
* Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: QUAN NIỆM VỀ “THÂN ” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT PHỤ NỮ PHI TRUYỀN THỐNG THEO QUAN ĐIỂM NHO GIÁO TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN 63
3.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ nữ phá cách trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ mã hệ tư tưởng 63
3.1.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về nhu cầu vật chất 63
3.1.2 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về tình yêu tự do, khao khát hạnh phúc đời thường 67
3.1.3 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về vấn đề sinh - tử 78
3.2 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ nữ phá cách trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ mã thể loại 83
3.2.1 Thế giới kì ảo 83
3.2.2 Những diễn ngôn trái chiều 87
* Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo, văn học trung đại Việt Nam
từ thế kỉ X đến XV hầu như vắng bóng hình ảnh của người phụ nữ Ra đời
vào thế kỉ XVI, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã trở thành một hiện
tượng đột xuất, một sự khởi đầu cho hàng loạt vấn đề về người phụ nữ trong dòng chảy văn học dân tộc Bên cạnh hình ảnh người phụ nữ theo quan điểm
“tam tòng tứ đức” của Nho giáo với quan niệm truyền thống về hạnh phúc
gia đình, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, xuất hiện những người
phụ nữ “lệch chuẩn”: tự do yêu đương, tự do ân ái và đấu tranh cho khát vọng
tình yêu của chính mình Trong đó, có nhiều nhân vật nữ đã trực tiếp nói lên quan niệm cá nhân về tình yêu và những nhu cầu bản năng của con người
Nguyễn Dữ là một nhà nho sống ở thế kỉ XVI, ông viết Truyền kỳ mạn
lục khi đã lui về ở ẩn So với thời đại, Nguyễn Dữ đã có cái nhìn rất mới mẻ
và đa diện về quyền sống, quyền được yêu, được hưởng hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ trong xã hội cũ Ông cũng là một trong số ít các tác gia
đương thời đề cập đến chữ “thân” với cái nhìn sâu sắc Nếu như trước đây,
đa số nhân vật trong văn học trung đại chủ yếu đề cao chữ “tâm” trong sáng thì trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, một bộ phận nhân vật nữ của ông đã mạnh dạn đề cao chữ “thân” phàm tục Vậy chữ “thân” trong Truyền
kỳ mạn lục có nét gì độc đáo? Những quan niệm mới mẻ về tình yêu, hạnh
phúc của các nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục có đưa họ tới bến bờ hạnh
phúc không hay cuộc đời họ sẽ luẩn quẩn trong vòng bế tắc? Tác phẩm của Nguyễn Dữ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của văn học Việt Nam các giai đoạn sau với đề tài về người phụ nữ? Đây là những câu hỏi cần được tìm hiểu, nghiên cứu để góp thêm góc nhìn mới về áng “thiên cổ kỳ bút”
đã quen thuộc lâu nay
Bên cạnh đó, diễn ngôn là khái niệm ra đời từ rất sớm, đã trở thành đề tài của nhiều công trình nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới Tuy nhiên, giá
Trang 8trị của diễn ngôn không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực ngôn ngữ mà còn được mở rộng trong phạm vi nghiên cứu khoa học nhân văn nói chung, nghiên cứu văn học nói riêng Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu
quan niệm về chữ “thân” trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc nhìn của lý
thuyết diễn ngôn hiện đại với hi vọng có những đóng góp mới
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quan niệm về
“thân” qua phát ngôn của các nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn
từ lý thuyết diễn ngôn”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sử dụng diễn ngôn để nghiên cứu văn học còn là một công việc mới mẻ
ở Việt Nam song đã có khá nhiều bài nghiên cứu về diễn ngôn của các nhà
phê bình lý luận văn học, có thể kể đến các công trình: Lý thuyết văn học hậu
hiện đại của Phương Lựu (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011); Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay của Trần Đình Sử (tháng 3 năm
2013); Về diễn ngôn người kể chuyện trong truyện ngắn Trang Thế Hy của
Lâm Thị Thiên Lan (Tạp chí Khoa học, văn hoá và du lịch, số 12, tháng
7/2013); Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật của Trần Văn Toàn (Tạp chí văn học số 8.2013); Diễn ngôn trong giao tiếp văn học của Nguyễn Duy Bình (Tạp chí khoa học ĐHQGHN, năm 2012); Dẫn nhập lí thuyết diễn ngôn
của M.Foucault và nghiên cứu văn học của Trần Văn Toàn (tháng 9 năm
2015); Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến 1945 của Trần Văn Toàn (Tham luận tại Hội thảo Diễn ngôn, Khoa
Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội, năm 2010); Tiểu thuyết Việt Nam đương đại nhìn
từ góc độ diễn ngôn (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Hải Phương, ĐHSP
HN, năm 2012); Diễn ngôn nữ quyền trong văn xuôi Sương Minh Nguyệt
(Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Giàu năm 2016, ĐHSP TP.HCM);
Diễn ngôn về sức thuộc địa trong tác phẩm “Người tình” của Mr.Duras của
Nguyễn Thị Ngọc Minh (đăng trên trang web: http://vanhoanghean.com.vn
ngày 14/07/2011); Diễn ngôn về chiến tranh và hòa bình trong tiểu thuyết
Trang 9của Lê Khâm - Phan Tứ: một cái nhìn lịch đại (Luận văn thạc sĩ của Tô Thùy
Quyên, ĐHSP TP.HCM, năm 2014); Diễn ngôn nhân vật trong nhóm truyện
ngắn thế sự của Phan Huy Thiệp (Bài viết của Phan Thị Điệp, Hội thảo khoa
học sinh viên lần IX, năm 2016); Mạch lạc diễn ngôn hội thoại trong một số
tác phẩm văn học hiện đại (Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Thu Hương,
ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, năm 2009); Tiểu thuyết vùng sâu của Tô
Nhuận Vỹ từ góc nhìn diễn ngôn (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Huyền,
ĐHSP Hà Nội, năm 2013); Kí như một loại hình diễn ngôn (Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Minh, ĐHSP Hà Nội, năm 2013); Diễn ngôn về giới nữ
trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Luận án tiến sĩ của
Nguyễn Thị Vân Anh, ĐHSP Hà Nội, năm 2017); Phân tích diễn ngôn do trẻ
em viết trong chuyên mục “cười vui” của báo Nhi Đồng giai đoạn 1998 -
2008 (Luận văn thạc sĩ của Đặng Chinh Ngọc, ĐHKHXH&NV, năm 2015); Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu, tính dục trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh
Bình, ĐHKHXH&NV, năm 2016); Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn (Luận án tiến sĩ của Trần Bình
Tuyên, ĐHKH Huế, năm 2017);…Các công trình nghiên cứu trên đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn trên phương diện xã hội để nghiên cứu một số nội dung văn học và thể loại văn học Điều này không chỉ góp phần làm rõ khái niệm diễn ngôn trong văn học mà còn sử dụng diễn ngôn như một công cụ để nghiên cứu các tác phẩm, mở ra thêm hướng đi mới trong tiếp nhận văn học theo hướng hiện đại
Truyền kỳ mạn lục đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả
và cho đến ngày nay, nhiều vấn đề trong tác phẩm này vẫn thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu và phê bình văn học Chúng tôi xin điểm qua một số bài
viết, tài liệu ghi chép, công trình nghiên cứu về tác phẩm này như: Tìm hiểu
khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Nguyễn
Phạm Hùng - Tạp chí văn học số 7, 1987); Truyền kỳ mạn lục một thành tựu
Trang 10của truyện ký văn học viết bằng chữ Hán (Bùi Duy Tân - Văn học Việt Nam,
NXBGD, 2001); Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc - Trung
Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền
kỳ mạn lục (Luận án tiến sĩ của tác giả Jeon Hye Kyun, năm 1994); Bàn luận
thêm về vấn đề tác giả - tác phẩm Truyền kỳ mạn lục (Lại Văn Hùng - Tạp
chí văn học số 10, 2002); Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền
kỳ mạn lục (Trần Ích Nguyên, 2000); Những vấn đề khác nhau có liên quan
đến Truyền kỳ mạn lục (Kawamoto Kurive - Tạp chí văn học, 1996); Ảnh hưởng của văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận
văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Xuân Hòa năm 1997); Cảm hứng chính sự
trong Truyền kỳ mạn lục (Luận văn thạc sĩ của Phan Thị Tình, ĐH Vinh,
năm 2012); Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời kỳ đổi mới
(Luận văn thạc sĩ của Hoàng Thị Huyền Trang năm 2013, ĐHSPTN); Quan
niệm nghệ thuật về con người trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
(Nguyễn Thị Tính - Tạp chí khoa học - ĐHSPHN, 2014); Tìm hiểu sắc thái
dục tính trong Truyền kỳ mạn lục (Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Hoài Thu,
