Trong Sách“Hàn Mạc Tử” của Trần Thanh Mại, Nguyễn Tiến Lãng đánh giá về công lao của Trần Thanh Mại: “Cái công lao thứ nhứt của ôngTrần Thanh Mại sẽ là đem công bố cho chúng ta biết lần
Trang 31 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát 11
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Cấu trúc luận văn 12
Chương 1: TRẦN THANH MẠI VỚI SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC 13
1.1 Trần Thanh Mại - con người, cuộc đời và văn nghiệp 13
1.1.1 Con người, cuộc đời Trần Thanh Mại 13
1.1.2 Sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại 15
1.2 Mảng nghiên cứu, phê bình trong sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại .18 1.2.1 Trần Thanh Mại - người đến với hoạt động nghiên cứu, phê bình từ rất sớm 18 1.2.2 Trần Thanh Mại đến với sự nghiệp nghiên cứu, phê bình bằng những công trình có giá trị 19
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: SỰ ĐA DẠNG TRONG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN THANH MẠI 30
2.1 Trần Thanh Mại với văn học dân gian Việt Nam 30
2.2 Trần Thanh Mại với các giá trị văn học trung đại Việt Nam 42
2.2.1 Trần Thanh Mại với việc nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX 42
2 2 2 Trần Thanh Mại với một số tác giả văn học trung đại 46
2 3 Trần Thanh Mại với văn học hiện đại Việt Nam 66
Trang 4Chương 3: MỘT SỐ NÉT TIỂU BIỂU TRONG PHONG CÁCH
NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA TRẦN THANH MẠI .77
3.1 Coi trọng phương pháp phê bình tiểu sử 77
3.2 Kết hợp kể, tả, dựng chân dung 89
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trần Thanh Mại ( 1911-1965) là một trong những nhà nghiên cứu, phê bình đầu tiên của văn học Việt Nam thế kỉ XX Không chỉ là nhà nghiêncứu, phê bình, Trần Thanh Mại còn là nhà văn, nhà báo, là người trực tiếpgiảng dạy Tuy có viết một số truyện ngắn, kí sự và tiểu thuyết lịch sử, nhưngthiên hướng của Trần Thanh Mại vẫn là nghiên cứu, phê bình
1.2 Sự nghiệp nghiên cứu, phê bình của Trần Thanh Mại bắt đầu từtrước Cách mạng tháng Tám Ông đã có những công trình nghiên cứu về vănhọc dân gian, về các tác giả, tác phẩm văn học trung đại, văn học hiện đại
1.3 Trần Thanh Mại bước vào con đường văn chương khi phương phápluận nghiên cứu, phê bình văn học còn đang rất mới với văn học Việt Namhiện đại Những công trình nghiên cứu của ông đã trở thành di sản quan trọngcủa khoa học nghiên cứu văn học Việt Nam ở phương diện lí thuyết vàphương pháp nghiên cứu
1.4 Lâu nay, nhìn nhận về vị trí và vai trò của Trần Thanh Mại tronglĩnh vực nghiên`cứu, phê bình còn có nhiều ý kiến khác nhau Nhằm đánh giánhững đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình,thiết nghĩ chúng ta cần có thêm những công trình chuyên biệt Những côngtrình này không chỉ ghi nhận những đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnhvực nghiên cứu, phê bình văn học mà còn đánh giá vai trò của lí luận phê bìnhvăn học trong đời sống văn học nói chung
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn Đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Các công trình nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam của Trần ThanhMại ngay từ khi ra đời đã gây được sự chú ý của độc giả và giới nghiên cứu, phê
Trang 6bình Có thể kể đến bài viết của các tác giả: Kiều Thanh Quế, Vũ Ngọc Phan,Thanh Lãng, Nguyễn Tiến Lãng, Nam Trân, Hồng Diệu , Đỗ Lai Thúy vv
Kiều Thanh Quế, trong Tạp chí Tri tân, số 46 (5/ 1942), đã nhận xét chuyên luận Trông dòng sông Vị và Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại: “Lối phê bình thân thế và sự nghiệp văn chương của thi sĩ trong Trông dòng sông
Vị hãy còn “giản dị” hơn Hàn Mạc Tử nhiều lắm” Đồng thời ông cũng chỉ ra hạn chế của Trần Thanh Mại trong Hàn Mạc Tử: “Nhiệt thành phơi ra ánh
sáng tất cả chi tiết về đoạn đời đau thương của Hàn Mặc Tử, điều ấy cần chomột quyển sách biên tập về Hàn Mạc Tử lắm Nhưng vì xót thương Hàn Mạc
Tử làm ảnh hưởng quá mạnh, Trần Thanh Mại đôi khi để lộ một sự tán tụngthơ Hàn Mặc Tử quá đáng, khiến những độc giả thận trọng đố khỏi đâm ngờvực thi tài của Hàn Mạc Tử ” [37, 795]
Vũ Ngọc Phan, trong cuốn Nhà văn hiện đại, đã viết: “Quyển Trông dòng sông Vị nếu là một quyển truyện kí thì còn được, vì có vài đoạn chép có
duyên; chứ nếu là một quyển phê bình thì thật có rất nhiều khuyết điểm
Quyển Hàn Mặc Tử mà Trần Thanh Mại mới cho ra đời cũng theo một phương pháp như quyển Trông dòng sông Vị, nhưng kĩ càng hơn, rắn rỏi hơn Tuy vậy, quyển Hàn Mạc Tử có tính chất một quyển truyện kí hơn là một
quyển phê bình thơ Hàn Mặc Tử, vì những trang có thể coi là những trang phêbình là phần nhỏ trong quyển sách; sau nữa, tác giả chỉ phê bình có một mặt,chỉ cố tìm những cái hay của Hàn Mặc Tử để khen ngợi thôi” [37, 493]
Tuy nhiên, có nhiều tác giả không hoàn toàn đồng ý với nhận định của Vũ
Ngọc Phan về hai quyển Trông dòng sông Vị và Hàn Mạc Tử của Trần Thanh Mại Thanh Lãng, trong Phê bình văn học - thế hệ 1932, đã tranh cãi khá gay
gắt: “Tại sao Vũ Ngọc Phan không công nhận Trần Thanh Mại là một nhàphê bình?
Trang 7- Điều đó dễ hiểu Vũ Ngọc Phan là một nhà phê bình giáo điều trămphần trăm Phê bình, đối với Vũ Ngọc Phan, là dựa vào mấy nguyên tắc củakhoa thẩm mĩ cổ điển mà để khen và chê một tác phẩm Làm gì thì làm, côngviệc thiết yếu của nhà phê bình là khen chỗ hay và chê chỗ dở - công việc mà
Vũ Ngọc Phan đã làm trong Nhà văn hiện đại.
Ngược lại, phương pháp phê bình của Trần Thanh Mại không chủtrương khen hay chê như Vũ Ngọc Phan mà chú trọng nhất là cắt nghĩa một
sự nghiệp Đó là chủ trương của trường phái phê bình khách quan
Chủ trương phê bình như trên không phải là mới mẻ lạ lùng gì đối vớivăn học Pháp vào khoảng 1940 Nhưng đối với Việt Nam, nó là cái gì mới mẻhoàn toàn Trần Thanh Mại nhận nó là mới mẻ Vũ Ngọc Phan không dámnhận phê bình có thể chỉ là cắt nghĩa, cho nên chối không đặt Trần Thanh Mạivào số các nhà phê bình” [37, 807]
Tuy nhiên, Thanh Lãng cũng chỉ ra: “Cái khuyết điểm của Trần
Thanh Mại trong Trông dòng sông Vị (1935), Vũ Ngọc Phan một phần nào
đã nhận định ra: “Trần Thanh Mại chưa vẽ lại được khung cảnh địa lý, quêhương xứ sở của Trần Tế Xương ngõ hầu ấn định sức tác động của hoàncảnh thiên nhiên đối với thi nghiệp của nhà thơ sông Vị; chưa kiểm điểmnổi những dòng thời gian, lịch sử đã liên hệ với sự nẩy nở và trưởng thànhcủa thiên tài Trần Tế Xương; và càng chưa ghi nhận được những tình tiết,giai thoại trong cuộc đời nhà văn ảnh hưởng đến thi nghiệp của nhà vănđến mức độ nào” [37, 812] Nhưng, Thanh Lãng cũng khẳng định: “NếuTrần Thanh Mại không khai sinh ra phương pháp cắt nghĩa khách quan, thìông cũng là người hầu như đầu tiên đã áp dụng nó vào việc nghiên cứu vănhọc Việt Nam Nếu Trần Thanh Mại không phải là người lãnh đạo khai mởmột kỉ nguyên mới trong quan niệm phê bình tại Việt Nam, thì, ít ra, ôngcũng đánh dấu một chặng đường mới; từ đây các nhà phê bình chú trọng
Trang 8nhiều đến việc nghiên cứu hoàn cảnh và thân thế nhà văn để biện minh cho
sự nghiệp của nhà văn” [37, 816]
Trong Sách“Hàn Mạc Tử” của Trần Thanh Mại, Nguyễn Tiến Lãng
đánh giá về công lao của Trần Thanh Mại: “Cái công lao thứ nhứt của ôngTrần Thanh Mại sẽ là đem công bố cho chúng ta biết lần đầu nhiều bài thơ tớinay chưa ai biết của Hàn Mặc Tử; chúng ta lại nên biết công của ông Trần đã
tả ra một Hàn Mặc Tử rất sinh hoạt và khiến cho chúng ta yêu một nhà thi sĩtính nết kì dị sống một cuộc đời khác thường” [37, 799]
Trên Tạp chí Văn học, số 1/ 1979, Nguyễn Huệ Chi, trong bài Trần Thanh Mại một trong những bước đi đầu tiên của Viện Văn học, cho rằng: Trông dòng sông Vị “Tuy còn nhiều chỗ yếu trong sách, nhưng cũng đã dựng
lên một Tú Xương góc cạnh làm sao, con người biết sử dụng tiếng mẹ đẻ đếnmức thần tình, bằng những tiếng thông tục đó mà tự phơi bày tất cả mọi uẩnkhúc cũng như vẻ đẹp của tâm hồn” Nhìn lại toàn bộ sự nghiệp nghiên cứucủa Trần Thanh Mại, Nguyễn Huệ Chi viết: “Không những khối lượng côngviệc nhiều mà về tầm vóc, những vấn đề được ông đề cập tới thường khi vẫn
