Vì vậy đã đến lúc pahỉ tổng kết lại những thành tựu nghiên cứu đi trước, làm tiền đề cho việc biên soạn một bộ giáo trình văn học Việt Nam mới, trong đó có giai đoạn Văn học VN TK.XVIII
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH VÀ NHÂN VĂN
********
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỚI VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ TK.XVIII ĐẾN GIỮA TK.XIX
Quyết định: 285/ XHNV-SĐH-QLKH
Chủ nhiệm đề tài: PGS TS LÊ GIANG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC TỪ ĐẦU TK.XVIII – GIỮA THẾ KỶ XIX (HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 1) 5
1 TÌNH HÌNH VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 5
2 TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA TRONG VĂN HỌC 7
3 NGUYÊN NHÂN NẢY SINH TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA TRONG VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 17
CHƯƠNG 2: CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM KHÚC 25
VÀ THỂ LOẠI NGÂM KHÚC 25
1 CHINH PHỤ NGÂM 25
2 CUNG OÁN NGÂM KHÚC 49
3 THỂ THƠ SONG THẤT LỤC BÁT 61
CHƯƠNG 3: HỒ XUÂN HƯƠNG, BÀ HUYỆN THANH QUAN 67
VÀ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT 67
1 HỒ XUÂN HƯƠNG 67
2 BÀ HUYỆN THANH QUAN 86
3 THỂ THƠ NÔM ĐƯỜNG LUẬT 91
CHƯƠNG 4: NGUYỄN DU 103
1 CUỘC ĐỜI 103
2 TINH THẦN NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU 106
3 TRUYỆN KIỀU 117
CHƯƠNG 5: NGUYỄN CÔNG TRỨ VÀ THỂ THƠ HÁT NÓI 168
1 NGUYỄN CÔNG TRỨ 168
2 THỂ THƠ HÁT NÓI : 183
CHƯƠNG 6: CAO BÁ QUÁT VÀ THƠ CHỮ HÁN 192
1 CAO BÁ QUÁT 192
2 THƠ CỔ PHONG 200
CHƯƠNG 7: LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 208
1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH LÝ LUẬN VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 208
2 LÊ QUÝ ĐÔN, NHÀ NGHIÊN CỨU - LÝ LUẬN VĂN HỌC 218
3 PHÊ BÌNH TRUYỆN KIỀU: MỘNG LIÊN ĐƯỜNG CHỦ NHÂN VÀ PHONG TUYẾT CHỦ NHÂN 222
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 230
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn học Việt Nam TK.XVIII – giữa TK.XIX là giai đoạn phát triển đỉnh cao của văn học cổ điển Việt Nam Từ trước đến nay đã có nhiều giáo trình viết về giai
đoạn ấy, mà bộ giáo trình dày dặn nhất là Văn học Việt Nam nửa cuối TK.XVIII
nửa đầu TK.XIX của GS Nguyễn Lộc (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
xuất bản) Tuy nhiên công trình ấy ra đời cách nay cũng đã lâu: Tập 1 in năm 1976, tập 2 in năm 1978 Từ bấy đến nay đã biết bao công trình nghiên cứu về tác gia, tác phẩm vủa giai đoạn ấy; nhiều quan điểm đánh giá đã thay đổi, nhiều phương pháp nghiên cứu mới đã ra đời và áp dụng thành công trong nghiên cứu văn học
Vì vậy đã đến lúc pahỉ tổng kết lại những thành tựu nghiên cứu đi trước, làm tiền
đề cho việc biên soạn một bộ giáo trình văn học Việt Nam mới, trong đó có giai
đoạn Văn học VN TK.XVIII – giữa TK.XIX này
2 Nguyễn Đổng Chi (1942), Việt nam cổ văn học sử, Nxb.Hàn Thuyên, H
3 Nghiêm Toản (1949): Việt Nam văn học sử : Trích yếu, Sài Gòn : Nhà sách
Vĩnh Bảo, T.1, T2
4 Hà Như Chi (1950): Việt Nam thi văn giảng luận : Từ khởi thuỷ đến cuối
thế kỷ XVIII, Sài Gòn, Tân Việt xb
Miền Nam 1954-1975
Trang 45 Nguyễn Văn Siêu: Lịch sử văn học Việt Nam: Từ thời thượng cổ đến hiện
đại / Lê Văn Siêu - H : Nxb Thế giới, 197?
6 Phạm Văn Diêu: Văn học Việt Nam
7 Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quốc học tùng thư,
S
- T 1 : Văn học truyền khẩu văn học lịch triều: Hán văn - 1967
- T 2 : Văn học lịch Triều: Việt văn, - 1967
- T 3 : Văn học hiện đại 1862-1945 - 1965
8 Thanh Lãng (1963), Văn học Việt Nam (11 tập), Phong trào văn hóa xb, SG
Miền Bắc 1954 đến nay
9 Nhóm Lê quí Đôn (Vũ Đình Liên, Đỗ Đức Hiểu, Lê Trí Viễn) (1957) :
Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 và tập 2 - H : Xây dựng
10 Ban Văn Sử Địa (Văn Tân, Hoài Thanh, Nguyễn Đổng Chi…): Sơ thảo lịch
sử văn học Việt Nam, Q.4: Thế kỷ thứ 18, (H : Nxb Văn sử địa, 1959),
Q.5: Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX (H Sử học, 1960)
11 Đại học sư phạm Hà Nội (Lê Trí Viễn, Nguyễn Đình Chú, Phan Côn, Đặng
Thanh Lê) : Lịch sử văn học Việt Nam, NXB Giáo dục (xuất bản nhiều lần)
12 Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Sĩ Cẩn, Hoàng Ngọc Trì (1989), Văn học Việt
Nam, Nxb Giáo dục
13 Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam: Lịch sử văn học Việt Nam, Nxb.KHXH,
Hà Nội, 1980
14 Nguyễn Lộc (1976), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX, tập 1, Nxb.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H
15 Nguyễn Lộc (1978), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX, tập 2, Nxb.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H
Trang 5Mỗi bộ có cái hay riêng, nhưng tất cả đều đã được biên soạn từ khá lâu Gần đây nhất cũng đã 33 năm Từ đó đến nay chưa có bộ nào thực sự mới mẻ cập nhật hóa được tình hình nghiên cứu
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Những nghiên cứu mới về văn học Việt Nam TK.XVIII-giữa TK.XIX
- Thời gian những nghiên cứu ấy từ 1985 lại đây
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp chủ đạo là nghiên cứu lịch sử xã hội, coi văn học như một sản phẩm có tính lịch sử xã hội
- Kết hợp với việc nghiên cứu thi pháp học và phong cách tác giả
- Tham khảo cách viết giáo trình của các nước trong khu vực cùng một hệ hình văn học viết: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc để hiện đại hóa việc viết giáo trình Văn học Việt Nam
