Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
NGUYỄN VĂN THI
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VỀ QUẢN LÝ VÀ KỸ THUẬT BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG THI CÔNG BÊ TÔNG ĐẦM LĂN (RCC)
Chuyên ngành: QUẢN LÝ XÂY DỰNG
Mã số: 60580302
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ VĂN HÙNG
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của mình Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Thi
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Sau một thời gian thu tập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận văn thạc sỹ kỹ thuật “Đề xuất giải pháp về quản lý và kỹ thuật đảm bảo chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) Công trình thủy điện Xekaman1” đã được hoàn thành
Trước hết, tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy cô giáo và cán bộ Trường Đại học Thủy lợi, khoa Công trình và bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả hoàn thiện nâng cao kiến thức và trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành tới PGS.TS Lê Văn Hùng đã trực tiếp tận tình
hướng dẫn, cung cấp tài liệu, thông tin khoa học và giúp đỡ tác giả vượt qua khó khăn
để hoàn thành luận văn
Tác giả trân trọng cảm ơn tập thể Đảng ủy, Lãnh đạo và cán bộ nhân viên Công ty cổ phần điện Việt Lào đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này
Trong quá trình thực hiện để hoàn thành bài luận văn, tác giả khó tránh khỏi những thiếu sót và rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô và cán
bộ đồng nghiệp để tác giả hoàn thiện tốt hơn bản luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày…… tháng …… năm ……
Tác giả
Nguyễn Văn Thi
Trang 5iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY LỢI – THỦY ĐIỆN 5
1.1 Một số loại công trình thường gặp trong hệ thống các công trình thủy lợi – thủy điện 5
1.1.1 Đập đất 6
1.1.2 Đập đá đổ bản mặt bê tông 8
1.1.3 Đập bê tông đầm lăn 11
1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng 15
1.2.1 Khái niệm chất lượng 15
1.2.2 Quản lý chất lượng xây dựng 16
1.2.3 Hệ thống quản lý chất lượng xây dựng 17
1.3 Các chủ thể trực tiếp tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng 18
1.3.1 Đối với Chủ đầu tư 18
1.3.2 Đối với đơn vị tư vấn 18
1.3.3 Đối với doanh nghiệp xây dựng 19
1.3.4 Đối với đơn vị khảo sát xây dựng 20
1.3.5 Đối với đơn vị giám sát xây dựng 21
1.4 Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng đối với các giai đoạn của dự án đầu tư theo quy định của Việt Nam hiện nay 22
1.4.1 Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng 23
1.4.2 Thực hiện việc xã hội hóa công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng 24
1.5 Những vấn đề về quản lý chất lượng các công trình xây dựng áp dụng công nghệ thi công bê tông đầm lăn (RCC) ở Việt Nam và trên thế giới 27
1.5.1 Về chất lượng bám dính giữa các lớp 27
1.5.2 Về vấn đề thấm 28
1.5.3 Về chất lượng thi công 28
Trang 6iv
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI – THỦY ĐIỆN 30
2.1 Các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam 30
2.1.1 Thời kỳ trước năm 1954 30
2.1.2 Thời kỳ từ năm 1954 đến năm 1994 (Thời kỳ bao cấp) 31
2.1.3 Thời kỳ từ năm 1994 đến 2003 (Những tìm kiếm ban đầu cho cơ chế thị trường) 32
2.1.4 Thời kỳ từ cuối năm 2003 đến nay 36
2.2 Vai trò của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội 38
2.2.1 Đặt vấn đề 39
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thi công 41
2.2.3 Kiểm soát chất lượng thi công 44
2.3 Hệ thống văn bản pháp quy liên quan trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 47
2.3.1 Quản lý dự án 47
2.3.2 Quy hoạch xây dựng 48
2.3.3 Quản lý chi phí 48
2.3.4 Quản lý đấu thầu 49
2.3.5 Quản lý hợp đồng xây dựng 50
2.3.6 Quản lý thi công, xây dựng (chất lượng, tiến độ, nghiệm thu, thanh toán) 50
2.3.7 Kết thúc xây dựng 50
2.4 Một số vấn đề trọng tâm trong công tác quản lý chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) đối với công trình thủy lợi – thủy điện 50
2.4.1 Quản lý chất lượng vật liệu 51
2.4.2 Quản lý chất lượng hỗn hợp RCC 57
2.4.3 Quản lý chất lượng mặt khoảnh đổ 58
2.4.4 Quản lý chất lượng xử lý và thi công liên kết mặt tầng 65
2.4.5 Tạo khe co giãn ngang 71
2.4.6 Chôn thiết bị quan trắc 73
2.4.7 Quản lý chất lượng thi công bê tông trong điều kiện đặc biệt 74
Trang 7v
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ VÀ KỸ THUẬT ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG THI CÔNG BÊ TÔNG ĐẦM LĂN (RCC) CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN XEKAMAN
1 TRONG GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN 79
3.1 Giới thiệu chung về Dự án thủy điện Xekaman 1 79
3.1.1 Sự cần thiết phải đầu tư xây dựng công trình 79
3.1.2 Vị trí công trình 81
3.1.3 Nhiệm vụ, quy mô công trình 82
3.1.4 Các thông số chính 83
3.2 Công tác quản lý chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) tại Công trình thủy điện Xekaman 1 86
3.2.1 Quản lý chất lượng thiết kế 86
3.2.2 Quản lý công tác lập biện pháp thi công và giám sát kỹ thuật của nhà thầu 88
3.2.3 Quản lý công tác thí nghiệm RCC toàn diện ngoài hiện trường 88
3.2.4 Quản lý chất lượng vật liệu đầu vào và vật liệu trong kết cấu RCC 89
3.2.5 Kiểm soát cấp phối RCC và vữa liên kết 96
3.2.6 Thiết bị vận chuyển và chuyên chở RCC 97
3.2.7 Kiểm soát công tác chuẩn bị đổ bê tông 98
3.2.8 Kiểm soát công tác đổ bê tông RCC 99
3.2.9 Kiểm soát công tác đầm bê tông RCC 100
3.2.10 Kiểm soát dung trọng của RCC tại hiện trường 101
3.2.11 Kiểm soát công tác bảo dưỡng bê tông RCC 101
3.2.12 Kiểm soát chất lượng các khớp nối 102
3.3 Bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý chất lượng thi công bê tông đầm lăn tại Công trình thủy điện Xekaman 1 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 8vi
DANH M ỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Đập đất đầu mối tại Công trình thủy lợi Krông H’năng 6
Hình 1.2 Mặt cắt ngang của đập đá đổ bê tông bản mặt 8
Hình 1.3 Chuyển vị của đập Thiên Sinh Kiều (Trung Quốc) khi tích nước 9
Hình 1.4 Khớp nối dọc bị ép vỡ ở đập Mohale (Lesotho, Châu Phi) 10
Hình 1.5 Hư hỏng bản mặt đập Tử Bình Phố (Trung Quốc) khi động đất 10
Hình 1.6 Thi công đập BTĐL tại Dự án thủy điện Sơn La 14
Hình 1.7 Sơ đồ phương thức quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng 23
Hình 2.1 Vỡ đập thủy điện Đakrông 3 40
Hình 2.2 Đập thủy điện Đăk Mek 3 bị vỡ, sập 40
Hình 2.3 Mô hình quản lý của nhà thầu thi công tại công trường 45
Hình 2.4 Máy đo thời gian ninh kết ban đầu tại hiện trường 64
Hình 2.5 Công tác vệ sinh, tạo nhám bề mặt bê tông RCC 66
Hình 2.6 Dùng máy cắt bê tông để tạo khe ngang 72
Hình 3.1 Vị trí công trình thủy điện Xekaman1 82
Hình 3.2 Tuyến đập dâng Công trình thủy điện Xekaman1 83
Hình 3.3 Trạm nghiền sản xuất đá dăm tại CTTĐ Xekaman1 94
Hình 3.4 Vật chắn nước đặt tại các khe biến dạng 95
Hình 3.5 Đặt tấm màng PE tại các khe co ngót nhiệt 95
Hình 3.6 Vận chuyển bê tông RCC bằng băng tải kết hợp ô tô 98
Hình 3.7 Công tác chuẩn bị nền móng trước khi đổ bê tông RCC 99
Hình 3.8 Máy đo nhiệt độ bê tông 100
Hình 3.9 Công tác đầm bê tông RCC 101
Hình 3.10 Bảo dưỡng RCC bằng hệ thống phun sương 102
Hình 3.11 Các phương án mặt cắt đập (Phương án 3 là phương án chọn) 103
Hình 3.12 Sơn chống thấm tại các khe biến dạng phía thượng lưu đập 105
Trang 9vii
DANH M ỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình (gây vượt chi phí và chậm
tiến độ) 42
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn chất lượng tro bay 52
Bảng 2.3 Thành phần cấp phối hạt cát của đập Đakđrinh 54