có một ý nghĩa tìm tòi, phát hiện, có cái mới so với người đi trước” [37, 843]
Nhà thơ Huy Cận, trong cuốn Hồi kí song đôi, tập 2, khi nhắc đến Trông dòng sông Vị, đã khẳng định: “Quyển sách của anh Mại là sách nghiên cứu, phê
bình nhưng cũng toát lên một cảm xúc thơ, một không khí thơ, có lẽ vì sựcảm thụ thơ của anh có bề sâu, và sự đồng cảm của anh với nỗi lòng tác giảcũng thống thiết” [37, 782]
Hồng Diệu, nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã có công sưu tầm - biên
soạn, giới thiệu quyển Trần Thanh Mại toàn tập, gồm ba tập Trong bài Độc đáo Trần Thanh Mại, thay lời giới thiệu, Hồng Diệu đã có cái nhìn tương đối khái
quát về việc đánh giá những công trình nghiên cứu, phê bình và sáng tác củaTrần Thanh Mại Theo ông: “Trần Thanh Mại bước vào con đường văn
Trang 9chương khi phương pháp luận nghiên cứu, lí luận phê bình còn mới lắm vớivăn học Việt Nam hiện đại Những nhà phê bình thuộc cùng lứa với ông - kể
từ tác phẩm nghiên cứu, phê bình đầu tay của họ - là Lê Thước (Thân thế và
sự nghiệp Nguyễn Công Trứ, 1928), Thiếu Sơn (Phê bình và cảo luận, 1933),
mà có nhà nghiên cứu đã xác nhận đóng góp mới của Trần Thanh Mại so với
hai nhà nghiên cứu trên từ quyển Trông dòng sông Vị (1935); tiếp đó là Lê Thanh ( Thi sĩ Tản Đà, 1939), Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1941- 1942); Hoài Thanh (Thi nhân Việt Nam, 1942) vv Trong số đó, Trần Thanh Mại là
một nhà văn độc đáo” [37, 12]
“Cái độc đáo trước hết là năm hai bẩy tuổi (1935), ông đã có chuyên
luận nghiên cứu sớm nhất về Tú Xương, quyển Trông dòng sông Vị, khi nhà thơ qua đời chưa đầy ba mươi năm Năm 1957, ông xuất bản quyển Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương Năm 1961, ông lại in quyển
Tú Xương, con người và nhà thơ, viết chung với Trần Tuấn Lộ, trưởng nam
của ông
Như vậy, về Tú Xương, Trần Thanh Mại đã trăn trở suốt một đời cầmbút của mình; những năm sau bổ sung tư liệu và nhận định, sửa chữa nhữngbất cập, những sai lầm của những năm trước” [37,13]
Ở một đoạn khác, Hồng Diệu viết: “Cái độc đáo thứ hai là, năm ba
mươi tuổi (1941), Trần Thanh Mại đã viết cuốn Hàn Mạc Tử, lại cũng một
chuyên luận sớm nhất về nhà thơ này, khi anh qua đời mới một năm Quyểnsách này cũng được tái bản nhiều lần Trần Thanh Mại là người đầu tiên tìmhiểu công phu, kĩ lưỡng đời và thơ Hàn Mặc Tử, phát hiện được nhiều điều về
nhà thơ xấu số này Hơn nữa, quyển Hàn Mạc Tử, còn tạo ra một sự độc đáo
khác, ấy là vụ kiên đầu tiên trong văn học Việt Nam Vụ kiện làm cho HànMặc Tử nổi tiếng hơn trước nhiều, và tác giả quyển sách- Trần Thanh Mại
Trang 10cũng nổi tiếng luôn; mặc dù trước đó, ông cũng đã được nhiều người biết đến
qua quyển Trông dòng sông Vị, Tuy Lí Vương, Đời văn ( hai tập) [37, 14].
Bàn về hai tập Đời văn của Trần Thanh Mại, Hồng Diệu có viết: “Phê
bình tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ đương thời, và bàn về một số vấn đề
về văn học trước Cách mạng tháng Tám, Trần Thanh Mại có hai tập Đời văn (1942) Ở đây ông viết về các tác phẩm: “Văn đàn bảo giám” của Trần Trung Viên, “Cô lâu mộng” của Võ Liêm Sơn, “Kép Tư Bền” của Nguyễn Công Hoan, “Thơ thơ” của Xuân Diệu, “Tiếng thơ” của Lưu Trọng Lư,“Bâng khuâng” của Nguyễn Văn Dật, “Tôi kéo xe” của Tam Lang, viết về “Văn chiêu hồn” của Nguyễn Du ” [37, 19].
Hồng Diệu nhấn mạnh “Một nét độc đáo nữa của Trần Thanh Mại làluôn luôn xông xáo Ông thường hay khởi xướng những cuộc thảo luận, tranhluận; mặt khác, tích cực tham gia những cuộc thảo luận, tranh luận do ngườikhác khởi xướng Chỉ có qua thảo luận, tranh luận, nhiều vấn đề mới đượcsáng tỏ; người tham gia mới có dịp thể hiện hết mình với cái đúng, cái sai, sởtrường và sở đoản, trình độ và thái độ, phẩm chất và tư cách vv [37, 19]
Nhìn lại những công trình nghiên cứu, phê bình của Trần Thanh Mại,
Hồng Diệu khẳng định: “ Lại như với hai quyển Trông dòng sông Vị và Hàn Mạc Tử, văn nghiên cứu phê bình ở đây không hề kinh viện, nhiều khi táo
bạo, lại giản dị, và nhiều chỗ gần văn miêu tả, tường thuật, kể chuyện Cũng
vì vậy, mà nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, trong bộ sách Nhà văn hiện đại,
với nhận định ít nhiều thiên lệch theo quan niệm của riêng ông, đã cho đó lànhững quyển truyện kí, chứ không phải sách phê bình nghiên cứu! Và, trên cơ
sở ấy, Vũ Ngọc Phan đã không xếp Trần Thanh Mại vào các “các nhà phêbình và biên khảo” cùng với Thiếu Sơn, Trương Chính, Hoài Thanh mà lạixếp Trần Thanh Mại với các nhà văn viết “truyện kí và lịch sử kí sự”: PhanTrần Chúc, Đào Trinh Nhất, Nguyễn Triệu Luật, Ngô Văn Triện! Thật ra, đấy
Trang 11là cách viết, cách diễn đạt của Trần Thanh Mại, và hai quyển sách vẫn đến vớingười đọc trong “tư cách” là những công trình nghiên cứu và phê bình vănhọc [37, 22].
Và ở một đoạn khác, Hồng Diệu đã đánh giá về công trình nghiêncứu, phê bình của Trần Thanh Mại như sau: “Cũng có thể thấy, văn nghiêncứu, phê bình của Trần Thanh Mại, không ít cực đoan, có những khi làmgiảm sức thuyết phục của cái đích mà ông muốn đi tới Tuy nhiên, ở mộtphương diện khác, cũng cần thấy, do táo bạo, cực đoan mà người đương
thời không dám khẳng định Chẳng hạn, ở những dòng cuối, quyển Hàn Mạc Tử, ông viết: “ Trong một ngày không lâu, người ta sẽ dành nhau cái
vinh dự xây dựng cho thi sĩ Hàn Mạc Tử những chiếc thánh giá vĩ đại, đến
cả những lăng tẩm nguy nga nữa” Chúng ta thấy, tinh thần của lời tiênđoán này ngày càng đúng” [37, 23]
Cuối bài viết của mình, Hồng Diệu viết: “Có những lúc ngẫm nghĩ vềvăn chương, về sự đời, tôi không khỏi bùi ngùi, thấy bấy lâu nay, Trần ThanhMại đã ít nhiều bị quên lãng Nói cách khác, nhiều khi Trần Thanh Mại khôngđược đánh giá công bằng, thoả đáng Rất nhiều lần, nhìn lại tình hình văn họchiện đại Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám cho đến những năm sau này,người ta kể một loạt tên các nhà nghiên cứu lí luận, phê bình mà không cóTrần Thanh Mại Bất giác nhớ đến giáo sư, tiến sĩ N.Niculin, và “khen cho
con mắt tinh đời” trên Tạp chí Văn học, số 1, năm 1990, nhân kỉ niệm ba
mươi năm thành lập viện Văn học Việt Nam: “Trong văn học Việt Nam cónhững nhà nghiên cứu am hiểu, sâu sắc, tài năng như Đặng Thai Mai, TrầnThanh Mại, Hoài Thanh” Xin lưu ý, việc kể thứ tự mấy tên tuổi như trên, đốivới một nhà nghiên cứu tài năng, am hiểu sâu sắc văn học Việt Nam nhưN.Niculin, chắc chắn không phải vô tình hay tuỳ tiện!´” [37, 26]
Trang 12Sau khi Trần Thanh Mại qua đời, đánh giá lại những tài đóng góp của
ông cho văn học Việt, Từ điển Văn học bộ mới, Nxb Thế giới 2004, mục Trần Thanh Mại, do Đặng Thị Hảo, Nguyễn Phương Chi biên soạn, có viết: “Tuy
có viết một số truyện ngắn, kí sự và tiểu thuyết lịch sử, nhưng thiên hướngcủa Trần Thanh Mại vẫn là nghiên cứu, phê bình Song trong các công trìnhxuất bản trước 1945, Trần Thanh Mại không đơn thuần khảo cứu phê bình màluôn kết hợp phê bình và miêu tả, nghiên cứu và dựng chân dung nhà văn, vìvậy rất khó xác định rạch ròi chúng là công trình nghiên cứu hay là sách danhnhân Trong phê bình, Trần Thanh Mại là người táo bạo, chịu khó tìm tòi,phát hiện, nhưng cũng có lúc rơi vào cực đoan (như đánh giá của ông về TúXưởng và Hàn Mạc Tử) Đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnh vựcnghiên cứu, phê bình chủ yếu thuộc về những công trình sau Cách mạng Ông
là người đầu tiên đặt lại vấn đề Hồ Xuân Hương (bàn lại vấn đề dâm và tục, loại bỏ những bài thơ không phải của bà), có công phát hiện công bố Lưu hương kí - tập thơ bằng chữ Hán của Hồ Xuân Hương, cùng nhiều tư liệu