ĐHKHXH&NV, năm 2014); Sự kết hợp phương thức tự sự và trữ tình trong
Truyền kỳ mạn lục (Luận văn thạc sĩ của Tô Kim Yến, ĐHSP TP.HCM, năm
2014); Những biến đổi của “kỳ” và “thực” trong truyện ngắn truyền kỳ Việt
Nam của Vũ Thanh (Tạp chí Văn học, số 6 - 1994); Về mối quan hệ giữa Tiễn
đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục của Phạm Tú Châu (Tạp chí Văn học,
số 3 - 1997); Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo
trong Truyền kỳ mạn lục của PGS TS Nguyễn Hữu Sơn (Tạp chí Nghiên
cứu văn học, năm 2011); Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn
tình yêu, tính dục trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận văn thạc sĩ
của Nguyễn Thanh Bình, ĐHKHXH&NV, năm 2016);… Các công trình
nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục đã khai thác sâu vào khuynh hướng sáng
tác, cảm hứng chính sự, thế giới nghệ thuật, quan niệm về con người và đặc
biệt là so sánh Truyền kỳ mạn lục với các tác phẩm cùng trường thể loại để
Trang 11thấy những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Từ đó, thấy được những giá trị đỉnh cao của áng “thiên cổ kỳ bút” này
Bên cạnh những vấn đề lí luận chung của tác phẩm, hình ảnh người phụ
nữ trong Truyền kỳ mạn lục cũng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, cụ thể như: Nhân vật nữ trong thể truyền kỳ qua hai tác
phẩm Truyền kỳ mạn lục và Truyền kỳ tân phả (Luận văn Thạc sĩ Ngữ Văn
của Kim Seona năm 1995 - ĐHKHXH & NV, Hà Nội); Số phận người phụ
nữ và các phương thức thể hiện số phận ấy trong Truyền kỳ mạn lục (Luận
văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Dương năm 1996 - ĐHSPI HN); Nghiên
cứu người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận văn Thạc
sĩ của Nguyễn Công Tho năm 2005 - ĐHSPI HN); Hệ thống nhân vật nữ
trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (Luận văn Thạc sĩ của Nông
Phương Thanh năm 2011 - ĐHSPTN); Yếu tố kỳ ảo trong việc thể hiện khát
vọng của người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục (Luận văn Thạc sĩ của
Nguyễn Thị Hải Yến năm 2011 - ĐHSPTN); Người phụ nữ trong Truyền kỳ
mạn lục nhìn từ quan điểm giới (Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Nhung năm
2010 - ĐHSPTN); Hình tượng ma nữ trong Truyền kỳ mạn lục (Luận văn
thạc sĩ của Mai Thị Lệ Quyên, ĐHKHXH&NV, năm 2016);…Các công trình
nghiên cứu về người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục chủ yếu phân tích hệ
thống nhân vật, làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn, số phận khổ đau, khát vọng hạnh phúc không thành của họ Thực tế cho thấy, chưa có công trình nào nghiên
cứu Truyền kỳ mạn lục với mục đích lấy những lời nói trực tiếp của các nhân
vật nữ làm đối tượng nghiên cứu chính để từ đó làm nổi bật một quan niệm có
tính tổng thể trong văn học trung đại như quan niệm về chữ “thân”
Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Quan niệm về “thân”
qua phát ngôn của các nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ lý thuyết diễn ngôn” để góp phần hoàn thiện thêm cái nhìn đa chiều về tác
phẩm và những đóng góp to lớn của Nguyễn Dữ khi viết về người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Trang 123 Mục đích nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu quan niệm về
chữ “thân” được thể hiện dưới dạng phát ngôn về tình yêu, hạnh phúc lứa
đôi, hạnh phúc gia đình, quan niệm sinh - tử, nhu cầu bản năng của các nhân
vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ lý thuyết diễn ngôn hiện đại Qua
đó, giúp người đọc thấy được sự mới mẻ, táo bạo và ý nghĩa nhân sinh tiến bộ của quan niệm ấy so với bối cảnh xã hội đương thời, góp thêm một góc nhìn
mới về áng “thiên cổ kỳ bút” này
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài
như: quan niệm về chữ “thân” trong thời kỳ văn học trung đại; khái niệm
diễn ngôn như một công cụ lý thuyết trong nghiên cứu tác phẩm văn học; thân
thế, thời đại của Nguyễn Dữ và hệ thống nhân vật nữ trong tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục; vấn đề người phụ nữ trong văn xuôi tự sự Việt Nam từ TK X đến
TK XVI
- Khảo sát, thống kê những phát ngôn trực tiếp về tình yêu, nhu cầu tính dục, nhu cầu vật chất, quan niệm sinh - tử của một số nhân vật nữ trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
- Phân tích, luận giải quan niệm tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình, nhu cầu bản năng, quan niệm sinh - tử và số phận của một số nhân vật nữ theo
lý thuyết diễn ngôn hiện đại để thấy được quan niệm về chữ “thân” trong tác
phẩm Từ đó, chỉ ra tính chất mới mẻ, táo bạo trong ngòi bút nhân đạo của Nguyễn Dữ
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu phát ngôn của các nhân vật phụ nữ đại diện cho quan niệm về hạnh phúc gia đình, khát vọng tình yêu đôi lứa và khát vọng giải phóng tình cảm tự nhiên Từ đó,
chỉ ra được quan niệm về chữ “thân” có phần mới mẻ, táo bạo trong tác
Trang 13phẩm: nàng Nhị Khanh trong “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu”, Vũ Thị Thiết trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, nàng Giáng Hương trong
“Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên”, nàng Lệ Nương trong “Chuyện Lệ Nương”,
nàng Nhị Khanh trong “Chuyện cây gạo”, hai hồn hoa Đào Hồng nương và Liễu Nhu nương trong “Chuyện kì ngộ ở trại Tây”
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi dùng bản: Truyền kỳ mạn lục - bản
dịch của Trúc Khê - Ngô Văn Triện, lời giới thiệu của Bùi Kỷ, NXB Văn học ấn hành tại Hà Nội (1971) Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi tập
trung làm nổi bật quan niệm về chữ “thân” qua những phát ngôn thể hiện quan niệm về tình yêu của các nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục thông qua các truyện: “Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu”, “Chuyện người con gái Nam
Xương”, “Chuyện cây gạo”, “Chuyện kì ngộ ở trại Tây”, “Chuyện Từ Thức lấy
vợ tiên”, “Chuyện Lệ Nương”… Ở đây, chúng tôi sử dụng phát ngôn của nhân
vật như một biểu hiện quan trọng của lý thuyết diễn ngôn
Bên cạnh đó, chúng tôi mở rộng phạm vi tìm hiểu một vài tác phẩm văn
học và tư liệu văn hoá để so sánh khi cần thiết như: Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên, Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp, Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Đoạn trường tân thanh
của Nguyễn Du,… Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu những tác phẩm thơ hiện, đương đại về tình yêu của các nhà thơ Xuân Diệu, Vi Thùy Linh… và một số tài liệu nghiên cứu về diễn ngôn của các nhà lý luận phê
bình văn học
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê: khảo sát, thống kê các phát ngôn về quan niệm tình yêu và hạnh phúc gia đình, nhu cầu vật chất, quan niệm sinh -
tử của các nhân vật phụ nữ, chú trọng các phát ngôn gắn với quan niệm về
chữ “thân”
Trang 14- Phương pháp tiếp cận liên ngành: vận dụng những kiến thức liên ngành về Phật giáo, Nho giáo, văn học, văn hóa, lịch sử,… để tìm hiểu vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống: xây dựng các hệ thống phát ngôn theo từng tuyến nhân vật bằng lí thuyết diễn ngôn
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích nhân vật, phân tích ngôn ngữ, phân tích các khái niệm diễn ngôn, mã thể loại, mã hệ tư tưởng,…
- Phương pháp tiếp cận văn hóa: đọc tác phẩm từ góc nhìn văn hóa, chỉ
ra tư tưởng của Nguyễn Dữ thể hiện ở việc xây dựng cốt truyện, nhân vật và lời bình trong bối cảnh văn hóa Việt Nam thời trung đại
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên tập trung tìm hiểu quan niệm về chữ
“thân” được thể hiện dưới dạng phát ngôn về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi,
hạnh phúc gia đình, quan niệm sinh - tử, nhu cầu bản năng của các nhân vật
phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ lý thuyết diễn ngôn hiện đại Cụ thể
là luận văn đi sâu phân tích phát ngôn của hai tuyến nhân vật phụ nữ có tính cách, quan niệm sống và yêu gần như trái ngược nhau: Một bên là người phụ
nữ truyền thống tuân thủ đạo đức Nho giáo với quan niệm về tình yêu thủy
chung và khát khao hạnh phúc gia đình bình dị, đề cao cái tâm trong sáng và coi nhẹ chữ thân; còn một bên là người phụ nữ phá cách với khát vọng hưởng thụ hạnh phúc ân ái mãnh liệt, đề cao chữ thân và phần nào coi nhẹ chữ tâm