Bảng 2.4 Thành phần cấp phối hạt của thủy điện Sơn La 55
Bảng 2.5 Tiêu chuẩn đánh giá đá đường kính quá cỡ 56
Bảng 2.6 Tiêu chuẩn kiểm tra dung sai cân đo phối liệu 57
Bảng 2.7 Tính năng kỹ thuật chủ yếu của máy chải SM400/800 67
Bảng 2.8 Thời gian bóc lộ cho xử lý khe thi công 69
Bảng 3.1 Bảng thông số chính của công trình thủy điện Xekaman1 83
Bảng 3.2 Bảng các đặc trưng cường độ thiết kế yêu cầu của RCC 87
Bảng 3.3 Cường độ kháng nén yêu cầu của mẫu trụ đúc kiểm tra tại hiện trường 87
Bảng 3.4 Cấp phối hạt của cát sử dụng trong bê tông RCC tại CTTĐ Xekaman1 91
Bảng 3.5 Quy định thành phần hạt của vật liệu dăm cho bê tông RCC tại Công trình thủy điện Xekaman1 93
Bảng 3.6 Bảng cấp phối bê tông RCC 96
Bảng 3.7 Bảng so sánh ổn định đập theo các phương án 104
Trang 10TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
ASTM: Tiêu chuẩn của Hiệp hội thí nghiệm và vật liệu Hoa Kỳ
Vc: Trị số công tác
VIETLAOPOWER: Công ty cổ phần điện Việt Lào
Trang 111
M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng - yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng công trình xây dựng đã có nhiều tiến bộ Với sự tăng nhanh và trình độ được nâng cao của đội ngũ cán bộ quản lý, sự lớn mạnh của đội ngũ công nhân các ngành nghề xây dựng, với việc sử dụng vật liệu mới có chất lượng cao, việc đầu tư thiết bị thi công hiện đại, sự hợp tác học tập kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp xây dựng phát triển cùng với việc ban hành các chính sách, các văn bản pháp quy tăng cường công tác Quản lý chất lượng công trình xây dựng, chúng ta
đã xây dựng được nhiều công trình xây dựng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi… góp phần quan trọng vào hiệu quả của nền kinh tế quốc dân
Hiện nay, trên cả nước có gần 7.000 hồ chứa thủy lợi, thủy điện đang hoạt động, các
hồ chứa này đã phát huy hiệu quả, cung cấp nguồn điện năng để phát triển kinh tế - xã hội phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần chống lũ vào mùa mưa và điều tiết lũ khu vực giúp ổn định đời sống nhân dân Các dự án điển hình như: Dự án thủy điện Sơn La do Tập đoàn điện lực Việt Nam làm Chủ đầu tư là Dự án lớn nhất Đông Nam Á, với công suất phát điện 2.400 MW, áp dụng công nghệ thi công
bê tông đầm lăn; Công trình thủy điện Hòa Bình, công suất 1.920 MW, công trình mang tầm vóc thế kỷ đối với những người con xây dựng thủy điện ở Việt Nam, công trình được thi công theo công nghệ truyền thống là đập đất đá kết hợp lõi sét; Công trình thủy điện Lai Châu, công suất 1.200 MW, sử dụng công nghệ thi công bê tông đầm lăn; Công trình thủy điện Yaly, Tổng công suất phát điện là 720 MW, là đập đá
đổ kết hợp lõi sét… và còn nhiều công trình thủy lợi, thủy điện lớn khác
Hầu hết các Dự án thủy lợi, thủy điện đã được đầu tư, xây dựng đảm bảo công năng sử dụng, an toàn, hiệu quả trong quá trình thi công và quản lý vận hành Tuy nhiên, bên cạnh những công trình đạt chất lượng, cũng còn không ít công trình có chất lượng kém, không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, công trình khi đưa vào sử dụng thời gian ngắn đã hư hỏng gây tốn kém, phải sửa chữa, phá đi làm lại Đã thế, nhiều công trình
Trang 122
không tiến hành bảo trì hoặc bảo trì không đúng định kỳ làm giảm tuổi thọ công trình
Cá biệt ở một số công trình gây sự cố làm thiệt hại rất lớn đến tiền của và tính mạng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư Đối với các công trình thủy lợi, thủy điện các
sự cố thường xảy ra liên quan tới công tác quản lý chất lượng thi công là:
Sạt mái đập ở thượng lưu do: biện pháp gia cố mái không chịu của sóng do bão gây
ra, thi công lớp gia cố kém chất lượng, đất mái thượng lưu đầm nèn không đủ độ chặt;
Thấm mạnh làm xói nền đập do: biện pháp thiết kế nền không đảm bảo chất lượng,
thi công xử lý nền không đúng thiết kế;
Thấm và sủi nước ở vai đập do: thi công không đúng thiết kế, bóc bỏ lớp thảo mộc
không hết, công tác thi công khoan phun không đảm bảo yêu cầu;
Thấm và xói rỗng mang các công trình bê tông do: thi công không đảm bảo chất
lượng, các khớp nối của công trình bê tông bị hỏng;
Vấn đề nhiệt trong bê tông khối lớn: do công tác thi công bê tông và kiểm soát nhiệt
trong bê tông không đảm bảo
Đối với mỗi dự án tính hiệu quả được thể hiện ở các tiêu chí:
− Thời gian vận hành an toàn đúng với thời gian hoàn vốn của công trình và không gây mâu thuẫn trong sự nghiệp phát triển kinh tế trong vùng;
− Chi phí cho duy tu bảo dưỡng không vượt quá chi phí đã dự trù;
− Có giá thành rẻ và hiệu quả kinh tế cao;
− Chất lượng công trình đảm bảo đúng theo yêu cầu của thiết kế;
Trong đó tiêu chí chất lượng công trình xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của dự án Tình trạng một số công trình chất lượng không đảm bảo đã xảy ra không chỉ ở trong giai đoạn thi công mà ở trong cả giai đoạn lập dự án đầu tư và thiết kế kỹ thuật;
Tổng công ty Sông Đà là một đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ xây dựng được thành lập từ năm 1961 Công ty tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh chính là xây
Trang 133
dựng các nhà máy điện, cơ sở hạ tầng, giao thông, nhà máy công nghiệp, công trình dân dụng; chế tạo và cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị xây dựng; cung cấp dịch vụ nhân lực, công nghệ xây dựng, kinh doanh bất động sản
TCT Sông Đà là nhà thầu chính của hầu hết các dự án thủy điện tại Việt Nam, như Thủy điện Sơn La (2400MW) – dự án thủy điện lớn nhất Đông Nam Á, thủy điện Hòa Bình (1920MW) – dự án nhà máy thủy điện ngầm của Việt Nam, thủy điện Lai Châu 1200MW), và là nhà thầu EPC của một số dự án khác như Tuyên Quang (324MW), Se san 3 (260 MW)… Sông Đà chiếm tới 85% thị phần trong nước về xây dựng thủy điện, trở thành nhà thầu lớn nhất trong lĩnh vực này tại Việt Nam TCT Sông Đà cũng
mở rộng hoạt động của mình sao Lào với các dự án thủy điện Xekaman 1, Xekaman 3 Xuất phát về các vấn đề liên quan tới công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng nêu trên, tác giả chọn đề tài “Đề xuất giải pháp về quản lý và kỹ thuật bảo đảm chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) Công trình thủy điện Xekaman 1”
2 M ục đích của của đề tài
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng hiện nay đối với các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng;
- Đề xuất một số giải pháp công tác quản lý và kỹ thuật nhằm đảm bảo chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) đối với Công trình thủy điện Xekaman 1
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
− Phương pháp nghiên cứu tổng quan;
− Phương pháp thu thập phân tích tài liệu;
− Phương pháp chuyên gia;
− Phương pháp quan sát trực tiếp;
− Phương pháp lý luận và vận dụng các quy định của pháp luật;
− Phương pháp kế thừa những kết quả đã tổng kết, nghiên cứu
Trang 144
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng công trình xây dựng các dự án thủy lợi, thủy điện và các giải pháp về quản
lý và kỹ thuật bảo đảm chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) tại Công trình thủy điện Xekaman 1
Phạm vi nghiên cứu:
Công trình đầu mối của dự án thủy lợi, thủy điện mà cụ thể là tuyến đập dâng của Công trình thủy điện Xekaman1
5 K ết quả dự kiến đạt được
Đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng thủy lợi, thủy điện hiện nay đối với các giai đoạn của dự án đầu tư xây dựng;
Đề xuất một số giải pháp về quản lý và kỹ thuật bảo đảm chất lượng thi công bê tông đầm lăn (RCC) tại Công trình thủy điện Xekaman 1
6 N ội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng và quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy
lợi – thủy điện
Chương 2: Các cơ sở khoa học về quản lý và kỹ thuật bảo đảm chất lượng công trình
xây dựng thủy lợi – thủy điện
Chương 3: Vấn đề về quản lý và kỹ thuật đảm bảo chất lượng thi công bê tông đầm lăn
(RCC) Công trình thủy điện Xekaman1 trong giai đoạn thực hiện Dự án
Trang 15− Đầu tư xây dựng không đồng bộ từ đầu mối đến kênh mương nội đồng;
− Năng lực phục vụ của các hệ thống đạt bình quân 50% so với năng lực thiết kế Hiệu quả phục vụ chưa cao, chất lượng việc cấp thoát nước chưa chủ động và chưa đáp ứng được so với yêu cầu của sản xuất và đời sống;
− Nhiều cơ chế, chính sách quản lý khai thác hệ thống thủy lợi còn bất cập, không đồng bộ, nhất là cơ chế chính sách về tổ chức quản lý, cơ chế tài chính;
− Tổ chức quản lý các hệ thống chưa đồng bộ và cụ thể, đặt biệt quản lý các hệ thống thủy lợi nhỏ Việc phân cấp tổ chức, quản lý ở nhiều địa phương còn chưa rõ ràng
Để ổn định và phát triển dân sinh kinh tế, trong những thập kỷ qua công tác phát triển thủy lợi đã được quan tâm đầu tư ngày càng cao Phát triển thủy lợi nhằm mục tiêu bảo
vệ, khai thác và sử dụng tổng hợp nguồn nước nhằm bảo vệ dân sinh, sản xuất đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển tất cả các ngành kinh tế, xã hội, Sự nghiệp phát triển thủy lợi đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vô cùng quan trọng cho sự phát triển của mọi ngành kinh tế - xã hội trong thời gian qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới của đất nước, đặc biệt là phát triển sản xuất lương thực
Trong góc độ nghiên cứu hạn hẹp, tác giả xin trình bày một số loại công trình thường gặp trong hệ thống thủy lợi, thủy điện của Việt Nam và trên thế giới:
Trang 166
1.1.1 Đập đất
Đập đất là một loại công trình dâng nước rất phổ biến Nó thường có mặt ở các hệ thống đầu mối thủy lợi – thủy điện với chức năng tạo ra hồ chứa để điều tiết chế độ dòng chảy tự nhiên của sông suối phục vụ các mục đích khác nhau như phát điện,
chống lũ, cấp nước tưới, vv… [1]
Hình 1.1 Đập đất đầu mối tại Công trình thủy lợi Krông H’năng
Tính phổ biến của đập đất là nhờ những ưu điểm sau đây:
− Có cấu tạo đơn giản nhưng rất phong phú;
− Cho phép sử dụng các loại đất có sẵn ở khu vực công trình;
− Có thể xây dựng trên mọi loại nền và trong mọi điều kiện khí hậu;
− Cho phép cơ giới hóa các công đoạn thi công từ khai thác vật liệu, chuyên chở, đắp, đầm nén, vv…;
− Làm việc tin cậy kể cả ở vùng có động đất
Đập đất không cho phép nước tràn qua, do vậy còn gọi là đập khô Trường hợp cá biệt,
ví dụ đập rất thấp ở miền núi, có thể cho nước tràn qua khi tháo lũ, nhưng phải có các
Trang 177
bộ phận gia cố mặt tràn để chống xói lở, đồng thời mái dốc phải đủ thoải
Chính vì vậy, trong đầu mối thủy lợi đi đôi với đập đất còn có công trình tháo nước bằng bê tông với các hình thức tháo như tháo mặt (còn gọi là tràn mặt), tháo dưới sâu, tháo kết hợp (có cả tràn mặt và xả sâu, có thể là xả nhiều tầng) và xả đáy
Những yêu cầu cơ bản khi thiết kế và xây dựng đập đất là:
1 Có mặt cắt hợp lí thể hiện ở khối lượng vật liệu, chi phí thi công xây lắp và quản lý vận hành hợp lý;
2 Đảm bảo các mái dốc, nền đập và toàn bộ đập làm việc ổn định trong mọi điều kiện thi công và khai thác;
3 Đỉnh đập và mái dốc đập phải có lớp bảo vệ để chống các tác động phá hoại của sóng, gió, mưa, vv…
4 Các kết cấu thoát nước đảm bảo thu và thoát được nước thấm, tránh hậu quả biến dạng thấm ở trong thân đập và nền đập;
5 Những biến dạng trong quá trình thi công và khai thác đập như lún, chuyển vị … không được gây ra sự phá hủy điều kiện làm việc bình thường của đầu mối các công trình thủy
Đập đất được phân loại theo nhiều cách khác nhau như:
− Phân loại theo cấu tạo mặt cắt ngang đập: Đập đồng chất, đập không đồng chất, đập
có tường nghiêng bằng đất sét, đập có tường nghiêng bằng vật liệu không phải là đất, đập có lõi giữa bằng đất sét, đập có màn chống thấm…;
− Phân loại theo bộ phận chống thấm ở nền như: Đập đất có sân trước, đập đất có tường răng, đập đất có màn phun bằng các loại vật liệu như vữa sét, vữa xi măng, thủy tinh lỏng, nhựa đường hoặc hỗn hợp vật liệu chống thấm;
− Phân loại đập đất theo phương pháp thi công: Đập đất thi công bằng đắp và đầm nén, đập đất thi công bằng đổ đất trong nước, đập đất thi công bằng phương pháp bồi thủy lực, đập đất thi công hỗn hợp đắp và bồi thủy lực, đập đất thi công bằng bồi định
Trang 188
hướng…;
− Phân loại theo chiều cao đập: đập thấp, chiều cao tác dụng dưới 20m; đập cao trung bình, cột nước tạc dụng từ 20 -:- 50m; đập cao, cột nước tác dụng lớn hơn 50-:- 100m; đập rất cao (hay siêu cao), cột nước lớn hơn 100m
1.1.2 Đập đá đổ bản mặt bê tông
Đập đá đổ bản mặt bê tông (Concrete Face Rockfill Dam – CFRD) cũng như các đập
đá đổ, đá xếp bản mặt chống thấm bằng các loại vật liệu chống thấm khác nhau đã được ứng dụng từ lâu Ví dụ: Đập đá đổ bể tông bản mặt trên sông Lerma (Mexico) xây dựng 1927-1929, cao 37,50m; Đập đá xếp trên sông OY (Pháp) xây dựng năm
1948, cao 20m… Ngày nay, CFRD được ứng dụng nhiều ở Trung Quốc, Brasil, Việt Nam Tại Việt Nam đã xây dựng các đập Rào Quán (tỉnh Quảng Trị), đập Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang), đập Cửa Đạt (tỉnh Thanh Hóa) Đập CFRD có ưu thế đến mức đã được tổng kết trong chương trình giáo khoa về thủy công là “loại đập đầu tiên được nghĩ đến khi có yêu cầu xây dựng đập” Tại sao lại như vậy? Vì nó là loại đập có tính an toàn cao, ít kén chọn điều kiện địa hình, đại chất, có thể thi công ở mọi loại thời tiết, tận dụng được tối đa các loại đá thải loại đào từ hố móng tràn hoặc đường
hầm tháo lũ, mang lại hiệu quả kinh tế lớn về kinh tế và kỹ thuật [2]
Hình 1.2 Mặt cắt ngang của đập đá đổ bê tông bản mặt
Về nguyên lý, kết cấu đập bao gồm hai phần chính:
− Một là bộ phận chịu lực với yêu cầu bảo đảm cho đập ổn định dưới tác dụng đẩy ngang của khối nước chứa trong hồ ở thượng lưu đập Bộ phận này được cấu tạo chủ
Trang 199
yếu bởi khối đá IIB và IIIC được đầm nén kỹ như công nghệ làm đường, trong đó khối IIIB được làm từ đá chọn lọc lấy từ mỏ đá, còn khối đá IIIC được làm từ đá thải loại tận dụng từ đá đào hố móng tràn hoặc đường hầm tháo lũ để giảm giá thành xây dựng đập cũng như giảm thiểu tác động xấu đến môi trường;
− Hai là bộ phận chống thấm bao gồm bản mặt và bản chân được làm bằng bê tông cốt thép với yêu cầu kín nước để hạn chế tối đa rò rỉ nước từ hồ chứa, tránh mất nước
và gây xói thân đập, làm mất an toàn đập Vì bê tông cốt thép là loại vật liệu dòn, dễ bị nứt nẻ khi có biến dạng trong quá trình chịu lực Bản mặt được thiết kế chủ yếu để bảo đảm yêu cầu chống thấm và đủ “mềm” để có thể biến dạng theo biến dạng của mặt thượng lưu thân đập, nên có bề dày khá mỏng Do vậy, khả năng chịu lực của bản mặt chủ yếu dựa vào sự tiếp xúc chặt chẽ của bản mặt với mặt thượng lưu của thân đập Thực tế làm việc của nhiều đập, nhất là đập có chiều cao lớn hơn cho thấy khó thực hiện để hạn chế biến dạng lớn của thân đập, vì rất khó kiểm soát sự đồng đều của đá dùng để đắp đập cũng như chất lượng đầm nén các khối đá ở hiện trường với khối lượng thi công lên tới hàng triệu khối Mặt khác, mặc dù bản mặt được đổ khi kết quả quan trắc cho thấy thân đập đã ổn định lún, nhưng trong quá trình tích nước kết quả tính toán cũng như quan trắc thực tế cho thấy thân đập vẫn tiếp tục bị lún và bị chuyển dịch về phía hạ lưu (Hình 1.3 biểu diễn kết quả tính toán và quan trắc chuyển vị của đập Thiên Sinh Kiều (Trung Quốc) sau một năm đưa vào sử dụng)
Hình 1.3 Chuyển vị của đập Thiên Sinh Kiều (Trung Quốc) khi tích nước