khác về nữ sĩ họ Hồ Ông cũng là người đầu tiên nghiên cứu về thơ MiênThẩm Nhìn chung cách viết của Trần Thanh Mại càng ngày càng thuyếtphục và tránh được những nhược điểm của thời kì đầu Việc ông kiên trì theođuổi một đề tài trong nhiều năm và không ngại thay đổi ý kiến của mình đểngày càng phù hợp với chân lý (Nguyễn Đình Chiểu), hoặc kiên quyết bảo vệnhững ý kiến đúng (Miên Thẩm), chứng tỏ sự trung thực, chân thành của mộtngòi bút có trách nhiệm”[6, 1805]
có viết: “Thời trẻ, trong lí luận văn học, cha tôi thường táo bạo, đôi chút
cực đoan và hay khích chiến Cuốn Hàn Mạc Tử “đã tạo ra vụ kiện đầu tiên trong văn học Việt” Vụ kiện thúc đẩy độc giả tìm đọc tác phẩm Hàn Mạc
Tử nổi tiếng và tác giả cũng nổi tiếng luôn Thời gian chứng minh quyển
Trang 13Hàn Mạc Tử của cha tôi là cần thiết hữu ích cho sự nghiệp nhà thơ Ông Nguyễn Bá Tín trong Hàn Mặc Tử anh tôi tuy có phàn nàn những nhận xét
thiếu khách quan của tác giả về gia đình, nhưng ông xác nhận: “ Tôi thầmcảm ơn ông Mại đã phổ biến được nhiều bài thơ của Hàn Mặc Tử chongười đương thời thưởng thức tài năng anh, có ông Mại, tài năng anh mới
được người đời biết đến Cuốn Hàn Mạc Tử không ra đời, e không ai biết
đến thơ anh Trí rộng rãi như vậy Nếu có đọc được bài nào của anh, mà biếtchắc chắn của anh đi nữa thì, nếu không bị bóp méo, vo tròn thì cũng cótên tuổi nào đó kí dưới bài thơ” [13, 14]
Văn học Việt Nam thế kỷ XX, do Phan Cự Đệ chủ biên, phần Lý luận văn học, đánh giá: “Trần Thanh Mại là người đầu tiên ở Việt Nam có ý thức
vận dụng phương pháp phê bình tiểu sử khách quan của Sainte-Beuve và
Brunetière vào Việt Nam Trong cuốn Hàn Mạc Tử, thân thế và thi văn, Trần
Thanh Mại viết: “Với những phương pháp mới, xưa nay chưa từng có tronglịch sử văn học Việt Nam, tôi đã phân tích ra từng cử chỉ, từng tính tình củanhà thi sĩ, từng giai thoại trong đời người Không rõ thấu hết những cái vặtvãnh, thắc mắc trong đời một nhà thi sĩ thì không sao hiểu được thơ của người
ấy” Nếu như ở trong sách Trông dòng sông Vị như nhiều người đã nhận xét,
Trần Thanh Mại thiên về dựa vào thơ mà tưởng tượng ra nhà thơ, thì đến cuốn
Hàn Mạc Tử, thân thế và thi văn, nhà phê bình đã bắt đầu phân tích, khảo sát
đời sống quằn quại, bi đát của thi sĩ để lý giải sáng tác thơ của ông Nhà phêbình đã giúp người đọc đi từ hiểu biết cuộc sống éo le của nhà thơ mà hiểuđược hiện tượng thơ kỳ lạ và đánh giá đúng vị trí lịch sử của nó Trần ThanhMại đã bắc chiếc cầu từ những chuyện đời sống và bệnh tật của thi nhân sangcác thi phẩm, và dù là nhà phê bình kịch liệt lên án các trường phái tượngtrưng, bí hiểm, ông vẫn nhận ra đặc sắc trong nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử như
đó “là nhà thơ Việt Nam đầu tiên biết nghe ngóng những lời âm thầm của tạo
Trang 14vật”, “là nhà thi sĩ Việt Nam có cái âm nhạc tài tình nhất”, “là người đầu tiêntrong thế kỷ thứ XX mở một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam vàthành công một cách vinh quang rực rỡ”, mặc dù sự minh chứng còn hết sứcđơn sơ”[17, 712]
Năm 2010, Đỗ Lai Thuý trong Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy
đã viết: “ Phê bình tiểu sử của ta hình như “đi lên” từ truyện kí danh nhân
Có thể thấy rõ điều này ở trường hợp Trần Thanh Mại Ông đã phải lội qua
(Trông) dòng sông Vị (Trần Thanh Địch xuất bản ở Huế, 1935), một cuốn sách nửa phê bình, nửa truyện kí viết về Tú Xương để đến với Hàn Mạc Tử, thân thế và thi văn (1941), một tác phẩm tiêu biểu cho phê bình tiểu sử tại
Việt Nam Tuy nhiên, khi đã leo lên đến thiên đỉnh, nhà phê bình họ Trần đãchọn ra chính xác ba trong vô vàn những sự kiên tiểu sử là động lực khởinguyên trong thơ Hàn: tôn giáo (ở đây là thiên chúa giáo), bệnh tật (ở đây làbệnh phong) và những người đàn bà” [37, 116] Ông cũng đánh giá nhữngđóng góp lớn của Trần Thanh Mại: “Nhưng Trần Thanh Mại không chỉ dừnglại ở đấy như nhiều người khác Ông còn tiến thêm bước nữa để trở thành nhàphê bình thực thụ là “cắt nghĩa” tác phẩm bằng những dự kiện cuộc đời Bạnđọc hiểu thêm, cảm nhận sâu sắc hơn những bài thơ của Hàn Mặc Tử một khiđược biết đó là những hạnh phúc, khổ đau của thi nhân với những Hoàng Cúc,Mộng Cầm, Mai Đình, Thương Thương Bạn đọc cũng hiểu thêm được tại saothơ Hàn Mặc Tử đầy những biểu tượng ám ảnh của trăng, hồn, máu nếu biếtđược vi trùng hủi thường hoạt động mạnh vào mùa trăng, khiến người thơ đauđớn đến ngất đi (xuất hồn) Không chỉ có thế, Trần Thanh Mại còn lí giải sựcảm nhận thế giới mãnh liệt, chất nhạc, sự giàu có hình tượng, nghĩa là mộtcái nhìn nghệ thuật đặc biệt của thơ Hàn là do những nhân tố tôn giáo, bệnhtật, sự cô đơn của cuộc đời thi nhân Như vậy, đọc Trần Thanh Mại, tôi nghĩ,
Trang 15người đọc không chỉ thoã mãn về óc tò mò (một nhu cầu cũng rất người) mà,quan trọng hơn thoả mãn cả óc thẩm mỹ” [37, 118]
Nhìn chung, các bài nghiên cứu trên gần như khái quát được sự nghiệpnghiên cứu, phê bình của Trần Thanh Mại Trên thực tế vẫn còn thiếu nhữngcông trình chuyên biệt, có tính hệ thống để đánh giá công lao của Trần ThanhMại trong nền lý luận phê bình văn học Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
3.2.1 Những công trình nghiên cứu, phê bình văn học của Trần Thanh
Mại được sưu tầm, biên soạn, giới thiệu trong Trần Thanh Mại,Toàn tập, gồm
3 tập, do Nxb Văn học, Hà Nội, ấn hành năm 2004
3.2.2 Những công trình nghiên cứu, phê bình văn học của các tác giảcùng thời và các thế hệ tiếp nối
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm tìm hiểu:
- Đóng góp của Trần Thanh Mại trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bìnhvăn học trên các phương diện: đối tượng nghiên cứu, phê bình; phương phápnghiên cứu, phê bình
- Vị trí của Trần Thanh Mại trong nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu
5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 16
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Trần Thanh Mại với sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn họcChương 2 Sự đa dạng trong đối tượng nghiên cứu, phê bình văn học củaTrần Thanh Mại
Chương 3 Một số nét nổi bật trong phương pháp nghiên cứu, phê bìnhvăn học của Trần Thanh Mại
Trang 17Chương 1 TRẦN THANH MẠI VỚI SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
1.1 Trần Thanh Mại - con người, cuộc đời và văn nghiệp
1.1.1 Con người, cuộc đời Trần Thanh Mại
Trần Thanh Mại sinh ngày 3 - 2 - 1908 tại làng Tiên Nộn, xã Phú Mậu,huyện phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, nay thuộc ngoại thành phố Huế Thuở nhỏ,ông học ở trường tiểu học An Cựu, sau đó học trường Quốc học, Huế Năm
1928, Trần Thanh Mại tốt nghiệp thành chung và đi làm công chức Cũng từ
đó, ông bắt đầu nghiệp văn Ông viết sách và viết cho nhiều báo, làm chủ bút
tờ báo Cười do ông sáng lập và tham gia những hoạt động văn hoá khác.
Từ những năm 1930, ông làm báo, viết văn, từng là cộng sự của tờ Phụ
nữ tân văn Năm 1932, ông cho in tập truyện ngắn đầu tay: Ngọn gió rừng
(1932) Ông đã từng tham gia nhiều hoạt động văn hóa như diễn kịch quyêntiền cứu đồng bào bị đói vào những năm 1936, 1945 Đặc biệt năm 1941, ôngnói chuyện và ngâm thơ Hàn Mạc Tử tại trụ sở của Hội Khai trí tiến đức đểquyên tiền xây lại mộ nhà thơ xấu số vừa mất một năm trước đó
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Trần Thanh Mại gia nhập Hội Vănhoá cứu quốc Trong cuộc kháng chiến chín năm (1945 - 1954), ông làm giáoviên văn của trường cấp III Lam Sơn, Thanh Hoá Năm 1955, ông đượcchuyển về phụ trách Phòng Tuyên truyền và Báo chí của Bộ Giáo dục, sau đó
là một trong những người phụ trách Tạp chí Giáo dục nhân dân Năm 1960,Trần Thanh Mại về làm công tác nghiên cứu ở Viện Văn học Việt Nam mớiđược thành lập Ông là một trong những cán bộ đầu đàn trong những năm đầucủa Viện Văn học, những cán bộ thuộc lớp Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy,Hoài Thanh, Nam Trân, Vũ Ngọc Phan, Cao Huy Đỉnh Trần Thanh Mại là
Trang 18tổ trưởng Tổ Văn học cổ đại, cận đại và dân gian, đồng thời ở trong ban biêntập tập san Nghiên cứu Văn học tiền thân của Tạp chí Văn học Ông mất3.2.1965, năm 54 tuổi.
