1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm nước và đề xuất giải pháp về quản lý bảo vệ chất lượng

120 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có một số nghiên cứu về điều tra đánh giá chất lượng nước, quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô của sở tài nguyên và môi trường các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ được thực hiệ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên: Nguyễn Văn Thanh Lớp: 23KHMT21 Mã HV: 1582440301006 Chuyên ngành đào tạo: Khoa học môi trường Mã số: 60440301

Tôi xin cam đoan luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Cúc và PGS.TS Nguyễn Văn Thắng với đề tài “Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm nước và đề xuất giải pháp về quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô đoạn chảy qua Tỉnh Phú Thọ”

Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ

bất kỳ một nguồn nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

H ọc viên

Nguy ễn Văn Thanh

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Thủy

Lợi, Khoa Môi trường đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và

hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Kim Cúc và

PGS.TS Nguyễn Văn Thắng, đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành

luận văn này

Qua đây, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ,

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù bản thân đã rất cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt huyết

và năng lực của mình, song với kiến thức còn nhiều hạn chế và trong giới hạn thời

gian quy định, luận văn này chắc chắn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận

được những đóng góp quý báu của quý thầy cô, và các chuyên gia để nghiên cứu một

cách sâu hơn, toàn diện hơn trong thời gian tới

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 3

M ỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU viii

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Ô NHIỄM NƯỚC VÀ QUẢN LÝ BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRÊN SÔNG LÔ VÀ GIỚI THIỆU VÙNG NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan về ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Lô chảy qua tỉnh Phú Thọ 4

1.1.1 Ô nhiễm nước lưu vực sông Lô 4

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu quản lý bảo vệ chất lượng nước lưu vực sông và trên lưu vực sông Lô 9

1.2 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 10

1.2.1 Khu vực nghiên cứu 10

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 13

1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18

1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát ô nhiễm nước mặt sông Lô 20

1.3.1 Tình hình sử dụng nước sông Lô 20

1.3.2 Những vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát ô nhiễm 22

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ Ô NHIỄM NƯỚC MẶT SÔNG LÔ ĐOẠN CHẢY QUA TỈNH PHÚ THỌ 24

2.1 Xác định nguồn gây ô nhiễm và ước tính tải lượng chất ô nhiễm BOD5 24

2.1.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước 24

2.1.2 Ước tính tải lượng chất ô nhiễm BOD5 32

2.2 Đánh giá chất lượng nước 39

2.2.1 Tình hình số liệu quan trắc 39

2.2.2 Đánh giá chất lượng nước theo quy chuẩn Việt Nam 40

2.2.3 Đánh giá chất lượng nước theo chỉ số WQI 63

Trang 4

2.2.4 Đánh giá phân vùng chất lượng nước 70

2.3 Tình hình quản lý và bảo vệ chất lượng nước sông Lô 73

2.3.1 Thể chế chính sách 73

2.3.2 Tổ chức cơ cấu quản lý 73

2.3.3 Thanh tra giám sát, quan trắc cảnh báo ô nhiễm môi trường 74

2.3.4 Nguồn nhân lực và sự tham gia của cộng đồng 74

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ BẢO VỆ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SÔNG LÔ 76

3.1 Mục tiêu, những lợi ích của việc quản lý chất lượng nước sông Lô 76

3.1.1 Mục tiêu 76

3.1.2 Lợi ích 76

3.2 Đánh giá tổ chức quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông Lô 77

3.2.1 Cơ cấu tổ chức quản lý 77

3.2.2 Tổ chức quản lý 78

3.3 Đề xuất giải pháp 79

3.3.1 Giới thiệu chung 79

3.3.2 Cơ sở đề xuất giải pháp 79

3.3.3 Định hướng 80

3.3.4 Giải pháp 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 93

Trang 5

DANH M ỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Nước thải xả ra sông Lô của khu công nghiệp Nam Quang 5

Hình 1.2 Nước thải của nhà máy giấy An Hòa đổ ra sông Lô 6

Hình 1.3 Tình trạng xả nước thải trực tiếp ra sông Lô 8

Hình 1.4 Bản đồ tỉnh Phú Thọ và vùng nghiên cứu 11

Hình 1.5 Sơ đồ vùng nghiên cứu 12

Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2015 32

Hình 2.2 Sơ đồ biểu diễn thông số pH của nước sông Lô theo 2 mùa 43

Hình 2.3 Sơ đồ biểu diễn thông số TSS của nước sông Lô theo 2 mùa 44

Hình 2.4 Sơ đồ biểu diễn thông số DO của nước sông Lô theo 2 mùa 47

Hình 2.5 Sơ đồ biểu diễn thông số BOD5 của nước sông Lô theo 2 mùa 49

Hình 2.6 Sơ đồ biểu diễn thông số COD của nước sông Lô theo 2 mùa 51

Hình 2.7 Sơ đồ biểu diễn thông số NH4+-N của nước sông Lô theo 2 mùa 54

Hình 2.8 Sơ đồ biểu diễn thông số NO3 N của nước sông Lô theo 2 mùa 56

Hình 2.9 Sơ đồ biểu diễn thông số NO2 N của nước sông Lô theo 2 mùa 58

Hình 2.10 Sơ đồ biểu diễn thông số tổng Fe của nước sông Lô theo 2 mùa 60

Hình 2.11 Sơ đồ biểu diễn thông số coliform của nước sông Lô theo 2 mùa 62

Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt AAO 84

Trang 6

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các sông có chiều dài lớn hơn 20 km trong vùng điều tra 16

Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy theo mùa tại các trạm thủy văn [10] 18

Bảng 1.3 Dân số các xã thuộc khu vực nghiên cứu năm 2015 [11] 19

Bảng 1.4 Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp [11] 22

Bảng 2.1 Các điểm xả nước thải ra sông Lô, sông Chảy tại huyện Đoan Hùng [9] 25

Bảng 2.2 Các điểm xả nước thải ra sông Lô tại huyện Phù Ninh [9] 25

Bảng 2.3 Các điểm xả nước thải sinh hoạt ra sông Lô tại Thành phố Việt Trì [9] 25

Bảng 2.4 Khối lượng nước thải sinh hoạt năm 2015 [11] 26

Bảng 2.5 Các điểm xả nước thải ra sông Lô tại huyện Phù Ninh và TP Việt Trì 28

Bảng 2.6 Diện tích các Khu, Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ [12] 28

Bảng 2.7 Tổng lượng thuốc BVTV sử dụng trên 3 huyện năm 2015 [3] 30

Bảng 2.8 Kết quả phân tích thành phần nước thải chăn nuôi [13] 31

Bảng 2.9 Hệ số phát sinh chất thải trong nước thải sinh hoạt theo TCXDVN 51:2006 33

Bảng 2.10 Tải lượng BOD5 của các xã thuộc khu vực nghiên cứu 33

Bảng 2.11 Tải lượng BOD5 trong hoạt động sản xuất công nghiệp 35

Bảng 2.12 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải công nghiệp theo nhóm ngành nghề sản xuất 35

Bảng 2.13 Nồng độ các thành phần trong nước thải chăn nuôi 36

Bảng 2.14 Tải lượng ô nhiễm BOD5 trong nông nghiệp của huyện Đoan Hùng 37

Bảng 2.15 Tải lượng ô nhiễm BOD5 trong nông nghiệp của huyện Phù Ninh 37

Bảng 2.16 Tải lượng ô nhiễm BOD5 trong nông nghiệp của thành phố Việt Trì 37

Bảng 2.17 Tổng hợp tải lượng BOD5 của các huyện thuộc vùng nghiên cứu 38

Bảng 2.18 Vị trí quan trắc nước sông Lô 39

Bảng 2.19 Kết quả quan trắc thông số pH theo 2 mùa 42

Trang 7

Bảng 2.20 Kết quả quan trắc thông số TSS theo 2 mùa 43

Bảng 2.21 Kết quả quan trắc thông số DO theo 2 mùa 46

Bảng 2.22 Kết quả quan trắc thông số BOD5 theo 2 mùa 48

Bảng 2.23 Kết quả quan trắc thông số COD theo 2 mùa 50

Bảng 2.24 Kết quả quan trắc thông số NH4+ -N theo 2 mùa 53

Bảng 2.25 Kết quả quan trắc thông số NO3 N theo 2 mùa 55

Bảng 2.26 Kết quả quan trắc thông số NO2--N theo 2 mùa 57

Bảng 2.27 Kết quả quan trắc thông số tổng Fe theo 2 mùa 59

Bảng 2.28 Kết quả quan trắc thông số Coliformtheo 2 mùa 61

Bảng 2.29 Bảng quy định các giá trị qi, BPi 66

Bảng 2.30 Bảng quy định các giá trị Bpi và qiđối với DO% bão hòa 66

Bảng 2.31 Bảng kết quả đo nhiệt độ môi trường nước sông Lô 67

Bảng 2.32 Bảng quy định các giá trị BPi và qiđối với thông số pH 67

Bảng 2.33 Bảng đánh giá chất lượng nước theo giá trị WQI 68

Bảng 2.34 Kết quả tính toán WQI tại các vị trí quan trắc 68

Bảng 2.35 Đánh giá phân vùng chất lượng nước sông Lô mùa mưa và mùa khô theo WQI tại các vị trí quan trắc và đánh giá 70

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

6 TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

8 WQI Water Quality Index (Chỉ số chất lượng nước)

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam, giáp với Tuyên Quang và Vĩnh Phúc

là địa phương có hệ thống sông ngòi chằng chịt với 3 dòng sông là phụ lưu của sông