Đấy là chưa kể với đập cao, trong quá trình thi công phải phân đợt đắp đập và đổ bản mặt Thân đập được đắp và đổ bản mặt ở đợt trước tiếp tục bị lún và chuyển vị về phía
Trang 2010
hạ lưu khi đắp tiếp các khối phía trên ở các đợt thi công sau Kết quả là mặt thượng lưu bị võng và bản mặt đập mặt dù được thiết kế có chiều dày mỏng, nhưng lại làm bằng bê tông cốt thép là loại vật liệu cứng nên không thể uốn theo mặt thượng lưu đập
bị võng như ý định của người thiết kế, dẫn tới hiện tượng mất tiếp xúc giữa bản mặt và
thượng lưu của thân đập Các nhà nghiên cứu gọi hiện tượng này là hiện tượng “thoát không” Chính vì lý do này, nên dưới tác dụng của trọng lượng bản thân bản mặt và nhất là áp lực nước bản mặt dễ bị nứt, dẫn đến rò rỉ, thẩm lậu nước qua thân đập Có thể nói, nứt bản mặt đập đá đổ bản mặt bê tông là điều hầu như không thể tránh khỏi, chỉ có vấn đề là số lượng vết nứt ít hay nhiều và bề rộng nết nứt to hay nhỏ
Hình 1.4 Khớp nối dọc bị ép vỡ ở đập Mohale (Lesotho, Châu Phi)
Hình 1.5 Hư hỏng bản mặt đập Tử Bình Phố (Trung Quốc) khi động đất
Trang 2111
Đập đá đổ bản mặt bê tông ngày càng khẳng định ưu thế rõ ràng của nó so với các loại đập khác Nguyên lý làm việc của đập rất rõ ràng và đơn giản, tuy vậy cần chú trọng tuân thủ chặt chẽ các qui định về thiết kế, thi công cũng như vận hành đập để đảm bảo
an toàn và nâng cao tuổi thọ cho đập Mặt khác, cũng cần cập nhật kịp thời các công nghệ đã được áp dụng ở trong và ngoài nước để nâng cao khả năng an toàn của đập
1.1.3 Đập bê tông đầm lăn
Các nhà vật liệu xây dựng qua nghiên cứu nhận thấy rằng lượng nước (N) yêu cầu để đảm bảo quá trình thuỷ hoá xi măng (X) trong khối bê tông là thấp hơn nhiều so với lượng nước được trộn vào hỗn hợp bê tông truyền thống Mặt khác qua nghiên cứu lí luận về cường độ bê tông phát hiện ra rằng cường độ bê tông Rb tỷ lệ thuận với tỷ lệ N/X (Rb=F(N/X)) Vì vậy, nếu giảm lượng nước trộn thì có thể giảm được lượng xi măng của hỗn hợp mà cường độ bê tông vẫn không thay đổi Do giảm lượng nước trộn nên bê tông khô như đất, muốn đầm phải sử dụng máy đầm rung thay vì đầm dùi như bê tông truyền
thống Bê tông đầm lăn hình thành từ những ý tưởng rất đơn giản như vậy [3]
Công nghệ bê tông đầm lăn là loại công nghệ sử dụng bê tông không có độ sụt, được
làm chặt bằng thiết bị rung lèn từ mặt ngoài (lu rung) Công nghệ này thích hợp sử dụng cho các công trình bê tông khối lớn, không cốt thép và hình dáng không phức tạp như lõi đập, mặt đường Việc sử dụng hỗn hợp bê tông khô hơn (không có độ sụt) và đầm lèn bê tông bằng lu rung giúp cho thi công nhanh hơn, rẻ hơn so với dùng công nghệ thi công bê tông truyền thống
Vào năm 1961, đê quây của đập Thạch Môn ở Đài Loan Trung Quốc, năm 1961-1964 đập Alpe Gera ở Ý đã được áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn Đến năm 1975, ở Pakistan trong công việc sữa chữa các công trình, đã áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn để thi công Đây là lần sớm nhất ở các đập cục bộ xuất hiện bê tông đầm lăn
Đến năm 1980 - 1984 ở Nhật Bản, Anh, Mỹ cũng đã xây dựng xong các đập bê tông đầm lăn Năm 1986 - 1989 ở Trung Quốc xây dựng xong các đập bê tông đầm lăn
Khang Khẩu, Cầu Thiên Sinh, Long Môn Than, Phan Gia Khẩu [4]
Do hiệu quả kinh tế - kỹ thuật cao mang lại, nên rất nhiều công trình bê tông đầm lăn được xây dựng khắp nơi trên thế giới Cùng quá trình phát triển đến nay đã hình thành
Trang 2212
3 trường phái chính về công nghệ bê tông đầm lăn trên thế giới: Mỹ, Nhật, Trung Quốc Mặc dù công nghệ bê tông đầm lăn được áp dụng muộn hơn so với các nước phương Tây, song đến nay Trung Quốc với sự nỗ lực và sáng tạo, đã trở thành quốc gia đầu đàn trên thế giới về công nghệ này, thể hiện qua những yếu tố sau:
- Số lượng đập bê tông đầm lăn được xây dựng nhiều nhất so với các nước trên thế giới
- Số lượng đập cao được xây dựng nhiều nhất so với các nước trên thế giới Đập cao nhất đã nghiên cứu và thi công là cao gần 200m (đập Long Than)
- Cường độ thi công đạt cao nhất thế giới (thể hiện tính cơ giới hoá cao)
- Đã phát minh ra bê tông biến thái theo đó đã đưa tỷ lệ: bê tông đầm lăn/tổng khối lượng bê tông đập lên cao nhất thế giới Trình độ thiết kế đập bê tông đầm lăn được thể hiện thông qua tỷ lệ này Tỷ lệ càng cao thể hiện trình độ càng cao
- Lần đầu tiên trên thế giới đã áp dụng công nghệ bê tông đầm lăn vào đập vòm trọng lực và ngay cả vòm mỏng
Về xây dựng đập trọng lực, tính đến 2005 toàn thế giới đã xây dựng được trên dưới
300 đập bê tông đầm lăn với khối lượng tổng cộng khoảng trên 90 triệu m3 bê tông đầm lăn Từ khi ra đời cho đến nay, việc xây dựng đập bê tông đầm lăn đã và đang phát triển theo các hướng chính, cụ thể như sau:
- Bê tông đầm lăn nghèo chất kết dính (CKD) (hàm lượng CKD < 99kg/m3) do USACE - Mỹ phát triển dựa trên công nghệ thi công đất đắp;
- Bê tông đầm lăn có lượng CKD trung bình (hàm lượng CKD từ 100 đến 149 kg/m3);
- Bê tông đầm lăn giàu CKD: (hàm lượng CKD > 150 kg/m3) được phát triển ở Anh Việc thiết kế thành phần bê tông đầm lăn được cải tiến từ bê tông thường và việc thi công dựa vào công nghệ thi công đập đất đắp
Ngoài ra còn một hướng phát triển bê tông đầm lăn khác đó là hướng phát triển RCD của Nhật bản (Japannese Roller Compacted Dams), chuyển từ đập trọng lực bê tông thường sang sử dụng bê tông đầm lăn Theo hướng này, bê tông đầm lăn có lượng chất kết dính nằm giữa loại bê tông đầm lăn có lượng chất kết dính trung bình và loại bê
Trang 2313
tông đầm lăn có lượng chất kết dính cao
Sau hơn 30 năm ứng dụng trên thế giới, công nghệ xây dựng đập bê tông liên tục được cải tiến cả về vật liệu chế tạo và kỹ thuật thi công Cho tới nay, đập bê tông đầm lăn được thi công xây dựng ở nhiều nước thế giới, ở nơi có nhiệt độ môi trường từ rất thấp cho đến rất cao và có thể trong cả những vùng thường xuyên có mưa lớn
Bê tông đầm lăn cũng được ứng dụng trong xây dựng mặt đường và sân bãi Bê tông đầm lăn cho mặt đường lần đầu tiên được áp dụng ở Canada vào năm 1976 tại Caycuse trên đảo Vancouver với diện tích tổng cộng 36.000m2 Cho tới nay, hàng chục triệu m2 đường và sân bãi được xây dựng bằng công nghệ bê tông đầm lăn ở các nước Mỹ, Nhật và một số nước khác Các công trình mặt đường và sân bãi bằng bê tông đầm lăn đều cho hiệu quả sử dụng tốt và giảm chi phí bảo dưỡng
Ngoài việc áp dụng cho xây dựng đập, mặt đường và sân bãi, bê tông đầm lăn còn được áp dụng được cho các dạng kết cấu khác Năm 1986 cầu treo lớn nhất thế giới Akashi được khởi công xây dựng tại Nhật Bản Cây cầu này nối liền đảo Honshu và đảo Shikoku với chiều dài nhịp giữa hai tháp chính 1960m Đây là công trình đã ứng dụng nhiều công nghệ bê tông tiên tiến như bê tông tự lèn, bê tông đổ trong nước và bê tông đầm lăn Móng trụ neo cáp của công trình này được thiết kế là bê tông trọng lực khối lớn Để thi công khối móng với khối tích khoảng 200.000m3 trong thời gian ngắn,
công nghệ bê tông đầm lăn đã được lựa chọn áp dụng [5]
Công nghệ bê tông đầm lăn đặc biệt hiệu quả khi áp dụng cho xây dựng đập bê tông trọng lực Khối lượng bê tông được thi công càng lớn thì hiệu quả áp dụng công nghệ BTĐL càng cao Việc lựa chọn phương án thi công đập bằng công nghệ BTĐL thường đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với đập bê tông thường và đập đất đắp bởi các lý do sau:
− Thi công nhanh: So với đập bê tông thường, đập bê tông đầm lăn được thi công với tốc độ cao hơn do có thể dùng băng tải để vận chuyển bê tông, dùng máy ủi để san gạt, máy lu rung để đầm lèn và ít phải chờ khối đổ hạ nhiệt So với đập đất đắp có cùng chiều cao, khối lượng thể tích của đập BTĐL nhỏ hơn nên thi công nhanh hơn Công trình đập càng cao, hiệu quả kinh tế của đập bê tông đầm lăn càng lớn so với đập đất đắp;