Theo lời kể của Trần Linh Chi (con gái đầu của Trần Thanh Mại), tuyông xuất thân gia đình quan lại, học giỏi nhưng lại không chịu theo đuổi đếnnơi đến chốn để khoa bảng đề tên, mà dành hết cuộc đời cho văn học TrầnThanh Mại tham gia hoạt động văn học từ rất sớm Ông đến với văn học bằngnăng khiếu và niềm đam mê mãnh liệt của mình Nhà thơ Nam Trân NguyễnHọc Sĩ (1907 - 1967) có ấn tượng rất mạnh về Trần Thanh Mại: “Tôi có thểnói, anh Trần Thanh Mại là một người sinh ra để viết văn, hay nói một cáchvăn vẻ hơn, lúc ra đời, anh đã mang theo vết mực trên đầu ngón tay” [37, 12].Ngay từ nhỏ Trần Thanh Mại đã mê đọc thơ, học thuộc rất nhiều thơ Nôm vàthơ chữ Hán Đây phải chăng cũng là lý do vì sao những công trình nghiêncứu của ông đều sáng tác của những nhà thơ: Tú Xương, Hàn Mặc Tử,Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương
Là người có năng khiếu và rất ưa thích hoạt động văn học, dù viết kịch,diễn kịch, nói chuyện thơ hay làm người thuyết minh bằng tiếng Pháp chophim tài liệu , ông đều để lại dấu ấn đặc biệt trong lòng đồng bào, đồng chí.Trên cương vị người đảm trách những vị trí quan trọng trong hoạt động vănhọc, Trần Thanh Mại luôn là người tâm huyết, trách nhiệm, năng nổ, sáng tạo.Mang trong mình một căn bệnh hiểm nghèo, ông luôn linh cảm, mình đangnhích bước trên những năm tháng cuối của cuộc đời, bởi vậy ông miệt màitranh thủ mọi thời gian để viết Ngay khi đi xa những công trình tâm huyếtcủa ông vẫn còn dang dở Tiếc rằng, ông ra đi vào độ tuổi sung sức nhất, chínnhất của một nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình
Có thể nói, con người - cuộc đời, hoàn cảnh lịch sử đã tạo dấu ấn sâusắc trong sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại Gần bốn mươi năm cầm
Trang 19bút, ông đã để lại nhiều tác phẩm với sự phong phú, đa dạng về thể loại Đónggóp của ông không những ở mảng sáng tác mà còn ở mảng phê bình văn học.Ông là một trong những nhà phê bình văn học đầu tiên của văn học Việt Namthế kỷ XX Nhà văn Trần Thanh Mại được Nhà nước tặng thưởng Huânchương kháng chiến hạng ba
1.1.2 Sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại
Sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại bắt đầu từ trước Cách mạngtháng Tám 1945 Ông viết với nhiều thể loại, đề tài khác nhau
Về truyện ngắn, Ngọn gió rừng được Trần Thanh Mại viết ở Huế năm
1932, đã in thành một quyển sách mỏng, và mới in lại trong quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nhà xuất bản Văn học, 2001 Đọc Ngọn gió rừng, ta thấy
rõ đặc điểm ngôn ngữ văn xuôi Việt Nam thuở bấy giờ: nội tâm nhân vậtđược thể hiện chủ yếu qua miêu tả gián tiếp phong cảnh Tác giả phê phánnhững thanh niên chỉ đắm chìm trong tình yêu gái trai, đồng thời khích lệnhững thanh niên biết “nghe tiếng gọi hồn” để “chạy về ngả đường đời, chỗtrăm nghìn nghĩa vụ nặng nề đang chờ đợi người anh hùng chí sĩ” [37, 39]
Khơi nguồn cảm hứng cho Chú hươu vàng và anh nông dân (truyện thiếu nhi,
1955), là câu chuyện của mấy đứa trẻ kể cho nhau nghe về một phim hoạt
họa mẫu của Liên Xô đang chiếu Giống với truyện cổ tích, mở đầu Chú hươu vàng và anh nông dân, tác giả đưa trẻ thơ về “đời xưa, cõi trời Việt Nam yêu
quý của chúng ta”, thế giới ấy có phép màu nhiệm của bà góa Hươu Sao cứucon mình là chú Hươu Vàng khi gặp nạn, biết bênh vực che chở cho ngườinông dân hiền lành, tốt bụng Và phép màu ấy, bà cũng thẳng tay trừng trị
“loài phong kiến” Sức hấp dẫn của truyện vừa ở thế giới cổ tích, đồng thờicách phân chia từng hồi, hạ hồi phân giải Nội dung của truyện mang tínhphản phong sâu sắc
Trang 20Về ký sự lịch sử và tiểu thuyết lịch sử, ông có hai quyển: Tuy Lý Vương (ký sự lịch sử, 1938) và Ngô Vương Quyền (tiểu thuyết lịch sử, 1944) Tuy Lý Vương viết về “một người hiền lành, phúc đức” trong dòng dõi hoàng
tộc triều đình Huế, có dụng ý làm sống lại một phần mà thời đại Tuy Lý
Vương đã sống, gần “hiện thực” hơn, ông gọi là lịch sử ký sự (Nhà xuất bản Thuận Hoá, tái bản năm 2000) Quyển Ngô Vương Quyền viết về một anh hùng dân tộc, có hư cấu, ông gọi là lịch sử tiểu thuyết (Nhà xuất bản Đồng Tháp tái bản năm 1990, tự sửa lại là tiểu thuyết dã sử võ hiệp!)
Có một quyển sách của Trần Thanh Mại còn ít người biết: Thanh niên học tập và sáng tác (Nhà xuất bản Thanh niên, 1957) Dưới hình thức những
bức thư gửi một bạn đang tập viết văn, Trần Thanh Mại truyền đạt nhữngkinh nghiệm của mình cho giới trẻ Ông đặt ra và giúp người sáng tác trả lờinhững câu hỏi thiết thực như: Muốn sáng tác cần đọc những sách gì? Cảmhứng là gì? Tại sao có nhiều đề tài, có nhiều cảm xúc mà không viết được?Thơ dễ làm hay văn xuôi dễ làm? Kịch tính trong truyện ngắn hay trong tiểuthuyết là gì? Vấn đề phong cách của nhà văn
Về nghiên cứu, phê bình văn học, ông viết:
Trông dòng sông Vị (Chuyên luận về Tú Xương, 1935)
Hàn Mạc Tử (chuyên luận 1941)
Đời văn (phê bình, hai tập, 1942)
Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biên chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích, phê bình, 1955)
Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam (chuyên luận, 2 tập,
1956 - 1957)
Đấu tranh chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương (chuyên luận, 1957)
Tú Xương, con người và nhà thơ (chuyên luận, viết cùng Trần Tuấn Lộ, 1961)
Trang 21Ngoài ra, Trần Thanh Mại còn tham gia viết nhiều công trình khác, vàviết nhiều bài báo có giá trị.
này, ông đi sâu tìm hiểu văn chính luận và văn nghệ thuật của Hồ Chí Minh.Ông cho rằng, một số khá lớn văn chính luận của Hồ Chủ tịch mang tính nghệthuật rất cao, trong khi một số thơ của Người - ngoài một số ít hơn là thơ nghệthuật thực sự - thì chỉ nhằm tuyên truyền, động viên chính trị kịp thời, chứkhông hề chú trọng đến yêu cầu nghệ thuật mà chúng ta thường quen quan
niệm thơ phải có Về Nguyễn Trãi, Trần Thanh Mại có bài Vài nét về tư tưởng của Nguyễn Trãi qua thơ văn ông (1962) và Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi (1962) Năm 1963, ông viết Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu của nền thơ văn yêu nước thời kỳ cận đại Về Nguyễn Thông, năm 1961, ông
có bài Nguyễn Thông và tình tương nhớ quê hương Từ 1961 đến 1964, ông
có các bài viết về Hồ Xuân Hương: Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ
Hồ Xuân Hương (1961), Phải chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ chữ Hán (1962), Đính chính một điểm sai lầm trong tư liệu về thơ chữ Hán của
Hồ Xuân Hương (1964), Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương (1964), Bản “Lưu hương ký” và lai lịch phát hiện nó (1964) Năm 1960, Trần Thanh Mại viết Học tập một số thơ văn Hồ Chủ tịch Ngoài ra ông còn có những bài viết về
sáng tác của Lê Quý Đôn, Phạm Đình Hổ, Hoàng Trung Nho, NguyênNgọc.v.v
Sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại phong phú, đa dạng với nhiềuthể loại, đề tài khác nhau Hai mảng chính của ông đó là sáng tác văn học vàphê bình văn học Từ trước đến nay, người ta biết đến ông là một nhà nghiêncứu, phê bình hơn là một người sáng tác
Trang 221.2 Mảng nghiên cứu, phê bình trong sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại
1.2.1 Trần Thanh Mại - người đến với hoạt động nghiên cứu, phê bình từ rất sớm
Trần Thanh Mại bước vào con đường văn chương khi phương phápnghiên cứu, lý luận, phê bình còn rất mới “Đặc điểm chủ yếu của giai đoạn lýluận, phê bình văn học giai đoạn 1932-1945 chính là giai đoạn hình thành tưtưởng mới; phủ nhận tư tưởng cũ, nổ ra nhiều cuộc tranh luận quan trọng màhàng loạt vấn đề lý luận trong đó, cho đến hết thế kỷ XX, bước sang thế kỷXXI vẫn đang còn gây tranh cãi, và đang tiếp tục giải quyết Đây cũng là giaiđoạn hình thành lý luận, phê bình văn học như là “một thể loại mới” xưa naychưa từng có và đồng thời xuất hiện những nhà lý luận, phê bình văn họcchuyên nghiệp” [17, 690]
Tên tuổi của Trần Thanh Mại gắn với thế hệ các nhà lý luận, phê bình vănhọc đầu tiên ở nước ta: Thiếu Sơn (1908 -1978), Hoài Thanh (1909 -1982), VũNgọc Phan (1902 -1987), Đinh Gia Trinh (1915 - 1974), Hải Triều (1908 -1954),Đặng Thai Mai (1902 -1984), Đào Duy Anh (1904 - 1988), Nguyễn Bách Khoa( 1913 -1999)
Nhìn lại các công trình nghiên cứu, phê bình văn học của các nhà phê
bình đầu thế kỷ XX, chúng ta thấy: Thiếu Sơn công bố Phê bình và cảo luận năm 25 tuổi; Hoài Thanh viết Thi nhân Việt Nam năm 1932 -1941, khi ông 32 tuổi; Năm 40 tuổi Vũ Ngọc Phan ra mắt Nhà văn hiện đại (1942) Có thể nói, Trần Thanh Mại là người sớm đến với nghiên cứu, phê bình văn học Trông dòng sông Vị của Trần Thanh Mại (xuất bản 1935), ông viết lúc 27 tuổi Cuốn