- Đúc kết lại những thành tựu nghiên cứu từ trước 1985, đặc biệt chú ý những thành tựu sau 1985 đến nay về văn học giai đoạn này thành những Chương mục cụ thể để chuẩn bị cho soạn giáo trình Có thể coi đây như một tập đề cương giáo trình đã được cập nhật hóa tình hình
- Đề xuất cho một giáo trình mới về văn học giai đoạn này
6 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, đề tài chia thành 7 chương Cuối mỗi chương có cung cấp một thư mục những thành tựu chính về văn học giai đoạn này
Trang 6- Chương 1: Tổng quan về văn học từ đầu TK.XVIII đến giữa TK.XIX (Hậu
kỳ trung đại 1)
- Chương 2: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc và thể loại ngâm khúc
- Chương 3: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan và thơ Nôm Đường luật
- Chương 4: Nguyễn Du
- Chương 5: Nguyễn Công Trứ và thể Hát nói
- Chương 6: Cao Bá Quát và thơ chữ Hán
- Chương 7: Lý luận, phê bình văn học Hậu kỳ trung đại
Trang 7CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ VĂN HỌC TỪ ĐẦU TK.XVIII – GIỮA
THẾ KỶ XIX (HẬU KỲ TRUNG ĐẠI 1)
1 Tình hình văn học Hậu kỳ trung đại
2 Trào lưu Nhân văn chủ nghĩa trong văn học Hậu kỳ trung đại
3 Nguyên nhân nảy sinh trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong văn học
1 TÌNH HÌNH VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI
1.1 Tình hình văn học
1.1.1.Lực lượng sáng tác
Trước TK.XVIII: Tăng lữ, quý tộc, Nho sĩ hành đạo, Nho sĩ ẩn dật (hiển nho, đường quan)
Đến bây giờ là: Nho sĩ tài tử: Các nhà nho đỗ đạt, quan chức thấp (hàn nho, tài
tử từng trải nhiều, phóng khoáng) Tăng cường nhà nho lớp dưới (nhà nho bình dân)
Giai đoạn này nhà nho có hai loại chủ yếu :
Nho sĩ bình dân: tác giả truyện nôm khuyết danh
Nho sĩ tài tử: Phạm Thái, Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát
Nhà nho lớp trên bị cuốn vào trong bão táp của thời đại, nhiều thăng trầm : Ôn Như Hầu, Ninh Tốn, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ …
Sự có mặt và thành công của các tác giả nữ : Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Ngọc Hân, Mai Am, Huệ Phố
Trang 8Thơ: Đường luật: Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan (Không có cổ phong Nôm)
Phú Nôm: Ngã ba Hạc phú (Nguyễn Bá Lân), Tụng Tây Hồ phú (Nguyễn Huy Lượng), Chiến Tụng Tây Hồ phú (Phạm Thái), Trương Lưu hầu phú (Nguyễn Hữu Chỉnh), Hàn nho phong vị phú (Nguyễn Công Trứ), Tài tử đa cùng phú (Cao Bá Quát), Gia Định phú (Khuyết danh)
Văn tế Nôm: Văn tế Võ Tánh và Ngô Tòng Châu (Đặng Đức Siêu), Văn tế
Trương Quỳnh Như (Phạm Thái), Khóc chị (Nguyễn Hữu Chỉnh), Văn tế vua Quang Trung (Ngọc Hân công chúa), Tế chiến sĩ trận vong (Nguyễn Văn Thành)
Song thất lục bát - ngâm khúc: Hoài Nam khúc (Hoàng Quang), Ai tư vãn (Ngọc Hân công chúa), Chinh phụ ngâm khúc (Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích),
Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Nguyễn
Du), Tự tình khúc (Cao Bá Nhạ)
Lục bát - truyện thơ nôm: Truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào), Truyện Hoa
Tiên (Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Thiện), Mai Đình Mộng ký (Nguyễn Huy Hổ), Ngọc Kiều Lê (Lý Văn Phức), Truyện Tây Sương (Nguyễn Lê Quang – bạn Lý văn
Phức, mất thời Tự Đức)
Truyện thơ Nôm khuyết danh: Trê Cóc, Phan Trần, Nhị độ mai, Quan Âm Thị
Kính, Phạm Công- Cúc Hoa, Phạm Tải-Ngọc Hoa, Thoại Khanh – Châu Tuấn,
Trang 9Tống Trân – Cúc Hoa, Phương Hoa, Lý Công, Truyện Thạch Sanh, Truyện Trinh Thử
Hát nói : Chim trong lồng (Nguyễn Hữu Cầu), Nguyễn Công Trứ, Cao Bá
Quát
Không có tản văn bằng chữ Nôm
1.1.3 Phong cách :
Phong cách đa dạng : nhiều tác giả khác nhau và trong cùng một tác giả:
Lãng mạn: Chinh phụ ngâm; cổ điển, bác học: Cung oán ngâm; Lãng mạn – hiện thực: Truyện Kiều; Cao nhã, bình đạm: Bà Huyện Thanh Quan, Trẻ trung sôi nổi:
Hồ Xuân Hương…
2 TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA TRONG VĂN HỌC
2.1 Khẳng định con người và cuộc sống trần thế :
Vấn đề quyền hạnh phúc của con người
Ca ngợi vẻ đẹp hình thể:
- Ninh Tốn :
Mã thượng mỹ nhân
Dương liễu xuân đê chính trước tiên,
Vô đoan mã thượng kiến thiền quyên
Bí trì ngọc lộ song chi duẫn,
An cứ kim loan lưỡng ngẫu liên
Thành tiếu hoán nhân thiên lý mộng,
Ba tình tống ngã nhất hồi duyên
Hồng trang đương đắc tang bồng sự,
Trang 10Mạc thị nga cung nữ kiếm tiên
(Đường xuân nhẹ phất tay roi
Ngựa ai kìa thoáng bóng người thiền quyên Bên yên đôi cặp ngó sen
Tay măng muôm muốt buông ghìm cương hoa
Nụ cười tỉnh khách mơ xa Sóng thu giây phút đưa qua bàng hoàng Quần hồng gánh việc bồng tang Phải chăng cung quế đây nàng kiếm tiên)
Lỗ công dịch
- Hồ Xuân Hương : Tranh tố nữ
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình, Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng, Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
Xiếu mai chi dám tình trăng gío,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ, Trách anh thợ vẽ khéo vô tình
Chơi đài Khán xuân Trấn Võ: “Nào nào cực lạc là đâu tá?/ Cực lạc là đây
chín rõ mười”
- Nguyễn Công Trứ, nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng hành lạc chủ nghĩa
trong văn học: “Trời đất cho ta một cái tài/ dắt lưng dành để tháng ngày chơi”;
“Cuộc hành lạc bao nhiêu là lãi đấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù”…
Trang 11- Chinh phụ ngâm tuyên bố về chữ Tình và niềm hạnh phúc ngay trong cuộc
đời hiện tại:
Thiếp xin về kiếp sau này Như chim liền cánh như cây liền cành Đành muôn kiếp chữ tình đã vậy
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
2.2 Vấn đề ý thức cá nhân:
- Nhân vật ý thức về cá nhân, sự tồn tại, giá trị và niềm hạnh phúc của cá nhân : Cái tôi ẩn mình trong cái ta :