Trang 2414
− Giá thành hạ: Theo các tính toán tổng kết từ các công trình đã xây dựng trên thế
giới, giá thành đập BTĐL rẻ hơn so với đập bê tông thi công bằng công nghệ truyền thống từ 25% đến 40% Việc hạ giá thành được là do giảm chi phí cốp pha, giảm chi phí cho công tác vận chuyển, đổ, đầm bê tông
− Giảm chi phí cho các kết cấu phụ trợ: So với đập đắp, chi phí làm cửa tràn của
BTĐL rẻ hơn (tương tự như đập bê tông thường) Đối với đập thủy điện được thiết kế
có nhiều cửa nhận nước ở nhiều cao trình khác nhau thì phương án đập BTĐL càng rẻ hơn so với phương án đập đắp Hơn nữa khi làm đập bê tông đầm lăn, chiều dài của kênh xả nước ngắn hơn so với kênh xả nước của đập đắp và vì vậy giảm chi phí làm bản đáy và chi phí xử lý nền đập;
− Giảm chi phí cho biện pháp thi công: Việc thi công đập bằng BTĐL có thể giảm
chi phí dẫn dòng trong thời gian xây dựng và giảm các thiệt hại, các rủi ro khi nước lũ tràn qua đê quai Đối với đập BTĐL, đường ống dẫn dòng ngắn hơn ống dẫn dòng của đập đắp Hơn nữa thời gian thi công đập bê tông đầm lăn ngắn nên các ống dẫn dòng cho đập bê tông đầm lăn chỉ cần thiết kế để đáp ứng lưu lượng xả nước lớn nhất theo mùa thay vì lưu lượng lớn nhất theo năm như đối với đập bê tông và đập đắp Vì vậy đường kính cống dẫn dòng của đập BTĐL nhỏ hơn và chiều cao đê quai cho đập BTĐL cũng thấp hơn so với phương án đập bê tông thường và đập đắp
Hình 1.6 Thi công đập BTĐL tại Dự án thủy điện Sơn La
Trang 2515
Tuy nhiên, công nghệ đập RCC vẫn còn mới mẻ ở nước ta nên còn nhiều vấn đề về khảo sát, thiết kế, tổ chức thi công và quản lý khai thác đập chưa được nghiên cứu đầy đủ và khuyến cáo rõ ràng Do vậy, ở một số đập đã xảy ra hiện tượng bất lợi như: xuất hiện vết nứt trong bê tông, thấm nước mạnh tại mặt thượng lưu đập hay trong nền, rò nước nhiều tại các khớp nối… Việc đánh giá đầy đủ nguyên nhân, tác hại và ảnh hưởng của các hiện
tượng này đối với an toàn đập còn cần phải được tiếp tục nghiên cứu [6]
1.2 Khái ni ệm về quản lý chất lượng và hệ thống quản lý chất lượng công trình xây d ựng
Nói như vậy không phải chất lượng là một khái niệm quá trừu tượng đến mức người ta không thể đi đến một diễn giải tương đối thống nhất, mặc dù sẽ còn luôn luôn thay đổi
Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000 đã đưa ra định
nghĩa như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản
phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên
có liên quan”
Từ định nghĩa trên ta rút ra một số đặc điểm sau đây của khái niệm chất lượng:
1 Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó
mà không được nhu cầu chấp thuận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình
độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể là rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
Trang 2616
2 Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng
3 Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội
4 Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng
có những nhu cầu không thể hiện miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được trong chúng trong quá trình sử dụng
5 Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta vẫn hiểu
hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình [7]
1.2.2 Qu ản lý chất lượng xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng không những có liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an toàn cộng đồng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Do có vai trò quan trọng như vậy nên luật pháp về xây dựng của các nước trên thế giới đều coi đó là mục đích hướng tới Ở Việt Nam, Luật Xây dựng 2014 được Quốc hội khóa XII thông qua năm 2014, trong đó quản lý chất lượng công trình xây dựng cũng là nội dung trọng tâm, xuyên suốt Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn Luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã được hoàn thiện theo hướng hội nhập quốc tế; những mô hình quản lý chất lượng công trình tiên tiến cùng hệ thống tiêu chí kỹ thuật cũng được áp dụng một các hiệu quả Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ và vận động không ngừng của ngành xây dựng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, nên vấn
đề quản lý chất lượng công trình luôn luôn phải được sửa đổi, xem xét, bổ sung để phù hợp với thị trường và tạo được sự thống nhất của cả hệ thống pháp luật có liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng
Chất lượng công trình xây dựng được khái niệm là những yêu cầu về an toàn, bền vững,
kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với qui chuẩn và tiêu chuẩn, các
Trang 2717
qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế
Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế
Ví dụ: một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thỏa mãn yêu cầu về chất lượng công trình
Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư)
và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng [7]
1.2.3 H ệ thống quản lý chất lượng xây dựng
Hiện nay, hệ thống quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật, các nghị định, thông tư, quy chuẩn, tiêu chuẩn của Việt Nam
và thế giới quy định Những hệ thống văn bản này quy định chi tiết về công tác quản
lý chất lượng công trình từ khâu khảo sát, thiết kế, xây dựng công trình đến giai đoạn vận hành sử dụng công trình Đối với một doanh nghiệp xây dựng, quản lý chất lượng công trình xây dựng được xây dựng bởi các hệ thống văn bản để quy định và hướng dẫn quản lý điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
− Sổ tay chất lượng: Giới thiệu chính sách chất lượng của doanh nghiệp, hệ thống tổ
chức của doanh nghiệp, tóm tắc các quy trình hướng dẫn chất lượng của doanh nghiệp;
− Các quy trình chất lượng: Mô tả cách thức thực hiện từng công việc trong hoạt
động kinh doanh Các quy trình có thể còn có các quy chế quy định hướng dẫn công việc Ngoài ra các doanh nghiệp còn áp dụng các quy định có nguồn gốc từ bên ngoài (các văn bản luật…) để thực hiện các hoạt động của mình Các doanh nghiệp có các quy trình quản lý và quy trình kỹ thuật
− Các mẫu biểu, hồ sơ chất lượng: Từng doanh nghiệp ban hành và sử dụng thống
nhất các biểu mẫu, hồ sơ chất lượng để phù hợp với hệ thống quản lý của doanh nghiệp mình và phù hợp với hệ thống quy định chung về quản lý của Nhà nước;
− Kiểm soát tài liệu: Mỗi doanh nghiệp có phương thức kiểm soát thích hợp để đảm
Trang 2818
bảo rằng các tài liệu đang được sử dụng là những tài liệu đang được hiện hành, được phê duyệt thích hợp, đang có hiệu lực và có sẵn ở những nơi cần thiết để tiện cho việc
sử dụng Các tài liệu có thể được sửa đổi hoặc thay thế từng phần, từng trang hay toàn
bộ Việc thay đổi phải được ghi nhận để đảm bảo kiểm soát được sự thay đổi
− Kiểm soát hồ sơ chất lượng: Hồ sơ chất lượng của doanh nghiệp phải được lưu trữ
theo quy định để đảm bảo cho việc kiểm soát các hoạt động theo đúng quy trình
1.3 Các ch ủ thể trực tiếp tham gia quản lý chất lượng công trình xây dựng
Các chủ thể trực tiếp tham gia quản lý chất lượng công trình bao gồm: Chủ đầu tư, đơn
vị Tư vấn xây dựng, doanh nghiệp xây dựng, đơn vị khảo sát xây dựng và đơn vị giám sát thi công xây lắp, cụ thể:
1.3.1 Đối với Chủ đầu tư