sách này có thể coi là quyển thứ ba trong sự nghiệp văn học thế hệ 1930 - 1945
Tức là sau cuốn Phê bình Nguyễn Công Trứ (1928) của Lê Thước và cuốn Phê bình và cảo luận (1933) Thiếu Sơn Trần Thanh Mại cũng là người viết
Trang 23chuyên luận sớm nhất nghiên cứu về Tú Xương, quyển Trông dòng sông Vị,
khi nhà thơ qua đời chưa đầy ba mươi năm Năm ba mươi ba tuổi (1941),
Trần Thanh Mại đã viết quyển Hàn Mạc Tử, lại cũng một chuyên luận sớm nhất về nhà thơ này Hàn Mạc Tử được tái bản nhiều lần Ở cuốn sách này,
Trần Thanh Mại là người đầu tiên tìm hiểu công phu, kỹ lưỡng đời và thơ
Hàn Mặc Tử, phát hiện được nhiều điều về nhà thơ xấu số Các quyển Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích (1955) và Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam (1956 -
1957) cũng là những công trình nghiên cứu về truyện cổ tích vào loại sớm nhấttrong giới nghiên cứu, phê bình Từ những năm 1961 - 1964, với những bàinghiên cứu quan trọng, ông là người có công đầu tiên đặt lại vấn đề Hồ Xuân
Hương, phát hiện và công bố Lưu hương ký - tập thơ chữ Hán của Hồ Xuân
Hương cùng những tư liệu quan trọng khác về nữ sĩ họ Hồ Ông cũng là ngườiđầu tiên nghiên cứu và giới thiệu thơ văn Miên Thẩm
Có thể nói Trần Thanh Mại rất độc đáo trong cách phát hiện vấn đề,chọn đề tài làm đối tượng nghiên cứu, phê bình Những công trình nghiên cứucủa ông có giá trị mở đầu, định hướng và có nhiều phát hiện lý thú Ông cũng
là người khởi xướng những cuộc thảo luận, tranh luận Sau Trần Thanh Mại,các nhà phê bình tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, phát hiện những giá trị văn họcdân tộc mà ông đã “mở đường”
1.2.2 Trần Thanh Mại đến với sự nghiệp nghiên cứu, phê bình bằng những công trình có giá trị
Trông dòng sông Vị (xuất bản 1935) nói về thân thế, văn chương Trần
Tế Xương Sách dày 120 trang, chia làm nhiều đoạn, đề cập đến hoàn cảnhlịch sử của thời đại Tú Xương, đến cuộc đời và tư tưởng, đến sự nghiệp và thithơ Không chỉ có thế, những năm về sau, Trần Thanh Mại còn đặt lại nhiều
vấn đề của đời và thơ Tú Xương Năm 1957, ông xuất bản cuốn Đấu tranh
Trang 24chống hai quan niệm sai lầm về Tú Xương Năm 1961, ông lại in quyển Tú Xương, con người và nhà thơ, cùng viết với Trần Tuấn Lộ Chuyên đề này
đem đến cho người đọc cảm nhận quê hương sông Vị, non Côi đã làm nênhồn thơ Tú Xương như thế nào; thời đại Tú Xương, những mối quan hệ gầngũi thân thiết như những người thân yêu trong gia đình, ban bè thân thiết ảnhhưởng đến đời thơ của ông ra sao Trần Thanh Mại còn đặc biệt chú ý nỗi đau
vì hỏng thi, nỗi nghèo nàn cơ cực chi phối đến hồn thơ của Trần Tế Xương
Về Tú Xương, Trần Thanh Mại đã trăn trở suốt một đời cầm bút củamình Những năm sau ông bổ sung tư liệu, và nhận định, sửa chữa những sailầm, bất cập của những năm trước Đến lúc qua đời ông vẫn còn chưa yên tâmvới nhiều điều trong ba quyển sách ông đã viết về nhà thơ Tú Xương
Trong cuốn Hàn Mạc Tử (1941), ông đã lần lượt dành nhiều chương
cho việc khảo cứu về gia thế, về quê quán của thi sĩ, về nền giáo dục của giađình và học đường, về cuộc đời xê dịch của thi nhân, về cuộc đời hoạt độngbáo chí vất vả mà thú vị, về lòng tin thắm thiết của thi sĩ đối với tín ngưỡng,
về cuộc đời quằn quại đau thương, bi đát, tuyệt vọng gây nên vì bệnh tật, vìnghèo túng, vì những nỗi lo buồn, vì những điều mong đợi, những cái thất bạitrong sự nghiệp văn chương, những cuộc tình duyên say sưa, lí tưởng, nhữngđau đáu, tuyệt vọng của nhà thơ Không những chỉ nêu các sự kiện như trongphê bình Trần Tế Xương, Trần Thanh Mại chú ý đặc biệt đến những yếu tốtrong cuộc đời ảnh hưởng đến sự nảy nở và hình thành sự nghiệp Hàn Mặc
Tử Ba nguồn ảnh hưởng đã chi phối sự nghiệp của Hàn Mặc Tử đó là bệnhtật, đàn bà và tín ngưỡng Những bài thơ kiệt tác của Hàn Mặc Tử được nảy
nở trong những cơn đau ốm, da diết của bệnh hoạn Trong lúc tuyệt vọng, nhàthi sĩ tìm lại được niềm tin ở thượng đế, trong những mối tình ngây thơ sayđắm với những người đàn bà đi qua trong đời ông Dù căn bệnh ác nghiệt đã
Trang 25cướp đi cuộc đời ngắn ngủi, nhưng Hàn Mặc Tử đã đóng góp cho đời một sựnghiệp vô cùng quý giá.
Đời văn là tập sách xuất bản năm 1942 gồm hai tập, có những bài phê
bình, giai thoại, những cuộc tranh luận về văn chương gom góp trong 10 năm
viết văn của tác giả Đời văn tuy ra sau hai tập Trông dòng sông Vị và Hàn Mạc Tử nhưng phần lớn là những bài phê bình viết vào khoảng 1933 - 1935,
chỉ trừ ít bài viết từ 1935 - 1940
Đời văn cuốn 1, tập sách góp nhặt sáu bài:
Bài 1: Tựa đề: “Tìm sự thật trước khi tiết lộ”
Trần Thanh Mại phê bình cuốn Văn Đàn Bảo Giám của Trần Trung
Viên Ông chối bỏ giá trị lịch sử những bài thơ, những câu đối mà trước đây
đã ghép cho những danh hài, nhất là các cụ “trạng” đã ứng khẩu thời xưa khi
đi sứ Trung Hoa
Bài 2: Là bài thanh minh của Trần Trung Viên để trả lời bài của TrầnThanh Mại Ý Trần Trung Viên là cốt sao thu thập cho thật nhiều, không cầnlựa chọn, không cần đắn đo, việc khảo cứu sẽ làm sau này
Bài 3: Tựa đề:“Phải đánh đổ những tà thuyết cho dầu sản xuất từ nước thượng trí”.
Bài này Trần Thanh Mại trả lời Trần Trung Viên bác bỏ các lí do TrầnTrung Viên đã biện bạch
Bài 4: Tựa đề: “Một lối giả thuyết của nhà nho: “Văn thơ khẩu khí”
Bài này Trần Thanh Mại nhằm vào đả kích những ông đồ nho, lúc nhấtthời không được chen chân trong chính trường thì tự hợm mình bằng lối thơkhẩu khí để tỏ mình là bậc thanh liêm, không màng danh lợi Nhưng kì thực
là một phương pháp đề cao mình để tranh quyền đạt lợi
Bài 5: Bài này Trần Thanh Mại tranh luận với Nguyễn Vĩ gán cho vua
Duy Tân là tác giả bài thơ “Trên sông Hương” Nhờ cuộc tranh luận này mà
Trang 26phát hiện bài thơ đó là của Henri Guibien đã đăng ở tạp chí “Đô Thành Hiến Cổ” năm 1916.
Bài 6: Tựa đề: “Ông Võ Liêm Sơn và lí thuyết bộ xương”
Bài này Trần Thanh Mại phê bình cuốn tiểu thuyết:“Cô lâu mộng” của
Ngọc An và Võ Liêm Sơn [54, 138]
Đời văn cuốn 2, gồm 7 bài bình luận:
Bài 1: Tựa:“Thi sĩ với cô hồn” Bài này Trần Thanh Mại phê bình bài Chiêu hồn của Nguyễn Du (1936)
Bài 2 mang tựa: “Một buổi đi xem đấu võ” Bài này Trần Thanh Mại phê bình cuốn Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan (1935)
Bài 3 mang tựa: “Thơ thơ và Xuân Diệu” Bài này Trần Thanh Mại phê bình Thơ thơ của Xuân Diệu (1939)
Bài 4 “Lưu Trọng Lư thi sĩ giang hồ” Bài này phê bình Tiếng thu
(1940) của Lưu Trọng Lư
Bài 5 “Một nhà thi sĩ ai biết đến” Bài này ông Trần Thanh Mại phê
bình thơ ông Phan Văn Dật (1935)
Bài 6:“Thơ nói chuyện mình” Bài này Trần Thanh Mại phê bình cuốn Bâng khuâng của Phan Văn Dật (1936)
Bài 7: “Nghề kéo xe” Bài này Trần Thanh Mại phê bình cuốn Tôi kéo
xe của Tam Lang (1936)
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Trần Thanh Mại có những công trình
nghiên cứu về truyện cổ tích Đó là Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích” (1955), (Phê bình Truyện cổ tích Việt Nam của Vũ Ngọc Phan) Từ 1956 - 1957, ông viết chuyên luận hai tập “Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam”
Theo Trần Thanh Mại, Truyện cổ tích Việt Nam ra đời ngót nửa năm
trời nay, được tái bản sau ba tháng phát hành, thế mà trong giới văn học vẫn
Trang 27im lìm, không một tiếng vang, không một bài phê bình, nhận xét, chứng tỏgiới nghiên cứu học tập đọc thì có đọc, nhưng cho một nhận định rõ ràng, dứt
khoát thì chưa Với chuyên luận Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích (1955), Trần Thanh Mại đã phê bình Truyện cổ tích Việt Nam của Vũ Ngọc Phan Trần Thanh Mại đã chỉ
ra lối nhìn thiếu sót của Vũ Ngọc Phan trong mấy điểm sau:
- Tác giả xem truyện cổ tích là những tài liệu sử học thực sự, nghĩa làphản ánh đúng những sự việc có thực xẩy ra trong lịch sử
- Tác giả không nắm được nguyên tắc điển hình hoá là nguyên tắc lãnhđạo trong vấn đề sáng tác một áng văn nghệ
- Tác giả không thấy được tính chất linh động của truyện cổ tích, dohình thức truyền khẩu mà ra
Từ đó dẫn đến những thiếu sót khác như việc tác giả sửa chữa, thay đổinhững chi tiết căn bản của truyện xưa hoặc kể lại chứa đầy mâu thuẫn về ýthức tư tưởng, về quan niệm xã hội, về màu sắc lịch sử
Trong bài viết của mình, Trần Thanh Mại vừa phân tích những điểmthiếu sót ấy theo quan niệm chủ quan của ông đồng thời nói rõ quan niệm đểthảo luận lại cùng ông Vũ Ngọc Phan và bạn đọc quan tâm đến vấn đề này