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa cung cấp phương pháp luận và kiến thức văn học cần thiết cho việc tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy ở nhà trường các cấp Đồng thời, đây cũng là một cách tiếp cận mới cho các tác phẩm văn học, mở ra hướng đánh giá giá trị nhân văn của văn học
từ góc nhìn lí thuyết diễn ngôn
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; Nội dung
chính của luận văn được triển khai trong ba chương:
Trang 15Chương 1: Những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài
Chương 2: Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ
nữ truyền thống theo quan điểm Nho giáo trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ lý
thuyết diễn ngôn
Chương 3: Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ
nữ phi truyền thống theo quan điểm Nho giáo trong Truyền kỳ mạn lục nhìn
từ lý thuyết diễn ngôn
Trang 16
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận tác phẩm văn học
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm và ngày càng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu của khoa học nhân văn và xã hội học Diễn ngôn (với nghĩa từ nguyên là discourse) có bản chất là dạng thức trao đổi thông tin (communication), vận hành theo mối quan hệ logic từ đâu ra và hướng đến đâu (from and to ) Theo cách hiểu thông thường, đó là sự tiếp nhận qua lại giữa chủ thể truyền thông tin và đối tượng nhận thông tin của quá trình trao đổi Khi trở thành thuật ngữ của ngôn ngữ học, diễn ngôn vẫn hàm chứa bản chất cơ bản của nghĩa từ nguyên, bao gồm quan hệ giữa chủ thể diễn ngôn, khách thể diễn ngôn và nội dung diễn ngôn Từ thế kỉ
XX, trong bối cảnh sự chuyển hướng mạnh mẽ của hệ lý thuyết, diễn ngôn
đã được bổ sung thêm những hàm nghĩa mới, gắn liền với một mô hình nghiên cứu văn hóa văn học, trở thành một trong những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn
Theo bài viết "Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn" của tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Minh [Nguồn trích dẫn: cach-tiep-can-khai-niem-dien-ngon/], nghĩa mới của diễn ngôn có cội nguồn sâu xa từ trong các trước tác của ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX: F.de
https://phebinhvanhoc.com.vn/ba-Saussure, M.Bakhtin và M.Foucault
Thứ nhất, đối với các nhà cấu trúc chủ nghĩa, diễn ngôn được hiểu là
cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, đó là những nguyên tắc tổ chức, sắp xếp ngôn
từ trong hệ thống theo một quy luật riêng Nét nghĩa này bắt nguồn từ trong
cuốn giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương” của Saussure, được sử dụng rộng
Trang 17rãi trong thời cực thịnh của chủ nghĩa cấu trúc với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu cấu trúc chủ nghĩa như: R.Barthes, Todorov, Gennette…
Thứ hai, đối với nhà nghiên cứu M.Bakhtin, diễn ngôn được định nghĩa
như là một loại lời nói thấm đẫm hệ tư tưởng Hướng này xuất hiện khi Bakhtin
thấy hạn chế của ngữ học Saussure, đồng thời cũng thấy hạn chế của các nhà lý luận thuộc phái hình thức chủ nghĩa: không thừa nhận mối quan hệ giữa văn học
và ý thức hệ xã hội Ông là người đề xuất hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, phản đối lối nghiên cứu ngôn từ tách khỏi đời sống xã hội và ý thức hệ
Theo Bakhtin, diễn ngôn luôn thấm đẫm tư tưởng, cảm xúc, thái độ chủ quan
của người nói, hay nói cách khác, nó luôn tồn tại dưới dạng kép: lời nói - hệ tư tưởng Như vậy, diễn ngôn có bản chất là đối thoại
Trung tâm điểm của cách tiếp cận thứ ba về diễn ngôn là những tư
tưởng của M.Foucault Theo ông, diễn ngôn vừa là công cụ, vừa là hệ quả
của quyền lực Tri thức mà chúng ta có cũng là sản phẩm được tạo thành từ
các diễn ngôn, đồng thời, là kết quả của những mâu thuẫn quyền lực Tất cả những tư tưởng này của Foucault cho thấy ông chủ yếu đi sâu nghiên cứu những yếu tố chi phối việc kiến tạo và vận hành các diễn ngôn
Từ đó, trong bài viết "Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn", tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh kết luận: “Diễn ngôn có thể hiểu là cấu trúc của
ngôn ngữ (lời nói), diễn ngôn là lời nói - tư tưởng hệ và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực [Nguồn trích dẫn:
https://phebinhvanhoc.com.vn/ba-cach-tiep-can-khai-niem-dien-ngon/]
Theo luận án tiến sĩ “Sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn
học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay” của tác giả Trần Thị Ngọc Anh,
quan niệm diễn ngôn được hiểu là “hệ thống siêu ngôn ngữ được hiện diện
qua văn bản hoặc phi văn bản về một chủ đề nào đó trong đời sống như chính trị, quân sự, đạo đức, kinh tế, nghệ thuật, văn học… Mỗi chủ đề tạo thành một đơn vị diễn ngôn Tổng hòa các đơn vị diễn ngôn tạo thành hệ thống diễn ngôn trong xã hội Hệ thống diễn ngôn này chịu sự tác động của cơ chế quyền
Trang 18lực và trạng thái tri thức mà quy định thực tiễn phát ngôn của con người bằng những nguyên tắc căn bản trong dùng từ, diễn đạt, kiến tạo văn bản và kết hợp các hệ thuật ngữ của một giai đoạn lịch sử hoặc một thời đại Diễn ngôn
do đó chính là bản thể tư tưởng của con người trong thực tiễn luận bàn, diễn giải về các vấn đề trong đời sống cũng như học thuật một cách có chiến lược, tuân theo trật tự và mang tính liên văn bản” [1.35]
Từ quan niệm trên của tác giả Trần Thị Ngọc Anh, có thể thấy khi được vận dụng vào nghiên cứu khoa học xã hội, việc vận hành diễn ngôn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của chủ thể: tư tưởng, thái độ, tài năng và các yếu tố khách quan: luật định xã hội, luật tục cộng đồng Nó gắn liền trước hết với khái niệm ý thức hệ Do đó, có thể hiểu một cách ngắn gọn: diễn ngôn bao hàm lời nói, tức là nó có tồn tại dưới dạng phát ngôn chủ quan của một cá nhân Tuy nhiên, diễn ngôn lại phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp và có khả năng phát triển nâng tầm để trở thành tuyên ngôn cho một giai cấp nhất định, cho một thời đại cụ thể Một diễn ngôn được cho là phù hợp với thời đại khi nội dung của nó trùng khớp với tư tưởng chung của xã hội đương thời Chính
vì vậy, không nên chỉ xem xét diễn ngôn trên phương diện ngôn ngữ mà còn cần khai thác diễn ngôn như một công cụ để nghiên cứu các tác phẩm văn học Các tác giả xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm thông qua việc miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lý và lời thoại của nhân vật… Với nhiều tác phẩm văn học, lời thoại của nhân vật cũng chứa đựng những quan điểm, thái độ của tác giả, hay nói cách khác, xây dựng phát ngôn của nhân vật là
cách thức để tác giả bộc lộ tư tưởng, thái độ về một vấn đề nào đó
Trên cơ sở tổng hợp những quan niệm khác nhau của các học giả khi nghiên cứu diễn ngôn trong lĩnh vực văn chương, có thể thấy trong nghiên cứu văn học có ít nhất hai mã chi phối việc tạo lập và vận hành các diễn
ngôn: mã thể loại và mã hệ tư tưởng
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi sử dụng lý thuyết diễn ngôn để
nghiên cứu các phát ngôn (bao gồm có lời độc thoại, đối thoại và các sáng tác
Trang 19thơ) của nhân vật, dựa trên mã thể loại truyền kì và mã hệ tư tưởng phong kiến Tuy nhiên, cần xác định rõ rằng trong đề tài khoa học này, diễn ngôn không phải
là một khái niệm của ngôn ngữ học mà nó là công cụ lý thuyết để nghiên cứu
văn học Chúng tôi sử dụng diễn ngôn như một phương tiện văn học để phân tích
quan niệm về chữ “thân” qua các phát ngôn về tình yêu của một số nhân vật nữ
thường nhất, mã là nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và kí hiệu
Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, Saussure là người đầu tiên sử dụng khái
niệm mã Thứ nhất, mã có một vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp,
bởi nhờ nó mà người nhận có thể hiểu được thông điệp của người gửi Vì thế,
mã là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa người phát và người nhận, giữa thông điệp và ý nghĩa thông điệp Thứ hai, mã là một ngôn ngữ, bởi nó có những đơn vị và qui tắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ thống, giúp truyền đạt thông tin
Hiểu như vậy, thì văn bản cũng có mã của nó, đó là hệ thống ngữ pháp chi phối việc tạo lập văn bản, là chìa khóa để giải mã thông điệp giữa người gửi và người nhận trong giao tiếp Ngôn ngữ cũng được coi là một mã, vì nó
là nguyên tắc xác lập quan hệ giữa thông tin và kí hiệu dạng lời nói hoặc chữ viết, phải nắm được những qui tắc của ngôn ngữ, người ta mới có thể giao tiếp Văn hóa, văn học đều có một hệ thống mã, mà dựa vào đó, người ta có thể tiếp cận được các tác phẩm và thích nghi với một nền văn hóa
