Nhận thấy các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng cao trong khi sự phát triển nền kinh tế của xã vẫn có dấu hiệu “trì hoãn”, tôi xin mạnh dạn thực hiện đề tài
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA ĐỊA LÍ - QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Vinh, 5/2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA ĐỊA LÍ - QUẢN LÍ TÀI NGUYÊN
-
LÊ THỊ TÂM
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG – LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HƯƠNG
SƠN, HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đào Khang Khoa Địa Lý – Quản lý tài nguyên, Trường Đại học Vinh
Vinh, 5/2017
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 6
1.Lý do chọn đề tài: 6
2.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 6
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 7
4.Quan điểm và phương pháp nghiên cứu: 7
5.Cấu trúc của đồ án tốt nghiệp: 9
B PHẦN NỘI DUNG 10
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG – LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN 10
1.1Cơ sở lý luận: 10
1.1.1Các khái niệm cơ bản: 10
1.1.2Sự hình thành và phát triển của mô hình nông lâm kết hợp: 12
1.1.3Sự cần thiết để phát triển nông – lâm kết hợp: 13
1.1.4Sự cần thiết để phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn: 23
1.1.5Phân loại mô hình nông lâm kết hợp: 25
1.2Cơ sở thực tiễn: 27
1.2.1Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trong cả nước: 27
1.2.2Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm trên địa bàn tỉnh Nghệ An: 28
1.2.3 Đánh giá chung
CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ NÔNG LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN 34
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp: 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: 34
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên: 34
Trang 42.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên: 35
2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội: 38
2.1.2.1 Dân số và lao động: 38
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng kinh tế: 38
2.1.2.3 Cơ cấu ngành kinh tế: 40
2.1.3 Đánh giá chung: 41
2.2 Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn: 43
2.2.1Quá trình phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn: 43
2.2.1.1 Trước năm 1945: 43
2.2.1.2 Giai đoạn từ 1945 đến đầu năm 1995: 43
2.2.1.3 Từ năm 1995 đến năm 2014: 44
2.2.1.4 Từ năm 2015 đến nay: 45
2.2.2Một số mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp tiêu biểu trên địa bàn xã Hương Sơn: 47
2.3 Thuận lợi và thách thức đối với sự phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn: 53
2.3.1 Thuận lợi: 53
2.3.2 Thách thức: 54
2.4Những vấn đề đặt ra trong phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn: 56
2.5Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp tổng quát đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trên địa bàn xã Hương Sơn: 57
CHƯƠNG III:MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ NÔNG – LÂM KẾT HỢP Ở XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN 59
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp: 59
3.1.1 Cơ sở pháp lý: 59
3.1.2 Cơ sở sở thực tiễn: 59
3.1.3 Kết quả nghiên cứu của đề tài: 59
3.2 Giải pháp thực hiện: 60
Trang 53.2.1 Giải pháp về tổ chức: 60
3.2.2 Giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng: 61
3.2.3 Giải pháp về vốn: 61
3.2.4 Thực hiện tốt công tác xây dựng quy hoạch sử dụng đất, đặc biệt là quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã nhằm mở rộng quy mô diện tích đất phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã: 61
3.2.5 Tăng cường tạo lập các mối liên kết với các doanh nghiệp nhằm giải quyết tốt đầu ra cho các chủ trang trại trên địa bàn xã: 62
C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
I.Kết luận: 63
1.Nội dung đã làm được: 63
2.Những nội dung đề nghị nghiên cứu tiếp: 63
II.Kiến nghị: 64
1.Đối với UBND xã Hương Sơn: 64
2.Đối với Hội làm vườn của xã: 64
3.Đối với Ngân hàng: 65
4.Đối với doanh nghiệp: 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Xã Hương Sơn là một xã miền núi thuộc huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Xã có nền kinh tế nông nghiệp gắn liền với trồng trọt và chăn nuôi từ lâu đời Tuy nhiên, do tập quán canh tác cha ông để lại đã không còn phù hợp với những biến đổi của cả tự nhiên và kinh tế - xã hội hiện nay nên cái đói, cái nghèo vẫn còn đeo bám cuộc sống của người dân nơi đây, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đang cư trú, sinh sống trên địa bàn xã Mặc dù chính quyền địa phương đã nỗ lực rất nhiều trong việc triển khai các dự án phát triển kinh tế nhằm xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống cho nhân dân, nhưng do sự hạn hẹp về nguồn vốn, nhân lực, sự tương thích giữa các điều kiện phát triển dự án với điều kiện tự nhiên của xã nên vẫn chưa phát huy hết hiệu quả vốn có của các dự án đó Nhận thấy các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng cao trong khi sự phát triển nền kinh tế của xã vẫn có dấu hiệu “trì hoãn”, tôi xin mạnh dạn thực hiện đề
tài“Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất nông
- lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”nhằm tìm hiểu và giới thiệu đến các ban ngành của chính quyền địa
phương cùng toàn thể nhân dân trên địa bàn nghiên cứu một số mô hình kinh
tế nông – lâm hiệu quả, góp phần thực hiện chiến lược cải cách nền kinh tế theo sự chỉ đạo của chính quyền xã Với đề tài này, tôi hi vọng sẽgóp phần nhỏ vào việc khắc phục được những điều còn thiếu sót trong các dự án đã triển khai nhưng chưa thành công ở xã, giúp đồng bào nơi đây tìm kiếm được con đường phát triển kinh tế phù hợp, nâng cao chất lượng đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần, cùng nỗ lực với chính quyền địa phương trong chiến lược
xóa đói giảm nghèo trên toàn xã
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
a Mục tiêu:
Trang 7Đề tài “Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất
nông - lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”
được nghiên cứu nhằm phát triển kinh tế hiệu quả ở xã Hương Sơn theo mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp Từ đó, mở ra con đường phát triển kinh tế mới cho nhân dân trên địa bàn xã, làm thay đổi tập quán và phương thức canh tác,mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao chất lượng đời sống cả về vật chất lẫn tinh thần cho người dân
b Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ chính trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài bao gồm: Một là, nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của mô hình nông – lâm kết hợp Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đó để thực hiện đề tài nghiên cứu một cách logic và khoa học
Hai là, nghiên cứu về quá trình phát triển và thực trạng mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn Xác định rõ những thuận lợi
và thách thức, tìm hiểu các vấn đề nổi cộm trong vấn đề phát triển kinh tế nông – lâm ởxã