Trong chuyên luận hai tập Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam (1956 - 1957), Trần Thanh Mại đã đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng,
từ dẫn chứng đến kết luận, từ phân tích đến tổng hợp Bước đầu tiên ôngchọn một số ít truyện điển hình, sau đó vừa kể vừa cố gắng tôn trọngnguyên vẹn những chi tiết của nó, đúng ý như những sách cũ đối chiếu vớinhau và đối chiếu với chuyện kể của các cụ già, các mẹ trong thôn xómViệt Nam, địa phương này và địa phương khác Tiếp đó ông phân tích tỉ mỉnhững chi tiết quan trọng làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa của truyện, chútrọng cân nhắc mức độ đấu tranh của nó, cố gắng tìm đặt nó trong giai đoạn
Trang 28lịch sử đã cấu tạo nên nó Sau khi phân tích, ông một khái niệm tương đối
về truyên cổ tích: Định nghĩa về truyện cổ tích, thời kỳ cấu tạo của cáctruyện cổ tích, dân tộc tính của truyện cổ tích, yếu tố phong kiến trongtruyện cổ tích, các loại truyện cổ tích
Trong Vài nét về tư tưởng Nguyễn Trãi qua thơ văn ông (1962), Trần Thanh Mại đã dựa vào Quân trung từ mệnh tập và một số các bài văn khác
khái quát tư tưởng chính của Nguyễn Trãi Đó là tư tưởng nhân nghĩa và ý chíhoà bình Cái mới mẻ của Nguyễn Trãi ở tư tưởng nhân nghĩa đó là những tưtưởng nằm trong phần tích cực của đạo Nho, nhưng Nguyễn Trãi đã làm cho
nó một màu sắc Việt Nam đặc biệt Yêu nước phải “yên dân”, và muốn thếphải lo “trừ bạo” Là người từng chứng kiến những cơn loạn lạc thời hậu Trần
và nhà Hồ, là người đã từng tham gia lãnh đạo nhân dân đánh giặc cứu nước,hơn ai hết Nguyễn Trãi hiểu và đề cao vai trò của lực lượng nhân dân Ôngcũng bất chấp hiểm nghèo và đứng vững trên cơ sở đạo nhân nghĩa của mình,mượn cớ phê bình xã hội thối nát đời Trần, để gián tiếp lên án những người
có trách nhiệm lãnh đạo trong chế độ nhà Lê Để thấy rõ thêm cõi lòng, tâm
sự của Nguyễn Trãi, Trần Thanh Mại còn tìm hiểu qua Thơ chữ Hán và Thơ quốc âm của ông Thơ Nguyễn Trãi cho chúng ta thấy ông là một người vô
cùng thanh khiết, thiết tha vì đất nước, vì nhân dân Nỗi đau khổ của NguyễnTrãi không phải bị gièm pha, chèn ép gây thiệt cho bản thân mà chính vì thấy
“đạo mình” không được dùng, những hoài bão “trí quan trạch dân”, nhữngước vọng “trị quốc bình thiên hạ” của mình không được thực hiện TrầnThanh Mại cảm nhận về hai tập thơ của Nguyễn Trãi: “Nhìn chung, thơ chữHán thì đầy giọng trầm hùng, não nuột; thơ Quốc âm thì nhiều chất luân lý,chua chát, mỉa mai” Đặc biệt, Trần Thanh Mại tập trung tìm hiểu tình yêuthiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi: “Đó là tinh thần thưởng thức say sưa củaông trước cảnh nước non kỳ diệu; đó là lòng tự hào trước giang sơn cẩm tú
Trang 29của đất nước ta, nhân dân ta; nó cũng là một khía cạnh của lòng tự hào dântộc” [15, 223].
Năm 1963, Trần Thanh Mại viết Nguyễn Đình Chiểu, lá cờ đầu của nền thơ văn yêu nước thời kỳ cận đại Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gồm có ba bài văn tế: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1862), Văn tế Trương Trịnh (1864), Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh (sau 1874?), 12 bài thơ Điếu Trương Định, 10 bài Điếu Phan Tòng (1868), một ít bài thơ khác, và cuốn Ngư Tiều vấn đáp dài 3.644 câu, có lẽ được sáng tác vào những năm
cuối đời ông Trần Thanh Mại đánh giá Nguyễn Đình Chiểu là một nhà tríthức kiên cường, một chiến sĩ xuất sắc của chủ nghĩa nhân nghĩa, một nhà thơyêu nước lớn Nguyễn Đình Chiểu tự vạch cho mình một con đường đi đúngđắn: Dùng thơ văn làm vũ khí đấu tranh cho đạo đức con người, cho chínhnghĩa và hạnh phúc của nhân dân Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu mang nhiềugiá trị hiện thực, tràn đầy tính nhân dân và tính dân tộc Nó phản ánh kháchân thực khí thế quật cường bất khuất của dân tộc ta khoảng nửa sau thế kỷXIX Cả một thời đại đau thương mà oanh liệt đã truyền hơi thở nóng hổi của
nó vào các hịch, các văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu, tiếp chonhững áng thơ văn này một sức sống sôi sục Nhờ đó nó có một tác dụngđộng viên, tuyên truyền mãnh liệt Cái lớn lao của Nguyễn Đình Chiểu là ông
đã để cho tâm hồn mình hoà nhịp được với tình cảm của nhân dân Nhữngrung động, xúc cảm của nhân dân đã trở thành rung động, cảm xúc của ông.Trần Thanh Mại cho rằng những bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu “là nhữngbài thành công vào bậc nhất của văn học ta” Trần Thanh Mại cũng đồng thờichỉ ra hạn chế của thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu Nhà thơ lớn Nam
Bộ đã nhìn thấy được khía cạnh tích cực của người nông dân Nhưng ôngkhông thể hình dung được tất cả khả năng của họ; không thể nhận thức được
Trang 30rằng lực lượng nông dân là chủ yếu, rằng trong một hoàn cảnh chiến đấu nhưlúc bấy giờ không dựa vào lực lượng nông dân thì nhất định thất bại.
Đánh giá về những đóng góp lớn lao của Nguyễn Đình Chiểu, TrầnThanh Mại viết: “Trong những đóng góp vô cùng lớn lao của nhân dân miềnNam và nhân dân Nam Bộ cho Tổ quốc Việt Nam, chúng ta phải kể đến điềunày là: miền Nam và Nam Bộ lại cũng đã cống hiến cho Tổ quốc ta nhữngnghĩa quân đầu tiên chống đế quốc thực dân; miền Nam và Nam Bộ lại cũng
đã cống hiến cho Tổ quốc ta những nhà thơ yêu nước đầu tiên mà tiêu biểunhất chính là Nguyễn Đình Chiểu” [15, 303]
Từ 1961 đến 1964, ông có nhiều bài viết về thơ Hồ Xuân Hương: Thử bàn lại vấn để tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương, Phải chăng Hồ Xuân Hương còn là một nhà thơ bằng chữ Hán? Đính chính một điểm sai lầm trong tư liệu về thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương, Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương, Bản Lưu hương ký và lai lịch phát hiện nó Ông là người đầu tiên đặt lại vấn đề Hồ Xuân Hương (bàn lại vấn đề dâm và tục; loại bỏ những bài thơ không phải của bà), có công phát hiện và công bố Lưu hương kí - tập thơ chữ
Hán của Hồ Xuân Hương cùng nhiều tư liệu khác về nữ sĩ họ Hồ
Nhân tố hiện thực trong thơ Miên Thẩm được Trần Thanh Mại viết vào
năm 1965 Trong nền thơ văn Việt Nam viết bằng chữ Hán ở thế kỷ XIX,Miên Thẩm là một nhà thơ đáng chú ý Ông hiệu Thương Sơn, biệt hiệu BạchHào tử, sinh năm kỷ Mão (1819), là con trai thứ 10 vua Minh Mạng Vớiphương pháp phê bình tiểu sử, Trần Thanh Mại đã từ những nhân tố gia đình,thời đại, triều Nguyễn và bản thân Miên Thẩm để cắt nghĩa giá trị thơ văn nhàthơ này Quê mẹ Miên Thẩm ở miền Nam, vùng Gia Định Bà vương phi nàyluôn luôn nhớ tới gốc tích của mình và vẫn giáo dục con cái về tình thươngyêu quê ngoại, thương yêu người nghèo khổ Bản thân bà từ khi vào nội cung
để làm vợ hoàng tử rổi trở thành vợ vua, cũng đã chịu trăm đường cực nhục
Trang 31Cuộc sống đen tối của cung phi trong ngục thất thiếp vàng, sự khắc nghiệt đếnhung bạo của Minh Mạng ngay đối với con cái, vợ, hầu là một trong nhữngnhân tố giúp cho nhà thơ có một cái nhìn hiện thực, có nhiều nhân dân tính.Trần Thanh Mại cũng thấy rất rõ ảnh hưởng khá tốt đối với người học trò quýtộc là Thân Văn Quyến và Phan Thanh Giản Hai ông thầy là những sĩ phutrọng vọng của triều đình, nhưng đều xuất thân từ thành phần nghèo khổ,trước sau vẫn giữ một lòng chân thật thương dân Nhưng nhân tố quan trọngnhất ảnh hưởng đến tư tưởng tiến bộ của ông đó là việc chế độ phản độngphong kiến nhà Nguyễn cấm hoàng thân quốc thích không được thi cử, khôngđược tham gia chính sự, họ sợ lợi dụng quyền hành mà cướp ngôi MiênThẩm học, tài cao, nhưng không được dùng, và suốt đời phải sống ngoài rìa
xã hội Tinh thần bất đắc chí ấy đào một cái hố ngày càng sâu giữa MiênThẩm với tập đoàn phong kiến thống trị, mặt khác đẩy ông ngày càng gầnphía nhân dân lao động Trần Thanh Mại cũng lưu ý một nhân tố ảnh hưởngkhông nhỏ đến thơ Miên Thẩm là bạn bè thân thích của Miên Thẩm Đó lànhững người mà hành động và thơ văn chứng tỏ vốn có một tinh thần yêunước thương dân cao cả Miên Thẩm còn để lại cho chúng ta một di sản khá
đồ sộ, gồm 14 bộ cả thơ lẫn văn, trong đó tác phẩm quan trọng và giá trị là bộ
Thương Sơn thi tập, được xuất bản lần đầu 1872 Đây là một tập thơ quan
trọng, không những về khối lượng các bài mà chủ yếu về nội dung tư tưởng,
về tính chất nóng hổi của các đề tài nó đề cập đến Trần Thanh Mại đánh giáthơ Miên Thẩm với các giá trị lớn Thơ Miên Thẩm có giá trị hiện thực sâusắc Đó là hiện thực về đời sống cơ cực của nông dân, những nỗi bất công vô