Lô đó là sông Chảy, sông Gâm và sông Phó Đáy có chiều dài lớn hơn 20 km Sông

Chảy, chi lưu phía hữu ngạn, hợp lưu tại thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ Sông Gâm, chi lưu phía tả ngạn, đổ vào sông Lô ở Khe Lau,

tỉnh Tuyên Quang và phụ lưu Sông Phó Đáy hợp lưu gần Việt Trì Hiện nay, khi kinh

tế xã hội ngày càng phát triển các con sông này ngoài nhiệm vụ cung cấp nước cho tưới tiêu nông nghiệp, còn là nơi tiêu nước cho các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, nuôi trồng thủy sản, Dân số gia tăng, số lượng lớn các nhà máy, xí nghiệp tập trung trên một diện tích nhỏ, cơ sở hạ tầng về xử lý chất thải chưa theo kịp

với tốc độ phát triển là một trong những nguyên nhân chính khiến cho các sông, nhánh

suối nhỏ thuộc tỉnh Phú Thọ bị ô nhiễm, vì đây là nơi trực tiếp tiếp nhận các nguồn nước thải Ô nhiễm nước sông đã và đang ảnh hưởng tới sản xuất và sức khỏe cộng đồng tại một số khu vực

Sông Lô đoạn chảy qua Tỉnh Phú Thọ với chiều dài khoảng 73,5km theo hướng Tây

Bắc – Đông Nam Đây là nguồn cấp nước phục vụ cho sinh hoạt, các ngành công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp của các huyện Đoan Hùng, Phù Ninh và thành phố Việt Trì Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, các loại hình sản xuất của các cơ sở làng nghề, quá trình sinh hoạt của người dân, các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn đến nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều kéo theo áp lực ô nhiễm không ngừng ra tăng Phần lớn lượng nước thải của các

hoạt động trên đều chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường và được thải trực tiếp ra nguồn tiếp nhận đó là sông Lô Công tác quản lý, kiểm soát nguồn thải, của cơ quan nhà nước cũng chưa được thắt chặt nên tình hình ô nhiễm nước vẫn hàng ngày diễn ra, tác động xấu đến môi trường sống của dân cư và phát triển kinh tế xã hội của các địa phương Trong những năm vừa qua nhà nước ta đã xây dựng chiến lược, ban hành nhiều văn bản pháp luật và dành nhiều kinh phí cho các đề tài nghiên cứu, dự án quản

lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường nước các lưu vực sông nhằm đánh giá thực trạng ô

Trang 10

nhiễm từ đó đề ra những biện pháp khắc phục Đã có một số nghiên cứu về điều tra đánh giá chất lượng nước, quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô của sở tài nguyên

và môi trường các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ được thực hiện trong một hai thập kỷ gần đây thu được những kết quả nhất định, tuy nhiên các kết quả vẫn còn

hạn chế, chưa đánh giá được một cách đầy đủ tình hình các nguồn thải, hiện trạng ô nhiễm nước cũng như đề xuất các giải pháp phù hợp có hiệu quả để quản lý, kiểm soát, đẩy lùi từng bước tiến tới làm chấm dứt tình trạng ô nhiễm nguồn nước sông Lô tại các

tỉnh mà sông Lô chảy qua đặc biệt là đoạn sông hạ lưu chảy qua tỉnh Phú Thọ

Từ tình hình trên cho thấy cần phải có nhiều các nghiên cứu về đánh giá ô nhiễm nước

và quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô nhằm góp phần cho phát triển bền vững kinh tế xã hội các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ mà sông Lô chảy qua Trong

cả 3 tỉnh trên, Phú Thọ nằm ở hạ lưu của sông Lô là vùng chịu tác động của nhiều nguồn xả thải nhất nên nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước cũng nhiều nhất, vì vậy luận văn chọn địa bàn Phú Thọ để nghiên cứu với tên đề tài “Nghiên cứu đánh giá ô nhiễm nước và đề xuất giải pháp về quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô đoạn chảy qua Tỉnh Phú Thọ”

Qua nghiên cứu thực hiện đề tài này luận văn mong muốn làm rõ được các nguồn gây

ô nhiễm, cũng như đánh giá được hiện trạng ô nhiễm nước và đề xuất được các biện pháp cho quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô trong vùng nghiên cứu

2 M ục tiêu của đề tài

Đánh giá được các nguồn gây ô nhiễm, hiện trạng chất lượng nước và ô nhiễm nguồn nước sông Lô trong khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu và đề xuất được các biện pháp phù hợp cho quản lý bảo vệ chất lượng nước của sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Phú Thọ

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nước mặt sông Lô;

- Phạm vi nghiên cứu: Khu vực nghiên cứu là phần lưu vực Sông Lô thuộc địa phận

Tỉnh Phú Thọ (từ huyện Đoan Hùng qua huyện Phù Ninh và Thành phố Việt Trì)

Với khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 11

1) Phương pháp thu thập, tổng hợp phân tích thông tin số liệu: Tổng hợp số liệu từ các

dự án, các báo cáo, số liệu từ các nguồn khác để phục vụ cho luận văn

2) Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Phương pháp này sử dụng để thu thập bổ sung các thông tin, số liệu tại hiện trường phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng chất lượng nước và ô nhiễm nguồn nước của sông Lô

sở đánh giá chất lượng nước (mức độ ô nhiễm của nguồn nước)

4) Phương pháp thống kê: Thống kê thu thập số liệu các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án đã được thực hiện có liên quan

5) Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa các số liệu đã có về chất lượng nước của các

đề tài dự án và một số chương trình đã thực hiện những năm gần đây để đánh giá

2.1 Xác định nguồn gây ô nhiễm và ước tính tải lượng BOD5

2.2 Đánh giá chất lượng nước

2.3 Tình hình quản lý và bảo vệ chất lượng nước sông Lô

Chương 3: Đề xuất các giải pháp quản lý bảo vệ chất lượng nước sông Lô

3.1 Mục tiêu, lợi ích của việc quản lý chất lượng nước sông Lô

3.2 Đánh giá tổ chức quản lý, bảo vệ chất lượng nước sông Lô

3.3 Đề xuất giải pháp

Kết luận và kiến nghị

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN Ô NHIỄM NƯỚC VÀ QUẢN LÝ BẢO VỆ

CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRÊN SÔNG LÔ, GIỚI THIỆU VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan về ô nhiễm nguồn nước lưu vực sông Lô chảy qua tỉnh Phú Thọ

1.1.1 Ô nhiễm nước lưu vực sông Lô

Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, là dòng chính cấp 1 của sông Hồng, bắt nguồn từ núi cao trên 2000m thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang nhập vào sông Hồng tại Việt Trì - Phú Thọ Điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là ngã ba Hạc Phần đầu nguồn tại Trung Quốc có tên là Bàn Long Giangcòn phần chảy tại Việt Nam có tên là sông Lô

Lưu vực sông Lô nằm giữa cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Sông Gâm, dãy núi Tam Đảo và dãy núi Con Voi Hướng dốc chung theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông

Lô có chiều dài khoảng 470km, phần lưu vực chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ (từ Chí Đám – Đoan Hùng đến Bến Gót – Việt Trì) có chiều dài khoảng 73,5km Diện tích lưu

vực sông Lô thuộc Việt Nam là 39.000km2

, diện tích lưu vực tính đến trạm thuỷ văn

Vụ Quang là 33.240km2 chảy gần như song song với sông Hồng Trên lưu vực sông

Lô trước kia các hoạt động kinh tế còn chưa phát triển nên tình hình ô nhiễm nguồn nước sông Lô không có vấn đề gì đáng lo ngại, tuy nhiên trong vài chục năm gần đây

do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của các tỉnh nằm quanh lưu vực sông Lô đặc

biệt là 3 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ thì số lượng các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) ngày càng gia tăng nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều kéo theo áp lực ô nhiễm từ các nguồn thải ngày càng bị đè nặng Hiện nay trên dọc đoạn sông này tình hình ô nhiễm nước đã thể hiện rất rõ qua những điểm

ô nhiễm từ thượng nguồn đến hạ nguồn với nguyên nhân chủ yếu là từ các nguồn thải

của các KCN, CCN, nước thải sinh hoạt, cũng như các hoạt động trong phát triển nông nghiệp cụ thể:

Tại CCN Nam Quang thị trấn Vĩnh Tuy, huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang có 5 nhà máy đã đi vào hoạt động, trong đó có ba nhà máy sử dụng nước phục vụ sản xuất và xả

thải ra môi trường gồm: Nhà máy sản xuất tinh bột sắn của Công ty TNHH MTV

Trang 13

Hùng Hà, Bắc Quang; nhà máy sản xuất giấy của Công ty cổ phần sản xuất nhập khẩu thương mại dịch vụ Phúc Hưng và Nhà máy sản xuất giấy của Công ty cổ phần Hải

Hà Nước thải được thải trực tiếp ra sông Lô qua các đường ống ngầm được nối từ các nhà máy, để thuận lợi cho việc xả nước thải ra sông, các nhà máy này còn xẻ đường dẫn nước tắt qua bãi soi, nối thẳng ra giữa lòng sông Nước thải từ những ống xả thải này có màu vàng đục, sủi bọt và có mùi hôi rất khó chịu gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Hình 1.1 Nước thải xả ra sông Lô của khu công nghiệp Nam Quang