1.1.2.2 Mã hệ tư tưởng
Thuật ngữ hệ tư tưởng (ideology) có lịch sử tồn tại trên dưới hai trăm
năm, từng là đối tượng bàn luận của khoa học luận (Tracy và các nhà bách khoa thư), triết học (Marx, Enghen), kí hiệu học (M.Bakhtin, R.Barthes và
Trang 20nhiều nhân vật khác) Các từ điển triết học hiện có đều cho rằng, Antoine Louis Claude Destutt de Tracy (1754 - 1836) - nhà triết học, chính trị học, kinh tế học người Pháp - là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm
1801, trong tác phẩm nổi tiếng: “Cơ sở tư tưởng hệ” Trong cách sử dụng của Tracy thời ấy thì hệ tư tưởng là khoa học về tư tưởng Tuy nhiên, hệ tư tưởng
với nội hàm này chưa thực sự chính xác
Sau Tracy, vấn đề hệ tư tưởng trở thành đối tượng luận bàn của triết học và cách luận giải về phạm trù này thay đổi theo nhiều hướng (trong triết học của H.Tain, triết học Heghen) nhưng đáng chú ý hơn cả là những ý kiến của các nhà khoa học chủ nghĩa Mác Những luận điểm cơ bản về hệ tư tưởng được Marx và
Enghen trình bày trong Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846): hệ tư tưởng là tập hợp
những tư tưởng và quan điểm dưới dạng lí thuyết, mang tính hệ thống, phản ánh quan hệ của các nhóm xã hội (tầng lớp, giai cấp) với thế giới hiện thực và quan
hệ giữa các nhóm xã hội với nhau Như vậy, hệ tư tưởng không phải là tư tưởng
của cá nhân, cũng không bó hẹp chỉ là tư tưởng của một giai cấp, mà được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả những nền tảng tri thức, tâm lí, văn hóa chung cho một nhóm người nào đó Trên cơ sở này, có thể kể đến hệ tư tưởng của chủ nghĩa dân tộc, hệ tư tưởng của chủ nghĩa nữ quyền, hệ tư tưởng của chủ nghĩa thực dân…
Chính vì vậy, hệ tư tưởng có xu hướng loại bỏ những khám phá mang
tính chất cá nhân bằng cách tạo ra những khuôn mẫu của chủ thể và khiến cho
những khuôn mẫu này được công nhận là hợp thức Ví dụ: Hệ tư tưởng nam quyền đã chi phối xã hội Việt Nam thời phong kiến, quy định trong nền văn hóa trung đại Việt Nam, chỉ có những bậc quân vương, danh thần, lương tướng, quân tử mới được phát ngôn Những phát ngôn không theo những khuôn mẫu này (không phải của quân vương, danh thần, quân tử…) đều không được công nhận là hợp thức Cũng như vậy, trong hệ tư tưởng thực dân, dân bản xứ ở các thuộc địa bị tước mất tiếng nói, chỉ có kẻ đi khai hóa, chinh phục mới được quyền phát ngôn Còn hệ tư tưởng nữ quyền, hậu thực dân… lại khiến cho những kẻ vốn bị tước đoạt quyền phát ngôn như người
Trang 21phụ nữ, dân bản xứ ở các nước thuộc địa được cất lên tiếng nói và khẳng định quyền được tự do ngôn luận của mình Như vậy, có thể thấy hệ tư tưởng chi phối mạnh mẽ tới chủ thể của diễn ngôn, mục đích và nội dung diễn ngôn
Ngoài ra, hệ tư tưởng được thể hiện trong hình thái của một bức tranh
thế giới mang tính chất khuôn mẫu, thể hiện cách thức quan sát và miêu tả thế
giới chung cho cả cộng đồng Ví dụ: hệ tư tưởng chủ nghĩa thực dân thể hiện
“bức tranh thế giới thuộc địa” như một xứ sở mông muội, tăm tối, lạc hậu cần được khai hóa và con người ở vùng thuộc địa đều man dại, cần được cải tạo Còn trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, hệ tư tưởng nam quyền chịu tác động của Nho giáo lại thể hiện ở cách ngợi ca người đàn ông như đấng nam
nhi đại trượng phu “đầu đội trời, chân đạp đất” với khí phách anh hùng; song
song đó là miêu tả người phụ nữ như một đối tượng thụ động, yếu đuối, dễ sai
khiến, xếp ngang hàng với hạng “tiểu nhân”
Như vậy có thể thấy, văn học nghệ thuật tự bản thân nó là diễn ngôn hệ
tư tưởng vì văn học cũng là một diễn ngôn, mà mọi diễn ngôn, theo Bakhtin,
đều tồn tại dưới dạng kép: lời nói - hệ tư tưởng Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi đặt Truyền kỳ mạn lục trong mã hệ tư tưởng của thời đại mà tác
phẩm ra đời - thế kỉ XVI của thời kì phong kiến Việt Nam Điều đó có nghĩa
là mã hệ tư tưởng của tác phẩm này là hệ tư tưởng nam quyền chịu tác động của quan điểm đạo đức Nho giáo
1.1.2.3 Mã thể loại
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại văn học là “dạng thức của tác
phẩm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm,
về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [9.299]
Theo GS.TS Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học tập 2 - Tác
phẩm và thể loại văn học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, thể loại văn học
được định nghĩa như sau: “Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy
Trang 22luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho các tác phẩm một hình thức tồn tại
chỉnh thể” [28.220]
Như vậy, có thể hiểu, thể loại là hình thức chỉnh thể của tác phẩm văn học, trong đó có sự thống nhất và quy định lẫn nhau của các loại đề tài, chủ
đề, cảm hứng, hình thức nhân vật, kết cấu, lời văn
Là sản phẩm của sự phát triển văn học dân tộc, thể loại văn học mang tính dân tộc sâu sắc, gắn liền với ngôn ngữ, tâm lí và truyền thống văn hóa
mỗi dân tộc Truyện truyền kì Việt Nam có nguồn gốc từ truyện kì ảo Trung
Quốc cổ trung đại, được hình thành và phát triển nội sinh gắn liền với nền văn hóa và văn học dân tộc, đặc biệt là văn học dân gian và văn xuôi tự sự Việt Nam Văn hóa dân tộc như cái nôi nuôi dưỡng truyện truyền kì Việt Nam trong suốt quá trình hình thành, phát triển và cũng chính yếu tố văn hóa
dân gian đã giúp thể loại truyện này ở Việt Nam có điểm khác với truyện
truyền kì ở các nước đồng văn trong khu vực Có thể nói, sự phát triển của
loại hình này từ tác phẩm truyện u linh (Việt điện u linh tập - Lý Tế Xuyên) sang chích quái (Lĩnh Nam chích quái - Trần Thế Pháp) đến truyền kỳ (Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn Dữ) đều được quy định chặt chẽ bởi những
điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội Việt Nam Trong quá trình này, xuất hiện hàng loạt các nhân tố mới, đặc biệt là sự xuất hiện của các tác gia có phong cách viết truyện riêng, từ chỗ sao chép đến chỗ tạo ra được những tác phẩm thực sự mang dấu ấn cá nhân và tinh thần dân tộc Những sáng tác của họ có khả năng phản ánh nhiều vấn đề quan trọng của đời sống hiện thực và có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học dân tộc Như vậy, nghiên cứu một thể loại văn học phải chú ý đến tính lịch sử, tính thời đại, tính dân tộc và tính biến đổi của nó
Mỗi thể loại bao giờ cũng có một cấu trúc tương đối ổn định và vững chắc, làm thành bộ khung bất biến, có vai trò chi phối việc tổ chức các văn bản cụ thể Cấu trúc ấy là sự khái quát hóa các thông tin thành một hệ thống
Trang 23các đơn vị, qui tắc nhất định, gọi là mã thể loại Ví dụ, mã thể loại thơ trữ tình
bao gồm một loạt các đơn vị như: nhân vật trữ tình, hệ thống các hình ảnh, biểu tượng, vần, nhịp… Các đơn vị này được tổ chức để làm nổi bật thế giới chủ quan của cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng Mã thể loại của tiểu thuyết bao gồm hàng loạt các đơn vị như sự kiện, nhân vật, cốt truyện, chi tiết,… Tất
cả các yếu tố ấy được tổ chức để làm nổi bật một thế giới đang vận động, chưa hoàn kết
Ngoài ra, mã thể loại còn gọi là ngôn ngữ thể loại, là yếu tố trung gian
trong cuộc giao tiếp nghệ thuật giữa người viết và người đọc, giúp cho cuộc
giao tiếp ấy được thuận lợi, thông suốt Khi sáng tác một tác phẩm, bao giờ nhà văn cũng phải lựa chọn và sử dụng một số mã thể loại nhất định, và khi tiếp nhận, người đọc cũng cần dựa vào mã thể loại để lí giải tác phẩm Như vậy, để đọc - hiểu một tác phẩm văn học, trước hết chúng ta phải nắm vững được đặc trưng thể loại của tác phẩm đó như nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ…
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ được viết theo thể truyền kì nên
việc vận dụng các yếu tố nghệ thuật của mã thể loại này trong nghiên cứu nhân vật là việc làm cần thiết Bằng con đường ảo hóa, tác giả Nguyễn Dữ đã thể hiện tầm nhìn vượt thời đại của mình và người đọc sẽ không thể hiểu được toàn bộ giá trị tác phẩm nếu không nắm được đặc trưng cơ bản của mã truyền
kì Nghệ thuật ảo hóa trong Truyền kỳ mạn lục được thể hiện qua: nhân vật kì
ảo (ma, quỷ, thần tiên, ), không gian kì ảo (thế giới cõi mộng, cõi tiên, âm phủ, thủy cung, thiên đường…), các chi tiết kì ảo (cuộc hội ngộ giữa người -
ma, người - tiên, người chết đi sống lại, tượng đất biết cử động…) Với nhà văn Nguyễn Dữ, việc sử dụng mã thể loại truyền kì là một bước đệm cần thiết