Dừng chân đứng lại trời, non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta
(Bà Huyện Thanh Quan)
Đèn có biết dường bằng chẳng biết
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi
(Chinh phụ ngâm)
- Vì đâu nên nỗi dở dang
Nghĩ mình mình lại nên thương nỗi mình
- Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa kia đã lìa cành biết sao
(Cung oán ngâm khúc)
Người mà đến thế thì thôi Đời phồn hoa cũng là đời bỏ đi
Trang 12Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay chăng
Bất tri tam bách dư niên hậu Thiên hạ hà nhân khốc Tố Như
(Độc Tiểu Thanh ký) Nguyễn Công Trứ :
Vũ trụ nội mạc phi phận sự Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Tài thao lược đã nên tay ngất ngưởng
(Bài ca ngất ngưởng)
2.3 Vấn đề quyền bình đẳng của con người
- Hồ Xuân Hương đặt vấn đề bình đẳng nam và nữ :
Ý thức về phẩm giá của người phụ nữ :
Khóc chồng
Văng vẳng bên tai tiếng khóc chồng
Trang 13Nín đi kẻo thẹn với non sông
Ai về nhắn nhủ đàn em bé Xấu máu thì khem miếng đỉnh chung
Ý thức về tài năng của người phụ nữ :
Mắng học trò dốt
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn tình húc dậu thưa
- Nguyễn Du đặt ra vấn đề bất công xã hội và bình đẳng giữa các giai tầng trong
xã hội: Sở kiến hành, Thái Bình mại ca giả
2.4 Vấn đề tự do và giải phóng cho con người
2.4.1 Tự do trước hết là trong tình yêu
Phản ứng lại đạo đức phong kiến, đè nén tình cảm tự nhiên của con người
Nhân vật trung tâm : Tài tử giai nhân Trong đó người phụ nữ rất chủ động và rất
đẹp (người phụ nữ mất tự do nhất trong tình yêu, nam giới không gay gắt lắm) Trong tình yêu: tài tử giai nhân, chủ yếu là giai nhân – không theo tiêu chuẩn đạo đức phong kiến
Đề cao chung thuỷ trên căn bản tình yêu chứ không phải căn bản đạo lý như liệt
nữ trong các bộ sử phong kiến
Tình yêu tự do vượt ra ngoài vòng lễ giáo, nhưng điều hoà mâu thuẫn, chưa dám đối đầu với đại gia đình phong kiến : tình yêu tự do nhưng ngẫu nhiên mà gặp được người mà cha mẹ đã hứa hôn từ trước, hoặc vẫn đảm bảo môn đăng hộ đối, nên cha mẹ được đặt trong sự đã rồi nhưng đều mặc nhiên chấp nhận Đó là các
truyện : Truyện Song Tinh, Truyện Kiều, Truyện Hoa Tiên, Sơ kính tân trang Các
Trang 14truyện nôm khuyết danh : Tống Trân Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Thoại Khanh
Châu Tuấn
Truyện Song Tinh (Nguyễn Hữu Hào) : kể về mối tình giữa Song Tinh (tự Bất
Dạ) với Nhụy Châu Khi mới sinh ra Song Tinh được cha cho người bạn đồng liêu
là Giám Hồ làm con nuôi Sau đó Giám Hồ cũng sinh được một người con gái là Nhụy Châu công dung ngôn hạnh vẹn toàn Cha Song Tinh mất, hai gia đình cách trở đôi nơi Song Tinh lớn lên, Song bà khuyên con đến nhà Giám Hồ trọ học Song Tinh và Nhụy Châu mặc dù là anh em nuôi nhưng tình yêu vẫn nảy nở, Siong tinh tương tư tưởng chết, Giám Hồ phải hứa gả Nhụy Châu cho Nhụy Châu
bị một viên công tử cầu hôn không được nên lập kế đưa nàng tiến cung Nhụy Châu trao duyên cho cô hầu là Thể Vân, trên đường tiến cung, nhảy xuống sông tự
tử, nhưng được người nhà Song bà cứu sống Sau Song Tinh đậu trạng nguyên, đánh được giặc Phiên, cả nhà sum họp
Truyện Hoa Tiên (nguồn gốc từ một ca bản đời Minh, Nguyễn Huy Tự chuyển
sang quốc âm và đặt tên là Hoa tiên ký, sau Nguyễn Thiện nhuận sắc lại mà đổi thành Hoa tiên truyện) Truyện kể lại mối tình giữa Lương sinh và Dao Tiên
Lương sinh trọ học mà quen Dao Tiên hai người thề nguyền viết lên hai tờ giấy hoa tiên Thế nhưng ở nhà cha Lương sinh đã hứa hôn cho chàng với Lưu Ngọc Khanh, bạn mình Lương sinh phải theo lời cha trở về Dao Tiên rất đau khổ nương náu ở kinh đô Lương sinh thương nhớ Dao Tiên trở lại kinh đô tìm nhưng không gặp Sau chàng thi đậu được bổ làm quan ở kinh đô gần chỗ Dao Tiên, hai người gặp nhau Lưu Ngọc Khanh, vị hôn thê mà cha chọn cho, bị mẹ nàng ép gả cho người khác, nàng nhảy xuống tự tử, nhưng được cứu sống Cuối cùng Lương sinh kết hôn với cả hai : Doa Tiên , Lưu Ngọc Khanh Chàng còn lấy hai thị tỳ của Dao Tiên , những người có công giúp chàng và Dao Tiên quen nhau
Truyện Sơ kính tân trang (Gương lược trang điểm mới) của Phạm Thái(1), truyện thơ ít nhiều có tính chất tự truyện viết về một tình yêu mãnh liệt chống lại
1
Phạm Thái (1777 - 1813): tự Đan Phượng, hiệu Chiêu Lỳ, đạo hiệu Phổ Chiêu thiền sư, quê Yên
Thường, Đông Ngàn, Kinh Bắc Cha là Thạch Trung hầu Phạm Đạt, võ quan triều Lê Cảnh Hưng Khi Lê
Trang 15cường quyền Tác phẩm được viết vào năm 1804, gồm 1482 câu chủ yếu là lục bát, đôi chỗ có chen thơ song thất lục bát, từ và thơ Đường luật:
Phạm Công người Từ Sơn, Kinh Bắc chơi rất thân với Trương Công quê ở Kiến Xương, Sơn Nam Hai bên giao hẹn hễ một bên sinh trai, một bên sinh gái thì
sẽ kết làm thông gia Phạm Công nhận của trương Công một chiếc gương vàng và trao lại một bên cái lược ngọc để làm tin Cả hai cùng thi đậu cao Phạm Công có con trai, đặt tên là Phạm Kim Trương Công vẫn chưa có con gái
Trong nước loạn ly, Phạm Công tổ chức lực lượng Cần vương nhưng thất bại Phạm Kim (con trai Phạm Công) lớn lên cũng mong nối chí cha, nhưng chẳng làm được gì Một ngày kia đến Thú Hoa Dương thấy cảnh đẹp mà ở lại Một hôm có người thị nữ đến bẻ hoa nhà Phạm Kim, người tớ trai Phạm Kim tên Yến vào xin phép Phạm Kim, Kim cho phép Sau Yến đến nhà người thị nữ mà biết được cô chủ là Quỳnh Thư, về báo với Phạm Kim, hai bên trao đổi thư từ rồi yêu nhau tha thiết