Việc xả thải của các nhà máy này không những gây ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt

của người dân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi thủy sản tự nhiên và làm ảnh hưởng đến việc nuôi cá lồng phát triển kinh tế của người dân vùng hạ lưu gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế khi các chất ô nhiễm độc hại của các nhà máy thải

ra làm cá chết hàng loạt, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, vi sinh vật thủy sinh trong lòng sông [1]

Tại tỉnh Tuyên Quang chất thải ô nhiễm do các KCN tại một số vị trí điểm cuối của

tỉnh Tuyên Quang thải ra sông Lô lại là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho phía hạ

du là điểm đầu của tỉnh Phú Thọ, đáng chú ý là tình trạng gây ô nhiễm nước sông Lô

của công ty cổ phần giấy An Hòa, công ty này được thành lập từ năm 2002 chủ đầu tư

là nhà máy bột giấy và giấy An Hòa Nhà máy có tổng diện tích 222,6ha, được xây

Trang 14

dựng tại thôn An Hoà, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, với sảnlượng 130.000 tấn bột giấy/năm Từ khi nhà máy đi vào hoạt động cho đến nay đã ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt của người dân, do nước thải của nhà máy có mùi hôi

thối được thải trực tiếp ra sông Lô qua các cống ngầm với khối lượng khoảng 1.500

m3/ngày, miệng cống nước bốc hơi ngùn ngụt hắc như axit nước thải ra sông khi thì có màu xanh, khi thì có màu đen kịt gây ô nhiễm cục bộ làm cá chết hàng loạt gây ảnh

hưởng đến môi trường sống cho các loài động vật thủy sinh trong sông [2]

Hình 1.2 Nước thải của nhà máy giấy An Hòa đổ ra sông Lô

Tỉnh Phú Thọ cũng như nhiều địa phương trên cả nước, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải của tỉnh hiện nay còn thiếu đồng bộ, gây ảnh hưởng nhất định đến môi trường Phần lớn hệ thống được dùng chung cho thoát nước mưa và nước thải, xây

dựng trên địa hình tự nhiên, nước tự chảy và độ dốc thủy lực thấp Trong khi phần lớn

ở khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh hiện nay đều chưa có hệ thống xử lý nước thải tậptrung dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường Nguồn tiếp nhận nước thải chủ yếu là

những kênh tiêu rồi chảy thẳng ra sông Lô Ước tính, lượng nước cấp cho sinh hoạttrên địa bàn tỉnh khoảng 50.000m3/ngày đêm (TCXD33:2006) Lượng nước thải từsinh hoạt khoảng 50.000m3/ngày đêm (Lượng nước thải tính bằng 100% lượng nước

cấp) Toàn bộ nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư, các xã thị trấn, nước thải của các

cơ sở sản xuất kinh doanh nằm xen kẽ trong khu vực đô thị hầu hết đều chưa qua xử

lý Các khu dân cư chưa có hệ thống tiếp nhận nước thải tập trung, nước thải chủ yếuđược thu vào cống, rãnh đơn lẻ sau đó được xả vào hệ thống kênh mương nội đồng, ao

hồ trong khu dân cư Hệ thống cống rãnh, tiêu thoát nước thải ở khu vực nông thôn đa

phần không được xây dựng đồng bộ, tình trạng chắp vá, không có nắp đậy, tắc nghẽn

Trang 15

dòng chảy rất phổ biến Mặt khác, hiện nay, các ao hồ trong khu vực dân cư đang dần

bị thu hẹp, tù đọng, phải tiếp nhận quá nhiều nguồn thải từ sản xuất làng nghề, sinh

hoạt, chăn nuôi đã dẫn đến tình trạng vượt quá khả năng làm sạch tự nhiên, một số nơi

xuất hiện tình trạng ô nhiễm cục bộ

Trong sản xuất công nghiệp, hiện nay toàn tỉnh Phú Thọ có khoảng 7 KCN với diện tích 2.356 ha và 20 CCN với diện tích 1.066,4 ha Theo ước tính, tổng lượng nước hàng năm cấp cho sản xuất công nghiệp khoảng 65 triệu m3/năm, tổng lượng nước thải

sản xuất trong công nghiệp ước tính 40 triệu m3/năm [3] Nước thải từ các cơ sở sản

xuất này cơ bản đều được qua hệ thống xử lý của từng doanh nghiệp, có thiết kế đảm

bảo chất lượng nước thải khi xả vào nguồn nước Tuy nhiên vẫn còn một số cơ sở không có hệ thống xử lý hoặc hệ thống xử lý đã xuống cấp Tỷ lệ các KCN, CNN được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung còn thấp nên các cơ sở doanh nghiệp trong KCN đều phải tự xử lý nước thải đạt chuẩn và thải ra môi trường Từ đó dẫn đến tình trạng các nguồn thải trong KCN, CNN bị phân tán, không tập trung nên rất khó khăn trong công tác quản lý, kiểm soát nguồn xả thải Hơn nữa việc thu phí bảo vệ môi trường cũng như quản lý nước thải công nghiệp gặp không ít khó khăn khi phần lớn các cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh với quy mô vừa và nhỏ, thiết bị, công nghệ sản

xuất lạc hậu, hoạt động không liên tục, sản xuất theo mùa vụ, nên việc xác định chính xác lưu lượng và nồng độ ô nhiễm có trong nước thải rất khó thực hiện Ý thức chấp hành việc kê khai nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của một số doanh nghiệp chưa cao Nhiều doanh nghiệp né tránh không chịu kê khai, hoặc kê khai không đúng, không đủ, kê khai thấp hơn so với thực tế theo hướng có lợi cho doanh nghiệp

Do địa bàn rộng, số doanh nghiệp vừa và nhỏ tương đối lớn trong khi lực lượng cán bộ

mỏng nên việc triển khai, rà soát, phân loại, thống kê danh sách các cơ sở phát sinh nước thải đối với các doanh nghiệp nhỏ thuộc diện chịu phí còn hạn chế

Bên cạnh đó, chất thải từ hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản phân tán, quy mô hộ chưa được xử lý sơ bộ cũng là vấn đề đáng quan tâm Chất thải từ các

hoạt động này đang là một trong những nguồn gây áp lực lớn đến chất lượng môi trường, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn Trong chăn nuôi vấn đề

dịch bệnh thường xuyên xảy ra với hiện tượng vứt xác động vật chết ra sông gây ô nhiễm nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối tình trạng này vẫn còn lặp đi lặp lại nhiều lần

Trang 16

mà vẫn chưa quản lý kiểm soát được một cách đầy đủ Đối với nước thải nông nghiệp,

hiện tổng lượng nước thải nông nghiệp đổ ra các sông chính ước tính khoảng 110 triệu

m3/năm Trong sản xuất nông nghiệp việc lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học

đã và đang là mối nguy hại với môi trường nước làm tăng hàm lượng NPK trong nước ảnh hưởng đến hệ sinh thái Các chất độc hại có trong thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực

vật, phân bón hóa học một phần theo dòng chảy qua hệ thống kênh mương nội đồng

rồi xả ra sông Lô làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Riêng vùng hạ du nguồn nước mặt bị ô nhiễm ngoài việc phải chịu ảnh hưởng từ các nguồn thải sinh hoạt và hoạt động công nghiệp còn có các hoạt động khai khoáng tuyển chọn sàng lọc quặng tại vị trí cảng Việt Trì [3]

Như vậy có thể nói ô nhiễm nước trên lưu vực sông Lô này trong bối cảnh hiện nay đang là vấn đề bức xúc cho 3 tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ, mà các nguồn

thải chủ yếu từ các hoạt động công nghiệp, nước thải từ các cơ sở sản xuất kinh doanh, nước thải sinh hoạt cũng như hoạt động nông nghiệp…nó ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, đời sống của người dân một vấn đề lớn đặt ra là cần phải có

những biện pháp kiểm soát nguồn thải một cách chặt chẽ, nâng cao hiệu quả công tác

quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, cùng với đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra sau cấp phép nhằm kiểm soát chặt chẽ các hoạt động có liên quan đến nguy cơ gây

ô nhiễm suy thoái nguồn nước

Hình 1.3 Tình trạng xả nước thải trực tiếp ra sông Lô tại xã Vụ Quang

Trang 17

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu quản lý bảo vệ chất lượng nước lưu vực sông và trên lưu vực sông Lô

Ở Việt Nam, tài nguyên nước mặt đang có nguy cơ suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau như: sự nóng lên của Trái đất, ô nhiễm môi trường, khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên,… Nhà nước bên cạnh việc xây dựng chiến lược, ban hành nhiều văn bản pháp luật về môi trường, cải tiến thể chế chính sách để tạo cơ sở cho việc thực

hiện phát triển bền vững tài nguyên nước các lưu vực sông Nhà nước cũng đã quan tâm và dành nhiều kinh phí cho các đề tài nghiên cứu bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước thuộc bộ khoa học và công nghệ thực hiện trên các tỉnh Các nghiên cứu này đều dựa vào các tài liệu cơ bản của sở tài nguyên và môi trường của

tỉnh quan trắc trên các lưu vực sông hoặc các nhánh sông và các điểm chính của các KCN quanh lưu vực sông Các nghiên cứu này tiếp tục được kế thừa và làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu, các dự án về bảo vệ môi trường trong tương lai