để ông bộc lộ những quan niệm nhân sinh tiến bộ, xây dựng những hình tượng nhân vật độc đáo Chính vì vậy, muốn lí giải nội dung ý nghĩa của các
truyện trong Truyền kỳ mạn lục, người đọc không thể tách rời mối quan hệ
giữa mã tư tưởng chung của thời đại, tư tưởng riêng của tác giả và mã thể loại truyền kì của tác phẩm này
Trang 241.2 Đôi nét về quan niệm “thân”
1.2.1 Quan niệm của các tôn giáo về “thân”
Bất cứ tôn giáo nào ra đời cũng được quy định bởi một bối cảnh lịch sử nhất định Các hiện tượng tôn giáo đều nhằm đáp ứng nhu cầu tâm lí tín ngưỡng của một bộ phận cộng đồng Mỗi tôn giáo lại có những quan niệm nhất định về các phạm trù liên quan đến con người và đời sống xã hội Ở Việt Nam, các học thuyết Phật, Nho, Đạo bàn luận không ít đến các vấn đề bản thể
luận như: đạo, đức, tâm, tính, tình và đặc biệt là “thân”
Theo quan niệm của Phật giáo, thân là nguồn gốc của nỗi khổ bởi nó
gắn với nhu cầu vật chất, bắt buộc con người phải tìm cách thỏa mãn mà dẫn
tới khổ đau Như vậy trong quan niệm Phật giáo, thân gắn liền với chữ dục Phật giáo nhìn dục như sự kết hợp giữa thèm khát và khổ đau Sự thèm khát
làm phát sinh một loạt dục vọng: chiếm giữ, ghen tuông , tức giận, oán hờn … Chúng thay nhau hành hạ con người và khiến người ta bị mù quáng Đó là các thứ dục vọng gây ra tội lỗi Thế nhưng tội lỗi phát sinh từ đâu? Phật giáo chỉ
ra rằng tội lỗi của con người chính là phát sinh từ trong tâm thức Điểm then chốt trong giáo lý Phật giáo là thân xác gánh chịu sự kiểm soát của tâm thức Chính sự ham muốn của tâm thức là nguyên nhân làm bùng lên dục vọng
và dục vọng là nguyên nhân của khổ đau Phật giáo cho rằng khổ của kiếp người là do bị dục kích động tạo ra nghiệp báo, khiến cho phải luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác trong bể trầm luân Phải diệt dục thì mới diệt được khổ
Theo giáo lý của Phật giáo, tính dục liên hệ trực tiếp đến sự cảm nhận của thân xác Từ đó, Phật giáo kêu gọi con người nên diệt trừ sắc dục Theo
quan niệm của đạo Phật, nói đến sắc dục là nhấn mạnh vào sự đắm sắc của
nam nữ, tình ái si mê, ân ái qua bao kiếp buộc ràng nhau không có kỳ chấm
dứt Từ đó, sắc dục gây nên bao tai họa cho con người: “Người đuổi theo sắc
dục không biết chán như người uống nước muối, càng uống càng khát, càng đắm mê thì hoạ hại càng lắm, tự đem mình vào chỗ hang hùm miệng sói mà vẫn không sợ” [Nguồn trích dẫn: http://vanhoaphatgiao.com.vn/?p=] Sắc dục
Trang 25làm cho bản thân chóng tàn cỗi, bệnh tật lại thêm nhiều, phiền não khổ đau, triền miên u uất Vì sắc dục, một người hiền lương có thể trở thành tướng cướp; một người con hiếu thuận có thể trở nên ngỗ nghịch, làm khổ mẹ cha; một người chồng tốt, một người vợ đảm đang có thể đánh mất lòng chung thuỷ khiến gia đình ly tán, con cái bơ vơ
Nhận thức rõ hoạ hại của sắc dục, Đức Phật dạy các đệ tử phải tỉnh táo, đừng để đắm luyến vào cái bẫy của sắc đẹp Ngài khẳng định sức mạnh của
sắc dục như sau: “Sự ham muốn không gì hơn sắc đẹp, sự ham muốn sắc đẹp
ngoài nó không có gì lớn bằng, cũng may chỉ có một mình nó mà thôi Nếu có cái gì thứ hai bằng nó thì người khắp thiên hạ không ai có thể tu hành được”
[Nguồn trích dẫn: http://vanhoaphatgiao.com.vn/?p= ]
Còn trong quan niệm của Nho giáo, “thân” cũng là đại diện cho bản
năng tính dục - bản năng rất lớn của con người Nho giáo chỉ ra bản năng tính
dục là điều xấu mà con người cần phải tránh xa Chu Hy từng nói: “Vạn ác
dâm vi thủ” - hàng vạn điều ác thì dâm đứng đầu Chính vì thế, vấn đề tính dục trong thời kỳ phong kiến Việt Nam với hệ tư tưởng Nho giáo là điều
“cấm kị”, là thứ xấu xa luôn gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Cái nhìn của
xã hội phong kiến về người đàn ông thường là ca ngợi mẫu hình nam nhi, quân tử, anh hùng, trượng phu Ngược lại, vai trò của người phụ nữ bị hạ thấp
và trở nên hết sức mờ nhạt Khổng Tử dạy rằng: “Duy đương nữ tử dữ tiểu
nhân nan giáo dã” (Chỉ có đàn bà và kẻ tiểu nhân là khó dạy vậy) Khổng Tử
và hệ tư tưởng Nho giáo đã xếp người phụ nữ cùng hạng với kẻ tiểu nhân
thấp kém, hèn mạt Dưới tác động của tư tưởng Nho giáo và những chuẩn mực đạo đức hà khắc, người phụ nữ Việt Nam đã phải chịu đựng cuộc sống
âm thầm, lặng lẽ, bị coi nhẹ và sống kiếp tầm gửi phụ thuộc vào đàn ông Họ
không có quyền cất lên tiếng nói cho quyền lợi, nhu cầu của chính mình Không chỉ vậy, các học giả kinh điển của Nho giáo đều thống nhất ở quan
điểm cho rằng sắc dục đồi bại bắt nguồn từ sắc đẹp của người phụ nữ, là yêu khí làm kẻ nam nhi thân bại danh liệt Vì thế, Tuân Tử dạy rằng: “Ham sắc
Trang 26đẹp của người con gái là chuốc lấy cái ác nghiệt vậy” [29.510], Vương Sung
đời Hán cũng viết: “Yêu khí sinh ra sự xinh đẹp, nên những người xinh đẹp
phần lớn là ác…Người có sắc đẹp có mang châm độc” [29.290] Thấm nhuần
tư tưởng đạo đức Nho giáo, Nguyễn Trãi với bài thơ Giới sắc đã khuyên kẻ sĩ
nên coi nữ sắc là kẻ thù, thẳng thắn nêu tên của những bậc quân vương mất nước vì ham mê gái đẹp và nhục dục thân thể:
“Sắc là giặc, đam làm chi Thuở trọng còn phòng có thuở suy
Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi Bại tan gia thất đời từng thấy, Tổn hại tinh thần sự ích chi Phu phụ đạo thường chăng được chớ Nối tông hòa phải một đôi khi” [39.143]
(Quốc âm thi tập - Bài 190)
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ quan niệm chối bỏ sắc dục của Nho giáo
và Phật giáo nên trong suốt chiều dài lịch sử từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, văn học trung đại Việt Nam dường như hoàn toàn vắng bóng những tác phẩm viết
về vấn đề tình yêu đôi lứa với hạnh phúc ái ân, hạnh phúc bản năng của con người, đặc biệt là của người phụ nữ
1.2.2 Quan niệm về “thân” trong văn học trung đại Việt Nam
Trong văn hóa ứng xử nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói
riêng, chữ "thân" bao gồm nhiều phạm trù, trong đó nổi bật lên các vấn đề:
nhu cầu vật chất (ăn, mặc, ở…), bản năng tính dục và vấn đề sinh - tử… Tuy nhiên, do hoàn cảnh lịch sử chi phối, nên các tác phẩm văn học từ thế kỉ X
đến thế kỉ XV chủ yếu hướng tới cái “tâm” trong sáng, ít đề cập đến “thân”
và các nhu cầu về vật chất, nhu cầu bản năng của con người
Sau hơn 1000 năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, năm 938 với chiến thắng Bạch Đằng, đất nước ta bước vào một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên của
Trang 27độc lập, tự chủ Chính vì vậy, văn học Việt Nam thế kỉ X đến thế kỉ XV là khúc ca khải hoàn của chiến thắng, là tiếng nói ngợi ca lòng yêu nước và chí khí anh hùng của các bậc quân vương, quân tử hoặc mang đậm cảm hứng tôn giáo Cụ thể trong giai đoạn này, văn học trung đại nổi lên ba nội dung chính
là cảm hứng tôn giáo, cảm hứng thiên nhiên và cảm hứng yêu nước
Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là giai đoạn văn học mang tính “hướng thượng” Lực lượng sáng tác và đối tượng văn học đều là những người thuộc tầng lớp trên như các bậc quân vương, quan tướng, thiền sư, các nam nhi, quân tử có công với nước; đề tài văn học cũng thường liên quan tới các vấn đề mang tầm quốc gia đại sự, có tính chất chính trị, gắn liền với vận mệnh dân tộc Chính vì vậy, văn học giai đoạn này còn nặng tính giai cấp, đại diện cho lễ giáo phong kiến mà chưa đề cập tới con người cá nhân, con người đơn lẻ Đồng thời, đa số nhân vật trong văn học trung đại thời kì này chủ yếu
đề cao chữ “tâm” trong sáng, cao cả và xem nhẹ chữ “thân” phàm tục với
những nhu cầu vật chất tầm thường Trong suốt chiều dài năm thế kỉ đầu của văn học trung đại Việt Nam, đề tài tình yêu và thân phận con người với những nhu cầu bản năng dường như không được khai thác Tuy có xuất hiện những tác phẩm thơ và văn xuôi mang hương vị của tình yêu đôi lứa, bộc lộ cảm xúc cá nhân và những nhu cầu vật chất nhưng sự thể hiện còn hết sức dè dặt, thường được ẩn nấp và hòa nhập trong các chủ đề văn học lớn của thời đại Tuy nhiên, có một sự thật là dù ít dù nhiều, đề tài tình yêu và quan
niệm về thân phận con người đã có sự xuất hiện trong văn học Việt Nam giai
đoạn X - XV
Trước thế kỉ XVI, do đặc điểm lịch sử - xã hội đề cao Nho giáo, Phật giáo và tinh thần dân tộc nên thơ tình cổ trung đại chủ yếu ẩn lẫn trong thơ trữ tình Có rất nhiều bài thơ cổ, dù đậm chất tình ý nhưng người xưa vẫn thường
gán thêm những ý nghĩa cao cả của lễ giáo Ví dụ bài thơ “Cổ ý” sau đây của
Phù Thúc Hoành (sống vào khoảng thế kỉ XV):
Trang 28Hà diệp lục như cái
Vơ vẩn mãi bên ao)