Phạm Kim có việc phải về quê, trong khi đó có viên Đô đốc ở Kinh kỳ nghe tiếng Quỳnh Thư đẹp nên đến cưới nàng Gia đình không muốn gả, nhưng trước sức ép của hắn mà cha Quỳnh Thư buộc phải đồng ý Quỳnh Thư tức tốc viết thư nhắn Phạm Kim về, rồi đang đêm lẻn vào phòng tâm sự với người yêu Không có cách nào khác Quỳnh Thư hẹn người yêu kiếp sau, tặng chàng đôi vòng hồ điệp và viết vào tay mình hai chữ “Quỳnh Nương” Phạm Kim tặng lại nàng vòng vàng làm kỷ vật Sáng hôm sau đúng ngày rước dâu, Quỳnh Thư dặn bảo thị nữ Hồng nương lấy tiểu đồng của Phạm Kim là Yến, rồi uống thuốc độc tự tử
Trịnh sụp đổ, Phạm đạt dấy quân Cần Vương nhưng bị thất bại rồi mất Phạm Thái lớn lên nối chí cha, nhưng phong trào mới dấy lên đã thất bại, ông phải sống lẩn lút khắp nơi, sau tu ở chùa vùng Kim Sơn, Sơn Nam Phạm Thái chơi rất thân với người bạn tên là Trương Đăng Thụ, cả hai đang theo mộng Cần Vương thì Trương qua đời Được tin bạn đã được an táng ở quê nhà là làng Thanh Nê, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam, Phạm Thái về viếng mồ bạn Ở đấy ông gặp Trương Đăng Quỹ cha của bạn mình, được ông yêu quý, cho ở lại làm gia sư Mối tình giữa Phạm Thái và TRương Quỳnh Như, nữ sĩ, con gái Trương Đăng Quỹ nảy sinh rồi trở nên rất thắm thiết Sau mối tình bị ngăn trở, Quỳnh Như lấy cái chết
để trả giữ trọn tình yêu với Phạm Thái Trước nỗi mất mát đau thương ấy, Phạm Thái bế tắc, lâm vào thơ rượu, không thếit gì đến thời cuộc nữa Nguyễn Anh lên ngôi, ông không chịu ra làm quan, mà lãng du khắp nơi, rồi mất ở Thanh Hóa
Trang 16Phạm Kim đau khổ, chàng ốm nặng Trong mơ chàng thấy Quỳnh Thư, được nàng cho biết nàng là tiên nữ, vì đánh vỡ chén ngọc mà phải bị đày xuống trần Quỳnh Nương sai tiểu đồng đưa thuốc tiên cho Phạm Kim chữa bệnh Khỏi bệnh, chàng cho Yến – Hồng lấy nhau, còn mình thì bỏ đi tu, sau ở lại chùa ở vùng Kim Sơn
Trương Công cũng dấy quân Cần Vương nhưng cũng chẳng được gì Về già, lúc ngoài 60 tuổi, vợ lẽ ông sinh được một con gái Con gái được đặt tên là Thụy
Châu, càng lớn càng đẹp đẽ “Châu sơ chỉn xứng tân trang” (Nàng vốn xứng với
đồ trang sức mới là lược ngọc - câu 907) Lớn lên nàng cải nam trang đi vân du như một đạo sĩ Đến Kim Sơn gặp Thiền tăng Phạm Kim ở đó, hai bên đàm đạo, xướng họa rất tương đắc Phạm Kim ngờ người nói chuyện với mình là nữ, từ đó không thiết tu hành gì nữa Sau nghe tin Trương Công đang ở trong vùng cần người dạy học, bèn đến xin yết kiến, và được cho ở lại làm gia sư Một hôm nhờ tiếng đàn của Thụy Châu, hai bên họa đàn mà nhận ra gia thế Phạm Kim và Thụy Châu mang gương lược ra đối chiếu, mới biết là hai người đã được cha mẹ đính hôn từ trước Trương Công cho hai người lấy nhau, và khuyên Phạm Kim cố gắng học hành Phạm Kim lấy Thụy Châu nhưng vẫn băn khoăn về mối tình với Quỳnh Thư Một hôm thấy chồng không vui, Thụy Châu gạn hỏi, Phạm Kim bèn kể mối tình với Quỳnh Thư, Thụy Châu bèn giơ tay ra ra thấy có dấu chữ “Quỳnh Nương” mới biết Quỳnh Thư là tiền thân của Thụy Châu Hai người sống với nhau rất hạnh phúc
Chỉ có mỗi một lần từ thực tế cuộc sống, văn học đặt vấn đề đối đầu giữa hôn nhân phong kiến và tình yêu của tuổi trẻ Tuổi trẻ đã chọn cái chết để bảo vệ cho
tình yêu của mình : Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái :
Nương tử ơi, chướng căn ấy bởi vì đâu? oan thác ấy bởi vì đâu ? Cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm ?
Lại có điều đau đớn thế ! Nhà huyên ví có năm có bảy, mà riêng mình đeo phận bạc, thì lửa nguội nước vơi còn có lẽ
Trang 17Thương hại thay ! Hoa có một cành, tuyết có một điểm, nguyệt có một vầng, mây có một đóa(1) Thân là thân hiếm hoi chừng ấy, nỡ nào lấy đôi mươi năm làm một kiếp, mà ngơm ngớp chốn non Bồng nước Nhược, đỉnh gì không đoái kiếp phù sinh?
Ví dù kiếp mà tiên thù với tục, sao xưa vâng mệnh xuống trần chi? Nay
đã nguyện thân này cho vẹn kiếp, thì cũng trọn ba vạn sáu nghìn ngày cho đủ lệ: nọ xuân huyên, kìa phu tử, góp với trần gian không chút bận, rồi sẽ giong choi nơi chín suối, cớ gì riêng mà bỗng vội vàng chi?
Ôi chữ mệnh hẹp hòi, chữ duyên suồng sã, những như thân gia ấy tình cảnh ấy, ngược xuôi kia cũng ngậm ngùi cho Huống chi ta cùng nương
tử, tuy chẳng thân kia thích nọ, nhưng tình duyên là chừng ấy, cũng là một chút cương thường Dẫu rằng kẻ đấy người đây, song ân ái bấy lâu nay, đã biết bao tâm sự
Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi thời(2) cho nấn ná nhân duyên; Mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm, chua xót cũng vì đâu? não nuột cũng vì đâu ?
Nay qua nấm cỏ xanh tưởng người phận bạc Sụt sùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn Đốt xuống tuyền đài tỏ cùng nương tử
2.4.2 Khát vọng giải phóng
Vấn đề tự do về phương diện chính trị chưa được đặt ra nhưng khát vọng giải phóng được gửi gắm vào sức mạnh quật khởi của quần chúng :
Lê Ngọc Hân : Ai tư vãn
Nghe trước có đấng vương Thang Võ
Công nghiệp nhiều tuổi thọ thêm cao
Trang 18Mà nay áo vải cờ đào Giúp dân dựng nước biết bao công trình ! Nghe rành rành trước sau Nghiêu Thuấn Công đức dày ngự vận càng lâu
Mà nay lượng cả ơn sâu Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần
Công dường ấy mà nhân dường ấy Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công ? Rộng cho chuộc được tuổi rồng Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi
Truyện Kiều: nhân vật Từ Hải “Chọc trời khuấy nước mặc dầu / Dọc ngang nào
biết trên đầu có ai”
Chim trong lồng (Tương truyền là của Nguyễn Hữu Cầu – Quận He, khởi nghĩa
trong 8 năm từ 1743 đến 1751) : Khát vọng giải phóng ra khỏi ràng buộc của chế
độ chuyên chế gửi vào giấc mộng “tự do tuyệt đích” của Lão Trang và phong cách
“anh hùng thảo dã” :
Nhất lung thiên địa tàng nhân tiểu Vạn lý phong vân cử mục tần
Hỏi sao sao lụy cơ trần?