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn bộ của công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư do mình quản lý Nếu thành lập Ban quản lý dự án, lãnh đạo Ban quản lý dự án phải có đầy đủ điều kiện năng lực theo quy định Chỉ được ký hợp đồng giao thầu đối với những tổ chức tư vấn doanh nghiệp xây dựng có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, theo quy định hiện hành Được quyền yêu cầu những đơn vị liên quan, theo hợp đồng giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị, công việc… và có quyền từ chối nghiệm thu Khi Chủ đầu tư không đủ điều kiện năng lực theo quy định, phải thuê tổ chức Tư vấn có đủ năng lực thực hiện các công việc liên quan đến quá trình đầu tư xây dựng như: Giám sát thi công xây lắp và lắp đặt thiết bị, đặc biệt đối với công tác quản lý chất lượng tại công trường, công tác nghiệm thu (cấu kiện, giai đoạn, hoàn thành) và việc đưa ra quyết định đình chỉ thi công trong những trường hợp cần thiết
1.3.2 Đối với đơn vị tư vấn
Chịu trách nhiệm về những quy định pháp lý đã nêu trong hợp đồng, đặc biệt là chất lượng sản phẩm và thời gian thực hiện cần phải đảm bảo nghiêm túc:
− Phải sử dụng cán bộ có đủ năng lực cho mỗi công việc thực hiện theo quy định;
− Phải có hệ thống quản lý chất lượng để kiểm soát chất lượng sản phẩm thiết kế của đơn vị;
Trang 2919
− Phải bồi thường thiệt hại do sản phẩm tư vấn của mình gây ra;
− Phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định;
− Không được chỉ định sử dụng các loại vật liệu hay vật tư kỹ thuật của một nơi sản xuất, cung ứng nào đó, mà chỉ được nêu yêu cầu chung về tính năng kỹ thuật của vật liệu hay vật tư kỹ thuật;
− Không được giao thầu lại toàn bộ hợp đồng hoặc phần chính của hợp đồng cho một số
tổ chức tư vấn khác
Đảm bảo sản phẩm được thực hiện theo đúng nội dung các bước thiết kế đã quy định; phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng được áp dụng và nhiệm vụ thiết
kế, hợp đồng giao nhận thầu thiết kế với Chủ đầu tư
Đồ án thiết kế chỉ được thực hiện khi chủ nhiệm đồ án thiết kế và chủ trì thiết kế có đủ năng lực theo quy định của Bộ Xây dựng Người chủ nhiệm đồ án thiết kế và chủ trì thiết kế phải chịu trách nhiệm cá nhân về chất lượng sản phẩm do mình thực hiện
Tổ chức tư vấn thiết kế phải có hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm thiết kế để kiểm soát chất lượng sản phẩm thiết kế
Tổ chức tư vấn lập thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công phải thực hiện giám sát tác giả trong quá trình thi công xây lắp theo quy định
Tổ chức tư vấn thiết kế không được giao thầu lại toàn bộ hợp đồng hoặc phần chính của nội dung hợp đồng cho một tổ chức tư vấn thiết kế khác
Việc nghiệm thu sản phẩm thiết kế phải lập biên bản theo mẫu quy định, trong đó có nêu rõ những sai sót (nếu có), thời gian khắc phục, bổ sung và kết luận về chất lượng
1.3.3 Đối với doanh nghiệp xây dựng
Phải đảm bảo chất lượng, an toàn, môi trường xây dựng tốt, cho công trình đang thi công, những công trình khác xung quanh và khu vực lân cận
Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng, phù hợp với năng lực của mình; thi công đúng thiết kế đã được phê duyệt, áp dụng
Trang 3020
đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật thi công xây dựng đã được quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư, tổ chức thiết kế và cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý chất lượng công trình xây dựng
Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về thi công xây lắp công trình,
kể cả những phần việc do nhà thầu phụ thực hiện theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp
Vật liệu thành phẩm hoặc bán thành phẩm, cấu kiện xây dựng sử dụng vào công trình phải có chứng nhận về chất lượng gửi cho chủ đầu tư để kiểm soát trước khi sử dụng theo quy định; tổ chức hệ thống đảm bảo chất lượng công trình để quản lý sản phẩm xây dựng, quản lý công trình trong quá trình thi công
Việc quản lý chất lượng thi công xây lắp của nhà thầu thi công phải theo những nội dung quy định cụ thể sau đây:
− Doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với hợp đồng giao thầu, trong đó cần có bộ phận giám sát chất lượng riêng của doanh nghiệp;
− Lập đầy đủ, đúng quy định nhật ký thi công xây dựng công trình;
− Chỉ được phép thay đổi, bổ sung vật liệu, khối lượng khi được chủ đầu tư chấp thuận (có biên bản ký nhận giữa các bên liên quan);
− Báo cáo đầy đủ quy trình, trình tự kiểm tra chất lượng vật liệu, cấu kiện, sản phẩm xây dựng;
− Phối hợp với Chủ đầu tư và đơn vị giám sát, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ nghiệm thu;
− Đảm bảo an toàn trong thi công xây dựng cho người, thiết bị và những công trình lân cận, kể cả hệ thống hạ tầng kỹ thuật khu vực;
− Lập hồ sơ hoàn công theo quy định hiện hành
1.3.4 Đối với đơn vị khảo sát xây dựng
Đơn vị khảo sát xây dựng bao hàm khảo sát địa chất, thủy văn, khảo sát hiện trạng, đo đạc địa hình, đo đạc lún, nghiêng, chuyển dịch, … của công trình đang có
Trang 3121
Nhiệm vụ khảo sát do đơn vị thiết kế lập, được chủ đầu tư phê duyệt phải phù hợp với quy
mô, các bước thiết kế, tính chất công trình, điều kiện tự nhiên của khu vực xây duwngju; đặc biệt khảo sát phải đủ, phù hợp với quy chuận, tiêu chuẩn áp dụng, tránh lãng phí Công việc khảo sát phải phù hợp nhiệm vụ đã phê duyệt, trong báo cáo phải kiến nghị
về việc xử lý nền móng công trình xây dựng
Chủ đầu tư xem xét, quyết định việc khảo sát bổ sung, do thiết kế đề nghị
Việc khảo sát không được xâm hại môi trường, phải phục hồi lại hiện trạng ban đầu của hiện trường, theo những nội dung phục hồi đã ghi trong hợp đồng
Việc khảo sát không được xâm hại mạng lưới kỹ thuật công trình công cộng và những công trình xây dựng khác trong phạm vi địa điểm khảo sát
1.3.5 Đối với đơn vị giám sát xây dựng
Đơn vị giám sát thi công xây lắp phải có bộ phận chuyên trách (có thể là doanh nghiệp
tư vấn) đảm bảo duy trì hoạt động giám sát một cách có hệ thống toàn bộ quá trình thi công xây lắp, từ khi khởi công đến khi nghiệm thu, bàn giao
Phải phân định nhiệm vụ, quyền hạn của giám sát trưởng, các giám sát viên chuyên trách cho từng công việc và thông báo công khai tại công trường và đảm bảo việc giám sát được thường xuyên, liên tục
Lập hệ thống quản lý chất lượng phù hợp với yêu cầu của dự án
Kiểm tra các điều kiện khởi công; điều kiện về năng lực các nhà thầu, thiết bị thi công (phù hợp với hồ sơ dự thầu), phòng thí nghiệm của nhà thầu hay những cơ sở sản xuất, cung cấp vật liệu xây dựng (khi cần thiết); kiểm tra chứng chỉ xuất xưởng, chứng chỉ chất lượng thiết bị công trình
Lập đề cương, kế hoạch và biện pháp thực hiện giám sát
Kiểm tra chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn môi trường của công trình, hạng mục công trình
Tổ chức kiểm định sản phẩm xây dựng khi cần thiết
Trang 3222
Kiểm tra và xác nhận bản vẽ hoàn công
Giúp chủ đầu tư tập hợp, kiểm tra và trình đơn vị quản lý Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng, kiểm tra hồ sơ, tài liệu nghiệm thu, trước khi tổ chức nghiệm thu (giai đoạn, chạy thử, hoàn thành)
Giúp chủ đầu tư lập báo cáo thường kỳ về chất lượng công trình xây dựng theo quy định Giúp chủ đầu tư (hay được ủy quyền) dừng thi công, lập biên bản khi nhà thầu vi phạm chất lượng, an toàn, môi trường xây dựng
Từ chối nghiệm thu các sản phẩm không đảm bảo chất lượng Lý do từ chối phải được
thể hiện bằng văn bản [8]
1.4 Công tác qu ản lý chất lượng công trình xây dựng đối với các giai đoạn của dự
án đầu tư theo quy định của Việt Nam hiện nay
Văn bản mới nhất liên quan tới lĩnh vực chất lượng công trình xây dựng hướng dẫn chi tiết các nội dung về quản lý chất lượng công trình xây dựng được nêu tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 13/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Nghị định này được xây dựng trên cơ sở Luật xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 Quy định này kế thừa các nội dung đã được áp dụng