[Bản dịch của nhóm Lê Quý Đôn: http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=]
Đọc bài thơ, ta cảm nhận được nỗi bâng khuâng, nhớ mong xao xuyến của tác giả dành cho một ai đó - người có thể đã lâu không gặp Nếu bài thơ này được đặt trong tư duy của con người hiện đại hôm nay, chúng ta dễ dàng cho rằng đây là một bài thơ tình với ngôn từ đậm chất tương tư cùng hình ảnh
thơ trong sáng như: “hà diệp” (sen lá), “hà hoa” (sen hoa) Có lẽ đây là tâm
trạng của một chàng trai trẻ đang bồn chồn trông ngóng người thương của mình nhưng càng đợi càng không thấy, khiến chàng ngơ ngẩn ngày dài Vậy
mà theo quan niệm xưa nay của các nhà nghiên cứu, “Cổ ý” là một bài thơ
nhớ vua, là bài thơ trữ tình thể hiện tấm lòng “trung quân” của tác giả và vị vua mà Phù Thúc Hoành nhớ tới ở đây là vua Lê Thánh Tông Vậy, đây là một bài thơ tình yêu đôi lứa đơn thuần hay là một bài thơ tỏ nỗi lòng thương nhớ vua xưa của tác giả? Cả hai luồng ý kiến đánh giá trên đều có những căn
cứ riêng, song với cách nhìn nhận hiện đại hôm nay thì chắc hẳn sẽ nghiêng về nhận định đây là một bài thơ tình trẻ trung, chỉ có thể có trong tình yêu đôi lứa
mà ít thấy ở đó lòng “thờ vua kính chúa”
Cùng với đó, bài thơ “Cây chuối” của Nguyễn Trãi cũng mang nhiều
hàm ý sâu xa, đầy gợi cảm Dù lớp vỏ ngôn từ là miêu tả về cây chuối mùa xuân nhưng bài thơ lại khơi gợi lên nhiều ý nghĩa thầm kín về tình yêu và kích thích độc giả mở rộng sự khám phá, liên tưởng Đã có trên dưới bốn
Trang 29mươi bài viết cảm thụ về các tầng nghĩa của bài thơ, tuy nhiên đa phần đều thiên về hướng cho rằng đây là một bài thơ tình có nhuốm màu “ái dục”:
Tự bén hơi xuân tốt lại thêm Đầy buồng lạ mầu thâu đêm Tình thư một bức phong còn kín Gió nơi đâu gượng mở xem
Các nhà nghiên cứu bài thơ như Xuân Diệu, Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Phạm Hùng… đều cố gắng giải mã đây là một bài thơ tình “sâu sắc”, “kín đáo” nhưng không kém phần rạo rực, sôi nổi về tình
yêu tuổi trẻ Liên tưởng tàu lá chuối non như bức tình thư “phong còn kín”,
cuộn tròn, e ấp quả là một sáng tạo mới mẻ và tinh tế của Nguyễn Trãi Có
nhiều luồng ý kiến khác nhau đánh giá về bài thơ, có người cho “Cây chuối” là một bài thơ mang “ý vị thiền” (giống bài thơ “Ba tiêu” của thiền sư Linh Tẩu
Nguyên đời Tống), cũng có ý kiến cho bài thơ là lời tâm sự của tác giả về cuộc đời mình Tuy nhiên, không thể phủ nhận bài thơ vẫn phảng phất hương
vị tình yêu trong từng câu chữ
Nói về thơ tình trong văn học cổ trung đại Việt Nam, không thể không nhắc tới bài thơ nổi tiếng tương truyền của người cung nữ Điểm Bích, gắn liền với câu chuyện về vua Trần Anh Tông và sư Huyền Quang:
Vằng vặc trăng mai ánh nước Hiu hiu gió trúc ngâm sênh Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ Mâu Thích Ca nào chốn hữu tình
Bài thơ có nội dung trữ tình sâu sắc, thể hiện sự giác ngộ đến cao sâu
về đạo, hòa lẫn với khao khát yêu đương tha thiết của lòng trần Sự xao xuyến, bâng khuâng chọn lựa giữa chân lí nhà Phật và sức hấp dẫn của tình yêu trần thế đã tạo nên điểm nhấn cho toàn bài thơ, tạo sức sống mạnh mẽ để tác phẩm này tồn tại qua bao thế kỉ Đây được coi là bài thơ đầu tiên mang
Trang 30màu tình ái trong nền văn học Việt Nam mười thế kỉ và Điểm Bích là người phụ nữ đầu tiên của nền văn học trung đại có tác phẩm viết về đề tài này
Như vậy, có thể thấy rằng từ thế kỉ X đến thế kỉ XV, những sáng tác văn học chủ yếu hướng về cảm hứng tôn giáo, cảm hứng thiên nhiên và cảm
hứng yêu nước Những vấn đề liên quan đến chữ “thân”, cảm xúc cá nhân và
số phận con người đã xuất hiện nhưng còn hết sức mơ hồ, mờ nhạt và thường
ẩn lẫn trong những đề tài lớn kể trên Bên cạnh đó, các bài thơ thể hiện quan
niệm về “thân” mới chỉ dừng ở mức bộc lộ gián tiếp, tức là “mượn cảnh” để
“nói tình” chứ chưa có tác giả nào trực tiếp bày tỏ khát vọng yêu đương hay
thể hiện quan niệm tình yêu cá nhân Chính vì vậy, có thể gọi đây là thời kì
thai nghén của các sáng tác đề cập đến chữ “thân”, là bước chân chập chững
đầu tiên để các tác giả văn học Việt Nam trung đại tiếp cận gần hơn với đời sống hiện thực và giá trị nhân đạo ở giai đoạn sau
1.3 Đôi nét về Nguyễn Dữ và hệ thống nhân vật phụ nữ trong Truyền
kỳ mạn lục
1.3.1 Đôi nét về thân thế và thời đại của Nguyễn Dữ
Những tài liệu ghi chép về Nguyễn Dữ hiện còn rất sơ lược, dựa vào
một số tư liệu như : Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam tập 2 (Thế kỷ X -
thế kỷ XIX) do Bùi Duy Tân chủ biên, Văn học Việt Nam (Thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII) do Đinh Gia Khánh chủ biên và Văn học trung đại Việt Nam do
Nguyễn Đăng Na chủ biên… có thể khái quát một số điểm sau về thân thế của Nguyễn Dữ: Nguyễn Dữ (còn có thể gọi là Nguyễn Tự), là người xã Đường Lâm, huyện Gia Phúc, thuộc Hồng Châu xưa, nay là thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Ông là con trưởng của Nguyễn Tường Phiêu, tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), làm quan tới chức Thừa tuyên sứ, hàm Thượng thư Lúc nhỏ, Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà Sau khi đỗ Hương Tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, ông trúng tam trường và từng giữ chức tri huyện của huyện Thanh Tuyền Ông làm quan
Trang 31được một năm thì từ quan về nuôi dưỡng mẹ già cho tròn đạo hiếu, từ đó
“trải mấy mươi sương chân không bước đến thị thành” (Bùi Huy Bích - Hoàng Việt thi tuyển) Trong những năm tháng đó, ông miệt mài gửi gắm ý
tưởng của mình vào tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ Song theo nhiều công trình nghiên cứu, có khả năng Nguyễn Dữ sinh vào cuối thế kỉ XV và sống chủ yếu vào nửa đầu thế kỉ XVI
Thế kỷ XVI là thời kì lịch sử - xã hội Việt Nam biến động dữ dội Nhà nước phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn suy vi của một triều đại suy loạn, kỷ cương đổ nát, đạo đức có những biểu hiện suy đồi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua, chiến tranh phe phái diễn ra liên miên, ý thức hệ Nho giáo ngày càng suy giảm, vua chúa hoang dâm xa xỉ: “Vua quỷ” Lê Uy Mục bạo tàn, hoang dâm, ăn chơi vô độ, ham rượu chè, mê gái đẹp; “Vua lợn” Lê Tương Dực kế tiếp chơi bời truỵ lạc, bỏ bê việc nước Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh đã đưa đất nước vào cảnh huynh đệ tương tàn, chiến tranh loạn lạc xảy ra khắp nơi, đời sống của nhân dân ngày càng khốn khổ, bần hàn Nơi nơi dân chúng lầm than kêu khóc bởi chiến tranh, dưới sự bóc lột tàn bạo của tầng lớp thống trị Những hiện thực này đã tác động rất lớn đến Nguyễn Dữ và được phản ánh một cách chân thực, sâu
sắc trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
1.3.2 Phác thảo hệ thống nhân vật người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác
phẩm duy nhất còn lại của Nguyễn Dữ được viết vào thế kỷ XVI Tác phẩm
đã nhận được sự đánh giá cao của giới văn sĩ đương thời Hà Thiện Hán,
người cùng thời với tác giả đã viết lời “Tựa” cho tác phẩm Nguyễn Thế Nghi
(người Mộ Trạch, Đường An, Hải Dương, đỗ Tiến sĩ đời Mạc Đăng Doanh,
sống cùng thời Nguyễn Dữ) cũng đã diễn Nôm Truyền kỳ mạn lục Sau này,
các tác giả Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều có nhắc đến
Trang 32Nguyễn Dữ và khẳng định giá trị của Truyền kỳ mạn lục Ôn Như Hầu Vũ Khâm Lân gọi Truyền kỳ mạn lục một “thiên cổ kỳ bút” Lê Quý Đôn trong
“Kiến văn tiểu lục” đánh giá văn chương Truyền kỳ mạn lục có: “Lời lẽ thanh
tao tốt đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” Phan Huy Chú cũng khen Truyền kỳ mạn lục là “áng văn hay của bậc đại gia” Có thể nói, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm mẫu mực cho thể loại truyền kì trong văn học trung đại
Việt Nam, đánh dấu bước phát triển vượt bậc của văn xuôi tự sự chữ Hán
Nội dung trong Truyền kỳ mạn lục rất đa dạng, tuy nhiên, tư tưởng nổi
bật nhất trong tác phẩm là tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Dữ khi viết về người phụ nữ Nếu khi phê phán xã hội, Nguyễn Dữ đứng trên lập trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, đặc biệt là người phụ nữ, ngòi bút
của ông lại đầy tính nhân văn, nhân đạo Trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ, thế giới nhân vật người phụ nữ rất đa dạng, phong phú Họ có thể
là con người hiện hữu trong cuộc sống bằng xương bằng thịt như: Vũ Thị
Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa
phụ ở Khoái Châu), Dương thị (Chuyện đối tụng ở Long cung), Lệ Nương (Chuyện Lệ Nương), Túy Tiêu (Chuyện nàng Túy Tiêu),…Họ cũng có thể là