Bận tài bay nhảy, xót thân tang bồng
Nào khi vỗ cánh rỉa lông Hát câu thiên túng trong vòng lao lung ! Chim oanh nọ vẫy vùng giậu bắc
Đàn loan kia túc tác cành nam
Trang 19Mặc bay đông ngữ tây đàm Chờ khi phương tiện dứt dàm vân lung Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán Phá vòng vây bạn với kim ô
Giang sơn khách diệc tri hồ ?
3 NGUYÊN NHÂN NẢY SINH TRÀO LƯU NHÂN ĐẠO CHỦ NGHĨA TRONG VĂN HỌC HẬU KỲ TRUNG ĐẠI
3.1 Sự mục ruỗng của chế độ phong kiến
1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi mở ra cục diện Nam – Bắc triều cho đến cuối thập niên 70 của TK.XVI.(Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải,…cuối cùng : Mạc Kính Vũ : 1638-1677)
1558 cát cứ Trịnh Nguyễn kéo dài gần 200 năm những ông chúa còn có chút sức mạnh, uy quyền thời kỳ đầu : Trịnh Kiểm phò vua, Trịnh Tùng tài thao lược, rồi Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn ở Đàng Ngoài; Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Sãi), Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng), Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền), Nguyễn Phúc Trăn (Chúa Nghĩa)- ở Đàng Trong… cũng đã qua Các chúa Trịnh cũng rơi vào ăn chơi sa đọa, không còn đủ sức quản lý được đất nước nữa : Trịnh Giang hoang dâm tàn ác vô độ, phải đào hầm sợ sét đánh, Trịnh Sâm say mê thứ phi Đặng Thị Huệ, bỏ trưởng Trịnh Khải, lập thứ Trịnh Cán Quyền thần nổi lên Đàng Ngoài là kiêu binh Ngoại thích Đặng Mậu Lân em Đặng Thị Huệ hung ác hoang dâm
Đàng Trong: Trương Phúc Loan (thời võ vương Nguyễn Phúc Khoát) giàu có, gian tham, tác oai tác quái, lập Định vương Nguyễn Phúc Thuần
Trang 20Lê Chiêu Thống hèn hạ: Giấy má đi các nơi viết niên hiệu Càn Long thay vì Chiêu Thống, ngày ngày đến dinh Tôn Sĩ Nghị nghe việc quân quốc, dóc tóc bắt chước người Thanh
3.2 Đời sống khốn cùng của nhân dân và sự bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân
Ở Đàng Ngoài :
Năm Tân Dậu 1741, nạn đói kém xảy ra, đặc biệt là ở Hải Dương :
Làng xóm “cỏ hoang rập rạm ngập mắt, ruộng đất hầu thành rừng rậm” (Vũ
Ăn thịt xác tử tù, mẹ ăn thịt con, canh thịt người Phạm Nguyễn Du trong Nam
hành ký đắc có bài Văn cùng dân mẫu tử tương thực hữu cảm (Cảm xúc khi nghe
chuyện dân đói mẹ phải ăn thịt con)
Trang 21- Nguyễn Du :
Tráng sĩ bạch đầu bi thướng thiên Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên Xuân lan thu cúc thành hư sự
Hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên
(Tạp thi) Bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân :
Hoàng Công Chất (1736 – 1769)
Nguyễn Danh Phương (1740 –1750)
Nguyễn Hữu Cầu (1741 – 1751) :
“Năm Canh Thân và năm Tân Dậu (1740 – 1741) liền hai năm mất mùa đói kém, vùng Hải Dương lại đói kém hơn cả Hữu Cầu cướp thuyền buôn lấy đuợc thóc gạo, liền chia cho dân, nhờ đấy nhiều người được cứu sống …cho nên Hữu Cầu tuy thường bị thua đau, chỉ một thân thoát nạn, nhưng chỉ giơ tay hô một tiếng, thì chốc lát lại tụ họp đông như mây, vì thế có thể tung hoành ở mặt đông bắc, là
tên giặc kiệt liệt nhất một thời” (Việt sử thông giám cương mục)
Cuộc khởi nghĩa của Chàng Lía cuối thế kỷ 18 ở Bình Định
Khởi nghĩa Tây Sơn (1771) thực hiện được cả hai loại chiến tranh chính nghĩa trong lịch sử thời phong kiến, từ khởi nghĩa nông dân mà trở thành một phong trào dân tộc : dánh quân xâm lược Xiêm trong trận Rạch Gầm 1785, quân Thanh trong trận Đống Đa 1789
Sang đến triều Nguyễn tình hình cũng tạm ổn được một thời gian nhưng sau đó khởi nghĩa nông dân lại nổ ra, càng ngày càng dày đặc:
17 năm Gia Long (1502 – 1819) : 50 cuộc khởi nghĩa
20 năm Minh Mạng (1820 – 1840) : 200 cuộc khởi nghĩa, lớn nhất là khởi nghĩa Phan Bá Vành
Trang 226 năm Thiệu Trị (1841 – 1847) : 50 cuộc khởi nghĩa
35 năm Tự Đức (1848 – 1883) lớn nhỏ nhiều không kể xiết
3.3 Sự phát triển mạnh mẽ của đô thị và văn hóa thị dân
Đô thị, thành thị, phố thị, cảng thị phát triển khá mạnh: Phú Xuân, Thăng Long, Gia Định, Nghệ An…Cùng với nó là sự ra đời của tầng lớp thị dân và văn hóa thị dân Trong đó ảnh hưởng của văn hóa đô thị Trung Quốc là rất rõ
Đây là cảnh buôn bán sầm uất ở Thăng Long:
“Rập rình cuối bãi đuôi nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm
bướm” (Tụng Tây hồ phú – Nguyễn Huy Lượng)
Gia Định:
“Thuyền An Nam lui tới, ghe đen mũi, ghe vàng mũi vào ra coi lòa nước; Người phương Đông qua lại, tàu xanh mang, tàu đỏ mang hàng hóa chất ngất trời (…)
Lũ Tây dương da trắng bạc, miệng dức lác, tóc quăn co, tưởng thần quỷ, thần ma, thần sát;
Quân ô rô, mặt đen thiêu, môi tếch tác, đầu quàng chít ngỡ thiên bồng, thiên tướng, thiên lôi.(…)
Nhiều nhà giàu một lạ một lùng, có kẻ giàu dư muôn dư triệu”
(Gia Định phú)