Ngoài ra các dự án quản lý và bảo vệ môi trường, đặc biệt với môi trường nước các lưu vực sông cũng được quan tâm như dự án quản lý trên 3 lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy và lưu vực sông Đồng Nai Nhà nước đã cho thực hiện 3 đề án tổng thể

bảo vệ môi trường của 3 lưu vực sông này với mục tiêu đến năm 2020 sẽ khắc phục được tình trạng ô nhiễm nước của các lưu vực sông, đưa chất lượng nước sông đạt tiêu chuẩn loại B Hiện nay trên cả ba lưu vực sông này đã thành lập được Uỷ ban bảo vệ môi trường của từng lưu vực sông Trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy, chính quyền của 5

tỉnh có dòng sông đi qua đã chủ động xây dựng cơ chế, chính sách và kế hoạch triển khai đề án của địa phương mình Riêng tại Nam Định đã triển khai 15 chương trình, đề

án, dự án bảo vệ môi trường thuộc khu vực sông Nhuệ - sông Đáy Trên lưu vực sông Đồng Nai trong năm 2010 đã triển khai thực hiện 16 dự án trọng điểm bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai Các dự án này cũng đã đánh giá được mức độ

ô nhiễm và đề xuất được các biện pháp giảm thiểu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước trên các lưu vực sông

Để tạo các cơ sở khoa học cho việc thực hiện quản lý tài nguyên nước mặt, quản lý lưu

vực sông ở nước ta, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ về khai thác sử dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường các lưu vực sông

đã được các nhà khoa học của nhiều cơ quan nghiên cứu và các Trường đại học thực

Trang 18

hiện Ví dụ như trên lưu vực sông Hồng có đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp công nghệ để phát triển bền vững lưu vực sông Hồng”, trên lưu vực sông Đà có

đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường lưu vực sông Đà”…

Trên lưu vực sông Lô có đề tài “Nghiên cứu giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai lưu vực sông Lô – sông Chảy” (2000 – 2005), do Bộ khoa học và công nghệ chủ trì Báo cáo cũng đã đưa ra được một

số kết quả nghiên cứu và đề xuất ban đầu về cải tiến công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước lưu vực sông Lô – Chảy, chỉ ra được ưu tiên phục vụ cấp nước cho sinh

hoạt và việc quản lý nhu cầu cũng như sử dụng nước cho các ngành nghề sao cho hiệu

quả Bên cạnh đó cũng đã đưa ra đề xuất tổ chức lưu vực sông Lô – Chảy đó là Hội đồng lưu vực sông nhằm xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn

về quản lý bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông; Thực hiện công tác điều tra cơ bản về nguồn nước; Thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo vệ tài nguyên nước trên lưu vực

Những tổng hợp đã nêu ở trên cho thấy trong thời gian qua, nhà nước đã quan tâm chú

trọng trong việc xây dựng và phát triển thể chế chính sách, nghiên cứu cơ sở khoa học cho thực hiện quản lý tài nguyên nước ở nước ta Đây là tiền đề cho phát triển tài nguyên nước các lưu vực sông của nước ta theo hướng bền vững trong các thập kỷ tới

1.2 Gi ới thiệu khu vực nghiên cứu

1.2.1 Khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu của đề tài luận văn là phần lưu vực sông Lô chảy qua tỉnh Phú

Thọ (từ thị trấn Đoan Hùng qua huyện Phù Ninh và Thành Phố Việt Trì) như bản đồ hình 1.4 và sơ đồ vùng nghiên cứu hình 1.5

Trang 19

Hình 1.4 Bản đồ tỉnh Phú Thọ và vùng nghiên cứu

Trang 20

Hình 1.5Sơ đồ vùng nghiên cứuSông Lô đoạn chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ từ Chí Đám (Đoan Hùng) đến Bến Gót (Việt Trì) với chiều dài 73,5 km, diện tích lưu vực khoảng 10.000 km2, lần lượt chảyqua các xã Chí Đám, Hùng Long, Vụ Quang thuộc thị trấn Đoan Hùng; các xã Phú

Mỹ, Trị Quận, Tiên Du, An Đạo thuộc huyện Phù Ninh và các phường Phượng Lâu,

Dữu Lâu, Thanh Miếu thuộc thành phố Việt Trì Sông Lô với phụ lưu chính là sông

chảy hợp lưu tại thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, ngoài ra còn có

phụ lưu nhỏ là sông phó Đáy chi lưu phía tả ngạn, hợp lưu gần Việt Trì cách cầu ViệtTrì khoảng 200m Bên cạnh đó lưu vực sông còn có các nhánh suối, kênh tiêu, như

Trang 21

Ngòi Tế với chiều rộng 20-30m là nơi tiếp nhận nguồn nước thải sinh hoạt của thị trấn Đoan Hùng; Ngòi Rậm có chiều dài 10,5 km là nơi tiếp nhận nguồn nước thải của xã

Lưu vực sông Lô là phần lãnh thổ thuộc hai quốc gia Việt Nam và Trung Quốc Hệ

thống sông Lô được hình thành từ 4 con sông chính đó là dòng chính sông Lô, sông

Chảy, sông Gâm và sông Phó Đáy với tổng diện tích lưu vực là 39.000 km2, trong đó

diện tích nằm trong địa phận Trung Quốc là 15.249 km2

chiếm 39,1% diện tích của toàn lưu vực Khu vực nghiên cứu là phần lưu vực sông Lô đoạn chảy qua tỉnh Phú

Thọ, theo chiều dòng chảy thì khu vực nghiên cứu nằm phía bờ phải bao gồm 12 xã, phường thuộc địa bàn của 3 huyện Đoan Hùng, Phù Ninh và Thành Phố Việt Trì

1.2.2.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo

Địa hình của tỉnh Phú Thọ tạo ra 3 hình thái cơ bản là đồng bằng chiếm 6,65% trung

du chiếm 14,35% và miền núi chiếm 79% diện tích tự nhiên của tỉnh Trên địa bàn tỉnh toàn bộ giải đất phía ven sông Hồng, phía hữu ngạn sông Lô, sông Chảy có hướng dốc

từ Tây Bắc xuống Đông Nam phù hợp với hướng dòng sông Riêng vùng phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam của tỉnh hướng dốc chính từ Tây sang Đông [4]

Khu vực nghiên cứu có địa hình phức tạp, đặc trưng bởi các đới kiến tạo nâng và hạ bị chia cắt mạnh mẽ, nhiều nơi tạo thành vách đứng dễ gây sập lở, trượt khối, sông suối

có lòng hẹp, độ dốc lớn nên mùa mưa dễ xảy ra lũ quét Địa hình được chia 2 khu vực

rõ rệt:

Trang 22

+ Dạng địa hình núi cao phân bố ở phía Bắc, độ cao trung bình so với mặt biển khoảng

900 - 1000 m; Dạng địa hình này bị phân cắt mạnh, đất ở đây có độ dốc lớn và cao Sông suối đều ở dạng hẻm, có dạng độ dốc lớn và chảy xiết, do sườn núi quá dốc nên đất đai bị quá trình xói mòn và rửa trôi mạnh

+ Dạng địa hình núi thấp và các dãy đồi phân bố ở phía Nam có độ cao trung bình từ

300 - 500m nằm trên phần lớn diện tích huyện Đoan Hùng, Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

1.2.2.3 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên

1) Đất:

Diện tích đất tự nhiên trên địa bàn toàn tỉnh là 353.456,09 ha, đang sử dụng vào các

mục đích như sau:

+ Đất nông nghiệp: 297.404,94 ha

+ Đất phi nông nghiệp: 53.385,71 ha

+ Đất chưa sử dụng: 2.665,44 ha [5]

Đất lưu vực sông Lô được chia thành 8 nhóm đất, 22 loại đất và có các đối tượng sử dụng đất như: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cư và đất chưa sử

dụng Về tổng thể đất lâm nghiệp có rừng chiếm một tỷ lệ cao 47,51% sau đó đến đất chưa

sử dụng hoang hóa 38,77% tiếp đó là đất nông nghiệp 11,29%, hai loại đất còn lại đất chuyên dùng và đất chỉ chiếm một phần nhỏ trong diện tích đất tự nhiên toàn lưu vực Do điều kiện hình thành và sử dụng đất chưa hợp lý nên thực trạng thoái hóa đất trên lưu vực sông được xác định: Thoái hóa yếu có 324.762,9 ha; chiếm 14,35%, thoái hóa trung bình có 776.328 ha chiếm 34,31% diện tích lưu vực, thoái hóa nặng có 832.708,2ha chiếm 36,8%

diện tích toàn lưu vực [6]

2) Rừng:

Diện tích đất lâm nghiệp tỉnh Phú Thọ theo tính toán khoảng 170.764,60 ha Trong đó, đất rừng sản xuất là 120.814,93 ha, đất rừng phòng hộ là 33.528,05 ha, đất rừng đặc dụng là 16.421,63 ha [5]

Trang 23

3) Khoáng sản:

Phú Thọ có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú có giá trị về mặt kinh tế với một số loại khoáng như cao lanh, fenspat, Quactit, Pyrit, đá vôi Cao lanh có trữ lượng khoảng 30 triệu tấn; Fenspat có trữ lượng khoảng 5 triệu tấn; Quactit trữ lượng khoảng 10 triệu tấn, đá vôi 1 triệu tấn, Pyrit trữ lượng khoảng 1 triệu tấn, Tantalcum trữ lượng khoảng 0,1 triệu tấn và nhiều cát sỏi [7]

1.2.2.4 Đặc điểm khí tượng thủy văn

1) Mạng lưới sông suối

Sông Lô là phụ lưu tả ngạn (bên trái) của sông Hồng, là dòng chính cấp 1 của sông