hồn ma: Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương
Giang); nửa người nửa ma: Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị);
hồn hoa: Đào nương, Liễu nương (Chuyện kì ngộ ở trại Tây), tiên nữ: Giáng Hương (Chuyện Từ Thức lấy vợ Tiên)… Tuy tất cả đều có chung số phận bất
hạnh trên con đường kiếm tìm hạnh phúc song Nguyễn Dữ đã xây dựng nên hai tuyến nhân vật phụ nữ đối lập nhau về mặt tư tưởng, căn cứ trên quan điểm đạo đức Nho giáo
Nguyễn Dữ đã xây dựng trong tác phẩm của mình những người phụ
nữ tiết hạnh, nết na hiền thục, tuân thủ đạo “tam tòng tứ đức” như: Vũ Thị
Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương), Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa
phụ ở Khoái Châu), Lệ Nương (Chuyện Lệ Nương)… Đây là những nhân vật
phụ nữ thủy chung son sắt, kiên trinh tiết liệt, sẵn sàng tìm đến cái chết để
Trang 33chứng minh tiết hạnh và sự trong sạch của mình Ở họ, nếu cái “tâm” trong sáng bị bôi nhọ, xúc phạm thì sự tồn tại của “thân” sẽ không còn ý nghĩa gì
nữa Họ sẵn sàng đối diện với cái chết, từ bỏ sự sống, từ bỏ thân xác phàm tục
để bảo toàn danh tiết Họ xem nhẹ chữ “thân”, xem thường những dục vọng,
những nhu cầu vật chất, thậm chí là cả cái chết Với họ, danh tiết mới là điều quan trọng nhất Quan niệm tình yêu của các nhân vật này luôn gắn liền với quan niệm về hạnh phúc gia đình và lòng chung thủy son sắt Một khi danh
dự bị bôi nhọ, hạnh phúc gia đình tan vỡ thì họ cũng không còn tha thiết với
cuộc sống trần tục nữa Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Vũ Thị Thiết là người phụ nữ “thùy mị, nết na, lại có tư dung tốt đẹp” [5.182], là con
dâu hiếu thảo chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau Dù ở xa chồng nhưng nàng luôn son sắt chung thủy, vì vậy khi bị Trương Sinh ghen tuông nghi ngờ, Vũ
Thị Thiết đã “gieo mình xuống sông mà chết” [5.186] để chứng minh sự
trong sạch của mình Cũng đẹp người đẹp nết như Vũ Nương, nàng Nhị
Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu đã khảng khái “lấy đoạn
dây tơ thắt cổ mà chết” [5.29] khi bị người chồng là Trọng Quỳ phụ tình, đem
nàng gán bạc cho kẻ khác Với những nhân vật nữ này, quan niệm về tình yêu
luôn gắn liền với hạnh phúc gia đình, với “thú vui nghi gia nghi thất” và sự
bảo toàn danh tiết Nếu bị xúc phạm danh dự và nhân phẩm, họ sẵn sàng từ bỏ lòng trần để tìm đến cái chết như một minh chứng cho lòng kiên trinh Những phát ngôn ở tuyến nhân vật này luôn được phủ bóng hạnh phúc gia đình, coi thường những nhu cầu cá nhân và gắn liền với chuẩn mực “tam tòng tứ đức” của người phụ nữ Họ được xây dựng là những nhân vật đại diện cho cái
“tâm” trong sáng, thanh cao Vũ Thị Thiết và Nhị Khanh là hai nhân vật tiêu
biểu cho mẫu hình phụ nữ truyền thống theo quan điểm đạo đức Nho giáo
Chính vì vậy, họ được ca ngợi, được tôn vinh trong tác phẩm theo những chuẩn mực của hệ tư tưởng phong kiến đương thời
Không chỉ bộc lộ quan niệm tình yêu gắn liền với hạnh phúc gia đình, coi thường danh vọng, vật chất, trong tuyến nhân vật phụ nữ truyền thống của
Trang 34Truyền kỳ mạn lục còn tồn tại những phát ngôn thể hiện khát vọng tình yêu
đôi lứa tự do, trong sáng Khát vọng tình yêu ấy được thể hiện trong quan niệm
của các nhân vật Giáng Hương (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên), Lệ Nương
(Chuyện Lệ Nương)… Họ đều là những cô gái có dung mạo tươi đẹp, trẻ trung,
mang trái tim nhạy cảm và khao khát yêu thương Trong Chuyện Từ Thức lấy
vợ tiên, nàng Giáng Hương vốn là một tiên nữ ở núi Phù Lai, vậy mà chính
nàng tự nhận rằng trong lòng mình có nỗi buồn thương tình ái: “hình ở phủ
tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân ở đền quỳnh mà lòng theo cõi dục”
[5.113] Khao khát tình yêu, hạnh phúc của nàng chẳng khác gì con người trần thế Những lời nói của Giáng Hương với Từ Thức cũng là những lời thổ
lộ tâm can, mơ ước một tình yêu chân chính, sâu sắc Giáng Hương là tiên nữ nhưng trái tim nàng cũng đa cảm như người phụ nữ dưới trần thế vậy! Cũng chung khát vọng được gắn bó với người mình yêu thương, nàng Lệ Nương
trong Chuyện Lệ Nương lại là một tấm gương của tình yêu thủy chung, son
sắt Tình yêu của Lệ Nương và Phật Sinh là mối nhân duyên trong sáng, tiền định từ lời hẹn ước của hai bên gia đình Hai người lớn lên bên nhau, khăng khít gắn bó Dẫu chưa phải là vợ chồng nhưng Lệ Nương đã coi Phật Sinh là người chồng thực sự của nàng Chính vì vậy, khi bị bắt vào trong cung, Lệ Nương đau buồn khôn xiết Cuối cùng, nàng đã dám tự tận để không phải làm
tì thiếp nhơ nhuốc nơi đất khách quê người cho giặc, giữ vững lòng trinh thuần cương liệt với Phật Sinh Khát vọng tình yêu tự do với tấm chân tình trong sáng của Lệ Nương đã được thể hiện rõ nét trong bức thư nàng gửi Phật Sinh Như vậy, Giáng Hương và Lệ Nương tuy có ước mơ về một tình yêu tự
do song hai nhân vật này vẫn tuân thủ theo quan điểm đạo đức Nho giáo, tuyệt nhiên không hề phá vỡ các quy tắc rường cột của Nho gia về đạo nữ nhi
Họ luôn khao khát tình yêu trong sáng, vô tư với người mà mình yêu thương Quan niệm tình yêu của những nhân vật này có sự giao hòa giữa tinh thần và
thể chất, họ đã có cái nhìn mới mẻ và tự do hơn về chữ “thân” Song, chữ
“thân” ở những nhân vật Giáng Hương, Lệ Nương vẫn gắn liền với những
Trang 35giá trị đạo đức cốt lõi của Nho giáo, với lòng chung thủy dành cho người
mình yêu thương Vì vậy, trong Truyền kỳ mạn lục, hai nhân vật này vẫn được ngợi ca và tôn vinh giống như Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở
Khoái Châu) và Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương)
Đối lập với hình ảnh người phụ nữ truyền thống kể trên, Nguyễn Dữ đã
xây dựng trong Truyền kỳ mạn lục hình tượng phụ nữ phi truyền thống -
những cô gái phá cách, những người đàn bà “lệch chuẩn”, vi phạm quan điểm
đạo đức Nho giáo về “tam tòng tứ đức” như: Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Đào Hàn Than (Chuyện nghiệp oan của Đào thị), Đào Hồng Nương và Liễu Nhu Nương (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), Thị Nghi (Chuyện yêu quái ở Xương
Giang)… Không tuân thủ vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, những nhân
vật phụ nữ này đã bắt đầu bộc lộ cá tính và sự phá cách mạnh mẽ trong tư
tưởng: Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo tự do yêu đương với chàng lái buôn
Trình Trung Ngộ và cuối cùng quyến rũ Trung Ngộ chết theo mình để cùng
thỏa mãn ái ân; Đào Hàn Than trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị tư thông
với sư bác Vô Kỷ ngay nơi cửa Phật hay hai hồn hoa Đào nương và Liễu
nương trong Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây biến hóa thành người để cùng thỏa
mãn nhục dục với chàng nho sinh Hà Nhân Theo quan điểm đạo đức của hệ
tư tưởng Nho giáo đương thời, những cô gái như Nhị Khanh, Đào Hàn Than,
Đào Nương và Liễu Nương đều xếp vào“hạng gái lẳng lơ dâm đãng” [5.66] đáng bị coi thường Chính vì vậy, những mẫu nhân vật phụ nữ phi truyền
thống đều là hồn ma bóng quỷ, u hồn trệ phách được Nguyễn Dữ xây dựng
bằng yếu tố kì ảo để phù hợp với hệ tư tưởng phong kiến đương thời Cũng
chính ví lẽ đó, những nhân vật này rất coi trọng chữ “thân”, hướng tới sự hưởng thụ những nhu cầu vật chất và bản năng tính dục trên trần thế Trong
nhóm nhân vật phụ nữ phá cách này, chúng tôi chú ý tới những nhân vật dám trực tiếp nói ra khát vọng yêu đương và nhu cầu ân ái của bản thân Nhìn lại tiến trình vận động của văn học từ trước đến nay, vấn đề này có ý nghĩa như
một cuộc cách mạng trong quan niệm về chữ “thân” Khi “thân” cất tiếng
Trang 36nói đầy kiêu hãnh cũng là lúc nhà văn đối thoại lại với quan niệm truyền
thống khinh miệt thân xác, chỉ xem thân xác là “bể chứa” tầm thường cho linh hồn thanh cao Với việc xây dựng các nhân vật phụ nữ phá cách, Nguyễn
Dữ đã nỗ lực nhận diện về con người một cách thành thực, không tô vẽ, đặc biệt là việc đi sâu khám phá khát vọng bản năng trong khía cạnh tự nhiên và nhân bản nhất của nó
Với hai tuyến nhân vật phụ nữ có cá tính, quan niệm sống hoàn toàn trái ngược nhau dựa trên thước đo là hệ thống quan điểm đạo đức Nho giáo, Nguyễn Dữ đã tạo nên góc nhìn rất đa diện, mới mẻ về quyền được sống, được hạnh phúc của con người trong xã hội xưa Lần đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam, khát vọng đi tìm hạnh phúc của người phụ nữ được cất lên đầy mạnh mẽ thông qua một loạt các phát ngôn, thể hiện quan