lý của chế độ, sự khinh miệt và chà đạp con người, tình trạng tham quan ô lại,đặc biệt là vấn đề chống ngoại xâm Căn cứ vào thơ văn yêu nước của MiênThẩm, người ta có thể xếp ông vào phái những người chủ chiến Nhà phê bìnhđồng thời cũng thấy rằng thơ Miên Thẩm có tinh thần bất lực, cô đơn, tư
Trang 32tưởng bạc nhược Và ông đồng thời cũng phân tích nguyên nhân của nó MiênThẩm muốn hoạt động chính trị, muốn đem tài học và nhiệt tình yêu nước ragiúp đời, nhưng ông bị phong kiến nhà Nguyễn ngăn cấm không cho Không
đi được khắp, không trông được nhiều, chỉ nắm được tình hình bên ngoài củaquảng đại quần chúng, nỗi đói rách cực nhọc của họ, mà chưa hiểu hết nhữngđức tính tiềm tàng, chủ yếu là lực lượng của họ, ý chí bất khuất và tinh thầnyêu nước căm thù giặc ngoại xâm của họ, nhưng Trần Thanh Mại cho rằngnguyên nhân chủ yếu quyết định tính chất yếu đuối của một số không nhỏ thơông, chính là cái nhìn bế tắc của nhà thơ, ông không thể thay thế được bảnchất nhu nhược càng ngày càng đi đến bất lực thúc thủ của tập đoàn phongkiến nhà Nguyễn, mà đại biểu là Tự Đức, là Trương Đăng Quế, bố vợ ông, làPhan Thanh Giản, thầy học ông v.v Ông chỉ có một tấm lòng yêu nước màkhông biết được đường lối cứu nước là phải làm gì, dựa vào lực lượng nào.Chung quy, ông tự thấy mình lẻ loi cô độc và chỉ biết than khóc rỉ rên Điềuđáng tiếc mà nhà phê bình chỉ ra ở thơ Miên Thẩm, thứ nhất, thơ còn nhiềuchất yếu đuối, bạc nhược, chưa vượt quá nổi tinh thần u uất cá nhân, mà vươnlên tới khí thế hiên ngang phấn chấn của quảng đại quần chúng; thứ hai, tất cảnhững nhận thức tư tưởng ấy chỉ được thể hiện bằng chữ Hán, rất ít phổ cậptrong quảng đại quần chúng Mặt khác nữa, ngoài các thể loại thơ văn như thơluật Đường, “từ”, “hành”, “dao”, các lối thơ cổ phong, viết theo các ca khúc
cổ của Trung Quốc và mang tính chất trong sáng, phóng khoáng của văn họcdân gian, ông cũng sử dụng cả lối văn cử tử, lối văn “tứ lục” biền ngẫu nặng
nề, gò bó và vận dụng điển cố một cách quá cầu kỳ Cũng lí do này mà TrầnThanh Mại cho rằng với một số lượng thơ như vậy, với nội dung tương đối tốtnhư vậy, mà tên tuổi Miên Thẩm hầu như chưa ai mấy biết đến Về nghệthuật, Trần Thanh Mại cũng thấy được những đóng góp lớn lao của MiênThẩm: “Ông là một nhà thơ có tứ thơ dồi dào, phong phú Bên cạnh những bài
Trang 33thơ đặt ra những vấn đề căn bản của thời đại, có không ít những bài thơ thắmđượm tình đời, tình người, nói lên sâu sắc lòng thiết tha yêu cuộc sống” [15,516] Trần Thanh Mại là người đầu tiên nghiên cứu và giới thiệu về thơ vănMiên Thẩm, có những đánh giá xác đáng về vị trí văn học của nhà thơ này.
Tiểu kết chương 1
Với năm tư năm cuộc đời và gần bốn mươi năm cầm bút, Trần ThanhMại đã để lại một di sản văn học có giá trị Không chỉ là nhà nghiên cứu, phêbình văn học, ông còn là người sáng tác, dịch thuật, tham gia nhiều hoạt độngvăn hoá Sự nghiệp văn học của Trần Thanh Mại gồm hai mảng, trong đómảng nghiên cứu, phê bình được nhiều người biết đến hơn cả Ông là ngườiđến với phê bình văn học từ rất sớm và bằng những công trình có giá trị TrầnThanh Mại là một trong những nhà phê bình văn học có tên tuổi của văn họcViệt Nam đầu thế kỷ XX
Trang 34Chương 2
SỰ ĐA DẠNG TRONG ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC CỦA TRẦN THANH MẠI
2.1 Trần Thanh Mại với văn học dân gian Việt Nam
Về những người làm công tác lí luận, nghiên cứu văn học dân gian cóđóng góp hết sức lớn lao cho nền văn học dân tộc, chúng ta phải kể đến cácnhà nghiên cứu: Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Đinh Gia Khánh, Bùi VănNguyên, Cao Huy Đỉnh, Chu Xuân Diên, Ninh Viết Giao, Kiều Thu Hoạch,Hoàng Tiến Tựu vv
Trần Thanh Mại có những công trình nghiên cứu về truyện cổ tích,cũng vào loại sớm nhất trong nghiên cứu phê bình, kể từ ngày nước ta thành
lập chính thể mới Đó là các quyển Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích (phê bình quyển Truyện
cổ tích Việt nam (1955) của nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan) và Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam chuyên luận - hai tập, 1956 - 1957)
Mở đầu quyển Quan điểm duy vật máy móc và duy vật biện chứng trong cách nhận định một truyện cổ tích, Trần Thanh Mại đã nêu rõ cách hiểu
đúng truyện cổ tích: chỉ có đứng về quan điểm mới, quan điểm duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng, dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác Lê-nin, chỉ có đặt mìnhvào hoàn cảnh lịch sử của mỗi câu chuyện, mỗi tài liệu, để phân tích tính chấtcon người và tính chất xã hội, thì việc phân tích đó mới đúng được Việc sửdụng đúng lý luận biện chứng vào thực tế của ta là việc khó Một trong những
công trình quan trọng được phát khởi về vấn đề này là cuốn Truyện cổ tích Việt Nam của ông Vũ Ngọc Phan
Truyện cổ tích Việt Nam chia làm hai phần Phần đầu là Mấy lời giới
thiệu, nó chỉ là phần phụ, trong đó tác giả phân tích qua tính chất của truyện
Trang 35cổ tích Việt Nam Phần sau, phần chính, phần kể dài hơn Từ đầu chuyên luậncủa mình, Trần Thanh Mại đã thấy rõ quan điểm của Vũ Ngọc Phan khi tìmhiểu truyện cổ tích: “Tác giả đã cố gắng đứng về quan điểm duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử để kể”[38, 525] Chính Vũ Ngọc Phan ở Mấy lời giới thiệu cũng đã nêu: “Nếu chúng ta đặt vào hoàn cảnh lịch sử đương thời,
luôn lôn nhớ rằng đấu tranh giai cấp bao giờ cũng xuất phát ở sản xuất và baogiờ văn học cũng biểu hiện chính trị và kinh tế của một thời đại, chúng ta sẽthấy mâu thuẫn nào là chủ yếu, mâu thuẫn nào là thứ yếu, và đã là mâu thuẫnchủ yếu thì nó có tác dụng lãnh đạo và quyết định Phân biệt có được rõ,chúng ta mới thấy rõ trọng tâm của vấn đề” [45, 34] Nhưng theo Trần ThanhMại, dụng tâm ấy của Vũ Ngọc Phan không đưa đến kết quả mong muốn, vìtác giả bắt đầu đi từ những xuất phát điểm sai, vì tác giả dựa trên những cơ sởkhông vững
Trần Thanh Mại không đồng tình với việc Vũ Ngọc Phan hoàn toàn tinvào thời gian được nêu lên ở đầu mỗi truyện cũ là thời gian sáng tác củatruyện Để chứng minh cho luận điểm đó, ông viết: “Nhân dân ta đặt truyện
Chử Đồng Tử vào thời Hùng Vương thứ III, truyện Trầu cau vào Hùng Vương thứ IV, Thánh Gióng, Bánh Chưng bánh Dầy vào thời Hùng Vương thứ VI, và Thần Kim Quy vào hết thời Hùng Vương Lối đặt thời gian như thế
chỉ là một lối điển hình hoá của nghệ thuật kể chuyện dân tộc để nói rằngchuyện xẩy ra từ lâu đời lắm, và để phân bua rằng chuyện có thật chứ khôngphải chuyện bịa đặt, nó chỉ là một công thức để mở đầu câu chuyện màthôi”[38 Ông đồng thời chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thiếu sót của tác giả
Truyện cổ tích Việt Nam ở chỗ Vũ Ngọc Phan tin ngay ở những chi tiết đó, và
áp dụng ngay chủ nghĩa duy vật lịch sử và duy vật biện chứng vào, tác giả cho
thế là mấy truyện đầu thuộc vào thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh vào khi chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã đang chuyển sang
Trang 36chế độ chiếm hữu nô lệ, còn truyện Thần Kim Quy thì vào đầu thời kỳ chiếm
hữu nô lệ Do đó, Vũ Ngọc Phan kết luận: “Thánh Gióng là một tù trưởng đãhưởng ứng lời kêu gọi của một tù trưởng khác có uy thế hơn” [38, 531] TrầnThanh Mại cho rằng Vũ Ngọc Phan vì tin theo chi tiết của mỗi chuyện, cho là
nó phản ánh những sự kiện lịch sử đã xẩy ra, nên ông cũng có một lối “giảithích”, một lối “đính ngoa” giống hệt như lối của những nhà nghiên cứu theoquan niệm cũ Như về truyện Thánh Gióng, ông viết: “Thánh Gióng có lẽ tửtrận không tìm thấy xác, sau khi phá tan quân xâm lược ” [45, 15] Từ đó,Trần Thanh Mại cho rằng thiếu sót căn bản của ông Vũ Ngọc Phan là lầm thờigian mà tác giả vô danh đã ghép cho mỗi truyện theo phương pháp điển hìnhhoá của dân tộc với thời kỳ sáng tác của truyện “Nó chứng tỏ rằng quan niệmcủa tác giả chỉ dựa trên một cơ sở duy vật máy móc, tức là trên một cơ sở duytâm, siêu hình, do những cái rớt của lối nhìn tĩnh mà sinh ra” [38, 531] Đểchứng minh rõ hơn ý kiến của mình, Trần Thanh Mại có lý khi cho rằngnhững sự việc có thực trong lịch sử mà thực tế một số truyện đã bao hàm chỉ
là những đề tài mượn mỏ, không có tác dụng quyết định đối với mục đích ýnghĩa, đối với nội dung của câu chuyện Nội dung chính bao giờ cũng là sựthể hiện của những nguyện vọng chủ quan của một tầng lớp người, của mộtgiai cấp đấu tranh, nghĩa là sự biểu hiện của những ý thức còn chờ biến thànhhành động cụ thể, thành kết quả đấu tranh mới có thể trở thành những thựctiễn khách quan, nghĩa là thành sự việc có thực trong lịch sử Từ đó, nhà phê