Hồng, bắt nguồn từ núi cao trên 2000 m thuộc tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, chảy vào Việt Nam tại xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang nhập vào sông Hồng tại Việt Trì - Phú Thọ Điểm cuối là ngã ba Việt Trì, còn gọi là ngã ba

Hạc Phần đầu nguồn tại Trung Quốc có tên là Bàn Long Giang còn phần chảy tại Việt Nam có tên là sông Lô

Lưu vực sông Lô nằm giữa cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Sông Gâm, dãy núi Tam Đảo và dãy núi Con Voi Hướng dốc chung theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông

Lô có chiều dài khoảng 470 km, phần thuộc lãnh thổ Việt Nam là 274 km Diện tích toàn lưu vực là 39.000 km2, diện tích lưu vực trong phạm vi nghiên cứu là 10.000 km2

Độ cao trung bình lưu vực là 884m, độ dốc trung bình là 19,7 % Mật độ sông suối trung bình là 0,98 km/ km2, mật độ giữa các vùng từ cấp thưa đến rất dày (từ 0,46 - 1,94 km/ km2 ) Phía Tây và Tây Bắc lưu vực sông suối dày đến rất dày, phía Đông và Đông Bắc sông suối thưa thớt hơn

Sông Lô chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ từ Chí Đám - Đoan Hùng đến Bến Gót - Việt Trì dài 73,5 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam gần như song song với sông Hồng,

diện tích lưu vực trong tỉnh khoảng 10.000 km2, Sông có 3 phụ lưu chính đó là

+ Sông Gâm với chiều dài 297km, diện tích lưu vực 17.200km2 chảy vào sông Lô tại phía thượng lưu của thị xã Tuyên Quang

+ Sông Chảy với chiều dài 303km, diện tích lưu vực 4.527km2 bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh chảy qua vùng núi cao tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang

Trang 24

hợp với sông Lô tại xã Đông Khê, huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ là phụ lưu lớn nhất

+ Sông Phó Đáy có nhiều phụ lưu nhỏ, đoạn trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có chiều dài 84km, đoạn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc có chiều dài 41,5km chảy vào sông Lô tại

xã Sơn Đông (Lập Thạch) và xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) cách cầu Việt Trì 200m về phía hạ lưu [8]

Bảng 1.1 Các sông có chiều dài lớn hơn 20 km trong vùng điều tra

STT Tên sông theo

danh mục sông Thuộc lưu vực sông Đổ vào sông Cấp sông

Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, điều tra trên địa bàn tỉnh còn có các nhánh suối, ngòi, hệ thống kênh mương đổ vào sông Lô như:

+ Ngòi Tế: Ngòi có chiều rộng 20 - 30m, uốn lượn, lộ đá gốc không liên tục, cuội, sỏi, cát, sét Độ sâu nước 0,2 - 0,5m, vận tốc dòng chảy v = 0,1m/s Độ dốc lòng 2 – 5o

Diện tích lưu vực khoảng 50 km2 Nước thải sinh hoạt của thị trấn Đoan Hùng và một

số xã lân cận thải ra chảy vào Ngòi Tế rồi chảy thẳng ra sông Lô Nước Ngòi Tế có màu đục, có mùi khó chịu, lưu lượng nước nhiều, đặc biệt là vào mùa mưa có khi nước dâng lên cả mặt đường [9]

+ Ngòi Dầu: Bắt nguồn từ xã Minh Tiến huyện Đoan Hùng nhập vào dòng sông chính

tại xã Phú Mỹ huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ Diện tích lưu vực 34,4 km2, chiều dài 7

km [9]

2) Khí hậu

Trang 25

Đặc điểm khí tượng: Vùng nghiên cứu nằm trong phân khu Đông Bắc, Bắc Bộ, có khí

hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông lạnh ít mưa và mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều

Đặc trưng khí hậu Phú Thọ thể hiện trên giá trị điển hình của một số yếu tố khí tượng

cơ bản sau đây:

+ Tổng số giờ nắng trong năm từ 1400 ÷ 1600h/năm, trong khi ở vùng Tây Bắc đạt tới

1800 ÷ 2100h/năm

+ Nhiệt độ không khí trung bình năm toàn vùng 22 ÷23oC biên độ nhiệt độ chênh lệch

giữa ngày và đêm từ 10oC ÷ 12oC

+ Lượng mưa bình quân năm từ 1500 ÷ 1800 mm, có xu hướng tăng dần từ Nam lên

Bắc và từ thung lũng sông Hồng sang phía hữu ngạn sông [10]

3) Thủy văn

Dòng chảy sông Lô chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn vùng Việt Bắc, sông suối ngòi đổ vào tương đối nhiều Chế độ dòng chảy bị tác động nên vào mùa mưa nước thường dâng cao ở các con sông lớn Đồng thời, do chặt phá rừng đầu nguồn nên khi

có mưa lượng nước dâng nhanh tạo ra lũ lớn gây thiệt hại về người và của cho nhân dân Các suối tuy nhiều nhưng trữ lượng ít và lòng suối hẹp nên thường có một số con

suối bị cạn vào mùa khô Chính đặc điểm này gây ra tình trạng lúc thừa nước gây lũ

lụt, lúc thiếu nước gây hạn hán, nơi thừa nước không dùng hết Môđun dòng chảy trung bình năm của vùng từ 20 – 30 l/s/km2 Nơi có môđun dòng chảy lớn nhất là thượng lưu sông Lô 40 – 50 l/s/km2 Phù hợp với khí hậu, chế độ thủy văn chia làm hai mùa rõ rệt đó là mùa lũ và mùa cạn

Mùa lũ trên sông Lô kéo dài 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10), với tổng lượng dòng

chảy chiếm từ 67,1% (trạm Vụ Quang) Mùa khô chiếm phần lớn thời gian trong năm (từ tháng 11 tới tháng 5 năm sau) nhưng tổng lượng dòng chảy lại chiếm một phần khá khiêm tốn vào khoảng trên dưới 30% Tháng có lượng dòng chảy lớn nhất là tháng 8 chiếm trên dưới 20% lượng dòng chảy cả năm Tháng có lượng dòng chảy nhỏ nhất là tháng 3 chỉ chiếm trên dưới 3% lượng dòng chảy cả năm Các đặc trưng thủy văn luôn

Trang 26

biến động theo thời gian, dòng chảy không những biến động trong một năm mà giữa các năm cũng có sự biến động rất lớn [10]

Bảng 1.2 Đặc trưng dòng chảy theo mùa tại các trạm thủy văn [10]

TT Tên tr ạm Trên

sông

Th ời kỳ tính toán

Tháng m 3 /s % so

v ới năm m 3 /s

% so v ới năm

1 Vụ Quang Sông Lô 1961-2015 VI-X 1002.3 67.1 344.4 32.9

2 Bảo Yên Sông

1.2.3.2 Dân số

Tổng dân số toàn tỉnh là 1.329.342 người, trong đó dân thành thị có 215.254 người, chiếm 15,9 % tổng số dân, còn lại là dân cư nông thôn Mật độ dân số bình quân toàn

tỉnh 376,5 người/km2 [11]

Theo kết quả của Tổng cục Thống kê thì dân số của 3 huyện thuộc vùng nghiên cứu tại

tỉnh Phú Thọ năm 2015 là: 400.168 người Trong đó: Huyện Đoan Hùng: 107.220 người; Huyện Phù Ninh: 96.940 người; Thành phố Việt Trì: 196.008 người Thành thị: 136.745 người (chiếm 34,17%), Nông thôn: 263.423 người (chiếm 65,83%) Dân số

của các xã thuộc khu vực nghiên cứu được thể hiện trong bảng 1.3

Trang 27

Bảng 1.3 Dân số các xã thuộc khu vực nghiên cứu năm 2015 [11]

Phân bố dân cư: Trên địa bàn 3 huyện nghiên cứu thì mật độ dân cư chủ yếu ở Thành

phố Việt Trì (> 64%) và có mật độ dân số cao nhất với 1753 người/km2 Mật độ thấp

nhất ở huyện Đoan Hùng là 354 người/km2 Cùng với sự hình thành của các đô thị thì dân số đô thị cũng tăng lên tuy nhiên là rất nhỏ

Tổng số lao động toàn tỉnh Phú Thọ ước khoảng 702,8 nghìn người Trong đó số lao động trong nhà nước là 51,7 nghìn người, lao động ngoài nhà nước là 621,0 nghìn người, lao động khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 30,1 nghìn người [11]

1.2.3.3 Đặc điểm kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (GRDP) năm 2015 ước đạt 27.336 tỷ đồng, tăng 5,32% so với năm trước; đóng góp vào mức tăng chung của toàn tỉnh Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,82%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,20% và khu vực dịch vụ tăng 6,45% [11]

Các ngành công - nông - lâm nghiệp

Trang 28

+ Ngành công nghiệp: Tháng 12/2015 các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,72%; Ngành truyền tải và phân phối điện tăng 0,86% và Ngành công nghiệp cung cấp nước, thu gom, xử lý rác thải tăng 4,78%; riêng Ngành công nghiệp khai khoáng chỉ số giảm 9,60% so với tháng trước

+ Ngành nông nghiệp: Diện tích gieo trồng hàng năm đạt 63.217 ha trong đó vụ mùa là 32.000 ha; vụ đông xuân là 31.217 ha

+ Ngành lâm nghiệp: Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm chỉ đạo; Diện tích rừng sản xuất năm 2015 đạt 120.814,93 ha