Sự phát triển của đô thị đã hình thành nên tầng lớp thị dân ngày càng đông đảo hơn : thợ thủ công, thương nhân Đời sống đô thị cùng với văn hóa thị dân Trung Hoa đã tác động vào tầng lớp nho sĩ, tạo ra một loại nhà nho đặc biệt : nhà nho tài
tử Đồng tiền có thế lực ngày càng lớn trong xã hội : không chỉ dừng lại ở vấn đề đạo đức cá nhân, mà nó còn tác động đến công lý, nhân phẩm con người
Trang 23Hệ quả :
- Sự phá sản của ý thức hệ phong kiến :
Lê Chiêu thống chạy qua sông Cầu, nhờ trấn thủ Nguyễn Cảnh Thước chở qua,
để Thước mở hòm lấy 40 lạng vàng còn lại, Cảnh Thước lại cho người đuổi theo
“lột chiếc áo ngự bào vua đang mặc, vua ứa nước mắt cởi áo ngự bào đưa cho
chúng” (Hoàng Lê nhất thống chí)
Danh sĩ, ẩn sĩ : Nguyễn Thiếp, Võ Trường Toản, Lê Hữu Trác …
- Đạo đức nho gia không được chú ý và xiển dương như trước nữa
- Sự nảy nở của trào lưu nhân đạo chủ nghĩa
Nhà nho tài tử không có một hệ tư tưởng độc lập : lấy từ bi (Phật), nhân (Khổng)
tiêu dao, phóng dật (Lão Trang), tài tử của nhà nho tài tử Trung Hoa từ Đường
Tống trở về sau Trong đó tư tưởng Lão Trang và tài tử được dùng như một lối thoát chống lại sự gò bó của Nho giáo
THƯ MỤC THAM KHẢO CHÍNH
1 Đoàn Lê Giang (2006), Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Việt Nam, Đại
học quốc gia Tp.HCM, Tp.HCM
2 Đoàn Lê Giang (2007), “Văn học cổ điển Việt Nam trong bối cảnh văn học
Đông Á” trong Văn học Việt Nam thế kỷ X – XIX – những vấn đề lý luận và lịch sử, Trần Ngọc Vương chủ biên, NXB.Giáo dục, Hà Nội,
2007
3 Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại,
Văn hoá thông tin, H
4 N Konrat (1996), Phương Đông và Phương Tây, NXB.Giáo dục, Hà Nội
5 Nguyễn Lộc (1962), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
Trang 24kỷ XIX: Giáo trình, Giáo dục, H
6 Nguyễn Lộc (1976), Văn học Việt Nam: nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX.T.1, ĐH & THCN, H
7 Nguyễn Lộc (1978), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX.T.2 phần 2, những tác giả và tác phẩm tiêu biểu (tiếp theo), ĐH &
THCN, H
8 Nguyễn Lộc (1992), Văn học Việt Nam: nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế
kỷ XIX.T1, ĐH & GD chuyên nghiệp, Tp.HCM
9 Nguyễn Lộc (1997 tái bản lần 2 có chỉnh lý bổ sung), Văn học Việt Nam
nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Giáo dục, H
10 Nguyễn Lộc (2004 tái bản lần 4), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII
- nửa đầu thế kỷ XIX, Giáo dục, H
11 Nguyễn Lộc (2005), Giáo trình văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII -
nửa đầu thế kỷ XIX: sách dùng cho hệ đào tạo từ xa, Giáo dục, H
12 Nguyễn Lộc (2006 tái bản lần 1), Giáo trình văn học Việt Nam nửa cuối
thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX: sách dùng cho hệ đào tạo từ xa, Giáo
dục, H
13 Phương Lựu (1997), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung
đại Việt Nam, Giáo dục, H
14 Phương Lựu (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam,
Giáo dục, H
15 Nguyễn Đăng Na chủ biên (2005), Văn học trung đại Việt Nam: Giáo
trình sư phạm, Đại học sư phạm, H
Trang 2516 Nguyễn Đăng Na(2006), Con đường giải mã văn học trung đại, Giáo dục,
H
17 Nguyễn Hữu Sơn (1997), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt
Nam, Giáo dục, H
18 Nguyễn Hữu Sơn (2005), Văn học trung đại Việt Nam - quan niệm con
người và tiến trình phát triển, Khoa học xã hội, H
19 Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam,
24 Văn Tân (1957), Lịch sử văn học Việt Nam Q.1: Phần ngôn ngữ văn tự và
văn học…, Nxb Văn Sử Địa
25 Văn Tân (1958), Lịch sử văn học Việt Nam Q.2: Từ thế kỷ 10 đến hết thế
kỷ 17, H Nxb Văn sử địa, Nxb Văn Sử Địa
26 Trần Nho Thìn (2003), Văn học Việt Nam: dưới góc nhìn văn hoá, Giáo
dục, H
Trang 2627 Lê Trí Viễn (1966), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam: T.3: Văn học
viết, Thời kỳ 2: giai đoạn giữa thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, giai đoạn đầu thế kỷ XIX - 1858, Giáo dục, H
28 Lê Trí Viễn (1962), Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam, Giáo dục, H
29 Lê Trí Viễn (1984), Đặc điểm có tính quy luật của lịch sử văn học Việt Nam, Tp.HCM, Tp.HCM
30 Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học trung đại, khoa học xã hội, H
31 Lê Trí Viễn, (2003 tái bản lần 1), Giáo trình tổng quan văn chương Việt
Nam, Giáo dục, H
32 Lê Trí Viễn, (2005), Giáo trình tổng quan văn chương Việt Nam: sách
dùng cho hệ đào tạo từ xa, Giáo dục, H
33 Trần Ngọc Vương (1995), Loại hình tác giả nhà nho: nhà nho tài tử, Giáo
dục, H
34 Trần Ngọc Vương (1999), Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn
chung, Giáo dục, H
35 Tuyển tập 40 năm Tạp chí nghiên cứu văn học (1960 - 1999) T.2: Văn