niệm về chữ “thân” với những nhu cầu vật chất, quan niệm tình yêu và cách
đối diện với vấn đề sinh - tử Từ việc khảo sát lượt lời của các nhân vật Nhị
Khanh (Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu), Vũ Thị Thiết (Chuyện
người con gái Nam Xương), Giáng Hương (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên), Lệ
Nương (Chuyện Lệ Nương), Nhị Khanh (Chuyện cây gạo), Đào Hồng Nương
và Liễu Nhu Nương (Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây), chúng tôi đã lập bảng thống
kê phát ngôn của mỗi nhân vật dựa trên nội dung, tính chất cụ thể của mỗi
lượt lời Có thể thấy, số lượng các phát ngôn của nhân vật nữ trong Truyền kỳ
mạn lục đã có sự gia tăng so với giai đoạn văn học trước Không chỉ vậy, tính
chất và mục đích của các phát ngôn cũng có sự thay đổi từ hướng thực hiện nhiệm vụ chức năng sang bày tỏ quan điểm, ước vọng cá nhân (Xem thêm ở
phần Phụ lục 1,2)
* Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu những nét cơ bản về lý thuyết diễn ngôn, mã hệ tư tưởng và mã thể loại Diễn ngôn được hiểu theo nghĩa là lời nói trong giao tiếp, cụ thể trong đề tài này là những lời đối thoại, độc thoại và
những bài thơ tự sáng tác của một số nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 37Chúng tôi sử dụng các phát ngôn của nhân vật như là một biểu hiện quan trọng của lý thuyết diễn ngôn Trong đó, hai mã cơ bản chi phối các diễn ngôn này là mã hệ tư tưởng phong kiến và mã thể loại truyện truyền kì
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu các quan niệm về chữ
“thân” dưới sự quy định của Nho giáo, Phật giáo; các dạng thức tồn tại của
đề tài tình yêu và quan niệm về “thân” từ thế kỉ X đến thế kỉ XV trong văn
học; quan niệm về người phụ nữ thời trung đại; tìm hiểu đôi nét về tác giả
Nguyễn Dữ và hệ thống nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục Chúng tôi cũng
đã phác thảo những nét cơ bản về cuộc đời, số phận và thống kê những phát
ngôn thể hiện quan niệm về “thân” của các nhân vật phụ nữ tiêu biểu trong
tác phẩm theo hai tuyến: nhân vật phụ nữ truyền thống và nhân vật phụ nữ phi truyền thống theo quan điểm đạo đức Nho giáo
Những vấn đề lí luận và thực tiễn này là cơ sở để tìm hiểu những quan niệm về tình yêu và hạnh phúc, trong đó đặc biệt chú ý quan niệm về tình yêu
đôi lứa và hạnh phúc gia đình của một số nhân vật nữ trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ lý thuyết diễn ngôn Từ đó, thấy được quan niệm về chữ “thân” mới mẻ,
tư tưởng tiến bộ, trái tim yêu thương và ngòi bút nhân đạo sâu sắc của tác giả Nguyễn Dữ so với thời đại
Trang 38Chương 2
QUAN NIỆM VỀ “THÂN” QUA PHÁT NGÔN CỦA CÁC NHÂN VẬT
PHỤ NỮ TRUYỀN THỐNG THEO QUAN ĐIỂM NHO GIÁO
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NHÌN TỪ LÝ THUYẾT DIỄN NGÔN
2.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn của các nhân vật phụ nữ truyền thống trong Truyền kỳ mạn lục dưới góc độ mã hệ tư tưởng
2.1.1 Quan niệm về “thân” qua phát ngôn về nhu cầu vật chất
Nho giáo vốn có cái nhìn khắt khe với người phụ nữ, đặc biệt là về đạo đức của họ Những người phụ nữ chuẩn mực theo quan điểm đạo đức Nho
giáo phải là những người hội tụ đủ “tứ đức” là công, dung, ngôn, hạnh và tuân thủ đạo “tam tòng” bao gồm: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu
tử tòng tử” Điều này đã cho thấy rõ quan niệm “trọng nam khinh nữ” trong
tư tưởng Nho giáo - tư tưởng rường cột của xã hội phong kiến Chính vì vậy, những nhân vật phụ nữ được Nho giáo ca ngợi thường là điển hình cho mẫu
vợ hiền, dâu đảm, mẹ phúc đức Trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ có hai nhân vật tiêu biểu cho mẫu hình này là Nhị Khanh (Chuyện người nghĩa
phụ ở Khoái Châu) và Vũ Thị Thiết (Chuyện người con gái Nam Xương)
Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu là thiên truyện thứ 2 trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, cũng là một trong những truyện gây nhức
lòng người đọc về số phận đau xót, đáng thương của người phụ nữ trong xã
hội xưa Ngay từ nhan đề, hai chữ “nghĩa phụ” đã cho ta thấy phần nào cốt
cách hiền thảo, tấm lòng ân tình của nhân vật nữ chính Nhị Khanh trong vai trò một người vợ
Theo quan niệm Nho giáo, hôn nhân là việc đại sự của đời người do cha
mẹ xếp đặt: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” Chính vì vậy, trong xã hội
phong kiến xưa, có những người cả đời phải ôm nỗi đau đớn vì kết duyên với người mình không yêu thương theo ý cha mẹ, thậm chí là rơi vào hoàn cảnh trái ngang Nhiều cô gái trong xã hội xưa đã phải sống một đời đau khổ vì bị
Trang 39gả bán vào cửa nhà giàu do lòng tham của cha mẹ, khiến họ cả đời không có được hạnh phúc riêng tư:
“Mẹ em tham thúng xôi dền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho vừa”
May mắn hơn rất nhiều người khác, Nhị Khanh và Trọng Quỳ đến với nhau bằng sự chân tình, rung động thực sự và được hai bên gia đình tác thành:
“Phùng có người con giai là Trọng Quỳ, Từ có người con gái là Nhị Khanh, gái sắc trai tài, tuổi cũng suýt soát Hai người thường gặp nhau trong những bữa tiệc, mến vì tài, yêu vì sắc, cùng có ý muốn kết duyên Châu Trần Cha mẹ đôi bên cũng vui lòng ưng cho, nhân chọn ngày mối lái, định kỳ cưới hỏi”[5.22] Như vậy, Nhị Khanh và Trọng Quỳ kết duyên bằng sự tự nguyện,
hơn thế lại là một mối nhân duyên đẹp vì hai nhà rất “môn đăng hộ đối”, đôi trai gái cũng tương xứng sắc tài Sau khi về nhà chồng, Nhị Khanh càng
chứng tỏ là người con dâu hiền thảo, nết na: “Nhị Khanh tuy còn nhỏ, nhưng
sau khi về nhà họ Phùng, khéo biết cư xử với họ hàng rất hòa mục và thờ chồng rất cung thuận, người ta đều khen là người nội trợ hiền”[5.22] Như
vậy, nàng Nhị Khanh là một điển hình cho mẫu phụ nữ theo quan điểm đạo
đức Nho giáo, hội tụ đủ tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh Là người phụ nữ
được giáo dục theo những chuẩn mực hà khắc của xã hội phong kiến, như một
lẽ đương nhiên, Nhị Khanh cũng bộc lộ sự coi nhẹ những nhu cầu vật chất, tiền tài, danh vọng tầm thường
Lần đầu tiên Nhị Khanh bày tỏ quan niệm về nhu cầu vật chất là khi nàng lấy lời ngăn bảo chồng về đạo phụ - tử Vì Lập Ngôn tính hay nói thẳng nên trong triều đình nhiều kẻ ghen ghét, muốn làm hại, hùa nhau tiến cử vào vùng Nghệ An có giặc Trọng Quỳ thấy Nhị Khanh ở lại quê nhà không thể đi
Trang 40theo mình và cha thì “có ý quyến luyến không dứt” Thấu được tâm tư của
chồng nhưng đồng thời cũng hiểu rõ đạo phụ - tử sâu nặng, Nhị Khanh đã hết
lòng giải thích cho chồng về tình thế gian nguy của cha hiện tại: “Nay nghiêm
đường vì tính nói thẳng mà bị người ta ghen ghét, không để lại nơi khu yếu,
bề ngoài vờ tiến cử đến chốn hùng phiên, bề trong thực dồn đuổi vào chỗ tử địa Chả lẽ đành để cha ba đào muôn dặm, lam chướng nghìn trùng, hiểm nghèo giữa đám kình nghê, cách trở trong vùng lèo mán, sớm hôm săn sóc, không kẻ đỡ thay? Vậy chàng nên chịu khó đi theo…” [5.23] Chỉ với vài câu
nói ngắn gọn, khúc chiết, hợp tình hợp lẽ mà Nhị Khanh đã bộc lộ được đức
hi sinh cao cả, tấm lòng tôn kính cha chồng của người con dâu và sự tinh tế, sâu sắc của một người vợ biết đạo lí Biết chồng quyến luyến mình không nỡ rời xa, nàng đã ngay lập tức ngăn bảo, không để chồng bị phân vân nhụt chí
và cha chồng phải nặng lòng suy nghĩ Tâm ý của nàng cũng trong sáng vô
cùng Mục đích duy nhất trong lời khuyên chồng đi theo cha là để “sớm hôm
săn sóc” [5.23], giúp cha vượt qua khó khăn, gian khổ Nàng không hề nhắc
tới tiền tài, công danh hay những chiến tích hào hoáng khi trở về Có lẽ trong lòng Nhị Khanh khi ấy, sự bình an của cha và chồng nàng mới là trên hết Không màng danh vọng cho chồng, Nhị Khanh dường như cũng quên đi những nhu cầu bản năng của một người vợ trong lời khuyên ấy Những người phụ nữ yêu thương chồng chẳng có ao ước nào lớn hơn là được chăm sóc, gần gũi cạnh chồng sớm tối Có người phụ nữ nào lại nỡ đẩy chồng mình vào nơi
tử địa? Có người phụ nữ nào muốn rơi vào cảnh vợ chồng biệt ly, đêm đêm
lạnh lẽo “giường không gối chiếc”? Nhưng, nàng Nhị Khanh trong Chuyện
người nghĩa phụ ở Khoái Châu đã vượt lên trên “thói nữ nhi thường tình” và
chấp nhận hi sinh hạnh phúc riêng tư của cá nhân mình cho người mà nàng
kính trọng: “Thiếp dám đâu đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo Mặc dầu
cho phấn nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng thắc mắc bận lòng đến chốn hương khuê” [5.23] Trong câu nói này, nàng nhắc nhở chồng
về đạo lí làm con, trách nhiệm và gánh nặng của chữ Hiếu to lớn đến nhường