+ Ngành chăn nuôi: Theo kết quả điều tra về tình hình chăn nuôi tại thời điểm 1/10/2015, tổng đàn trâu toàn tỉnh có 72,1 nghìn con; tổng đàn bò có 105,2 nghìn con;

tổng đàn lợn (không kể lợn sữa) 815,8 nghìn con; đàn gia cầm 11.751,5 nghìn con Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 104,1 nghìn tấn Tình hình chăn nuôi gia súc, gia

cầm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra ổ dịch bệnh lớn, tổng đàn lợn và gia cầm tăng so với cùng kỳ [11]

1.3 Những vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát ô nhiễm nước mặt sông Lô

1.3.1 Tình hình sử dụng nước sông Lô

1.3.1.1 Tập quán khai thác sử dụng

Hầu hết người dân trong vùng cư trú trên địa bàn quanh lưu vực sông đều dùng nguồn nước mặt để sinh hoạt Do đó, việc khai thác sử dụng nước mặt trên địa bàn trước hết

là phục vụ nhu cầu ăn uống sinh hoạt của người dân, tiếp đến là nhu cầu phục vụ cho

sản xuất nông nghiệp và công nghiệp Do tập quán sinh hoạt và canh tác, con người

sống hòa với thiên nhiên nên việc quản lý, khai thác nước chưa được quan tâm nhiều Người dân tìm kiếm nguồn nước và khai thác theo nhu cầu, người dân vừa là người khai thác vừa là người quản lý nguồn nước họ tìm được

Thực hiện theo chủ trương, chính sách của Nhà nước nên nhu cầu định cư của người dân trên khu vực ngày càng tăng, người dân sống tập trung hơn, do đó hình thành các công trình cấp nước tập trung, các công trình này có quy mô nhỏ chỉ cấp cho từ 10 đến

50 hộ gia đình, khai thác nguồn nước mạch lộ là chủ yếu và phần lớn do người dân

quản lý Hình thức quản lý công trình khai thác nước mặt trên vùng điều tra chủ yếu có

Trang 29

3 loại hình: UBND xã (Nhà nước) quản lý, tổ chức quản lý và tư nhân quản lý Trong

đó UBND xã quản lý nhiều công trình nhất chiếm 55,2% tổng công trình khai thác,

chủ yếu là công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp tiếp đến là sinh hoạt và kết hợp nông nghiệp với sinh hoạt; và 05 công trình phục vụ sinh hoạt [9]

1.3.1.2 Các hình thức khai thác sử dụng

Trên phạm vị toàn lưu vực, việc khai thác sử dụng nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp phục vụ cho đồng ruộng canh tác, những nơi tập trung dân cư thì đều có các công trình cấp nước sinh hoạt kết hợp cấp nước cho tưới tiêu và cho các

mục đích sử dụng khác Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình, nguồn nước, quy mô canh tác mà việc khai thác sử dụng ở các vùng có những đặc điểm riêng Trên cơ sở địa hình và kết hợp với địa giới hành chính để thuận tiện cho việc tổng hợp tình hình khai thác sử dụng nước khu vực khác nhau tạm thời chia thành 3 vùng

+ Vùng núi (thượng lưu sông Lô) gồm phần diện tích thuộc huyện Đoan Hùng Vùng này bao gồm loại địa hình có những dãy núi nhỏ có hình phân cắt mạnh, có bậc thềm chênh lệch về độ cao, có địa hình phức tạp hơn Các công trình khai thác nước nhỏ, vùng này diễn ra quá trình chuyển nước từ tỉnh lân cận, là đầu nguồn bắt đầu chảy vào địa phận tỉnh Phú Thọ

+ Vùng trung du (trung lưu sông Lô) gồm phần diện tích thuộc huyện Phù Ninh Vùng này có diện tích rộng, địa hình chuyển dần từ vùng đồi thoải xuống đồng bằng Công trình khai thác, sử dụng nước lớn, loại hình khai thác chủ yếu là trạm bơm quy mô

vừa

+ Vùng đồng bằng (hạ lưu sông Lô) gồm phần diện tích thuộc thành phố Việt Trì Địa hình khá bằng phẳng, sử dụng nước trong vùng có tính chất hệ thống, kết hợp cấp nước với tiêu thoát lũ

Theo số liệu điều tra của Sở TN&MT tỉnh Phú Thọ, số công trình khai thác sử dụng nước mặt năm 2015 là 621 công trình Trong đó, 458 hồ, đập; 100 trạm bơm và 63

cống, đập dâng Đây là hình thức khai thác phổ biến trên các địa bàn trung du miền núi, trên vùng điều tra có 63 dạng cống, đập dâng, hệ công trình tự chảy (chiếm 10%

tổng công trình trong vùng) với các công trình tự chảy được xây dựng chủ yếu phục vụ

Trang 30

nhu cầu sinh hoạt do khai thác nước ngay từ đầu nguồn nên có chất lượng nước khá

tốt Khai thác nước cho sản xuất nông nghiệp có 616 công trình, 05 công trình khai thác phục vụ sinh hoạt Hiện trạng đa số các công trình vẫn đang hoạt động bình thường Tổng nhu cầu nước hiện tại theo ngành vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp là

857 triệu m3/năm và phục vụ cho sinh hoạt là 11 triệu m3/năm và phục vụ cho công nghiệp 53 triệu m3/năm

Bảng 1.4 Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp [11]

Huy ện, Thị

tr ấn

T ổng nhu cầu nước (triệu m 3 /năm)

S ản xuất nông nghiệp (85,7 tri ệu m 3 /năm)

Ph ục vụ cho sinh hoạt (11 tri ệu m 3 /năm)

Ho ạt động công nghiệp (53 tri ệu m 3 /năm)

Dự báo nhu cầu sử dụng nước trong 5 năm tới theo ngành nông nghiệp 90 triệu

m3/năm và sinh hoạt là 30,3 triệu m3/năm và công nghiệp là 120 triệu m3/năm [11] Tuy nhiên, bên cạnh việc đáp ứng nhu cầu sử dụng về nguồn nước mặt của sông Lô thì

áp lực đặt ra về tình hình ô nhiễm chính dòng sông này cũng là vấn đề cần quan tâm, đòi hỏi các nhà quản lý phải có những hành động cụ thể quyết liệt trong kiểm soát xả

thải gây ô nhiễm môi trường

1.3.2 Những vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát ô nhiễm

1) Thanh tra, kiểm soát nguồn ô nhiễm: Trên lưu vực sông Lô có rất nhiều nguồn xả

thải tập trung và phân tán, với các nguồn xả thải chủ yếu từ các hoạt động của con người như công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt Với đặc thù là nền công nghiệp chưa phát triển, những cơ sở sản xuất đang hoạt động có dây chuyền công nghệ chưa

hiện đại còn lạc hậu với các KCN ở các tỉnh đầu nguồn sông Lô như Hà Giang, Tuyên Quang tiêu biểu có nhà máy giấy An Hòa xả nước thải ra sông gây ô nhiễm môi trường quanh lưu vực và đặc biệt nó lại là nguồn gây ô nhiễm cho phía hạ lưu địa phận

tỉnh Phú Thọ Các cơ sở sản xuất kinh doanh với quy mô nhỏ lẻ, phân tán, nằm xen kẽ

Trang 31

với khu dân cư cũng tác động không nhỏ đến tình hình ô nhiễm nguồn nước sông Lô, nước thải không được xử lý tập trung, xả thẳng ra sông qua các hệ thống kênh tiêu,

bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng góp phần gây ra áp lực về tình hình ô nhiễm, việc sử dụng phân bón hóa

học, thuốc trừ sâu một cách bừa bãi gây dư thừa lượng hóa chất vượt ngưỡng cho phép

từ đó theo dòng nước hồi quy chảy ra sông gây ô nhiễm Trong chăn nuôi vấn đề dịch

bệnh thường xuyên xảy ra cộng với ý thức của người dân chưa cao trên địa bàn vẫn còn xuất hiện tình trạng vứt xác động vật ra sông gây bốc mùi hôi thôi, ô nhiễm cục

bộ Do vậy việc quản lý kiểm soát nguồn thải cũng là vấn đề nhanh chóng phải được

giải quyết, phải có quy trình xả thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn thải trước khi thải ra môi trường

2) Vấn đề trong công tác quản lý cũng cần phải được chú trọng ở các cấp chính quyền,

cơ quan quản lý, tổ chức cá nhân phải có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường

một cách sâu sắc và đầy đủ Cần phải để cho các nhà quản lý thấy rõ được vấn đề ô nhiễm môi trường nước có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sức khỏe của con người Tuy nhiên hiện nay các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường chưa chặt

chẽ, cơ chế phân công phối hợp giữa các cơ quan các ngành và địa phương chưa đồng thuận Đầu tư nguồn nhân lực, kỹ thuật từ cấp trung ương đến địa phương còn thiếu,

cụ thể trong phạm vi các xí nghiệp nhà máy Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường còn hạn chế, đội ngũ cán bộ về quản lý môi trường còn thiếu cả về số lượng cũng như

chất lượng

3) Nhận thức của cộng đồng dân cư và các thành phần có liên quan đối với môi trường còn rất yếu kém ví dụ như vẫn thường xuyên xảy ra tình trạng vứt xả rác bừa bãi, vứt xác động vật chết trong quá trình chăn nuôi khi dịch bệnh xảy ra làm bốc mùi hôi thối gây ô nhiễm môi trường