có kết quả trong hoạt động thực tiễn đồng thời khắc phục các tồn tại của các văn bản trước Nhìn tổng thể, văn bản này đã hoàn thiện hơn các văn bản trước đó ở các nội dung điều chỉnh mối quan hệ hành chính trong hoạt động xây dựng nghĩa là quy định
rõ hơn mối quan hệ quản lý của cơ quan có chức năng quản lý nhà nước và các chủ thể
bị quản lý bao gồm chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và các nhà thầu khác Thực hiện chương trình cải cách hành chính trong lĩnh vực QLCLCTXD nghĩa là phải làm rõ chức năng của từng tổ chức hành chính nhà nước và không chồng chéo với nhau trong việc quản lý cùng một đối tượng Quản lý nhà nước có quyền uy và thường
là can thiệp quá sâu, vụn vặt vào quá trình triển khai của một hoạt động xây dựng Yêu cầu cải cách hành chính là làm rõ cái gì nhà nước phải quản và cái gì nhà nước không quản Lý lẽ ở đây là nhà nước quản lý những công việc mà bất kỳ chủ thể nào của xã hội không thể làm được Như vậy, phân định khác nhau của 2 hình thức giám sát quản
Trang 3323
lý nhà nước được thể hiện trong các văn bản mới của nhà nước liên quan tới QLCLCTXD thể hiện ở các nội dung sau:
1.4.1 Qu ản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng
Đây là công việc của cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về CLCTXD của chính quyền các cấp Các cơ quan này phải chịu trách nhiệm về tình hình chất lượng công trình được phân cấp cụ thể tại Chương VII: Quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng trong Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015
Về bản chất của hoạt động giám sát quản lý nhà nước là theo chiều rộng có tính vĩ mô, tính cưỡng chế của cơ quan công quyền Phương thức quản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng được mô tả ở sơ đồ sau:
Hình 1.7 Sơ đồ phương thức quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng
Nội dung hoạt động QLNN lĩnh vực này gồm 4 phần chủ yếu:
− Thiết lập và tham gia thiết lập hệ thống văn bản pháp lý và chính sách;
− Tổ chức phổ biến, hướng dẫn cho các chủ thể thực hiện theo các văn bản pháp lý và chính sách;
Trang 3424
− Tổ chức kiểm tra giám sát và các chủ thể thực hiện công tác QLCLCTXD theo pháp luật;
− Tổng hợp báo cáo tình hình chất lượng công trình xây dựng
1.4.2 Th ực hiện việc xã hội hóa công tác giám sát chất lượng công trình xây dựng
Nội dung xã hội hóa công tác giám sát gồm 2 phần:
1.4.2.1 Ph ần giám sát kỹ thuật về CLCTXD do các pháp nhân có năng lực chuyên môn ho ạt động chuyên nghiệp thực hiện
− Về mặt tổ chức thì đây là các pháp nhân như chủ nhiệm điều hành dự án, các nhà thầu tư vấn, thầu xây lắp, thầu cung ứng đã được xã hội hóa, chuyên môn hóa được cấp đăng ký kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp Các đơn vị tổ chức này phải chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng công trình theo các phần công việc họ đảm nhiệm Trong đó, Chủ đầu tư là người chịu trách nhiệm về chất lượng CTXD thuộc dự án mình quản lý;
− Giúp cho các Chủ đầu tư thực hiện giám sát và quản lý dự án là tổ chức tư vấn giám sát quản lý Về bản chất của hoạt động giám sát quản lý là theo chiều sâu, vĩ mô, được trả tiền và được ủy thác
− Nội dung hoạt động giám sát quản lý gồm:
+ Kiểm soát chất lượng công trình
+ Kiểm soát khối lượng
+ Kiểm soát được tiến độ
Hoạt động của họ tuân thủ quy định của pháp luật, quy chuẩn tiêu chuẩn và quy định về mặt kinh tế Họ chịu trách nhiệm trực tiếp về những kết quả công việc mà họ thực hiện Nhìn chung ở Việt Nam hiện nay, các tổ chức tư vấn giám sát quản lý làm được toàn diện 3 nội dung trên đang còn rất ít Lĩnh vực chủ yếu chúng ta đã làm quen là công tác kiểm soát chất lượng công trình xây dựng
Ngoài ra, các tổ chức tư vấn về khảo sát thiết kế, nhà thầu xây lắp, nhà thầu cung cấp
Trang 3525
thiết bị… đều phải có tổ chức tự quản lý chất lượng sản phẩm và cam kết sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm mình cung cấp Mô hình QLCL thực chất là mô hình 2 bên: Chủ đầu tư và Nhà thầu
1.4.2.2 Giám sát c ủa xã hội về các hành vi liên quan tới CLCTXD
Phải công khai hóa dự án để mọi người có quyền giám sát các chủ thể liên quan về
hành vi của họ có ảnh hưởng tới CLCTXD Mọi sự phát hiện sẽ báo cho cơ quan có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo kết quả
Quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được quán xuyến xuyên suốt từ khi lập dự
án và trong suốt quá trình khai thác dự án Theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2016 của Chính phủ về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng thì công tác QLCLCTXD được quy định theo các trình tự như sau:
1 Quản lý chất lượng khảo sát và thiết kế
Quy định trách nhiệm duy nhất về chất lượng khảo sát thiết kế là đơn vị tư vấn được nhận thầu hoặc giao thầu thực hiện nhiệm vụ này Chủ đầu tư phải nghiệm thu sản phẩm khảo sát thiết kế căn cứ và hợp đồng kinh tế trong đó đã nêu các yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn làm căn cứ Thẩm định của cơ quan có chức năng quản lý Nhà nước về xây dựng là sự thỏa mãn các yêu cầu vì lợi ích cộng đồng Như vậy ở giai đoạn khảo sát thiết kế, quy trình này rõ hơn về quyền lực và trách nhiệm của từng chủ thể Chắc chắn các chủ đầu tư sẽ chọn được nhà thầu khảo sát thiết kế thực sự có năng lực Ngược lại, các đơn vị tư vấn này cũng phải tự “lột xác”
2 Quản lý chất lượng trong giai đoạn thi công xây lắp
Từ trước tới nay, giai đoạn xây lắp thường được chú ý nhiều nhất thậm chí có những văn bản trước đây nói về QLCLCTXD là nói tới các công việc của giai đoạn này là chính Có thể nói, quy định cho phần quản lý chất lượng giai đoạn xây lắp mới nghe, mới đọc tưởng không mới, nhưng có những yêu cầu mới làm cho hoạt động quản lý chất lượng ở giai đoạn này có những đổi mới và mang tính cải cách Các chủ thể liên quan ở đây gồm: nhà thầu, đơn vị thiết kế, tư vấn giám sát và chủ đầu tư, vai trò của cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về chất lượng xây dựng
Trang 3626
Công tác Quản lý chất lượng giai đoạn xây lắp thể hiện thông qua công tác nghiệm thu
mà ở đây có 3 bước chủ yếu:
Bước 1: Nghiệm thu công việc
Bước 2: Nghiệm thu giai đoạn
Bước 3: Nghiệm thu hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng
3 Quản lý chất lượng trong giai đoạn bảo hành
Nội dung mới của giai đoạn này là quy định về bảo hành theo hạng mục công trình Nếu trong một dự án có nhiều công trình và mỗi công trình được hoàn thành có thể được vận hành độc lập thì thời gian tính bảo hành được kể từ khi nghiệm thu bàn giao Đây là sự đổi mới hợp lý và bảo vệ lợi ích của các nhà thầu xây lắp
4 Quản lý chất lượng công trình sau khi đưa vào sử dụng
Thông thường từ trước tới nay, công việc của hoạt động xây dựng dừng lại ở khâu: nghiệm thu và bàn giao công trình Trình tự đó hoàn toàn đúng về mặt sản xuất
Song nhìn ở góc độ một dự án và lợi ích quốc gia trong một chiến lược bảo tồn bất động sản mà chúng ta đang ý thức được thì công trình cần được xem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng của nó trong suốt chu trình tuổi thọ Từ đầu những năm 1980, trên thế giới nhiều nước đã vạch ra một chiến lược bảo tồn các bất động sản Nội dung chiến lược này đã vượt ra khỏi những công việc trước đây ta vẫn coi bảo trì như là sự sang sửa kiến trúc, tu sửa thay thế các kết cấu bị hư hỏng Nội dung quan trọng của chiến lược này là vấn đề chất lượng công trình phải được nhìn nhận và quán triệt xuyên suốt quá trình hình thành và tồn tại theo yêu cầu tuổi thọ của mỗi công trình
Vì vậy trong nội dung yêu cầu mới về quản lý chất lượng công trình xây dựng có đặt