Ba là, đưa ra một số giải pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu những thiệt hại khi phát triển mô hình nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
a Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu xuyên suốt đề tài là “Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”
b Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Thời gian: từ năm 1945 đến nay
- Nội dung: phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn
xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu:
a Quan điểm nghiên cứu:
Trang 8Đề tài “Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất
nông - lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An”
được nghiên cứu theo các quan điểm sau đây:
- Quan điểm hệ thống:
Quan điểm hệ thống được sử dụng để nghiên cứu về hệ thống các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn xã Hương Sơn
- Quan điểm lãnh thổ:
Đề tài này được nghiên cứu để phát triển hiệu quả nền kinh tế nông nghiệp theo hướng mô hình nông – lâm kết hợp gắn liền với địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
- Quan điểm phát triển bền vững:
Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp được nghiên cứu trên địa bàn xã Hương Sơn không chỉ nhằm đáp ứng các nhu cầu trong đời sống kinh tế của nhân dân mà còn được nghiên cứu để đáp ứng các nhu cầu về mặt sinh thái và đáp ứng điều kiện về sử dụng đất bền vững, hiệu quả Đồng thời mô hình này được nghiên cứu để phục vụ sản xuất kinh tế và phát triển lâu dài tại địa bàn
xã Hương Sơn
b Phương pháp nghiên cứu:
Gồm có hai nhóm phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Là phương pháp được áp dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đồ án tốt nghiệp, nhằm mục đích tìm kiếm các thông tin hữu ích cho chủ đề nghiên cứu, đồng thời xác minh sự tương quan về thông tin giữa các tài liệu đã nghiên cứu
+ Phương pháp thống kê toán học:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu nhằm mục đích thu thập thông tin dạng số liệu làm cơ sở đánh giá, tính toán mức độ khả thi cho đề tài
Trang 9+ Phương pháp phân tích tổng hợp:
Sử dụng để đánh giá sự tương quan giữa các thông tin thu thập được,
mức độ chính xác cũng như tính khách quan của các thông tin và kết quả
nghiên cứu
+ Phương pháp quan sát thực tiễn:
Là phương pháp quan trọng nhất trong quá trình điều tra ngoại nghiệp
Quan sát thực tiễn nhằm bổ sung thêm kiến thức thực tiễn, xác minh tính
trung thực đối với các thông tin đã thu thập trước đó
+ Phương pháp điều tra:
Chủ yếu là sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp người dân để thu
thập thông tin, nhằm làm cơ sở đánh giá mức độ khả thi đối với chủ đề nghiên
cứu khi áp dụng trên địa bàn
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Phương pháp này được sử dụng linh hoạt trong toàn bộ quá trình thực
hiện đồ án, nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm và tìm các hướng đi mới an
toàn hơn cho chủ đề nghiên cứu
5 Cấu trúc của đồ án tốt nghiệp:
Chương I: cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả của mô hình
sản xuất nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh
Nghệ An
Chương II: Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp
trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An:
Chương III: Một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết
hợp trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An
Trang 10B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG – LÂM KẾT HỢP TRÊN ĐỊA BÀN
XÃ HƯƠNG SƠN, HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
1.1 Cơ sở lý luận:
1.1.1 Các khái niệm cơ bản:
a Mô hình nông – lâm kết hợp:
Nông lâm kết hợp là một lĩnh vực khoa học mới đó được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về nông lâm kết hợp Sau đây là một số khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay:
Nông lâm kết hợplà một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa
xã hội của dân cư địa phương
Nông lâm kết hợplà một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương
Nông lâm kết hợp là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các loài thân gỗ được trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích được quy hoạch sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc hoặc thuỷ sản, tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp nhau về mặt không gian và thời gian Trong hệ thống luôn
có tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố sinh thái và kinh tế theo hướng có lợi, với mục đích tạo ra sản phẩm tối đa và duy trì sức sản xuất bền vững trên
Trang 11một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn
Các khái niệm trên mô tả nông lâm kết hợp như là một loạt các hướng dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục Tuy nhiên, nông lâm kết hợp như là một
kỹ thuật và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướng dẫn Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững Trong nỗ lực để định nghĩa nông lâm kết hợp theo
ý nghĩa tổng thể và mang đậm tính sinh thái môi trường hơn, Leaky (1996) đã
mô tả nó như là các hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất giúp gia tăng các lợi ích về
xã hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ Theo Trung tâm Quốc tế
Nghiên cứu về Nông lâm kết hợp (ICRAF): Nông lâm kết hợp làmột hệ thống
sử dụng đất giới hạn trong các nông trại; một hệ thống quản lý tài nguyên đặt
cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi íchvề xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến "kinh tế trang trại" (ICRAF 1997) Một cách
đơn giản ICRAF đã xem “nông lâm kết hợp là trồng cây trên nông trại” và
định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và
lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại
và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau
Như vậy, mô hình nông lâm kết hợp chính là một hệ thống sử dụng đất trong các nông trại, là sự phối hợp giữa các cây trồng lâu năm, đồng cỏ, chăn nuôi gia súc – gia cầm và các loại cây lương thực, hoa màu khác nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững, gia tăng các lợi ích về kinh tế xã hội
b Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp:
Trang 12Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp là các mô hình sản xuất kinh tế kết hợp giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp nhằm tối ưu hóa sử dụng tài nguyên đất, sản xuất bền vững tạo ra nguồn hàng hóa dồi dào và mang lại năng suất kinh tế cao
1.1.2 Sự hình thành và phát triển của mô hình nông lâm kết hợp:
Nông - lâm kết hợp là một phương thức quản lý sử dụng đất bền vững có lịch sử từ lâu đời và ngày càng phát triển phù hợp với nhu cầu của xã hội, của người dân và của các quốc gia trên cơ sở của sự phát triển khoa học - kỹ thuật Các hình thức sản xuất nông lâm kết hợp bao gồm Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Ngư nghiệp và kết hợp giữa các hình thức này, gọi chung là mô hình
nông - lâm kết hợp
Năm 1977, một hội đồng nghiên cứu vấn đề này được thành lập, đặt trụ
sở tại Nairobi lấy tên là Hội đồng Quốc tế nghiên cứu về về Nông lâm kết hợp (International Council for Research on Agroforestry ICRAF)