Như vậy yêu cầu về quản lý, kiểm soát tốt các nguồn gây ô nhiễm phải được thực hiện

một cách nhanh chóng để ngăn ngừa kịp thời không xảy ra ô nhiễm nghiêm trọng trong tương lai Bên cạnh đó cũng cần phải có những nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp ngay tại thời điểm hiện nay, vấn đề này cũng sẽ được nghiên cứu trong các phần sau của luận văn

Trang 32

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ Ô NHIỄM NƯỚC

M ẶT SÔNG LÔ ĐOẠN CHẢY QUA TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Xác định nguồn gây ô nhiễm và ước tính tải lượng chất ô nhiễm BOD5

2.1.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước

Trong phạm vi 73,5 km chảy qua địa phận các huyện Đoan Hùng, Phù Ninh và thành

phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ, sông Lô tiếp nhận nước thải từ nhiều nguồn khác nhau như là : nguồn thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và một số hoạt động khác

2.1.1.1 Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt

Lưu vực sông Lô đoạn chảy qua Tỉnh Phú Thọ thuộc các xã Chí Đám, Hùng Long, Vụ Quang, Thị trấn Đoan Hùng (Huyện Đoạn Hùng); xã An Đạo, Tiên Du, Trị Quận, Lệ

Mỹ, Phú Mỹ (huyện Phù Ninh) và Phường Phượng Lâu, Dữu Lâu, Thanh Miếu (thành

phố Việt Trì) là nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt của các xã này Theo số liệu điều tra

khảo sát năm 2015 thì dân số của 3 huyện thuộc vùng nghiên cứu tại tỉnh Phú Thọ là: + Huyện Đoan Hùng với số dân là 13.345 người bao gồm dân số các xã Chí Đám, thị

trấn Đoan Hùng, xã Hùng Long và xã Vụ Quang

+ Huyện Phù Ninh với số dân là 20.809 người bao gồm dân số các xã An Đạo, Tiên

Bảng 2.3

Trang 33

Bảng 2.1 Các điểm xả nước thải ra sông Lô, sông Chảy tại huyện Đoan Hùng [9]

TT Đối tượng

xả nước thải Loại hình nước thải (xã, thôn) Vị trí

Nguồn tiếp nhận nước thải

1 Cống xả thải Nước thải sinh hoạt Chí Đám sông Lô

2 Cống xả thải Nước thải sinh hoạt TT Đoan

3 Mương nước thải Nước thải sinh hoạt TT Đoan

4 Cống xả thải Nước thải sinh hoạt Hùng Long sông Lô

5 Cống xả thải Nước thải sinh hoạt Hùng Long sông Lô

6 Cống xả thải Nước thải sinh hoạt Vụ Quang sông Lô

Bảng 2.2 Các điểm xả nước thải ra sông Lô tại huyện Phù Ninh [9]

TT Đối tượng

xả nước thải Loại hình nước thải

Vị trí (xã, thôn)

Nguồn tiếp nhận nước thải

Bảng 2.3 Các điểm xả nước thải sinh hoạt ra sông Lô tại Thành phố Việt Trì [9]

TT Đối tượng

xả nước thải Loại hình nước thải

Vị trí (xã, phường)

Nguồn tiếp nhận nước thải

1 Cống Cầu Gần Nước thải sinh hoạt Phượng Lâu Sông Lô

2 Trạm bơm Dữu Lâu Nước thải sinh hoạt Dữu Lâu Sông Lô

3 Cống Hạ Giáp Nước thải sinh hoạt Thanh Miếu Sông Lô

Trang 34

Áp dụng tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt (TCXDVN 33:2006 cấp nước – mạng lưới đường ống và công trình tiêu chuẩn thiết kế) có thể lựa chọn khu vực thành phố (Việt Trì) với nhu cầu sử dụng nước là 150 lít/người/ngày, khu vực các xã còn lại là 100 lít/người/ngày và tỷ lệ nước thải, thải ra môi trường được xác định bằng 100% lượng nước cấp Ước tính tổng lượng nước thải sinh hoạt từ các khu dân cư là 7.017,65

m3/ngày theo bảng 2.4

Bảng 2.4 Khối lượng nước thải sinh hoạt năm 2015 [11]

STT Xã, thị trấn Dân số (người) Tổng lượng nước thải (m 3

Nước thải từ khu dân cư bao gồm nước thải sinh hoạt từ nhà vệ sinh và nước thải sinh

hoạt trong quá trình rửa, tắm giặt phục vụ đời sống của con người Do đó nước thải sinh hoạt chứa nhiều chất hữu cơ, hóa chất độc hại và sinh vật gây bệnh Nước thải thường ứ đọng lâu ngày trong các hệ thống kênh mương, bốc mùi hôi thối và gây ảnh hưởng đến chất lượng môi trường xung quanh Một khối lượng lớn nước thải không được xử lý chảy tự do theo hình thức kênh tiêu từ làng xóm ra sông, hoặc chảy trực

tiếp ra sông đối với các thôn xóm ven sông Lô Tại địa phương chưa có bất kỳ hình

thức quản lý nào để quản lý do địa bàn dân cư không tập trung, cơ sở hạ tầng còn thiếu

Trang 35

đồng bộ, kinh phí còn hạn hẹp nên hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tập trung chưa được đầu tư xây dựng Bên cạnh đó vấn đề xả rác thải ra môi trường cũng

cần được quan tâm, vẫn thường xuyên xảy ra hiện tượng vứt rác bừa bãi đổ phế thải sinh hoạt vào lòng sông gây ô nhiễm

Như vậy qua đánh giá cho thấy nước thải sinh hoạt là một trong những nguồn gây ô nhiễm đến nguồn nước mặt sông Lô Đặc biệt tại các khu dân cư quanh lưu vực sông, nước thải thông qua các kênh tiêu, ngòi rồi chảy thẳng ra sông Lô như vị trí Ngòi Rậm khu vực xã Vụ Quang, Ngòi Tế địa phận huyện Đoan Hùng và cống thải Hạ Giáp thuộc thành Phố Việt Trì

2.1.1.2 Nguồn ô nhiễm do công nghiệp

Với đặc thù là nền công nghiệp đang trên đà phát triển, với cơ cấu tỷ trọng ngành công nghiệp ngày một tăng kèm theo đó nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều đặt ra một

vấn đề lớn trong việc kiểm soát khai thác nguồn nước và xả thải ra môi trường nước Theo ước tính có khoảng 70 – 80% tổng lượng nước thải của các nhà máy, cơ sở sản

xuất, CCN thải ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng Phía thượng nguồn chất lượng nước sông Lô cũng bị ảnh hưởng phần nào do hoạt động xả thải gây ô nhiễm

của công ty cổ phần giấy An Hòa Với nhu cầu cấp nước cho nhà máy khoảng 2.000

m3/ngày đêm do đó ước tính khối lượng xả thải là 2.000 m3/ngày (khối lượng nước

thải được tính bằng 100% lượng nước cấp) Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ các KCN, CCN

tập trung chủ yếu ở TP Việt Trì như KCN Thụy Vân phía bắc Việt Trì; KCN Việt Trì

với một số các công ty nhà máy như: Công ty dệt Păng Rim, nhà máy mì chính Miwon, nhà máy giấy Việt Trì… CCN Bạch Hạc Trong quá trình hoạt động sản xuất

một lượng nước thải lớn của các nhà máy này gây ảnh hưởng ô nhiễm môi trường đến

cụm dân cư phường Bến Gót, phường Thanh Miếu Trên địa bàn huyện Phù Ninh có KCN Phù Ninh với nhu cầu cấp nước 3.000 m3/ngày đêm được quy hoạch với diện tích 100ha, có 5 nhà đầu tư Hàn Quốc, 1 nhà đầu tư Nhật Bản, 1 doanh nghiệp của

Việt Nam, điển hình như các Công ty TNHH Tarpia Vina, TNHH K- Tarp Vina, TNHH Polymax Việt Nam (của Hàn Quốc), TNHH Yoshitani Việt Nam (của Nhật

Bản) và Công ty TNHH thương mại Xuân Thành Các doanh nghiệp này đầu tư vào các lĩnh vực chủ yêu như sản xuất vải, bạt, túi, các loại giầy xuất khẩu với quy mô và

sản lượng khoảng 8400 tấn vải bạt xuất khẩu/năm, 1.200 tấn sản phẩm túi xuất

Trang 36

khẩu/năm, 1.000.000 sản phẩm giầy xuất khẩu/năm Hoạt động của KCN với phương châm không thu hút đầu tư các loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước như mạ kim loại, dệt nhuộm… [12]

Bảng 2.5 Các điểm xả nước thải ra sông Lô tại huyện Phù Ninh và TP Việt Trì

TT Đối tượng

xả nước thải Loại hình nước thải

Vị trí (xã, thôn)

Nguồn tiếp nhận nước thải

1 Cống tiêu nước

Xã An Đạo

Nước thải công nghiệp

2 Cống Hạ Giáp

Nước thải công nghiệp CCN Bạch Hạc – TP

Việt Trì

Thanh Miếu Sông Lô

Các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ, phân tán, nằm xen kẽ với khu dân cư cũng là nguồn gây ô nhiễm và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của nhân dân Hầu hết các thiết bị máy móc, dây chuyền công nghệ ở đây hiện nay đều đã lạc hậu Hơn nữa, khi xây

dựng các nhà máy này, trước đây đa số chủ đầu tư chưa quan tâm nhiều đến việc bảo

vệ môi trường sinh thái mà chủ yếu chỉ quan tâm đến sản xuất kinh doanh Chính vì

vậy, hệ thống xử lý nước thải ở nhiều nhà máy chưa được quan tâm đúng mức, nước

thải chưa được xử lý trước khi thải ra môi trường hoặc có thì chỉ là sơ bộ

Bảng 2.6 Diện tích các Khu, Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ [12]