ra thành trách nhiệm của người thiết kế phải đưa ra những yêu cầu cho các đối tượng công trình cần thiết phải bảo trì Chủ quản lý sử dụng, chủ sở hữu công trình có nghĩa
vụ và trách nhiệm bảo vệ cho công trình không bị xuống cấp nhanh, đáp ứng nhu cầu
sử dụng trong suốt tuổi thọ yêu cầu Các vấn đề về kỹ thuật bảo trì, nâng cấp là những
nội dung hiện đang thu hút các cơ quan khoa học, các nhà chuyên môn nghiên cứu [8]
Trang 37Bê tông đầm lăn không chỉ áp dụng vào xây dựng đập mà còn phải được tiếp tục nghiên cứu áp dụng vào việc xây dựng sân bay, cảng, kè chắn sóng, các công trình bê tông khối lớn, diện rộng…
Mặc dù công nghệ bê tông đầm lăn đã được khẳng định là công nghệ xây dựng tối ưu
áp dụng cho đập trọng lực nhưng việc xây dựng đập BTĐL chỉ thực sự phát huy được tính ưu việt và tạo ra sản phẩm có chất lượng tương đương với đập bê tông thường khi khắc phục được những điểm yếu của loại hình công nghệ này
1.5.1 V ề chất lượng bám dính giữa các lớp
Cường độ bám dính giữa các lớp đối với đập BTĐL là điểm yếu nhất của BTĐL Vì vậy cường độ kéo bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp đổ là mối quan tâm lớn nhất khi thiết kế kết cấu đập BTĐL Do vậy cần phải có những thử nghiệm kỹ càng trên mô hình với các điều kiện về vật liệu, thiết bị và quy trình thi công thực tế để xác định các tính chất của bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp thi công và đảm bảo rằng các giá trị của các tính chất của bê tông không thấp hơn yêu cầu thiết kế;
Sau khi xây xong đập Liễu Khê – Trung Quốc vào mùa thu năm 1983, hồ lần đầu tiên trữ nước có cao độ đến 15,2 m, ở hành lang và ở mặt hạ lưu xuất hiện thấm lớn, tổng lượng nước thấm đến 170 l/s Theo phân tích thì nước thấm chủ yếu đến từ mặt tầng đầm Qua thí nghiệm chống cắt đứt tại hiện trường của một số công trình chứng minh lực cắt trong tầng bê tông là 1,6 Mpa, còn lực cắt của mặt tầng không xử lý gì cả chỉ 0,8 Mpa, nghĩa là bằng 50% nội tầng Điều này chứng tỏ mặt tầng thi công đầm lăn là một khâu rất yếu, khi đập cao với chỉ tiêu chống cắt mặt tầng tăng, làm thế nào để nâng cao chất lượng kết hợp mặt tầng để thỏa mãn chiều cao đập cần phải nghiên cứu kỹ
Trang 3828
1.5.2 V ề vấn đề thấm
Do BTĐL được thi công thành những lớp nên các khe tiếp giáp giữa các lớp có thể là đường chính để để thấm nước qua thân đập Với nhiều đập bê tông đầm lăn thường dùng bê tông thường ở mặt thượng lưu của đập làm lớp chống thấm như: Đập Định Bình, Pleikrong, có một số đập áp dụng lớp chống thấm bằng chất dẻo tổng hợp, một
số đập lấy ngay bê tông đầm lăn để chống thấm như: đập Nước Trong, đập Sơn La Ngoài ra do sử dụng ít chất kết dính hơn so với bê tông thường nên BTĐL có tính chống thấm kém hơn so với bê tông thường cùng mác Vì vậy cần nghiên cứu kỹ các giải pháp cấu tạo chống thấm, thành phần vật liệu và quy trình thi công thích hợp để đảm bảo khả năng chống thấm cho đập
1.5.3 V ề chất lượng thi công
Sự phân ly hỗn hợp bê tông là một trong những vấn đề bất lợi nhất có thể xảy ra trong quá trình sản xuất và đổ BTĐL Do đặc thù thi công trên diện rộng với khối lượng lớn nên việc kiểm soát sự đồng nhất về thành phần và tính công tác của hỗn hợp BTĐL khó hơn
so với bê tông thông thường Điều này sẽ dẫn tới chất lượng của BTĐL sẽ dao động lớn
Để tăng tốc độ thi công, thường có xu hướng bỏ khe co giãn ngang, cố gắng thi công ở mùa có nhiệt độ thấp Nhưng do khối lượng đập lớn, việc thi công đập bê tông đầm lăn vào mùa hè là điều khô thể tránh khỏi cho nên vấn đề khống chế nhiệt là vô cùng quan trọng, việc khống chế nhiệt độ đảm bảo bê tông không bị nứt có liên quan trực tiếp tới khe co giãn ngang Vì vậy vấn đề khống chế nhiệt, khoảng cách giữa các khe co giãn ngang, tốc độ thi công cần được tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện
Đối với quy mô đập càng lớn, yêu cầu cường độ thi công cao, việc ứng dụng cơ giới trong các khâu thi công cần được tiếp tục nghiên cứu để đảm bảo tính kinh tế và chất
lượng xây dựng đập [9]
Trang 3929
K ết luận Chương 1
Công nghệ BTĐL đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng hiệu quả cho các công trình đường bê tông, đập bê tông trọng lực Hiện nay, BTĐL đã và đang được áp dụng mạnh mẽ tại Việt Nam để xây dựng các công trình thủy lợi, thủy điện và đã ghi nhận được những thành tựu đáng kể Để đảm bảo xây dựng đập BTĐL có chất lượng tương đương với đập bê tông thường cần chú ý những điểm yếu của loại hình công nghệ này Trước khi áp dụng công nghệ đập BTĐL phải nghiên cứu vật liệu, thử nghiệm công nghệ xây dựng quy trình thi công, kiểm tra nghiệm thu BTĐL gắn với đặc thù của từng công trình cụ thể
Việt Nam là nước đi sau về công nghệ này nhưng đã được liệt vào hàng lớn nhất về số lượng đập lựa chọn nghiên cứu, ứng dụng, thiết kế và thi công theo công nghệ BTĐL Việt Nam hiện đã xây dựng xong một số đập bằng BTĐL như: Định Bình, A Vương, Bản Vẽ, Pleikrong, Bình Điền, Lai Châu, Sơn La…Qua đó chứng minh một điều công nghệ BTĐL với trình độ hiểu biết của chúng ta hoàn toàn có thể ứng dụng được ở Việt Nam Tuy nhiên, công nghệ thi công này yêu cầu từng bước phải được nâng cao và hoàn thiện về quy trình kỹ thuật, và đặc biệt trong công tác quản lý chất lượng công
trình để công trình đạt lợi ích kinh tế và hiệu quả cao
Do vậy, nghiên cứu những phương pháp quản lý chất lượng thi công BTĐL trong điều kiện hiện nay vừa có ý nghĩa khoa học vừa có giá trị thực tiễn cao
Trang 4030
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ TRONG QUẢN
LÝ CH ẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI – THỦY ĐIỆN
2.1 Các giai đoạn phát triển nhận thức về quản lý chất lượng công trình xây
d ựng tại Việt Nam
Quản lý chất lượng công trình xây dựng trong nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hiện nay đang còn là vấn đề mới, chúng ta đang nghiên cứu cố gắng tìm kiếm giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý này Trước đây, từ người làm việc trong Ban Kiến thiết đến người thực hiện công tác khảo sát, thiết kế và người công nhân xây dựng đều là (biên chế) người của Nhà nước, hưởng lương nhà nước và do nhà nước chỉ đạo, điều phối tất cả
Hiện nay với nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động xây dựng đã trở nên rất đa dạng
về mọi yếu tố Đến nay, các doanh nghiệp nhà nước đang được chuyển dần thành các công ty cổ phần, vì vậy cách quản lý chỉ đạo của Nhà nước cũng thay đổi rất nhiều Áp dụng phương thức quản lý mới, đồng thời với việc học tập tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài, chúng ta vẫn cần áp dụng những kinh nghiệm của phương thức quản lý truyền thống đáp ứng với thực tiễn
Quá trình hình thành và phát triển của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng (CLCTXD) ở Việt Nam từ năm 1954 đến nay, có thể được tổng hợp khái quát như sau:
2.1.1 Th ời kỳ trước năm 1954
Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử và luật cho biết: các triều Vua phong kiến ở nước
ta cũng có quy định một số điều nhằm phục vụ cho việc quản lý xây dựng, điều này được thể hiện trong Bộ luật Hồng Đức cũng như trong Bộ luật Gia Long, nhưng nội dung chủ yếu là những quy định về xây dựng cung đình, xây dựng nhà cho Vua, quan có một số quy định về xây dựng đê điều và đường sá
Trước năm 1954 Việt Nam còn rất nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không đủ cơm ăn áo mặc, nhà ở chủ yếu là nhà tranh vách đất, đường làng là đường đất, một vài nơi khá hơn có một số đoạn đường lát gạch, đường cấp huyện, tỉnh cũng là đường đất hoặc tốt hơn thì là đường cấp phối Vấn đề quản lý xây dựng chỉ đặt ra ở các đô thị, nhưng ở đô