học cổ - cận đại Việt Nam (1999), Tp HCM, Tp HCM
36 Những bài nghiên cứu về văn học giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ
XIX trong Tạp chí nghiên cứu văn học (từ số 01/2000 đến nay), Viện Văn
học - Viện khoa học xã hội, H
Trang 27CHƯƠNG 2: CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM KHÚC
VÀ THỂ LOẠI NGÂM KHÚC
1 Chinh phụ ngâm
2 Cung oán ngâm
3 Thể loại ngâm khúc/ song thất lục bát
- Quá trình hình thành và cổ điển hóa thể loại ngâm khúc
- Hình thức và đặc trưng thẩm mỹ thể thơ song thất lục bát
Ông là người chăm học tài ba, phóng túng “đềnh đoàng, không chịu ràng
buộc” (Tang thương ngẫu lục) Ưa ngâm vịnh, nghe Đoàn Thị Điểm hay chữ, hay
thơ bèn làm một bài yết kiến bà Bà xem thơ chê trẻ con và bảo nên học thêm rồi
mới làm thơ (Tang thương ngẫu lục)
Đậu hương cống (cử nhân), hỏng thi hội, được bổ làm huấn đạo ở trường phủ, sau làm tri huyện Thanh Oai, rồi Ngự Sử đài chiếu khán, được một thời gian ngắn thì mất
Viết Chinh phụ ngâm vào khoảng những năm 1740 – 1742 Phan Huy Chú
viết: “Nhân đầu đời Cảnh Hưng việc binh nổi dậy, người ta đi đánh trận phải lìa
nhà, Đặng Trần Côn cảm thời thế mà làm ra” (Lịch triều hiến chương loại chí)
Chinh phụ ngâm là một tác phẩm nổi tiếng đương thời
Trang 28Tác phẩm: ngoài Chinh phụ ngâm, còn có một số bài phú như: Trương Hàn
tư thuần lô, Trương Lương bố y, Khấu môn thanh, 8 bài thơ Tiêu Tương bát cảnh
1.1.2 Vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm
Dịch giả Chinh phụ ngâm khúc xưa nay, mặc nhiên được coi là Đoàn Thị
Điểm
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), tự Hồng Hà “dung sắc diễm lệ, cử chỉ đoan
trang, lời nói văn hoa, sự làm lễ độ” (Đoàn thị thực lục) Thuở nhỏ từ chối không
chịu để cha nuôi là Thượng thư Lê Anh Tuấn tiến cung
37 tuổi lấy tiến sĩ Nguyễn Kiều làm kế thất, được mấy tháng Nguyễn Kiều đi
sứ ba năm Nguyễn Kiều trở về, bà theo chồng vào nhậm chức ở Nghệ An Đến nơi một thời gian ngắn thì bị bệnh mất
Giai thoại về bà có kể rằng: Sứ TQ sang, bà giả làm người bán hàng rượu Thấy sách và câu đối, sứ thần ra một vế đối chọc ghẹo thô bỉ :
An nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh
Đoàn Thị Điểm đối lại :
Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất
Tác phẩm: Truyền kỳ tân phả
1926 trên Nam Phong, ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến trong bài Phạm Dụ
Am văn tập đã đề xuất nghi vấn Phạm Huy Ích Rồi Hoàng Xuân Hãn cũng khẳng
định như vậy
Phan Huy Ích (1750 – 1822) : hiệu Dụ Am người làng Thu Hoạch, huyện
Thạch Hà, Nghệ Tĩnh con rể Ngô Thì Sĩ, sử gia thời Hậu Lê
Đậu hương nguyên, hội nguyên, đình nguyên rồi tiến sĩ Làm quan triều Lê được Trịnh Sâm trọng dụng Nhà Lê mất, ông lánh Tây Sơn Quang Trung mời ông ra cùng Ngô Thì Nhậm lo ngoại giao Nguyễn Anh lên, ông ra đầu thú, làm cố vấn giao thiệp sứ Mãn Thanh, về quê hưởng nhàn
Trang 29Tân diễn Chinh phụ ngâm thành ngẫu thuật
Nhân Mục tiên sinh Chinh phụ ngâm, Cao tình dật điệu bá từ lâm
Cận lai khoái chá tương truyền tụng,
Đa hữu thôi xao vị diễn âm
Vận luật hạt cùng văn mạch tuý, Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm
Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,
Tự tín suy minh tác giả tâm
(Nhân Mục tiên sinh một khúc ngâm Tình cao, điệu thoát dội rừng văn Nhiều người khoái chá còn truyền tụng Lắm kẻ công phu cố diễn âm
Vận luật khôn phô tinh tuý ngữ Thiên chương phải chọn khúc thanh cầm Thanh nhàn phiên dịch nên ca mới Tình ý tự tin hiểu hết tầm.)
(Vũ Đình Liên dịch)
Tác phẩm : Dụ Am ngâm lục, Dụ Am văn tập
Trang 301.2 CHINH PHỤ NGÂM, KIỆT TÁC VĂN HỌC CHỐNG CHIẾN TRANH PHI NGHĨA
1.2.1 Chủ đề Chinh phụ ngâm:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này
(Thiên địa phong trần
Hồng nhan đa truân
Du du bỉ thương hề thùy tạo nhân)
Chủ đề của tác phẩm : Phụ nữ với chiến tranh Không phải cái chết, mà chỉ là nỗi khổ: thương nhớ chồng, vì nỗi buồn tuổi trẻ qua nhanh, nhan sắc tàn phai Phải chăng cách đặt vấn đề không đi vào trọng tâm, không phổ quát và cũng kém phần sâu sắc
Chiến tranh không phải được nhìn nhận như một tai ách của trời giáng xuống,
làm hại đến nhân dân nói chung (Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; Vùi con
đỏ xuống hầm tai vạ – Nguyễn Trãi Dân sa nước lửa bấy chầy; Giặc ép mỡ dầu hết sức (…) Những bậc sĩ nông công cổ đều mang tai với súng sóng tâm; Mấy nơi tổng lý xã thôn đều mắc hại bởi cờ tam sắc - Văn tế nghĩa dân lục tỉnh trận vong -
NĐC), mà ở đây chiến tranh được nhìn nhận trong sự mâu thuẫn với hạnh phúc của con người Vấn đề tác phẩm thuộc vấn đề nhân văn, trào lưu nhân đạo chủ nghĩa
Văn học phản chiến ra đời trong điều kiện nào?