bình cho rằng tác giả của Truyện cổ tích Việt Nam xem truyện cổ tích là
những tài liệu sử học thật sự, đó là lối nhìn thiếu sót
Ông cũng chỉ ra một thiếu sót quan trọng khác nữa của ông Vũ NgọcPhan là không chú trọng đến tính chất chủ yếu về hình thức của mọi truyện cổ
tích Việt Nam, tức là tính chất truyền miệng của nó, và do đó đến tính chất linh động của nó Văn học dân gian ra đời khi nước ta chưa có chữ viết, nó
Trang 37được sáng tác, lưu truyền và phát triển chủ yếu trong môi trường diễn xướng.Bởi vậy, truyền miệng là một đặc trưng cơ quan trọng nhất của văn học dângian Mỗi thế hệ đều đóng góp phần chủ quan của mình vào việc phổ biến,sửa chữa nó hoặc vô tình, hoặc hữu ý theo chủ quan của mình Mà chủ quan
ấy lại thay đổi theo lối sống, theo thời đại, theo chế độ Cái chủ quan khi sángtạo ra truyện lần đầu tiên nhất định không giống cái chủ quan sau đó hai bahoặc năm sáu trăm năm Mặt khác, sự biến đổi chủ quan đó cũng không tuần
tự, đều đều, lũy tiến theo số thời gian Đến những giai đoạn nào đó, thì cónhững chủ quan hầu như cố định lại, không thay đổi nữa Tính truyền miệngcủa văn học dân gian là một trong những yếu tố quan trong tạo nên tính dị bảncủa văn học dân gian Từ việc xác định đúng tầm quan trọng của hình thứctruyền khẩu của văn học dân gian, nhà phê bình khẳng định để hiểu đúng vănhọc dân gian phải đặc biệt chú ý tính chất truyền miệng của nó Những nhànghiên cứu văn học dân gian sau Trần Thanh Mại như Chu Xuân Diên, ĐinhGia Khánh, Hoàng Tiến Tựu v.v đều cho rằng tính truyền miệng là mộttrong những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian
Sức hấp dẫn của truyện cổ tích không chỉ ở nội dung mà còn ở hình
thức Ở chuyên luận này, Trần Thanh Mại đánh giá Truyện cổ tích của Vũ
Ngọc Phan về hình thức, nói chung, những truyện do tác giả kể cũng ít thànhcông vì không nắm vững phương pháp điển hình hoá nghệ thuật dân tộc.Phương pháp điển hình hoá nghệ thuật, theo ông đó là trong cách diễn tả có
thể dùng để nói lên một ý niệm, một sự việc, một tính chất, họ lựa chọn hình ảnh cụ thể nhất, gần mình nhất, đầy sức sống nhất Ông cho rằng, vì không
nắm vững phương pháp điển hình hoá cho nên có nhiều chi tiết trong cáctruyện cũ, Vũ Ngọc Phan bỏ đi, lại thêm vào rất nhiều chi tiết mới Thứ hai,cũng vì lý do đó mà lối mở đầu và lối kết thúc câu chuyện của tác giả làm chongười đọc bực mình hơn cả Để minh chứng điều đó ông trích một đoạn ở
Trang 38Mấy lời giới thiệu làm ví dụ: “Truyện Thần Kim Quy đã chứng tỏ rất rõ việc
bóc lột nhân lực của An Dương Vương đối với nhân dân lao động đương thời
và đã gây nên những việc chống đối rất mạnh mẽ của quần chúng nhân dân”[38, 541] Từ quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, nhà phê bình
có lý cho rằng: “Ở đây, chúng ta chưa bàn vội đến vấn đề khi Thục Phán (AnDương Vương) đánh đổ các vua Hùng Vương để xây dựng nước Âu Lạc, thời
xã hội Việt Nam mới từ chế độ Cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ Chiếm hữu
nô lệ, hay đã chuyển lâu từ trước rồi Việc này còn đợi kết quả công trìnhnghiên cứu của các nhà Sử học, Cổ vật học ở nước ta Nhưng cứ theo ý kiếncủa tác giả, ngay trong bước đầu xây dựng xã hội của nó có thể phản độnghơn mà chế độ xã hội mà nó thay thế Không hiểu tại sao chỉ căn cứ vào mỗimột điểm huy động nhân lực để xây thành, tác giả đã vội vàng kết luận là
“bóc lột nhân dân”, “kìm hãm sản xuất”[38, 542] Một đoạn khác, Trần ThanhMại trích lời kể của Vũ Ngọc Phan: “Nhiều nhà đã có những người đi đắpthành không trở về Ban đêm có những tiếng thì thầm, những tiếng xì xàotrong thôn xóm Nhưng ban ngày vẫn có những đoàn người bị dẫn đi”[45,65] Ngòi bút phê bình của Trần Thanh Mại hơi cực đoan và cách so sánh cònkhập khiễng khi ông viết: “Đọc đoạn này, người ta có cảm tưởng nặng nề màliên quan đến các trại tập trung của bọn phát xít Hítle, hoặc có cảm tưởng đauthương mà nhớ đến đồng bào miền Bắc bị cưỡng ép di cư vào Nam, bị bọnMỹ- Diệm bắt đi lính, hoặc bổ sung cho các đồn điền cao su của đế quốc tư
bản” [38, 544] Từ lập luận trên, ông cho rằng: “Tác giả Truyện cổ tích Việt Nam kể lại truyện Thần Kim Quy theo chủ quan mình, thì vô hình chung ông
đã làm một công việc xuyên tạc không hơn không kém, xuyên tạc tài liệu củadân tộc, xuyên tạc vốn cũ văn học của nhân dân” [15, 564] Một dẫn chứngkhác mà Trần Thanh Mại cho rằng Vũ Ngọc Phan đã tự động sửa chữa truyện
cổ tích của dân tộc là truyện Tấm Cám Theo Vũ Ngọc Phan, người nông dân
Trang 39ta vốn rất hiền từ, rất ưa hòa bình, thì “không có lý do nào mà họ lại tự gáncho họ độc ác”[45, 25] Truyện cổ tích là những sáng tác của nhân dân laođộng Bằng trí tưởng tượng phong phú của mình, họ gửi gắm trong đó ước mơ
về một xã hội công bằng, người hiền lành được giúp đỡ, kẻ ác bị trừng trịđích đáng; ước mơ về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xã hội công bằng Đó
là căn cứ để Trần Thanh Mại phủ nhận ý kiến mà Vũ Ngọc Phan cho rằnggiai cấp phong kiến thống trị có thể xuyên tạc một hoặc nhiều phần trongmột tác phẩm văn nghệ bình dân, như tác giả đã dẫn chứng trong truyện
Tấm Cám Phải chăng quá cực đoan khi Trần Thanh Mại nhận xét về Vũ
Ngọc Phan: “Ở một khía cạnh nào, lập trường giai cấp của tác giả chưađược vững chắc” [38, 550]?
Theo Trần Thanh Mại, chỉ có gắn liền truyện cổ tích hoặc một áng vănchương dân tộc nào nói chung, vào hoàn cảnh lịch sử đã đẻ ra nó, mới nắmđược quy luật duy vật lịch sử và duy vật biện chứng và áp dụng đúng quy luật
đó vào việc nhận định và phân tích áng văn học Mặt khác, ông cũng nhậnthức rõ văn học nghệ thuật gắn liền với cái đẹp và do đó đòi hỏi sự gia công,
sự nỗ lực sáng tạo của tác giả truyện cổ tích Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam cũng đồng tình Trần Thanh Mại: “Truyện cổ
tích cũng phụ thuộc rất nhiều vào ý định, tài năng của tác giả chứ không tùythuộc hoàn toàn vào những câu chuyện xẩy ra tự nhiên trong đời sống hàngngày” [3, 71] Một mặt khác, Trần Thanh Mại nhấn mạnh: chúng ta phải thấy
rõ tính chất linh động của các truyện cổ tích Việt Nam, nghĩa là tính chất biếnđổi của nó, biến đổi trên hình thức và biến đổi cả trong nội dung Một nguyêntắc nữa mà ông nhấn mạnh là cần nắm vững nguyên tắc điển hình hóa khinhận định mục đích ý nghĩa của truyện cổ tích
Đặt mình vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi câu chuyện; bằng năng lựccảm thụ và phân tích, với lối phê bình thẳng thắn, táo bạo và hơi cực đoan,
Trang 40Trần Thanh Mại đã có những nhận xét riêng về cuốn Truyện cổ tích Việt Nam
của Vũ Ngọc Phan Đồng thời ông cũng rút ra được những yếu tố căn bản đểnhận định một truyện cổ tích cho đúng mục đích ý nghĩa chính xác của nó
Về truyện cổ tích, Trần Thanh Mại còn có đóng góp ở chuyên đề Tìm hiểu và phân tích truyện cổ tích Việt Nam (1955).
Trong “Lời nói đầu” ở chuyên luận này, ông nêu rõ quan niệm của
mình là chỉ viết một tổng luận về truyền cổ tích, trong đó ghi lại những điềunhận xét khái quát về hệ thống truyện cổ của nước ta Theo đó, Trần ThanhMại chia truyện cổ tích làm hai loại: loại chống thiên nhiên và loại đấu tranh
xã hội Nhưng để dễ nhận định khi phân tích cũng như khi hệ thống hóa ông
đã tạm chia thành bốn loại nhỏ tuỳ theo ý nghĩa mục đích và mức độ đấutranh của truyện:
* Phần thứ nhất: Loại ý thức quốc gia dân tộc (Truyện Thần Kim Quy, Truyện Trầu Cau, Sự tích nòi giống Rồng Tiên, Truyện Thánh Gióng)
* Phần thứ hai: Loại đấu tranh chống thiên nhiên (Truyện Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Truyện người nông dân, con hổ và con trâu, Truyện con bọ hung, Truyện con trâu)
* Phần thứ ba: Loại chống phong kiến và có tính chất hiện thực
(Truyện cóc kiện trời, Truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Sự tích con muỗi, Truyện Thạch Sanh, Truyện Bà Đế)
`* Phần thứ tư: Loại nhiều yếu tố nô dịch hoá (Của thiên trả địa, Truyện sinh con rồi mới sinh cha, Quan Âm Thị Kính, Con rùa vàng, Truyện
hũ vành, hũ rắn, Truyện Tống Sinh xem tướng, Giấc mộng Nam Kha)
*Phần thứ năm: Tổng luận
Ở chuyên đề này, ông tiếp tục khẳng định: “Mỗi truyện đều có một mụcđích ý nghĩa riêng của nó, và những chi tiết nhỏ của mỗi truyện là để phục vụcho mục đích ý nghĩa chung Nếu chúng ta đem từng chi tiết ấy, suy diễn ra mà