Rất khó để xác định chính xác thời điểm hệ thống nông - lâm kết hợp ra đời Sự hình thành và phát triển của hệ thống nông lâm kết hợp có mối quan
hệ với sự nhận thức của con người về sử dụng đất, về nhu cầu kinh tế và sự phát triển của các ngành khoa học thuộc nông lâm nghiệp Du canh được xem
là phương thức canh tác cổ xưa nhất Sau du canh, sự ra đời của phương thức canh tác đồi núi ở vùng nhiệt đới được xem là một dấu hiệu báo trước cho phương thức nông lâm kết hợp sau này
Canh tác cây thân gỗ cùng với cây trồng nông nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Cho đến thời Trung cổ ở Châu Âu vẫn tồn tại phổ biến tập quán "chặt và đốt"
để trồng cây thân gỗ cùng với cây nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỷ 19 và vẫn còn ở một số vùng của Đức đến tận những năm 1920 Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở Châu
Á, Châu Phi và khu vực nhiệt đới Châu Mỹ đã có sự phối hợp cây thân gỗ với cây nông nghiệp nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp
và tạo ra các sản phẩm phụ khác khác như gỗ, củi, đồ gia dụng,
Trang 13Vào cuối thế kỷ 19, hệ thống canh tác trên đồibắt đầu phát triển rộng rãi
ở Myanmar dưới sự bảo hộ của người Anh Trong các đồn điền trồng gỗ tếch, người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các hàng cây chưa khép tán
để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm Phương thức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi Các nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp này thường hướng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, được thực hiện bởi các nhà lâm nghiệp với việc luôn cố gắng đảm bảo các nguyên tắc:
+ Giảm thiểu hoặc không gây tổn hại đến các loài cây rừng trồng là đối tượng cung cấp sản phẩm chủ yếu trong hệ thống
+ Sinh trưởng của cây rừng trồng không bị hạn chế bởi cây nông nghiệp + Tối ưu hóa về thời gian canh tác cây trồng nông nghiệp sẽ đảm bảo tỉ
lệ sống và tốc độ sinh trưởng nhanh của cây trồng thân gỗ
+ Loài cây rừng trồng có khả năng cạnh tranh với các loài cây nông nghiệp
+ Tối ưu hóa mật độ để đảm bảo sự sinh trưởng liên tục của cây trồng thân gỗ Chính vì vậy mà các hệ thống này được xem xét như là một hệ thống quản lý sử dụng đất có ý nghĩa cho phát triển nông nghiệp
1.1.3 Sự cần thiết để phát triển nông – lâm kết hợp:
a Những thách thức trong quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên:
Ở các quốc gia Đông Nam Á, khu vực nông thôn và miền núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ và là nơi sinh sống của một bộ phận lớn dân cư của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, đất đồi núi chiếm khoảng 2/3 diện tích và là vùng sinh sống của hơn 1/3 dân số cả nước Khí hậu nhiệt đới ẩm tạo ra môi trường đất-rừng mong manh và nhạy cảm-một thách thức của trong vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của các quốc gia này
Rừng và đất là hai nguồn tài nguyên nhạy cảm của vùng nhiệt đới ẩm có tính chất mong manh dễ bị tổn thương Khi không bị tác động, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ổn định nhờ vào tính đa dạng sinh học cao, được gắn kết với nhau thông qua các chu trình dinh dưỡng gần như khép kín Sự ổn định
Trang 14của hệ sinh thái vùng nhiệt đới chính là sự thể hiện khả năng chống đỡ các biến đổi thất thường của khí hậu và các yếu tố khác của môi trường tự nhiên, đặc biệt là các thay đổi cực đoan của biến đổi khí hậu hiện nay: rừng trên cạn đối với sự thay đổi nhiệt độ (cực đại và cực tiểu) của vùng đồi núi; rừng ngập mặn đối với hiện tượng nước biển dâng Trong đó, các loài thực vật thân gỗ đóng vai trò chủ đạo trong việc quyết định cấu trúc, chức năng và tính bền vững của hệ sinh thái rừng
Tuy nhiên sự ổn định này chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ quá trình diễn thế tự nhiên Dưới tác động của con người, rừng và đất nhiệt đới (nhất là đất dưới rừng) rất dễ bị suy thoái Chính các nhân tố đa dạng, phức tạp và chu trình dinh dưỡng khép kín vốn có khả năng duy trì hệ sinh thái rừng nhiệt đới trong bối cảnh không bị tác động đó tạo nên các đặc tính dễ bị tan vỡ khi tiếp xúc với con người Ở rừng mưa nhiệt đới, do tính chất chuyên biệt cao độ của từng loài thực vật dẫn đến khả năng phục hồi thấp khi có tác động trên qui mô lớn của con người Do phần lớn chất dinh dưỡng trong hệ sinh thái được dự trữ trong sinh khối, nên một khi rừng bị chặt phá đi thì xẩy ra hiện tượng thiếu chất dinh dưỡng để duy trì tăng trưởng mới của các loài cây Lượng mưa lớn, trong điều kiện thiếu thảm thực vật, các quá trình rửa trôi-xói mòn diễn ra mạnh mẽ làm đất đai bị thoái hóa nhanh chóng Như vậy sự bền vững của đất rừng nhiệt đới hoàn toàn phụ thuộc vào lớp che phủ thực vật có cấu trúc phức tạp, đa dạng mà trong đó các loài cây thân gỗ đóng vai trò chủ đạo Môi trường nghèo dinh dưỡng trong đất và thảm thực vật dẫn đến sự kém bền vững về sức sản xuất của đất cho thấy về cơ bản thì đất nhiệt đới không phù hợp với các phương thức sản xuất nông nghiệp độc canh
+ Nhu cầu phát triển bền vững nông thôn miền núi:
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững là quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, định hướng các thay đổi kỹ thuật và định chế nhằm đảm bảo thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai Đó
là sự phát triển đảm bảo bảo tồn đất, nước và các nguồn gen động thực vật,
Trang 15chống xuống cấp về môi trường, phù hợp về kỹ thuật, khả thi về kinh tế và được xã hội chấp nhận Nói đơn giản hơn, phát triển bền vững là sử dụng tài nguyên đáp ứng được các nhu cầu về sản xuất của thế hệ hiện tại, trong khi vẫn bảo tồn được nguồn tài nguyên cần cho nhu cầu của các thế hệ tương lai Nhu cầu phát triển nông thôn miền núi đặt ra nhiều thách thức cho phát triển bền vững Các thách thức này nhằm đạt đến các mục tiêu:
* Hình thành và phát triển các phương thức quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách tổng hợp trong đó có sự dung hòa giữa các lợi ích về kinh tế và bảo tồn tài nguyên môi trường
* Quản lý và sử dụng đất đồi núi có hiệu quả
* Quản lý và sử dụng đất đảm bảo tính công bằng được sự chấp chấp nhận của người dân và các nhóm đối tượng có liên quan khác
* Tạo ra xu hướng sản xuất đa dạng
Sản xuất nông lâm kết hợp lả trồng xen hoa màu và cây lâu năm để tối
đa hóa sức sản xuất trong điều kiện tài nguyên đất khan hiếm Cây lâu năm và hoa màu được quản lý tổng hợp để tối ưu hóa việc bảo vệ đất và nước, trong khi vẫn thỏa mãn nhu cầu sản xuất lương thực
Nông lâm kết hợp là phương thức sử dụng đất tổng hợp giữa lâm nghiệp với các ngành nông nghiệp và ngư nghiệp, có nhiều ưu điểm và ý nghĩa về bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển kinh tế - xã hội được công nhận rộng rãi trên khắp thế giới
Sản xuất nông lâm ngư kết hợp khai hoang nhiều diện tích rừng hơn để sản xuất thêm lương thực nhưng đất rừng cần được bảo vệ để tái tạo lại rừng, chống lại canh tác nương rẫy không bền vững
+ Tính đa dạng về sinh thái - nhân văn của khu vực nông thôn miền núi:
* Đa dạng về địa hình - đất đai - tiểu khí hậu:
Sự biến đổi mạnh về địa hình dẫn đến biến động lớn về đất đai và tiểu khí hậu cả trên những phạm vi nhỏ
* Đa dạng sinh học:
Trang 16Miền núi có hệ động thực vật phong phú và đa dạng, gồm rất nhiều loài
và dạng sống khác nhau
* Đa dạng về dân tộc và văn hóa:
Miền núi là địa bàn sinh sống từ rất lâu đời của con người và thường có nhiều tộc người ở tất cả các quốc gia (Việt Nam là địa bàn sinh sống của hơn 1/3 dân số cả nước thuộc 54 dân tộc khác nhau Mỗi dân tộc có các đặc điểm văn hoá đặc thù Các tỉnh Bắc Trung Bộ thể hiện rất rõ đặc điểm này)
* Đa dạng về các hệ thống canh tác truyền thống:
Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên (điều kiện lập địa và sinh cảnh) và xã hội đó tạo nên sự đa dạng về hệ thống canh tác truyền thống ở nông thôn miền núi Các kiến thức kỹ thuật và quản lý truyền thống trong sử dụng đất và canh tác của người dân ở nông thôn miền núi rất đa dạng, được thử nghiệm, chọn lọc và phát triển qua thời gian dài cho đến tận ngày nay và mãi về sau
+Nông thôn miền núi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội rất phức tạp:
Ở nhiều quốc gia Đông Nam Á, bên cạnh các đặc điểm phức tạp về tự nhiên như địa hình, tiểu khí hậu, đất đai, sinh vật, thời gian gần đây khu vực nông thôn miền núi đang chịu sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội như dân số gia tăng nhanh, ảnh hưởng của kinh tế thị trường, sự xâm nhập văn hóa ngoại lai từ bên ngoài, dẫn đến các thay đổi phức tạp về tài nguyên
và văn hoá xã hội tạo ra những trở ngại và thách thức lớn cho quản lý/sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
Tính đa dạng về sinh thái nhân văn của khu vực nông thôn miền núi là một trong những cơ sở để đa dạng hóa các hệ thống sử dụng đất, cũng như phát triển các hệ thống sử dụng tài nguyên tổng hợp Tuy nhiên, đây cũng là thách thức lớn cho các nhà quản lý, các nhà lập chính sách do yêu cầu phải hình thành và phát triển từng hệ thống quản lý sử dụng đất, các hệ thống canh tác phù hợp cho từng điều kiện sinh thái nhân văn đặc thù (sinh viên lấy dẫn chứng)
Trang 17+Gia tăng áp lực dân số gây ra các vấn đề bức xúc về đất canh tác và an toàn lương thực, và sức ép lên tài nguyên thiên nhiên miền núi:
Ở các khu vực nông thôn miền núi, mật độ dân cư không cao như các khu vực đô thị ở vùng đồng bằng nhưng lại có tốc độ tăng dân số rất nhanh Ở Việt Nam, theo Đỗ Đình Sâm (1995), tốc độ tăng dân số ở miền núi Việt Nam biến động trong khoảng 2,5%-3,5% trong khi tốc độ bình quân của cả nước ở dưới mức này nhiều Tình trạng này một phần chủ yếu do phong trào di dân
tự do từ các khu vực đồng bằng quá đông lên các vùng đồi núi, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắc Nông, Gia Lai, Kon Tum) Dân số tăng trong điều kiện khan hiếm đất nông nghiệp ở miền núi đó dẫn đến bình quân đất canh tác đầu người giảm Tuy miền núi Việt Nam được xem là khu vực dân
cư thưa thớt với mật độ bình quân 75 người/km2 nhưng bình quân diện tích đất canh tác đầu người rất thấp, vào khoảng 1.200-1.500 m2/người, trong khi
đó mức đất canh tác để đáp ứng nhu cầu lương thực tối thiểu là 2.000m2/người Ở khu vực miền núi của các tỉnh miền Nam Việt Nam, diện tích canh tác bình quân đầu người ở dưới 1.000m2/người, còn thấp hơn cả ở miền núi ở các tỉnh phía Bắc miền Trung như Nghệ An và Thanh Hóa Trong lúc đó khả năng tăng diện tích lúa nước-là hệ thống sản xuất ngũ cốc có năng suất cao và ổn định nhất Việt Nam-ở khu vực miền núi rất hạn chế, chỉ diễn ra
ở các khu vực phân tán nhỏ hẹp có thể tưới tiêu được Thực tế mật độ dân số đang tiến gần đến hoặc thậm chí đã vượt quá khả năng chịu đựng của đất đai
ở phần lớn khu vực miền núi
Sự gia tăng dân số đó tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên thiên nhiên miền núi là đất-rừng và nguồn nước, làm các nguồn tài nguyên quí giá này suy giảm nhanh chóng
+Suy thoái tài nguyên thiên nhiên và môi trường:
* Sự suy giảm nhanh chóng tài nguyên rừng:
Độ che phủ rừng cả nước giảm từ 43% vào năm 1943 xuống 32,1% năm
1980, 27,2% năm 1990 sau đó tăng dần lên 28,1% năm 1995 rồi đạt đến 33,2% năm 1999 (Theo tài liệu “Chiến lượt phát triển lâm nghiệp giai đoạn
Trang 182001-2010 được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phê duyệt theo QĐ
số 199/QĐ-BNN-PTNT ngày 22/1/2002) Cách đây 50 năm, rừng tự nhiên bao phủ phần lớn khu vực đồi núi nhưng trong những năm gần đây đó giảm xuống dưới 20% ở phần lớn khu vực đồi núi phía Bắc, thậm chí có nơi giảm còn dưới 10% như ở khu vực miền núi vùng Tây Bắc Diện tích rừng còn lại phần lớn là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ thấp và hiếm có loài cây có giá trị kinh tế, cả rừng trên cạn và rừng ngập mặn (Năm 1943, cả nước có 14 triệu ha rừng giàu, năm 1993, con số này là 600 ngàn ha)
* Sự suy thoái đất đai xẩy ra ở khắp miền núi Việt Nam Do thiếu rừng che phủ, xói mòn đất và rửa trôi chất dinh dưỡng diễn ra mạnh làm giảm độ màu mỡ của đất
Canh tác nương rẫy vốn là phương thức canh tác truyền thống của các dân tộc miền núi, tỏ ra khá phù hợp trong điều kiện mật độ dân cư thấp và tài nguyên rừng còn phong phú Gần đây, do áp lực dân số và sự suy giảm diện tích rừng, giai đoạn canh tác kéo dài hơn và giai đoạn bỏ hóa bị rút ngắn lại, dẫn đến sự suy giảm liên tục của độ phì của đất, cỏ dại phát triển mạnh, dẫn đến giảm năng suất cây trồng nhanh chóng
+ Suy giảm đa dạng sinh học:
Nhiều loài động thực vật bị biến mất hoặc trở nên khan hiếm Nạn phá rừng, việc phát triển trồng rừng thuần loài và nông nghiệp độc canh làm suy giảm đa dạng sinh học, trong đó bao gồm cả ba cấp độ: đa dạng di truyền, đa dạng chủng loài và đa dạng về hệ sinh thái
+ Tình trạng đói nghèo:
Năm 1994, khi GDP bình quân của Việt Nam là 270 USD thì ở miền núi phía Bắc chỉ có 150 USD và ở Tây Nguyên là 70 USD Rất nhiều nơi ở miền núi có thu nhập tiền mặt bình quân đầu người dưới 50 USD/năm Hộ nghèo đói chiếm 34% ở miền núi phía Bắc và hơn 60% ở Tây Nguyên, với thu nhập bình quân đầu người dưới 50.000đ/tháng, rất thấp so với tỉ lệ hộ nghèo đói bình quân 27% của cả nước Hơn 56% hộ gia đình ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ở tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng, có mức tiêu thụ năng
Trang 19lượng dưới 1.500kcal/người/ngày trong lúc phải cần 2.500kcals/người/ngày Tình trạng đói nghèo không chỉ thể hiện ở thu nhập thấp mà còn ở không đảm bảo các nhu cầu cơ bản khác như giáo dục, y tế, thông tin văn hóa xã hội,
2.200-+Sự phát triển các mô hình canh tác rập khuôn và phụ thuộc vào bên ngoài:
Trái ngược với điều kiện đa dạng về sinh thái-nhân văn và sự phong phú
về kiến thức canh tác truyền thống ở miền núi, các chương trình phát triển miền núi của Chính phủ thường thực hiện theo các "mô hình" quản lý kỹ thuật đồng bộ theo cách nghĩ của người vùng đồng bằng Các nhà nông nghiệp và lâm nghiệp được đào tạo chính thống thường có định kiến về sự lạc hậu của các phương thức sản xuất truyền thống, hay nghĩ đến việc tăng cường thực hiện pháp luật nhà nước và áp đặt các mô hình kỹ thuật sản xuất từ bên ngoài hơn là hình thành và phát triển các hệ thống quản lý kỹ thuật thích ứng, phối hợp giữa kiến thức bản địa và kỹ thuật mới phù hợp với các điều kiện cụ thể của nông dân và thúc đẩy phát huy tính tự chủ của họ trong quản lý tài nguyên Chính điều này này đã làm giảm hiệu quả và tác dụng của nhiều chương trình phát triển miền núi mặc dù có đầu tư rất lớn
+ Sự chồng chéo giữa phát triển các ngành kinh tế trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên:
Khái niệm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp một cách thuần túy và tách biệt theo quan niệm trước đây không còn phự hợp ở nhiều khu vực dân cư miền núi Việc sử dụng đất thuần nông hoặc thuần lâm bộc lộ nhiều hạn chế lớn Chẳng hạn canh tác thuần nông trên đất dốc cho năng suất thấp và không
ổn định trong khi phát triển thuần lâm lại có khó khăn về nhu cầu lương thực trước mắt Thực tiễn sản xuất đó xuất hiện các phương thức sử dụng đất tổng hợp, có sự đan xen giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
b Các nhân tố tiền đề phát triển nông lâm kết hợp
Các nhân tố làm tiền đề cho sự phát triển của nông lâm kết hợp trên phạm vi toàn cầu bao gồm: Các thay đổi về chính sách phát triển nông thôn;
Trang 20Nạn phá rừng và tình trạng suy thoái môi trường; Gia tăng các nghiên cứu hệ thống canh tác tổng hợp và hệ thống kỹ thuật truyền thống; Sự hình thành Trung tâm Quốc tế về Nghiên cứu nông lâm kết hợp (ICRAF)
Những năm 1960 - 1970, dưới sự bảo trợ của Nhóm tư vấn về Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR), nhiều trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi chủ yếu ở vùng nhiệt đới Việc phát triển các giống cây trồng ngũ cốc năng suất cao và các kỹ thuật thâm canh liên quan nhờ vào nỗ lực của một số Trung tâm và các chương trình quốc gia có liên quan đã tạo nên một sự thay đổi lớn về năng suất nông nghiệp mà thường được gọi là Cách mạng Xanh/Green Revolution
Tuy nhiên các nhà quản lý và phát triển đó sớm nhận thấy rằng các kỹ thuật thâm canh mới đó làm tăng nhu cầu phân bón và các chi phí đầu vào khác trong khi đó vẫn còn một bộ phận lớn nông dân nghèo nằm ngoài tầm ảnh hưởng tích cực của cuộc cách mạng trên Phần lớn các trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế và các chương trình phát triển nông nghiệp quốc gia trong thời gian này chỉ mới tập trung nghiên cứu các loại cây trồng riêng rẽ trong khi thực tế nông dân lại canh tác một cách tổng hợp: trồng xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày, Sự thiếu sót này đó được nhiều nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận ra Từ đầu thập niên 70, chính sách phát triển của Ngân hàng Thế giới đó bắt đầu chú ý hơn các vùng nông thôn nghèo cùng với sự tham gia của nông dân vào các chương trình phát triển nông thôn Trong chương trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong những năm 1980 không chỉ chứa đựng nhiều yếu tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông dân thông qua gia tăng sản xuất lương thực thực phẩm, bảo vệ môi trường và phát huy các lợi ích truyền thống của rừng Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông nghiệp, FAO đặc biệt chú trọng nhấn mạnh vai trò quan trọng của lâm nghiệp trong phát triển nông thôn, khuyến cáo nông dân và nhà nước nên chú trọng đặc biệt đến các ích lợi của
Trang 21rừng và cây thân gỗ đến sản xuất nông nghiệp, khuyến cáo các nhà quản lý sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của họ Nhiều khái niệm mới về lâm nghiệp như lâm nghiệp cộng đồng, lâm nghiệp xã hội đó được hình thành và áp dụng ở nhiều nước mà nông lâm kết hợp thường được xem là một phương thức sử dụng đất nhiều tiềm năng, đem lại những lợi ích trực tiếp cho cộng đồng địa phương và toàn xã hội
Cuối những năm 1970 và các năm đầu 1980, sự suy thoái tài nguyên môi trường toàn cầu, nhất là nạn phá rừng, đã trở thành mối quan tâm lo lắng lớn của toàn xã hội Sự phát triển của nông nghiệp nương rẫy đi kèm với áp lực dân số, sự phát triển nông nghiệp thâm canh hóa học, độc canh trên qui mô lớn và khai thác lâm sản là những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự mất rừng, suy thoái đất đai và đa dạng sinh học Theo ước tính của FAO (1982), du canh
là nguyên nhân tạo ra hơn 70% của tổng diện tích rừng nhiệt đới bị mất ở châu Phi; diện tích đất rừng bỏ hóa sau nương rẫy chiếm 26,5% diện tếch rừng khép tán còn lại ở Châu Phi, khoảng 16% ở Châu Mỹ Latin và 22,7% ở khu vực nhiệt đới của Châu Á
thuật truyền thống:
Thực trạng này cùng nhiều nỗ lực nghiên cứu đó gợi mở ra các chiến lược quản lý sử dụng đất tổng hợp thay thế cho các phương thức quản lý hiện thời không bền vững đó được xác định là một xu hướng tất yếu Chẳng hạn như các nhà sinh thái học đó cung cấp nhiều bằng chứng thuyết phục về vai trò của rừng và cây thân gỗ đối với việc đảm bảo độ ổn định của hệ sinh thái, dẫn đến các biện pháp cần thiết để bảo vệ rừng còn lại, đưa các loài cây thân
gỗ lâu năm vào các hệ thống sử dụng đất cũng như làm thay đổi quan điểm canh tác Đã có nhiều kết quả nghiên cứu ban đầu ở nhiều khu vực trên thế giới về tính hiệu quả cao trong việc sử dụng các tài nguyên tự nhiên (đất, nước và ánh sáng Mặt Trời) cũng như tính ổn định cao của các hệ thống xen canh, các hệ thống canh tác tổng hợp so với hệ thống nông nghiệp độc canh
Trang 22Các nghiên cứu của các nhà nhân chủng học và khoa học xó hội về hệ thống
sử dụng đất đó chỉ ra tầm quan trọng của các hệ thống canh tác tổng hợp bản địa/truyền thống và lưu ý cần xem xét chúng trong quá trình phát triển các tiếp cận mới
(ICRAF):
Vào tháng 7/1977, được sự ủy nhiệm của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc tế (IDRC) của Canada, John Bene đó tiến hành dự án nghiên cứu với các mục tiêu:
+ Xác định các khoảng trống trong đào tạo và nghiên cứu lâm nghiệp thế giới + Đánh giá sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nông nghiệp và lâm nghiệp ở các quốc gia nhiệt đới có thu nhập thấp và đề xuất nghiên cứu nhằm tối ưu hóa sử dụng đất
+ Xây dựng các chương trình nghiên cứu lâm nghiệp nhằm tạo ra các tác động kinh tế xã hội có ý nghĩa ở cho các nước đang phát triển
+ Đề xuất các sắp xếp về tổ chức, thể chế để thực hiện các nghiên cứu trên một cách có hiệu quả và chuẩn bị kế hoạch hành động để có được ủng hộ của các nhà tài trợ quốc tế
Mặc dù với mục đích ban đầu là xác định các ưu tiên nghiên cứu cho lâm nghiệp nhiệt đới, nhóm nghiên cứu của John Bene đó đi đến kết luận rằng: để tối ưu hóa sử dụng đất nhiệt đới, ưu tiên số một nên là nghiên cứu và phát triển các hệ thống kết hợp giữa lâm nghiệp với nông nghiệp và chăn nuôi Hay nói cách khác, đó có một sự chuyển dịch trọng tâm từ lâm nghiệp sang những khái niệm sử dụng đất rộng hơn, phù hợp hơn ở cả hai phương diện trực tiếp (trước mắt) và dài hạn (Bene và cộng sự, 1977)
Báo cáo dự án này của IDRC đó được các cơ quan quốc tế xem xét và dẫn đến sự hình thành Hội đồng Quốc tế về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp vào năm 1977, vào 1991 cơ quan này được đổi tên thành Trung tâm Quốc tế
về Nghiên cứu Nông Lâm kết hợp (International Centre for Research in Agroforestry - ICRAF) Kể từ khi thành lập, ICRAF là tổ chức luôn đi đầu
Trang 23trong thu thập thông tin, tiến hành các dự án nghiên cứu, chuyển giao kết quả trong lĩnh vực nông lâm kết hợp
1.1.4 Sự cần thiết để phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn:
Các nhân tố tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế theo hướng nông – lâm kết hợp trên địa bàn xã Hương Sơn thuộc hai nhóm nhân tố chính bao gồm: tự nhiên (điều kiện tự nhiên, sự suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; yêu cầu về sử dụng bền vững tài nguyên đất) và con người (tập quán canh tác lạc hậu, vấn đề gia tăng dân số và tình trạng đói nghèo, nhu cầu cao
về phát triển kinh tế) Cụ thể như sau:
a Nhân tố tự nhiên:
Xã Hương Sơn là một xã khó khăn về điều kiện tự nhiên, không chỉ khí hậu khắc nghiệt mà còn có địa hình vô cùng phức tạp với các dạng địa hình bao gồm núi cao, trung du và đồng bằng ven sông Trong đó, chỉ có 20% trong tổng số 3840,14 ha diện tích tự nhiên là đồng bằng phân bố chủ yếu ở các khu vực ven sông Con, 80% diện tích còn lại bị chiếm bởi các dạng địa hình trung du và núi cao Với điều kiện tự nhiên bất lợi như thế, việc phát triển kinh tế ở xã cũng là một bài toán khó đối với các lãnh đạo của chính quyền địa phương và nhân dân Vì vậy, tìm kiếm một phương thức sản xuất mới, vừa phù hợp với nhu cầu phát triển của nhân dân vừa tương thích cao với điều kiện tự nhiên của xã luôn được chính quyền đặc biệt quan tâm
Theo số liệu thống kê của xã qua các thời kì, năm 2000 diện tích rừng của xã là 2354,23 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 83,2% (tương đương với 1958,72 ha), tuy nhiên, đến năm 2005diện tích rừng giảm xuống chỉ còn 1847,09 ha và diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh chỉ còn chiếm khoảng 54,3 % (tương đương với 1002,97 ha) Năm 2010, diện tích rừng của
xã chỉ còn khoảng 1523,81 ha, diện tích rừng tự nhiên chỉ còn khoảng 590 ha, giảm còn một nửa so với năm 2005 và vẫn giữ nguyên cho đến bây giờ Qua
Trang 24các con số này, chúng ta có thể thấy diện tích rừng của xã giảm rất nhanh, đặc biệt biệt là giai đoạn 2000 đến 2005 tổng diện tích rừng bị mất đi lên đến 507,14 ha, bình quân mỗi năm bị mất khoảng 101,43 ha rừng, do giai đoạn này nhân dân trên địa bàn xã tập trung khai hoang rừng rậm, mở rộng diện tích đất sản xuất, đặc biệt là dân tộc thiểu số vẫn giữ tập quán du canh du cư
Sự suy giảm diện tích rừng tự nhiên đã kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học Trước đây các loài động vật như khỉ, vượn, lợn rừng, gà rừng (gà ri theo tiếng địa phương) , các loài chim như Trĩ, Sáo Cờ, người dân bắt gặp rất nhiều trên địa bàn thì hiện nay các loài này gần như bị tuyệt chủng trên địa bàn xã, đặc biệt là lợn rừng và khỉ người dân không còn thấy xuất hiện trên địa bàn xã từ khoảng năm 2009 cho đến nay Không chỉ suy giảm về các loài động vật, mà các loài thực vật như cây gỗ sưa, gỗ lim trước đây có rất nhiều
ở các khu vực xóm Tân Sơn I, Tân Sơn II, xóm 4 thì nay bị tuyệt chủng hoàn toàn
Vào năm 2005, tài nguyên đất ở xã, xét về độ dinh dưỡng được phòng Tài nguyên và môi trường, phòng Nông nghiệp của huyện xếp vào loại trung bình, không giàu nhưng cũng không quá nghèo nàn về độ dinh dưỡng Và cũng trong năm 2005, diện tích đất trống đồi trọc của xã là 578,4 ha, diện tích đất bạc màu – thoái hóa tương đối cao Vì vậy, cần có một biện pháp để thực hiện cải tạo và sử dụng bền vững về tài nguyên đất ở xã
b Nhân tố con người:
Tính đến thời điểm cuối năm 2007, trên địa bàn xã Hương Sơn vẫn chưa
có một phương thức sản xuất nào mới để phát triển kinh tế vững mạnh, người dân trên địa bàn xã vẫn sản xuất dựa vào sức kéo của trâu – bò, sản xuất hoa màu là chính Đến năm 2008, khi có một vài hộ dân trên địa bàn bắt đầu thực hiện phát triển kinh tế dựa vào trổng rừng sản xuất và chăn nuôi gia súc gia
Trang 25cầm, cùng với sự can thiệp của vài loại máy móc chuyên dụng như máy cày, máy kéo lúc này mới có một số nhỏ người dân trong bắt đầu học hỏi và làm theo Như vậy, có thể nói tập quán canh tác cũ kĩ đã ăn sâu vào tâm thức của người dân, và cần có một phương thức canh tác mới đủ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn các phương thức sản xuất trước đó để thuyết phục người dân thay đổi cách sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế
Cũng theo số liệu thống kê của xã, giai đoạn 2010 – 2015 tốc độ gia tăng dân số của xã là 1,7%, so với tốc độ gia tăng dân số của huyện cùng giai đoạn thì tốc độ gia tăng dân số của xã vẫn cao hơn 0,13% Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở xã vẫn còn cao, chiếm 26,32 % tổng dân số trên địa bàn Như vậy, sự phát triển kinh tế gắn liền với công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã cần phải được quan tâm đúng mức, nhằm giảm tỷ lệ đói nghèo, cũng như giải quyết công ăn việc làm cho người dân
1.1.5 Phân loại mô hình nông lâm kết hợp:
a Quan điểm và nguyên tắc phân loại các hệ thống nông lâm kết hợp:
Nông lâm kết hợp như đã được khái niệm ở trên là một lĩnh vực khoa học mới đặt cơ sở trên các hiểu biết và phát triển riêng biệt tại mỗi vùng và dựa vào các nghiên cứu nhằm bổ sung thêm thành các hệ thống mới Vì thế, nhiều tác giả đã cố gắng phân loại các mô hình nông lâm khác nhau vào một bảng sắp xếp thống nhất Nair, 1989 đã tổng kết các đặc điểm của phương thức nông lâm và nêu ra một số nguyên tắc đặt cơ sở cho phân loại như sau:
- Cơ sở cấu trúc: dựa trên cấu trúc của các thành phần, bao gồm sự phối
hợp không gian của các thành phần cây gỗ, sự phân chia theo tầng thẳng đứng của các thành phần hỗn giao với nhau và sự phối hợp theo thời gian khác nhau
- Cơ sở chức năng: dựa trên chức năng chủ yếu hay vai trò của các thành
phần trong hệ thống, chủ yếu là thành phần thân gỗ (ví dụ nhiệm vụ sản xuất
Trang 26là thực phẩm, thức ăn gia súc, chất đốt hay nhiệm vụ phòng hộ như đai chắn gió, rừng phòng hộ chống cát bay, bảo vệ đất chống xói mòn, bảo vệ vùng đầu nguồn nước, bảo dưỡng đất đai)
- Cơ sở sinh thái: dựa vào điều kiện sinh thái và sự tương thích sinh thái
của các hệ thống nông lâm kết hợp thích hợp hơn cho một số vùng sinh thái như vùng khô hạn, vùng bán khô hạn, vùng nhiệt đới ẩm,
- Cơ sở kinh tế xã hội: dựa trên mức độ đầu tư vào quản lý nông trại
(thấp hay cao) hay mức độ/tầm mức của sự quản trị và mục đích thương mại (tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa hay cả hai)
Các nguyên tắc phân loại trên có quan hệ lẫn nhau Ví dụ: các nguyên tắc dựa vào cấu trúc tầng và dựa vào chức năng thường được đặt làm cơ sở để phân chia hệ thống, còn các nguyên tắc dân sinh kinh tế, vùng sinh thái được
sử dụng làm nền tảng để chia các nhóm theo mục đích
b Phân loại hệ thống nông lâm kết hợp
Trong hệ thống nông lâm điển hình có ba thành phần chính là: cây lâu năm, cây nông nghiệp ngắn ngày và vật nuôi, dẫn đến sự phân chia sau đây:
+ Phương thức kết hợp cây lâu năm và hoa màu
+ Phương thức kết hợp cây lâu năm, đồng cỏ và gia súc
+ Phương thức kết hợp hoa màu, đồng cỏ gia súc và cây lâu năm
+ Theo không gian:
* Hệ thống hỗn giao dày (ví dụ: hệ thống vườn nhà);
* Hệ thống hỗn giao thưa (ví dụ: hệ thống cây trên đồng cỏ);
* Hệ thống xen theo vùng hay băng (ví dụ: canh tác xen theo băng);
+ Theo thời gian:
* Song hành cả đời sống;
* Song hành giai đoạn đầu;
* Trùng nhau một giai đoạn;
* Tách biệt nhau;
* Trùng nhau nhiều giai đoạn;
Trang 27đã giảm nhưng vẫn chiếm đến 22,02% trong cơ cấu GDPcủa cả nước
Với quỹ đất nông nghiệp dồi dào (chiếm gần 78,9% diện tích đất tự nhiên), địa hình tự nhiên lại chiếm đến ¾ diện tích đồi núi, vì vậy Việt Nam cần có chiến lược để phát triển nền nông nghiệp một cách hiệu quả và sử dụng quỹ đất nông nghiệp hiện có một cách bền vững Trong bối cảnh đó, mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp là mô hình đang được nghiên cứu và triển khai tương đối hiệu quả ở nước ta Sự cho phép kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp (trồng trọt hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm) và sản xuất lâm nghiệp (trồng rừng) trong mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp đã mang lại những thành tựu
to lớn về mặt kinh tế cho các khu vực có nhiều đồi núi ở nước ta như khu vực Tây Nguyên, Miền trung và các khu vực Bắc Bộ
Tính đến năm 2009, đã có đến 150 102 trang trại trên phạm vi cả nước, bình quân mỗi tỉnh thành có 2 382 trang trại, chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ Trong đó trang trại sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm đến 47,9%, trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm đến 9,7%, trang trại chăn nuôi chiếm 13,3%, còn lại 26,1% là trang trại nuôi trồng thủy sản Sự phát triển của các mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trong những năm vừa qua, cụ thể hơn là sự phát triển của các mô hình Vườn – Đồi, mô hình Gia súc – Đồng cỏ chăn nuôi – Rừng, mô hình Gia súc – Rừng, mô hình Vườn – Ao – Chuồng – Rừng đã phát huy tương đối hiệu quả tính bền vững trong sử dụng quỹ đất 10
Trang 28117 893 ha đất sản xuất nông nghiệp và 15249025 ha đất lâm nghiệp của nước ta Với tổng nguồn vốn bỏ ra để sản xuất hệ thống trang trại hàng năm là
29 320 tỷ đồng/năm, (bình quân mỗi năm một trang trại sẽ đầu tư với số vốn
là 257,8 triệu đồng/năm) thì lợi nhuận ròng thu lại bình quân mỗi trang trại sẽ
là 120 triệu đồng/năm
Sự phát triển của các mô hình kinh tế nông – lâm đã trở thành một chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển nền kinh tế nước ta, được thủ tướng chính phủ, các cơ quan ban ngành chú trọng phê duyệt cả về chính sách kinh tế lẫn chính sách pháp lý nhằm hỗ trợ cho việc đầu tư phát triển Ngoài những chính sách kinh tế như hỗ trợ về nguồn vốn đầu tư, quan tâm giải quyết các vấn đề về thị trường tiêu thụ sản phẩm thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã ký và phê duyệt Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT – Thông tư Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, theo đó các chủ trang trại sẽ được hưởng các chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ theo quy định hiện hành Sự ra đời của Thông tư này đã nâng tầm giá trị của các sản phẩm hàng hóa từ các trang trại được cấp giấy chứng nhận cao hơn mức bình quân chung của cả nước từ 7 – 10%, giải quyết công ăn việc làm cho hơn 510.000 lao động (trong đó có khoảng 40% lao động là chủ trang trại còn lại là các lao động ngoài)
1.1.2 Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm trên địa bàn tỉnh Nghệ An:
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước với tổng diện tích đất tự nhiên là 16 493,7 km2 Nhân dân tỉnh Nghệ An cũng như nhân dân các tỉnh thành khác đang cùng dốc sức nỗ lực phấn đấu cùng cả nước hoàn thành luôn các công đoạn cuối cùng trong giai đoạn về đích của công nghiệp hóa – hiện đại hóa đổi mới đất nước Những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới đã mang lại bộ mặt hoàn toàn mới cho tỉnh Nghệ An cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa – xã hội Cùng chung nền tảng phát triển kinh tế với cả nước, lấy sản xuất nông nghiệp làm nên tảng để thực hiện công nghiệp hóa nền kinh tế trong
Trang 29tỉnh Do đó, sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp luôn được các ban ngành trong tỉnh đặc biệt quan tâm
Mặc dù là tỉnh thành có diện tích lớn nhất cả nước, nhưng Nghệ An cũng
là tỉnh có diện tích đồi núi chiếm đến 80% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh, điều này trở thành một trở ngại thực sự lớn đối với việc phát triển đồng
bộ nền kinh tế và thu hút ngồn vốn đầu tư xây dựng nền kinh tế cho tỉnh Với quỹ đất nông nghiệp lên đến 1 249 176,1 ha (chiếm 75,75% tổng diện tích đất
tự nhiên của cả nước), trong đó đất sản xuất nông nghiệp có diện tích là 276 074,1 ha (chiếm 16,74% diện tích đất nông nghiệp), đất lâm nghiệp có diện tích là 963 691 ha (chiếm 58,44% diện tích đất nông nghiệp), Nghệ An có lợi thế trong việc xây dựng và phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp Việc phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp trên địa bàn tỉnh bên cạnh giúp Nghệ An phát triển được nền kinh tế nông nghiệp, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa nền kinh tế còn giúp tỉnh nhà quản lý và sử dụng hiệu quả đến 75,75 % diện tích đất tự nhiên của tỉnh
Là tỉnh không được điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên ủng hộ, đặc biệt là khí hậu vô cùng khắc nghiệt, vì vậy sự phát triển mô hình kinh tế nông – lâm được xem là mũi nhọn để phát triển kinh tế của tỉnh, điều này được thể hiện sự đóng góp của các ngành nông – lâm vào cơ cấu GDP của tỉnh vào năm 2015 tăng 4,47% đối với nông nghiệp và tăng 3,52% đối với lâm nghiệp
Nghệ An đạt được tốc độ tăng trưởng đó là nhờ đầu tư vào mô hình trang trại, đặc biệt là ba loại hình trang trại bao gồm trang trại nông nghiệp, trang trại lâm nghiệp và trang trại tổng hợp Tính đến năm 2015, Nghệ An có tổng
số trang trại hoạt động là 3200 trang trại, trong đó trang trại sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm đến 53,4%; trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 9,7%; trang trại chăn nuôi chiếm 25,6% và trang trại nuôi trồng thủy sản chiếm 11,3%; có 420 trang trại đạt tiêu chí theo thông tư 27/2011/TT – BNN và được cấp giấy chứng nhận
Trang 30Xác định những khó khăn về điều kiện tự nhiên gặp phải trong phát triển đồng bộ nền kinh tế, Đảng bộ và các ban ngành tỉnh Nghệ An đã linh hoạt trong việc định hướng phát triển kinh tế khu vực theo từng vùng miền nhất định, trong đó định hướng quy hoạch khu vực miền tây Nghệ An phát triển kinh tế theo mô hình nông – lâm kết hợp Chính quyền tỉnh chú trọng đến việc tập huấn cho nhân dân các huyện miền núi phía tây xây dựng và phát triển kinh tế theo mô hình nông – lâm kết hợp, cụ thể hơn là mô hình chăn nuôi gia súc kết hợp trồng rừng, đào ao thả cá Một số huyện tiêu biểu xây dựng kinh
tế theo hướng mô hình nông – lâm kết hợp thành công như huyện Qùy Hợp, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Tương Dương… Ở huyện Qùy Hợp có ¼ trong tổng
số 25 000 hội viên Hội nông dân của huyện đã có ý thức lập trang trại, đến nay đã có 156 trang trại đang hoạt động với hiệu quả cao, các chủ trang trại giàu đã giúp đỡ được 126 hội viên khác thoát nghèo, có 174 trang trại đạt tiêu chí theo thông tư số 27/2011/TT-BNN và được cấp giấy chứng nhận Hoặc ở huyện Nghĩa Đàn, cùng với sự phát triển của trang trại bò sữa TH True Milk, trang trại ở đây chủ yếu là trồng trọt kết hợp giữa cây cam và cây ngô, Nghĩa Đàn có tổng số 115 trang trại với 73 trang trại trồng trọt, 10 trang trại lâm nghiệp, 10 trang trại chăn nuôi, 4 trang trại tổng hợp và 18 trang trại nuôi trồng thủy sản Huyện Quế Phong cũng là một huyện tiêu biểu cho mô hình kinh tế sản xuất theo hương nông – lâm kết hợp với 168 mô hình trang trại đạt hiệu quả và 7 trang trại được cấp giấy chứng nhận
1.1.3 Thực trạng phát triển mô hình kinh tế nông – lâm trên địa bàn huyện Tân Kỳ:
Tân Kỳ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây của Nghệ An, với diện tích tự nhiên là 72 890,23 ha Tân Kỳ đứng thứ 9 trong tổng số 20 huyện, thành, thị của toàn tỉnh Nghệ An Là một huyện miền núi nên Tân Kỳ bị chia cắt mạnh mẽ bởi các dãy núi, diện tích đồi núi trên địa bàn huyện chiếm đến 80% diện tích tự nhiên, quan sát trên bản đồ cho thấy các xã, thị trong huyện
bị bao quanh bởi các dãy núi, đồi tạo thành các dạng địa hình lòng chảo Do
Trang 31diện tích huyện bị chiếm nhiều bởi địa hình đồi núi cao, do đó việc phát triển kinh tế một cách đồng bộ là rất khó khăn
Tân Kỳ cũng như các huyện miền núi phía tây khác của tỉnh, là một huyện sản xuất nông nghiệp, nhưng đất đai kém màu mỡ, diện tích đồng bằng
ít, khí hậu lại khắc nghiệt, do đó sản xuất các loại nông sản từ hoa màu không mang lại hiệu quả kinh tế cao cho huyện Để thoát khỏi nghèo đói và vươn lên được đến vị trí kinh tế hiện tạị, nhân dân và Đảng bộ huyện Tân Kỳ đã nỗ lực rất nhiều trong việc tìm kiếm con đường mưu sinh mới, tạo ra hiệu quả kinh tế cao, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo Và một trong những con đường được huyện nhà chú trọng nghiên cứu và triển khai thực hiện trên địa bàn chính là phát triển kinh tế theo hưứong nông – lâm kết hợp, cụ thể theo 4 loại mô hình chủ yếu trên địa bàn bao gồm Vườn – Ao – Chuồng – Rừng, Chăn nuôi – Rừng, Chăn nuôi – Rừng – Đồng cỏ, Vườn – Ao – Rừng với hai hình thức kinh doanh là trang trại và gia trại
Mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp được xem là một trong những phương án chủ chốt trong phát triển nền kinh tế của huyện bởi tính phù hợp của nó với điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của nhân dân trên địa bàn huyện Với địa hình chủ yếu là đồi núi, cùng với việc được UNESCO xếp vào danh sách là một huyện nằm trong khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An và mong muốn thoát khỏi nghèo đói của nhân dân trong khi phát triển nông nghiệp bằng trồng trọt hoa màu lại không mang lại hiệu quả kinh tế cao, Tân Kỳ được đánh giá là vùng đất tiềm năng để phát triển kinh tế theo hướng nông – lâm kết hợp Không thể phủ nhận điều đó khi mô hình này mang lại thu nhập kinh tế cho huyện lên đến 227,7 tỷ đồng/năm (theo số liệu thống kê của huyện vào năm 2015), kết quả này là sự cố gắng của 77 trang trại trên bao gồm 65 trang trại tổng hợp, 3 trang trại nuôi trồng thủy sản và 9 trang trại chăn nuôi cùng với 474 gia trại địa bàn huyện Mỗi trang trại cho thu nhập bình quân từ 500 đến 1 tỷ đồng/năm và mỗi gia trại bình quân từ 100 đến 500 triệu đồng/năm Riêng chăn nuôi trong các trang trại đã góp phần
Trang 32nâng giá trị của ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện trong năm 2016 lên 760
tỷ đồng, tăng 24% so với năm 2015
Phát triển kinh tế theo hướng nông – lâm kết hợp đã góp phần cải thiện tổng giá trị sản xuất của huyện trong năm 2016, cụ thể nâng tổng giá trị sản xuất của huyện lên đến 4 426,6 tỷ đồng, tăng 7,6%, giải quyết công ăn việc làm cho 343 lao động ở nông thôn với mức thu nhập bình quân từ 3,5 – 4 triệu đồng/người/tháng Từ những hiệu quả mà mô hình kinh tế nông – lâm mang lại, địa bàn huyện đã nhanh chóng mở rộng quy mô phát triên và nâng tổng diện tích trang trại lên đến 1 395,64 ha Hiệu quả của mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp không chỉ thể hiện qua giá trị kinh tế mà nó mang lại mà còn được thể hiện qua tình hình sử dụng quỹ đất nông nghiệp Cụ thể là trong năm 2016 huyện Tân Kỳ đã tiếp tục khai thác và sử dụng đất từ quỹ đất chưa
sử dụng, là giảm quỹ đất này xuống chỉ còn 1 162,16 ha(chiếm 1,6% diện tích đất tự nhiên) Bên cạnh việc khai thác và sử dụng quỹ đất chưa sử dụng, Tân
Kỳ còn tiến hành phục hồi và sử dụng hiệu quả đến 63 369,5 ha đất nông nghiệp (chiếm 87,3% diện tích đất tự nhiên)
Tóm lại, với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cộng với nhu cầu phát triển ngày càng cao thì việc nghiên cứu và phát triển kinh tế nông – lâm vừa
là một hướng đi mới, vừa là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục những khiếm khuyết về điều kiện tự nhiên trong phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Xác định đi chính là bước đi an toàn để xây dựng nền tảng vững chắc cho nền kinh tế của huyện Tân Kỳ
1.1.4 Đánh giá chung về cơ hội và thách thức để phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp:
1.1.4.1 Cơ hội:
Một là, địa hình có đến 80% diện tích là đồi núi, vấn đề phát triển kinh tế theo hướng độc canh kinh tế nông nghiệp hay độc canh nền kinh tế lâm nghiệp đều mang lại những khó khăn nhất định, không phù hợp với nhu cầu phát triển bền vững cả về kinh tế lẫn sinh thái
Trang 33Hai là, nền kinh tế thị trường năng động, tiêu thụ nhiều sản phẩm hàng hóa cả về số lượng và chủng loại
Ba là, nguồn lao động dồi dào, chủ yếu là lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nên giàu kinh nghiệm để phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp Lực lượng lao động trẻ, khỏe rất phù hợp với tính chất công việc trong ngành nông – lâm kết hợp
Bốn là, quỹ đất sản xuất nông - nghiệp, quỹ đất chưa sử dụng, diện tích đất thoái hóa – bạc màu còn rất nhiều, tạo điều kiện để phát triển thành vùng sản xuất nguyên liệu
Năm là, sự phát triển của khoa học công nghệ đã can thiệp ngày càng nhiều vào các ngành kinh tế của nước ta, kể cả lĩnh vực nông – lâm nghiệp
1.1.4.2 Thách thức:
Một là, về khí hậu: sự chênh lệch nhiệt độ trong ngày tại các vùng nghiên cứu để phát triển mô hình kinh tế nông – lâm kết hợp tương đối cao, thời điểm giao mùa khí hậu diễn biến thất thường, biến đổi khí hậu trên toàn cầu tác động trực tiếp lên nền kinh tế nông – lâm với những biểu hiện rõ rệt, hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất ngày càng dày đặc
Hai là, tình hình dịch bệnh: diễn biến phức tạp, phát sinh thêm nhiều chủng loại mới, đặc biệt là các loại đã hình thành gen kháng thuốc
Ba là, về cơ sở hạ tầng: cơ sở hạ tầng xuống cấp nghiêm trọng, không đáp ứng đủ nhu cầu để phát triển
Bốn là, quy hoạch phát triển còn manh mún, chưa có quy hoạch rõ ràng, nhiều mô hình chưa gắn lền với khu vực chế biến, làm thất thoát các chi phí trong quá trình vận chuyển
Năm là, thị trường tiêu thụ còn nhiều hạn chế, giá cả bất ổn định, ảnh hưởng đến đầu tư