- Chiến tranh phi nghĩa
Quan trọng hơn:
- Ý thức về quyền sống, quyền hạnh phúc của con người, của cá nhân
Trang 31- Tự do tư tưởng và tự do sáng tác
Chiến tranh trong Chinh phụ ngâm:
“Đời vua Lê Ý Tôn (1735 – 1740), trong lúc Trịnh Giang cầm quyền, chính
sự hư hỏng thuế khóa nặng nề, lòng dân ao ước sự lọan lạc”, “Tốp to tốp nhỏ nổi lên khắp nơi, dân chúng miền đông nam vác cày cuốc, mang gậy gộc đi theo Đám
nhiều có đến hàng vạn, đám ít cũng kể hàng nghìn” (Việt sử thông giám cương
mục)
Đồn hỏa hiệu thay cho trạm báo tin
7 lần chiến tranh Trịnh – Nguyễn :1627 – 1633 – 1643 – 1645 – 1655 –
1661- 1670 “Đặng Trần Côn làm bản Chinh phụ ngâm có ý phúng thích họ Trịnh
toan đánh họ Nguyễn ở trong Nam” (Trương Quốc Dụng, nửa đầu thế kỷ XIX) Phan Huy Chú: “Nhân đầu thời Cảnh Hưng, việc binh nổi dậy, người ta đi
đánh trận phải lìa nhà, Đặng Trần Côn cảm thời thế mà làm ra” (Lịch triều hiến
Trang 32Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
Vương Hàn
Ở Việt Nam
Cuối TK.15 Thái Thuận đã viết về tình người chinh phụ:
Rèm thưa lòng não trăng tàn bóng Gió lạnh, châu tràn, cuốc gọi canh
Trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm:
Đản giác thụ gian minh tích tích
Hốt kinh nguyệt hạ hưởng tranh tranh
Sơ văn thú phụ sầu vô mị,
Tự xúc hàn tương nhạ bất bình
Chỉ thấy trong cây kêu tích tích,
Lại nghe non nỉ dưới trăng thanh
Nhớ chồng chinh phụ buồn không ngủ,
Giục giã dế kia tỏ nỗi mình (ĐLG dịch)
1.2.2 “Hình ảnh kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ”
1.2.2.1 Trước lúc xuất quân : Người chinh phu là một võ quan phong kiến
Trang 33Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh Nước thanh bình ba trăm năm cũ
Áo nhung trao quan vũ từ đây
Sứ trời sớm giục đường mây Phép công là trọng niềm tây sá nào
- Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt Xếp bút nghiên theo việc đao cung Thành liền mong tiến bệ rồng Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào ào gió thu
- Danh giá, được tin cậy
1.2.2.2 Buổi tiễn đưa :
Người phụ nữ dành toàn bộ cho đời sống tình cảm: buồn bã, thương cảm, quyến luyến, còn ngươi chồng thì “chí vạn dặm”
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi
Dạ chàng xa ngoài cõi thiên san
Trang 34Múa gươm rượu tiễn chưa tàn
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba
Ao chàng đỏ tựa ráng pha Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in Nhưng hình như cũng không che dấu được thói “nữ nhi thường tình” không được vẻ lạnh lùng kiên quyết của người tráng sĩ thời cổ:
- Chàng thì đi cõi xa mưa gió Thiếp lại về buồng cũ gối chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn Tuôn màu mây biếc trải ngàn núi xanh Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mầy trùng Cùng quay lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai
1.2.2.3 Nơi chiến địa:
- Chiến trường không phải là những địa danh trong sách vở, nơi mà những võ tướng tha hồ đánh giặc lập công Thực tế đó là những vùng hoang địa với gió cát, đồng không khô quạnh, hiu hắt :
Chàng từ đi vào nơi gió cát
Trang 35Đêm trăng này nghỉ mát nơi nao Xưa nay chiến địa dường bao Nội không muôn dặm xiết bao giã dầu
- Đầy hiểm nguy :
Những người chinh chiến xưa nay Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây
- Cái chết ám ảnh, cảnh tượng đẹp mà lạnh lùng thê lương, ma quái Từ khung cảnh ấy hiện lên những khuôn mặt tử sĩ bất động :
Non Kỳ quặnh quẽ trăng treo(1) Bến Phì gió thốc đìu hiu mấy gò(2) Hồn tử sĩ gió ừ ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
- Hệ quả tất yếu phù hợp với sự phát triển logích, hình tượng chinh phu chỉ có hai con đường :
Trang 36Phận trai già ruổi chiến trường Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về
Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền Nước có chảy mà phiền chẳng rửa
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây Nhủ rồi nhủ lại cầm tay
Bước đi một bước day day lại dừng
- Lúc đầu người chồng thất hẹn, không về như đã hứa Người chinh phụ mong chờ, thất vọng, rồi ra oán trách :
Tin thường lại người không thấy lại Hoa dương tàn đã trải rêu xanh Rêu xanh mấy lớp chung quanh Dạo sân một bước trăm tình ngẩn ngơ
Tin thường tới người chưa thấy tới Bức rèm thưa lần dãi bóng dương Bóng dương mấy buổi xuyên ngang Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai
Trang 37- Người vợ ở nhà phải khổ sở vất vả nuôi cha mẹ già, dạy dỗ con thơ thay người chồng :
Tình gia thất nào ai chẳng có Kìa lão thân, khuê phụ nhớ thương
Mẹ già phơ phất mái sương Con thơ măng sữa vả đương bù trì Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân Nay một thân nuôi già dạy trẻ
Nỗi quan hoài mang mể biết bao
- Nhớ mong không biết làm gì, người chinh phụ mang những kỷ vật thời xưa ra coi lại :
Thoa cung Hán(1) thuở ngày xuất giá Gương lầu Tần(2) dấu đã soi chung Cậy ai mà gửi tới cùng
Để chàng thấu hết tấm lòng tương tư
- Tin tức thưa dần, vắng bặt:
Trải mấy thu tin đi tin lại
Tới xuân này tin hãy vắng không Thấy nhàn những tưởng thư phong Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng
Trang 38- Lo lắng, ngẩn ngơ không thiết gì đến điểm trang - bơ phờ như người mất hồn :
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ Trăng khuya nương gối, bơ phờ tóc mai
Há như ai hồn say bóng lẫn Bỗng thơ thơ thẩn hư không
Trâm cài xiêm giắt thẹn thùng Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo
- Thao thức, cô độc trong đêm khuya :
Đèn có biết dường chăng chẳng biết Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi Buồn rầu nói chẳng nên lời Hoa đèn kia với bóng người khá thương!
- Người chinh phụ nhiều lúc bị ám ảnh bởi chuyện ân ái lứa đôi :
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Là màn bay ngọn gió xuyên Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước thềm Hoa giãi nguyệt, nguyệt in từng tấm
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu(1)
- Người chinh phụ không còn thiết gì nữa, chỉ còn biết âu sầu chờ đợi:
1
Xuân tứ (Lý Bạch): Yên thảo như bích ti/ Tần tang đê nhục chi/ Đương quân hoài quy nhật/ Thị thiếp đoạn trường thì/ Xuân phong bất trương thức/ Hà sự nhập la vi (Cỏ Yên như sợi tơ xanh/ Dâu Tần xanh ngắt rủ cành xum xuê/ Khi chàng tưởng nhớ ngày về/ Chính là khi thiếp tái tê nỗi lòng/ Gió xuân ai biết cho cùng/ Cớ sao len lỏi vào trong màn là –K.D)
Trang 39Đâu xiết kể trăm sầu nghìn não
Từ nữ công phụ xảo đều nguôi Biếng cầm kim biếng đưa thoi Oanh đôi thẹn dệt bướm đôi ngại thùa
Mặt biếng tô miệng càng biếng nói Sớm lại chiều dõi dõi nương song Nương song luống ngẩn ngơ lòng Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai
- Người chinh phụ khóc lên nức nở :
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi
Vì chàng thân thiếp lẻ loi mọi bề
- Tuyệt vọng, tìm niềm an ủi trong giấc mơ
Duy còn hồn mộng được gần Đêm đêm thường đến giang tân tìm người
- Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua Nghĩ mệnh bạc tiếc niên hoa
Trang 40Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng
- Ước mơ lớn nhất của nàng: Hạnh phúc và Tuổi trẻ:
Kìa loài sâu đôi đầu cùng sánh
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay Liễu sen là thức cỏ cây
Đôi hoa cũng dính đôi cây cũng liền
Ấy loài vật tình duyên còn thế Sao kiếp người nỡ để đấy đây Thiếp xin về kiếp sau này Như chim liền cánh như cây liền cành Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
1.2.4 Đoạn kết: Khải hoàn và ước mơ “tử ấm thê phong”
- Người phụ nữ thuyết lý, giáo điều, sắt máu – không hợp với tính cách của nàng Đấy là tiếng nói của đạo lý phong kiến:
Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt Sức tì dân dường sắt trơ trơ Máu Thuyền Vu, quắc Nhục Chi(1)
Ấy thì bữa uống, ấy thì bữa ăn
- Người chinh phu chiến thắng trở về:
1
Nhục Chi: chỉ nước Tây Nhung