STT Tên khu, cụm công nghiệp

(KCN, CNN)

Lĩnh vực

ho ạt động

Diện tích (ha)

I Các khu công nghi ệp

1 Khu công nghiệp Thụy Vân Cơ khí nắp ráp, công

4 Khu công nghiệp Phù Ninh Vải bạt, túi giấy 100

II Các c ụm công nghiệp

1 Khu đào tạo công nghệ cao

(TP.Việt Trì)

Công nghệ điện tử

105

Trang 37

2 CCN Bạch Hạc (TP Việt Trì) Thiết bị điện tử, vật liệu

2.1.1.3 Nguồn ô nhiễm do nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất chính của 3 huyện Đoan Hùng, Phù Ninh và Thành phố Việt Trì Sản xuất nông nghiệp có thể gây ô nhiễm nước sông Lô

bởi các lĩnh vực sau:

1) Trồng trọt

Sản xuất nông nghiệp gắn liền với nguồn nước, trong đó chủ yếu là nước mặt Dự báo đến năm 2020 lượng nước thải từ hoạt động nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 90 triệu m3/năm (theo ước tính trên cơ sở diện tích đất trồng lúa, đất trồng cây lâu năm

của tỉnh Phú Thọ và định mức cấp nước cho sản xuất) Nguồn cấp nước chủ yếu cho

hoạt động nông nghiệp trên địa bàn là từ nguồn nước mặt sông Lô, và đây cũng chính

là nơi tiếp nhận nguồn nước thải chủ yếu thông qua các kênh mương nội đồng Đối với vùng nghiên cứu là 3 huyện thì tổng nhu cầu nước hiện tại theo ngành vẫn chủ yếu là

sản xuất nông nghiệp là 85,7 triệu m3/năm, trong đó, huyện Đoan Hùng 38,3 triệu

m3/năm, huyện Phù Ninh 28,3 triệu m3/năm, thành phố Việt Trì 19,1 triệu m3/năm

Tổng lượng nước thải nông nghiệp đổ ra các sông chính ước tính khoảng 58,56 triệu

m3/năm

Hiện nay hình thức canh tác nông nghiệp trên địa bàn còn nhiều lạc hậu, với diện tích gieo trồng trong năm 2015 là 152.089,3 ha trong đó diện tích trồng cây hàng năm là 120.975,8ha gồm vụ đông xuân và vụ mùa với diện tích gieo trồng vụ đông là 78.291,6ha; vụ mùa với diện tích gieo trồng là 42.684,2ha, diện tích trồng cây lâu năm

là 31.113,5ha Cụ thể với 3 huyện Đoan Hùng diện tích gieo trồng vụ đông là 6.710,7ha, diện tích gieo trồng vụ mùa là 4.193,3ha; Huyện Phù Ninh diện tích gieo

trồng vụ đông xuân là 5.606,1ha và diện tích gieo trồng vụ mùa là 2.652,9ha; Thành

phố Việt Trì diện tích gieo trồng vụ đông xuân là 2.448,4ha, diện tích gieo trồng vụ mùa là 1.053,9ha Trong quá trình canh tác việc sử dụng phân động vật tươi ủ chưa

Trang 38

đảm bảo gây ô nhiễm nguồn nước bởi những thành phần hữu cơ và vi sinh vật trong

chất thải động vật Ước tính trên địa bàn tỉnh có khoảng một nửa lượng phân bón đưa vào đất được cây trồng sử dụng, nửa còn lại là nguồn gây ô nhiễm môi trường Hệ số

sử dụng phân đạm khoảng 60%; trong đó từ 15 - 20% bị huỷ ra khỏi đất dưới dạng khí,

20 - 25% được chuyển vào chất hữu cơ trong đất; 20 - 25% bị rửa trôi ra sông suối dưới dạng NO3 Còn lượng phôtpho bị rửa trôi khỏi đất và đi vào hệ thống sông suối dưới dạng đất bị sói mòn trung bình khoảng 6 - 15kg phôtpho (dạng P2O5) trên 1ha đất canh tác Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón không rõ nguồn gốc xuất xứ, không được sự cho phép của cơ quan khuyến nông đã và đang là mối nguy hại cho môi trường nước, các chất ô nhiễm sẽ theo dòng nước hồi quy chảy qua các kênh mương nội đồng rồi xả ra hệ thống sông Theo kết quả điều tra trong thời gian từ 2010 – 2015 trên địa bàn sử dụng khoảng 100 tấn thuốc BVTV/năm, riêng năm 2014 sử dụng 83 tấn và số liệu thống kê năm 2015 riêng 3 huyện sử dụng 20.707kg thuốc bảo vệ thực vật theo bảng 2.7 [3]

Bảng 2.7 Tổng lượng thuốc BVTV sử dụng trên 3 huyện năm 2015 [3]

thống chuồng trại bán tự động Việc cơ giới hóa trong chăn nuôi của các doanh nghiệp

chủ yếu ở các khâu cho ăn, nước uống và chế biến thức ăn Hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi xuống cấp trầm trọng bên cạnh đó hoạt động xả thải còn chưa được kiểm soát chặt chẽ vẫn xảy ra tình trạng xả thẳng nước thải ra các kênh tiêu rồi trực tiếp đổ

thẳng vào sông Nước thải chăn nuôi với hàm lượng chất hữu cơ tương đối cao, có mùi

Trang 39

hôi thối, phát sinh khí độc làm sụt giảm lượng ôxy hòa tan trong nước Do vậy nếu không được xử lý khi thải ra nguồn tiếp nhận sẽ gây ô nhiễm môi trường, gây phì dưỡng hệ sinh thái lòng sông [13]

Bảng 2.8 Kết quả phân tích thành phần nước thải chăn nuôi xã Phú Mỹ - H.Phù Ninh trước khi xử lý [13]

STT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị Kết quả QCVN62-MT:2016/BTNMT

Tình hình phát triển kinh tế trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, năm 2015 có tổng số hơn

800 nghìn con, đứng thứ 2 vùng trung du miền núi phía bắc Chăn nuôi lợn tập trung ở

một số địa phương có tổng đàn lợn như huyện: Đoan Hùng, Phù Ninh với số lượng hơn 80 nghìn con [13] Chăn nuôi lợn hiện nay hầu hết là qui mô hộ gia đình nhỏ lẻ (trên 90%) việc quản lý dịch bệnh không tốt nên rủi ro dịch bệnh cao Tính trung bình, nhu cầu sử dụng nước trong chăn nuôi lợn là khoảng 50 lít/con/ngày lượng nước thải

ra ước tính bằng 100% lượng nước cấp, khoảng 50 lít/con/ngày (Định mức nước cấp chăn nuôi theo tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp) Như vậy, tổng lượng nước thải từ

hoạt động chăn nuôi lợn của 3 huyện là 4.000 m3/ngày

3) Nuôi trồng thủy sản:

Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản: Tính đến năm 2015 diện tích nuôi thủy sản của

tỉnh đạt gần 10.121,8 ha Thành phố Việt trì diện tích nuôi trồng thủy sản là 358,8 ha; Huyện Đoan Hùng với diện tích nuôi trồng thủy sản là 464,1 ha và của huyện Phù Ninh là 456,7 ha [13] Hiện nay, các khu vực nuôi trồng thủy sản chủ yếu có quy mô

nhỏ lẻ, tự phát chưa có biện pháp xử lý nước thải trong trường hợp xảy ra sự cố nhiễm

Trang 40

độc nguồn nước Nuôi trồng thủy sản tập trung chủ yếu ở huyện Đoan Hùng với loạihình nuôi cá lồng trên sông Lô ở các xã Chí Đám, Hữu Đô, Phú Thứ, Sóc Đăng, Hùng Long Hoạt động này cũng góp phần nhỏ gây ô nhiễm nước sông bởi thức ăn thừa của cá.

Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2015

Như vậy có thể nói áp lực ô nhiễm từ các nguồn thải nêu trên đang là vấn đề cấp thiếtđòi hỏi cần phải có cơ chế kiểm soát thật tốt, cũng như công tác quản lý chặt chẽ các nguồn thải này của các nhà quản lý, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

2.1.2 Ước tính tải lượng chất ô nhiễm BOD 5

Để làm rõ hơn vấn đề ô nhiễm nguồn nước, nghiên cứu thực hiện tính toán tải lượng

chất ô nhiễm, mà đặc trưng ở đây là chất hữu cơ BOD5, từ đó đánh giá được áp lực

chịu tải của sông

Phương pháp tính toán: Tải lượng chất ô nhiễm được tính toán theo hệ số phát sinh

chất thải:

T = M × H (2.1)

Trong đó: T: Tải lượng chất ô nhiễm (g/ngày hay kg/ngày);

M: Số đơn vị của nguồn sản sinh chất thải (số người hoặc số con vật); H: Hệ số phát sinh chất thải, là chất thải phát sinh do 1 đơn vị của nguồn phát sinh (ví dụ g/người/ngày) Trong thực tế, H còn được gọi là tải lượng đơn vị hay đơn vị tải lượng;

2.1.2.1 Tải lượng chất ô nhiễm do hoạt động sinh hoạt khu dân cư

464,1456,7

358,8

Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2015(ha)

Đoan Hùng Phù Ninh TP Việt Trì

Ngày đăng: 05/07/2020, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm