Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong quá trình học tập vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể tại địa phương, đề tài “Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS LÊ THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 3Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác Các bảng biểu, số liệu được tính toán dựa trên nguồn số liệu từ các cơ quan Thống kê ở các huyện, tỉnh của Bình Định và của Việt Nam Các nguồn tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ và trung thực
Tác giả luận văn Học viên Nguyễn Đức Tôn
Trang 4của quý thầy cô giáo, các nhà khoa học, đồng nghiệp, bạn bè và những người thân Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Thông là Thầy giáo đã trực tiếp dìu dắt, chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cô giáo trong Tổ Địa lí Kinh tế - Xã hội và Khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo cho tôi một môi trường học tập và nghiên cứu tốt nhất
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Lãnh đạo Phòng Sau Đại học, Phòng Kế hoạch – Tài chính Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, quý Thầy, Cô giáo trong Khoa Địa lí – Địa chính Trường Đại học Quy Nhơn đã tạo cho tôi những điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình thực hiện công trình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các cơ quan ban ngành chức năng của tỉnh Bình Định: Sở Lao động, Thương Bình và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Y Tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Thống kê, Phòng Thống kê các huyện… đã giúp đỡ tận tình và có hiệu quả trong quá trình thu thập tài liệu và khảo sát thực địa
Xin được cảm ơn các bạn đồng nghiệp, anh chị và các bạn học viên lớp Cao học Địa lí học K24 đã giúp đỡ hết sức nhiệt tình trong quá trình thực hiện Cuối cùng, tôi xin được tỏ lòng biết ơn với những tình cảm và sự động viên tốt nhất về vật chất và tinh thần mà gia đình, người thân đã ủng hộ trong suốt thời gian nghiên cứu của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, 11/2015
Học viên Nguyễn Đức Tôn
Trang 5Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các biểu đồ
Danh mục các bảng
Danh mục các bản đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 12
1.1 Cơ sở lí luận 12
1.1.1 Một số khái niệm 12
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư 16
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư của Việt Nam 26
1.2.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư Duyên hải Nam Trung Bộ 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 43
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BÌNH ĐỊNH 44
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định 44
2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 44
2.1.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 46
2.1.3 Kinh tế - xã hội 54
2.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định 74
2.2.1 Về chỉ tiêu kinh tế 74
2.2.2 Về chỉ tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe 85
Trang 62.3 Đánh giá tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định 112
2.3.1 Lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá 112
2.3.2 Đánh giá tổng hợp 101
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 116
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ TỈNH BÌNH ĐỊNH ĐẾN NĂM 2020 118
3.1 Định hướng nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bình Định đến năm 2020 118
3.1.1 Căn cứ xây dựng định hướng 118
3.1.2 Mục tiêu 122
3.1.3 Định hướng phát triển các ngành, lĩnh vực 124
3.2 Một số giải pháp nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bình Định đến năm 2020 130
3.2.1 Nhóm giải pháp về kinh tế 130
3.2.2 Nhóm giải pháp y tế và chăm sóc sức khỏe 134
3.2.3 Nhóm giải pháp về giáo dục 135
3.2.4 Nhóm giải pháp về điều kiện nhà ở, sử dụng điện, nước sinh hoạt 137
3.2.5 Các giải pháp khác 139
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 142
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 PHỤ LỤC
Trang 81 Biểu đồ 1.1: Tỉ lệ người lớn biết chữ phân theo vùng của Việt Nam
4 Biểu đồ 2.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành tỉnh Bình Định
5 Biểu đồ 2.4: TNBQĐN/tháng của tỉnh Bình Định giai đoạn 2002 –
6 Biểu đồ 2.5: Cơ cấu thu nhập phân theo nguồn thu của tỉnh Bình
7 Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ nhập học tổng hợp của tỉnh Bình Định giai đoạn
Trang 91 Bảng 1.1: GDP và GDP/người của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013
2 Bảng 1.2: TNBQĐN/tháng phân theo thành thị, nông thôn và phân
theo vùng của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2013 (giá thực tế) 28
3 Bảng 1.3: Tuổi thọ trung bình phân theo vùng của Việt Nam giai
6 Bảng 1.6: Chỉ số HDI của Việt Nam trong giai đoạn 1999 – 2009 36
7 Bảng 1.7: Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2013 36
8 Bảng 1.8: Tỉ lệ hộ nghèo, số lượng xã bãi ngang các tỉnh, thành phố
9 Bảng 1.9: Một số chỉ tiêu y tế của vùng DH Nam Trung Bộ giai đoạn
10 Bảng 1.10: Một số chỉ tiêu chất lượng cuộc sống dân cư vùng Duyên
11 Bảng 2.1: Diện tích, dân số, mật độ dân số các đơn vị hành chính tỉnh
12 Bảng 2.2: Quy mô dân số và tỉ lệ gia tăng dân số tỉnh Bình Định giai
13 Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kim ngạch xuất – nhập khẩu của tỉnh Bình
14 Bảng 2.4: GDP bình quân đầu người của tỉnh Bình Định giai đoạn
15 Bảng 2.5: TNBQĐN/tháng phân theo huyện, thị xã, thành phố 76
Trang 1016
17 Bảng 2.7: Tỉ lệ hộ nghèo tỉnh Bình Định giai đoạn 2002 – 2013 81
18 Bảng 2.8: Tổng số hộ nghèo và tỉ lệ hộ nghèo phân theo huyện, thị
19
Bảng 2.9: Tỉ lệ hộ nghèo của một số xã thuộc vùng khó khăn và xã
đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo tỉnh Bình Định
23 Bảng 2.13: Chi tiêu y tế, chăm sóc sức khỏe/1 người/năm của tỉnh
Bình Định, vùng DH NTB và cả nước giai đoạn 2002 – 2012 90
24 Bảng 2.14: Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ phân theo huyện,
27 Bảng 2.17: Chi tiêu cho giáo dục/1 HS/năm của tỉnh Bình Định, vùng
28 Bảng 2.18: Cơ cấu hộ gia đình có nhà ở phân theo loại nhà của các
huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bình Định năm 2013 102
29 Bảng 2.19: Tỉ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia phân theo huyện,
thị xã, thành phố của tỉnh Bình Định năm 2012 104
Trang 1131 Bảng 2.21: So sánh một số chỉ tiêu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh
Bình Định với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và cả nước năm 2013 111
32 Bảng 2.22: Xác định mức (bậc) và điểm cho từng chỉ tiêu 113
33 Bảng 2.23: Đánh giá tổng hợp chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình
Trang 126 Bản đồ một số chỉ tiêu giáo dục tỉnh Bình Định năm 2013 100
7 Bản đồ đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bình Định năm
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Con người là chủ nhân của thế giới, là động lực cho sự phát triển và cũng là mục tiêu để mọi hoạt động kinh tế - xã hội (KT – XH) hướng tới Trong Báo cáo phát triển
con người đầu tiên năm 1990, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã khẳng định: “Con người là
của cải thực sự của quốc gia Con người là trung tâm của sự phát triển” [52] Chính
vì vậy, việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) của con người luôn được quan tâm đặc biệt, là nội dung chủ yếu trong chiến lược phát triển con người và đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển KT - XH của mọi quốc gia trên thế giới Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế, sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật… đã và đang làm cho nền kinh tế thế giới có nhiều biến đổi, đồng thời CLCS của con người ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, trong thực tế đã nổi lên một bức tranh tương phản về trình độ phát triển giữa các quốc gia, cũng như trong nội bộ từng quốc gia còn rất lớn Do đó, nhiệm vụ nâng cao CLCS cho con người tiếp tục được đặt ra cho toàn thế giới và từng quốc gia
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển và đang trong giai đoạn thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy, việc đẩy mạnh đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực luôn nhận được sự quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước, đồng thời xác định nâng cao CLCS dân cư
là tiền đề để xây dựng đất nước giàu mạnh Trong Chiến lược Phát triển KT - XH của
Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 nêu rõ cam kết của Chính phủ Việt Nam nhằm: “Hài
hòa hóa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, phát triển văn hóa mạnh mẽ và đẩy mạnh dân chủ” Từ đó, nước ta đã đưa ra nhiều chính sách và thực hiện nhiều chương trình cụ
thể nhằm góp phần nâng cao CLCS cho người dân, nhất là trong việc xóa mù chữ và giảm nghèo, vì vậy CLCS của người dân ngày càng được nâng cao
Nằm gần như ở vị trí trung tâm của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (DH NTB)
và là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) miền Trung, Bình Định có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng đối với
Trang 14nước ta và các vùng Trong những năm gần đây, nền kinh tế tỉnh Bình Định đạt được những bước phát triển, tổng sản phẩm trong tỉnh đứng thứ 4/8 tỉnh của vùng DH NTB,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực với khu vực II, III chiếm gần 70% (năm 2013), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2000 – 2013 gần 11%, GDP/người và thu nhập bình quân đầu người liên tục tăng lên, đời sống của người dân được cải thiện Tuy nhiên, so với các địa phương trên cả nước thì Bình Định vẫn là tỉnh còn nghèo, CLCS dân cư vẫn còn ở mức thấp, đặc biệt là bộ phân dân cư ở phía Tây và dân cư các xã thuộc vùng bãi ngang, ven biển Bên cạnh đó, giữa các địa phương, các dân tộc trong tỉnh CLCS dân cư có sự chệnh lệch rõ nét
Với mong muốn vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong quá trình học
tập vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể tại địa phương, đề tài “Nghiên cứu chất lượng
cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định” được tác giả lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Bình Định
- Phân tích thực trạng CLCS dân cư tỉnh Bình Định giai đoạn 2000 – 2013
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLCS dân cư tỉnh Bình Định
2.3 Giới hạn
2.3.1 Về nội dung
Luận văn tập trung phân tích thực trạng CLCS dân cư tỉnh Bình Định thông qua một số chỉ tiêu có liên quan đến CLCS dân cư dưới góc độ Địa lí học Cụ thể, chỉ tiêu kinh tế: GDP/người, thu nhập bình quân đầu người, tỉ lệ hộ nghèo; chỉ tiêu y tế và chăm sóc sức khỏe: Tuổi thọ trung bình (TB), số bác sĩ và cán bộ y tế/1 vạn dân, số
Trang 15giường bệnh/1 vạn dân, chi tiêu y tế/1 người/năm; chỉ tiêu giáo dục: Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, tỉ lệ nhập học tổng hợp, tỉ lệ học sinh (HS) trung học phổ thông/tổng số HS, chi tiêu giáo dục/1 HS/năm; một số điều kiện sống khác: Điều kiện nhà ở, sử dụng điện, sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường
2.3.2 Về lãnh thổ
Đề tài nghiên cứu toàn tỉnh Bình Định, trong đó có đi sâu đến sự phân hóa 11 huyện, thị xã, thành phố (TP) của tỉnh Bên cạnh đó, đề tài còn đặt lãnh thổ trong mối liên hệ so sánh với các tỉnh của vùng DH NTB
2.3.3 Về thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu giai đoạn 2000 – 2013, định hướng đến năm 2020
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Sự gia tăng dân số chưa từng thấy trong nhiều thập kỉ trước cùng với sự khai thác nguồn tài nguyên quá mức đã gây ra nhiều áp lực đối với quá trình phát triển KT – XH của các quốc gia, đồng thời CLCS của người dân cũng bị ảnh hưởng Trước tình hình
đó, nghiên cứu CLCS nói chung, nghiên cứu các yếu tố của CLCS hay mối quan hệ của CLCS với sự phát triển kinh tế nói riêng… được nhiều nhà khoa học quan tâm
3.1 Một số công trình nghiên cứu trên thế giới
Trong tác phẩm của Các Mác (2000), Bản thảo Kinh tế - Triết học 1844, (Các
Mác và Ph Ăngghen toàn tập, tập 42) đã nhận thấy sự chi phối của dân số, tình hình chính trị tới cuộc sống người dân, đề cao các giá trị về cuộc sống của con người như là mục đích giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú [21]
Theo R.C Sharma (1988), tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Dân số, tài nguyên,
môi trường và chất lượng cuộc sống” [26] nghiên cứu mối tương tác giữa CLCS dân
cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển KT – XH của mỗi quốc gia Theo ông, CLCS dân cư là một khái niệm phức tạp, nó đòi hỏi sự thỏa mãn, cũng như khả năng đáp ứng đầy đủ về các yếu tố vật chất và tinh thần cho người dân Theo đó, mức sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng được coi là yếu tố quan trọng để tạo ra CLCS Với tác giả Wiliam Bell, khi bàn về CLCS ông đã có nhìn nhận mở rộng và toàn diện hơn, đó là gắn quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… Theo ông, CLCS được đặc trưng bởi 12 điểm: “(1) An toàn thể chất cá nhân;
Trang 16(2) Sung túc về kinh tế; (3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (4) An ninh quốc gia; (5) Bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; (6) Hạnh phúc tinh thần; (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (8) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kĩ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, thiết bị y tế…); (12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm” [33] Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh vấn đề
“an toàn” và đã khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh Tuy nhiên, vai trò của môi trường tự nhiên, môi trường xã hội còn chưa được rõ nét
Năm 1990, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ số phản ánh các khía cạnh quan trọng nhất của CLCS, đó là chỉ số phát triển con người (HDI) dựa trên kết quả nghiên cứu của một nhà kinh tế người Pakistan - ông Mahbub
ul Haq Chỉ số HDI ra đời đã bổ sung và khắc phục được những hạn chế của chỉ số GDP và được sử dụng để đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới thông qua ba tiêu chí về thu nhập, giáo dục và y tế Chỉ số HDI càng cao chứng tỏ CLCS của người dân của quốc gia đó càng được đảm bảo Chỉ số này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ thống hơn, đã coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh và có ý nghĩa Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến khái niệm, đưa ra một số chỉ tiêu cơ bản và thực trạng các vấn đề, các mối quan hệ giữa dân số, tài nguyên, môi trường và phát triển, CLCS Đây là tiền đề quan trọng cho nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến CLCS của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam
3.2 Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Xuất phát điểm từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu, trong khi đó tốc độ gia tăng dân số luôn ở mức cao, vì vậy mà vấn đề cân đối giữa gia tăng dân số và phát triển kinh tế để đảm cuộc sống cho người dân là việc làm cần thiết Nghiên cứu CLCS dân cư của một địa phương và tìm ra giải pháp nâng cao CLCS dân cư là việc làm quan trọng và cần thiết Bàn luận về vấn đề dân số, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa chúng với nhau, ở nước ta có một số công trình tiêu biểu:
Trang 17Giáo trình “Dân số và phát triển” của GS.TS Tống Văn Đường (2003), Nxb Nông nghiệp [13]; Giáo trình đào tạo thạc sĩ “Dân số và phát triển kinh tế - xã hội”
của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (1996), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Giáo trình
“Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam” của TS Nguyễn Thiện Trưởng (2004),
Nxb Chính trị Quốc gia Các công trình này đề cập những nội dung cơ bản về CLCS, các vấn đề về dân số và mối quan hệ của nó với phát triển KT – XH, phát triển bền vững
Tác phẩm “Con người và phát triển con người” của PGS.TS Hồ Sĩ Quý (2007),
Viện Thông tin khoa học xã hội, công trình nghiên cứu này tác giả đã đề cập đến vấn
đề phát triển con người ở Việt Nam, một số nội dung về chỉ số phát triển con người và chỉ số nghèo khả năng phát triển con người (HPI) Không những thế, công trình nghiên cứu này đã cập nhật những tri thức mới nhất của thế giới về con người, phát triển con người mang tính triết học rất sâu sắc [24]
Các công trình nghiên cứu có liên quan đến CLCS khác như: “Các chỉ số và chỉ
tiêu phát triển con người” của Nguyễn Quán (1995), “Điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997 – 1998”, “Mức sống trong thời kỳ bùng nổ kinh tế Việt Nam” của tập thể
các tác giả Đỗ Thiên Kính, Phùng Đức Tùng, Hồ Sĩ Cúc và nnk (2001) Các công trình này đã điều tra và phân tích các vấn đề có liên quan đến CLCS dân cư như: Thu nhập của người dân, trình độ dân trí, chất lượng y tế, giáo dục… thông qua đó đã khẳng định thông tin bằng chuỗi các số liệu cụ thể về sự cải thiện CLCS của các hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1993 – 1998 [14]
Ngoài ra, còn phải kể đến công trình nghiên cứu “Khảo sát mức sống dân cư
2012” đã phân tích khá cụ thể một số khía cạnh về CLCS dân cư theo từng vùng và
từng tỉnh, thành phố của Việt Nam [43]; Luận văn thạc sĩ kinh tế “Tăng trưởng GDP
và vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống ở Việt Nam” của tác giả Vũ Mạnh Cường
(2011), Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã phân tích và thể hiện rõ các vấn đề liên quan đến CLCS, nâng cao CLCS và mối quan hệ của tăng trưởng GDP với các khía cạnh của CLCS dân cư Việt Nam, đặc biệt là vấn đề phát triển con người, phát triển văn hóa, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo trong giai đoạn 1986 – 2010 dưới góc độ kinh tế - chính trị [11]
Trang 18Cùng với những công trình nghiên cứu trên, ở nước ta còn có một số cơ quan, tổ chức đã tiến hành điều tra về mức sống của dân cư dưới sự hỗ trợ tài chính của UNDP Tổng cục Thống kê, Ủy ban Kế hoạch hóa Nhà nước, Ngân hàng thế giới… đã tiến hành 4 cuộc điều tra về mức sống dân cư Việt Nam năm 1992 – 1993, 1997 – 1998,
2001 – 2004, 2007 – 2008 Qua mỗi cuộc điều tra cho ta một kết quả về sự thay đổi mức sống của dân cư nước ta theo thời gian và sự tiến bộ vượt bậc trong công tác xóa đói giảm nghèo và nâng cao CLCS, trong đó có so sánh giữa Việt Nam với các quốc gia trong khu vực và thế giới Tuy nhiên, các cuộc điều tra này chỉ dừng lại trong việc khảo sát mức sống của dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể, ít đi sâu phân tích thực trạng mức sống của các địa phương
Nhóm tác giả thuộc Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Thị Cành
(2001) với công trình “Diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và các giải
pháp xóa đói giảm nghèo trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam nhìn từ thực tiễn TP Hồ Chí Minh” đã đi sâu phân tích chi tiết về việc làm, thu nhập và chỉ tiêu của
dân cư TP Hồ Chí Minh, từ đó chứng minh sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ ở đô thị phát triển bậc nhất Việt Nam
Nghiên cứu CLCS dân cư dưới góc độ Địa lí học đã có một số luận án tiến sĩ,
luận văn thạc sĩ bảo vệ thành công, tiêu biểu là: Luận án “Phân tích chất lượng cuộc
sống dân cư thành phố Hải Phòng” của Nguyễn Thị Kim Thoa (2004) [32]; luận văn
“Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Sơn La” của Trần Thị Thanh Hà
(2014) [14]… của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Ở Trường Đại học Sư phạm TP
Hồ Chí Minh có một số luận văn tiêu biểu: “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình
Thuận: Hiện trạng và giải pháp” của Bùi Vũ Thanh Nhật (2008), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Vĩnh Long trong thời kỳ hội nhập” của
Nguyễn Thanh Hiếu (2010) [16], “Chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Đồng Nai - Hiện
trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Linh (2012) [19]; “Chất lượng cuộc sống dân cư
TP Hồ Chí Minh - Hiện trạng và giải pháp” của Nguyễn Ngọc Thùy Văn (2013)
[50]… Các đề tài trên đã làm rõ một số nội dung về cơ sở lí luận và thực tiễn về CLCS dân cư, xác định các tiêu chí đánh giá, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và đã phân tích
Trang 19làm rõ thực trạng CLCS dân cư và đề xuất một số giải pháp nâng cao CLCS dân cư tại một địa phương cụ thể, có đi sâu đến cấp huyện, TP
Ở tỉnh Bình Định, đã có một số báo cáo mang tính chuyên đề về mức sống của
người dân, tiêu biểu có: “Khảo sát mức sống hộ gia đình tỉnh Bình Định 2002 – 2010” của Cục Thống kê tỉnh Bình Định [10], các báo cáo về kết quả điều tra dân số, nhà ở,
giáo dục, y tế… của các Sở ban ngành; hay hàng năm Cục Thống kê tỉnh Bình Định có tổng hợp và xuất bản Niên giám thống kê đã có đề cập đến một vài thông tin về y tế, giáo dục, mức sống của người dân…
Như vậy, tổng quan các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước giúp tác giả một mặt kế thừa được các kết quả đã có và mặt khác, tìm được hướng nghiên cứu cho
đề tài luận văn
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng địa lí đều tồn tại trong một không gian lãnh thổ nhất định với những mối quan hệ chặt chẽ giữa các sự vật hiện tượng đó với các thành phần còn lại trong phạm vi lãnh thổ từ tự nhiên cho đến KT – XH
Tỉnh Bình Định được xem là một thể tổng hợp tương đối hoàn chỉnh cả về tự nhiên và KT – XH, trong đó các yếu tố tự nhiên, KT – XH có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Đề tài vận dụng quan điểm này để phân tích, đánh giá mối quan hệ giữa các thành phần có tác động đến CLCS dân cư của tỉnh, tìm ra những thế mạnh, khó khăn cũng như nguyên nhân của sự phân hóa CLCS dân cư tại các huyện,
TP, giữa các dân tộc trong tỉnh Từ đó, đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng để góp phần nâng cao CLCS dân cư tại địa phương
4.1.2 Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu CLCS dân cư phải được xem xét theo quan điểm hệ thống, bởi vì CLCS dân cư là một hệ thống lớn bao gồm nhiều phân hệ thấp hơn: Kinh tế, y tế, giáo dục, các điều kiện sống khác… và bản thân tỉnh Bình Định cũng là một hệ thống Nếu xét trên hệ thống lớn thì lãnh thổ Bình Định được xem là một bộ phận của vùng DH NTB và cả nước, nếu xét cấp thấp hơn thì lãnh thổ Bình Định bao gồm các hệ thống
Trang 20con (huyện, xã, thôn…) Các phân hệ trong hệ thống có mối quan hệ tương tác mật thiết với nhau và có quan hệ với hệ thống khác, chỉ cần sự thay đổi nhỏ của một phân
hệ sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chung của toàn hệ thống
Vì vậy, luận văn vận dụng quan điểm này để tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu mối quan hệ qua lại, các tác động của các yếu tố trong hệ thống và giữa các hệ thống với nhau để có đánh giá khoa học vấn đề nghiên cứu
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật hiện tượng địa lí dù lớn hay nhỏ đều có quá trình phát sinh, phát triển CLCS dân cư luôn vận động và biến đổi theo từng thời kì tương ứng với sự phát triển của nền KT – XH Luận văn vận dụng quan điểm này để đánh giá được những biến đổi của các yếu tố CLCS dân cư qua từng giai đoạn phát triển của tỉnh Bình Định, có nhận định đúng về triển vọng CLCS cũng như sự phân hóa CLCS theo huyện, thành phố
Từ đó xác định được những nguyên nhân cơ bản tạo nên sự phân hóa và đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học để góp phần nâng cao CLCS dân cư trong tương lai
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một quan điểm bao trùm và cũng là mục tiêu cần hướng đến trong phát triển kinh tế, đặc biệt trong thời kì bùng nổ của cách mạng KHCN và toàn cầu hóa Quan điểm này được xây dựng trên cơ sở cả ba góc độ: Kinh tế, xã hội
và môi trường Tiếp cận quan điểm này, có thể nhận thấy các yếu tố về dân số, kinh tế, tài nguyên, môi trường… có liên quan chặt chẽ đến CLCS và CLCS có mối quan hệ mật thiết với phát triển bền vững Kinh tế, xã hội, môi trường phát triển bền vững mới đảm bảo cho CLCS dân cư được nâng cao và bền vững Do đó, khi nghiên cứu CLCS dân cư của tỉnh Bình Định phải đặt nó trong mối quan hệ với ba yếu tố trên
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu
Đây là phương pháp quan trọng, xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài, được sử dụng nhằm hệ thống lại các tri thức, tìm ra các nội dung mới để vận dụng chúng vào nghiên cứu CLCS dân cư là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh, do đó khi nghiên cứu cần phải thu thập tài liệu từ nhiều nguồn, từ đó phân tích, tổng hợp, chọn lọc để có những tài liệu cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của luận văn
Trang 21Trong quá trình thực hiện, tác giả đã tiến hành thu thập, sử dụng nguồn tài liệu từ các báo cáo liên quan đến CLCS dân cư tỉnh Bình Định như: Báo cáo tổng kết phát triển KT – XH, Niên giám thống kê, các số liệu điều tra dân số, báo cáo tổng kết điều tra dân số và nhà ở, các bài báo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học… Để thống nhất về thời gian, tác giả chọn tư liệu trong giai đoạn 2000 – 2013 để phân tích thực trạng CLCS dân cư của tỉnh Bình Định, phần định hướng nâng cao CLCS dân cư tác giả có sử dụng hệ thống số liệu hướng đến năm 2020
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Nguồn tài liệu liên quan đến CLCS dân cư của tỉnh Bình Định khá nhiều, tuy nhiên chúng không đồng bộ nên việc xử lí, phân loại khá phức tạp Nguồn tài liệu tác giả sử dụng chính từ: Niên giám thống kê hàng năm của tỉnh, các báo cáo tổng kết của các Sở ban ngành… Bằng kinh nghiệm và khả năng, tác giả đã tiến hành xử lí, phân tích hình thành nên các bảng số liệu mới, đặc biệt một vài số liệu được cụ thể hóa thành các bản đồ Đây cơ sở quan trọng để có thể phân tích, đánh giá nhằm tìm ra bức tranh về CLCS dân cư tỉnh Bình Định một cách khách quan, khoa học
4.2.3 Phương pháp thực địa
Đây là phương pháp truyền thống của khoa học Địa lí, thông qua đó sẽ kiểm tra được độ tin cậy của lượng thông tin thu thập được, phương pháp này giúp người nghiên cứu tiếp cận vấn đề một cách chủ động
Để thực hiện luận văn, tác giả đã tiến hành khảo sát, tìm hiểu trực tiếp tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Bình Định về các khía cạnh CLCS như: Nhà ở, vấn đề sử dụng nước sạch, điều kiện y tế, cơ sở vật chất giáo dục… để có thêm thông tin từ thực tiễn làm cơ sở để phân tích CLCS dân cư trên địa bàn và là căn cứ quan trọng khi xây dựng các giải pháp nâng cao CLCS dân cư trong tương lai
4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã xin ý kiến của các nhà khoa học chuyên ngành Địa lí học, các nhà quản lí, cán bộ các Sở ban ngành tỉnh Bình Định: Sở Lao động và thương binh xã hội, Sở Y tế, Sở Giáo dục., để có thêm hiểu biết, tiếp thu kinh nghiệm nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm thực tiễn, kế thừa nguồn tài liệu Nhờ
đó góp phần giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 224.2.5 Phương pháp thang điểm tổng hợp
CLCS dân cư tại một địa phương có sự phân hóa theo lãnh thổ rõ nét, bằng phương pháp thang điểm tổng hợp tác giả tiến hành đánh giá dựa vào các chỉ tiêu được lựa chọn để đưa ra được bức tranh về sự phân hóa CLCS dân cư tỉnh Bình Định Luận văn này, tác giả đã lựa chọn 8 tiêu chí thể hiện được đặc trưng về CLCS dân cư và sự phân hóa CLCS dân cư theo lãnh thổ của tỉnh Bình Định, bao gồm: (1) Thu nhập bình quân đầu người/tháng, (2) Tỉ lệ hộ nghèo, (3) Số giường bệnh và số bác sĩ/1 vạn dân, (4) Tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, (5) Tỉ lệ học sinh THPT/tổng
số học sinh, (6) Tỉ lệ hộ dân có nhà ở kiên cố, (7) Tỉ lệ hộ sử dụng điện lưới, (8) Tỉ lệ
hộ dân sử dụng nước hợp vệ sinh
Sau đó xác định thang điểm đánh giá, xác định bậc của từng chỉ tiêu và cho điểm mỗi bậc Mỗi chỉ tiêu cụ thể được chia thành 5 bậc cơ bản (theo ngũ phân vị): Rất cao, cao, trung bình, thấp, rất thấp với mức điểm tương ứng là 5, 4, 3, 2, 1 (riêng chỉ tiêu tỉ
lệ hộ nghèo thì mức điểm ngược lại, tương ứng là 1, 2, 3, 4, 5)
Sau khi đã xây dựng được bảng đánh giá theo từng chỉ tiêu của CLCS dân cư, tác giả lập bảng tính điểm đánh giá tổng hợp của các chỉ tiêu theo 11 huyện, thị xã, TP của tỉnh Bình Định
4.2.6 Phương pháp bản đồ, GIS
Bản đồ là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, súc tích là phương thức thể hiện trực quan các yếu tố tự nhiên, KT – XH của các vùng lãnh thổ, như M.N Baranxki đã nói
“Khoa học Địa lí và các công việc của nó bắt đầu từ bản đồ và kết thúc cũng bằng bản
đồ” Do đó, trong quá trình nghiên cứu đề tài, dựa trên cơ sở các dữ liệu địa lí được thu
thập, tác giả sử dụng phần mềm MapInfo 12.0 để thành lập một số bản đồ chuyên đề
về các đặc trưng của CLCS để có cái nhìn trực quan hơn trong quá trình nghiên cứu Một số bản đồ đã được tác giả tự biên vẽ: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định, Bản đồ các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Bình Định, Bản đồ các nhân tố KT – XH ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Bình Định, Bản đồ TNBQĐN và
tỉ lệ hộ nghèo tỉnh Bình Định năm 2013, Bản đồ một số chỉ tiêu y tế và chăm sóc sức khoẻ tỉnh Bình Định năm 2013, Bản đồ một số chỉ tiêu giáo dục tỉnh Bình Định năm
2013, Bản đồ đánh giá tổng hợp CLCS dân cư tỉnh Bình Định năm 2013
Trang 235 Đóng góp của đề tài
- Về lí luận:
+ Kế thừa và làm sáng tỏ được cơ sở lí luận cũng như thực tiễn về CLCS dân cư
và vận dụng vào nghiên cứu ở tỉnh Bình Định
+ Xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá CLCS dân cư áp dụng cho tỉnh Bình Định trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu đã có
+ Đánh giá được các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS dân cư tỉnh Bình Định
+ Phân tích được thực trạng và đưa ra bức tranh CLCS dân cư ở địa bàn nghiên trong giai đoạn 2000 – 2013 theo hệ thống chỉ tiêu xác định với hệ thống bản đồ thành phần và tổng hợp
+ Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao CLCS dân cư, đặc biệt là bộ phận người đồng bào ở vùng núi phía Tây và dân cư thuộc các xã miền núi, các xã khó khăn thuộc vùng bãi ngang, ven biển tỉnh Bình Định
- Về thực tiễn: Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
và giảng dạy CLCS dân cư tại địa phương
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về chất lượng cuộc sống dân cư
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định
Chương 3 Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bình Định đến năm 2020
Trang 24CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và Tổng thu nhập quốc gia (GNI)
- Tổng sản phẩm quốc nội là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia (không phân biệt người trong nước hay người nước ngoài) ở một thời điểm nhất định, thường là một năm GDP không bao gồm phần khấu trừ đối với khoản khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm, xuống cấp của tài nguyên thiên nhiên [41]
GDP được sử dụng đầu tiên vào năm 1934, kể từ đó đến nay chỉ số này được sử dụng phổ biến ở tất cả quốc gia trên thế giới GDP thường được sử dụng để phân tích
cơ cấu kinh tế, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế nhằm thể hiện số lượng nguồn của cải làm ra bên trong một quốc gia, sự phồn vinh hay khả năng phát triển kinh tế
- Tổng thu nhập quốc gia (GNI – Gross National Income) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của một quốc ở một thời điểm nhất định, thường
là một năm GNI là thước đo tổng hợp lớn nhất của thu nhập quốc dân, GNI chỉ rõ chủ
sở hữu và hưởng thụ nguồn của cải đã làm ra [41]
Ngoài chỉ tiêu GDP, GNI người ta còn sử dụng chỉ tiêu GDP/người để đánh giá thành tựu phát triển kinh tế của quốc gia GDP/người được xác định bằng tỉ lệ giữa GDP so với tổng số dân TB trong năm Chỉ số GDP/người còn được sử dụng để so sánh mức sống dân cư giữa các quốc gia; tỉnh, TP trong một quốc gia và là một trong
ba tiêu chí để đánh giá thành tựu phát triển con người thông qua chỉ số phát triển con người Gần đây, chỉ số GDP/người được thay bằng GNI/người vì thông qua chỉ số này
có thể đánh giá chính xác trình độ phát triển kinh tế, mức sống lý thuyết của người dân của từng nước và thông qua chỉ tiêu này để phân chia các nhóm nước trên thế giới Trên thế giới, các chỉ tiêu GDP, GNI hay GDP/người, GNI/người của mỗi nước (tiền nội tệ) được quy đổi sang USD quốc tế theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) PPP cho phép so sánh chuẩn về mức giá thực tế giữa các nước PPP (Purchasing power parity) do nhà thống kê học người Mỹ R.C Geary đề xuất PPP là
Trang 25giá của một mặt hàng trong nước tính bằng tiền nội tệ so với giá của mặt hàng tương
tự ở nước ngoài biểu thị bằng ngoại tệ (thường là USD) PPP phản ảnh thu nhập được điều chỉnh theo mặt bằng giá quốc tế và dùng để so sánh mức sống dân cư bình quân giữa các quốc gia
1.1.1.2 Chất lượng cuộc sống
CLCS, đây là một nội dung khoa học khá rộng và trừu tượng, chính vì vậy mà có rất nhiều quan niệm và xác định các chỉ tiêu đánh giá Để có thể hiểu được khái niệm CLCS, trước hết phải hiểu được chất lượng là gì?
- Chất lượng:
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, chất lượng (Quality): “Là một phạm
trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với các sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, được biểu hiện ra bên ngoài bằng các thuộc tính, nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Chất lượng của sự vật luôn gắn liền với số lượng, mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng” [49]
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (tại điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO
9000:2005) chất lượng: “Là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính
vốn có” Đặc trưng của chất lượng chính là khả năng thỏa mãn các nhu cầu của con
người Vì vậy, một loại sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nào đó không đáp ứng được nhu cầu thì được coi là kém chất lượng
Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người xem chất lượng chính là sự tuyệt vời hay
là những mặt tốt, mặt đạt được của một sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà con người sử dụng, làm cho họ cảm thấy thỏa mãn hoặc hài lòng với loại sản phẩm đó
- Chất lượng cuộc sống:
Từ thời Cổ đại, khái niệm CLCS đã được một số nhà khoa học đề cập đến, điển hình là Aristotle trong tác phẩm nói về đạo đức – chính trị học [11] đã lập luận rằng: Người dân sống tốt và đạt hạnh phúc thông qua học tập và rèn luyện các đức tính tốt
và ông nhấn mạnh tầm quan trọng cho con người hạnh phúc bởi lí do con người cư xử
có đạo đức và cố gắng trở thành có đạo đức Ông cũng đưa ra mô hình lý tưởng và cho
Trang 26rằng một quốc gia tốt nhất là quốc gia đảm bảo cho mọi người đều được sống hạnh phúc tức là có CLCS cao
Theo Các Mác và Ph Ăngghen trong “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” cho rằng
CLCS là phải giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đảm bảo cho con người thực
sự sống trong hoà bình và hạnh phúc [11] Theo đó, các nhà kinh tế chính trị cổ điển khác như A Smith, D.Ricardo, Manlthus,… đã có những tư tưởng mở rộng và đề cao các giá trị về CLCS của cộng đồng dân cư CLCS như là mục đích của việc tạo điều kiện thuận lợi giúp con người có một cuộc sống vật chất và tinh thần phong phú
Trong tác phẩm “Dân số, môi trường và chất lượng cuộc sống” của R.C Sharma
– Nhà dân số học người Ấn Độ thì ông xem CLCS là một khái niệm phức tạp, ở đó nó đòi hỏi sự thỏa mãn cộng đồng chung xã hội, cũng như những khả năng đáp ứng được
nhu cầu cơ bản của chính bản thân xã hội Ông định nghĩa “Chất lượng cuộc sống là
sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc hoặc thỏa mãn) với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan trọng nhất đối với bản thân một con người Thêm vào đó, chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng với những gì
mà con người có được Nó như là cảm giác của sự đầy đủ hay là sự trọn vẹn của cuộc sống” [26] Như vậy, theo quan niệm của R.C Sharma có thể nhận thấy tiêu chí mức
sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên CLCS Quan niệm này được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận Với tác giả Wiliam Bell, khi bàn về CLCS ông đã có nhìn nhận mở rộng và toàn diện hơn Đó là gắn quan niệm CLCS với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, sinh thái… Đặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh vấn đề “an toàn” và đã khẳng định CLCS được đặc trưng bằng sự an toàn trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh
Về sau các chuyên gia trong UNDP dựa trên nền tảng nghiên cứu của Wiliam
Bell đã đưa ra ý kiến để phân biệt CLCS với mức sống: “Chất lượng cuộc sống là một
phạm trù được hiểu bao quát gồm lối sống, nếp sống và mức sống” còn mức sống là
“Tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sinh hoạt có khả năng thỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa của con người tại một thời điểm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” Ở
đây, có thể thấy thước đo quan trọng của CLCS chính là mức sống, nếu như mức sống
Trang 27là thước đo về phúc lợi vật chất thì CLCS là thước đó cả về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần
Các tác giả của dự án VIE/94/P01 trong tài liệu “Một số vấn đề cơ bản về giáo
dục dân số” đã đưa ra khái niệm về CLCS: “Chất lượng cuộc sống là điều kiện sống được cung cấp đầy đủ nhà ở, giáo dục, dịch vụ y tế, lương thực, vui chơi, giải trí cho nhu cầu của con người Điều này làm cho con người dễ dàng đạt được sự hạnh phúc,
an toàn gia đình, khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần” [11]
Năm 1990, UNDP đã đưa ra chỉ số phản ánh các khía cạnh quan trọng nhất của CLCS, đó là HDI Chỉ số này đã phản ánh cách tiếp cận mới, đã coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người Điều này bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc và bền vững
Như vậy, dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa CLCS và HDI, CLCS bao gồm cả
ba bộ phận cơ bản tạo nên HDI và có mở rộng thêm các điều kiện sống liên quan khác: Nhà ở, điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường… của con người trong cuộc sống Hiện nay, khi xã hội phát triển ngày càng hiện đại thì CLCS thường được đồng nhất với khái niệm thoải mái tối ưu Yêu cầu cơ bản và trở thành mối quan tâm chính
về nâng cao CLCS là tạo ra một trạng thái thoải mái về vật chất và tinh thần, là tăng cường thời gian nghỉ ngơi Sự tối ưu hóa mức độ thoải mái được thể hiện trong sự đa dạng hóa các sản phẩm tiêu dùng của mỗi cộng đồng, mỗi gia đình hay mỗi cá nhân
Có thể hiểu, CLCS chính là sự đáp ứng các nhu cầu cơ bản về vật chất lẫn tinh thần của xã hội cho con người gắn với môi trường sống trong lành, bình đẳng không bị ảnh hưởng bởi các vấn nạn xã hội, mức độ đáp ứng càng cao chứng tỏ CLCS càng cao
Từ sự phân tích trên, theo quan niệm của tác giả “Chất lượng cuộc sống là khả năng
đáp ứng các nhu cầu của con người trong xã hội, nhu cầu ấy thể hiện qua yếu tố vật chất, tinh thần và trí tuệ của con người trong mối quan hệ tổng hoà giữa dân số, tài nguyên và môi trường”
Như vậy, nâng cao CLCS chính là sự phát triển tích cực các yếu tố cấu thành CLCS, hay nói cách khác đó là việc đảm bảo khả năng đáp ứng các nhu cầu ngày càng
Trang 28gia tăng của con người trong xã hội; sự tăng tiến về chỉ số phát triển con người thông qua chỉ số tuổi thọ, y tế, giáo dục; giảm dần tình trạng đói nghèo, phát huy những giá trị sống và đạo đức tốt đẹp, nâng cao mức hưởng thụ về đời sống văn hóa tinh thần, đảm bảo công bằng xã hội gắn với môi trường sống trong lành, bền vững Đây là mục tiêu phấn đấu nhằm đáp ứng sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư
CLCS dân cư chịu ảnh hưởng đồng thời của các nhân tố như: Vị trí địa lí (VTĐL), phạm vi lãnh thổ; Điều kiện tự nhiên (ĐKTN) và tài nguyên thiên nhiên (TNTN); Điều kiện KT – XH Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến CLCS dân cư, trong đó nhóm nhân tố KT – XH đóng vai trò quyết định
1.1.2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ
VTĐL, phạm vi lãnh thổ có ảnh hưởng quan trọng đến CLCS dân cư nói riêng và
sự phát triển KT – XH nói chung của một quốc gia, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập hiện nay Yếu tố này tạo nên khả năng để trao đổi, tiếp cận hay cùng phát triển giữa các lãnh thổ, xây dựng các mối quan hệ song phương hay đa phương của quốc gia và toàn thế giới Nếu một quốc gia hay một địa phương có VTĐL, phạm vi lãnh thổ thuận lợi sẽ là nơi có nhiều tiềm năng, thế mạnh cho phát triển KT – XH, mở rộng mối quan
hệ, giao lưu về mọi mặt và từ đó tạo điều kiện để nâng cao CLCS dân cư
1.1.2.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
ĐKTN và TNTN là nguồn lực quan trọng để xây dựng và phát triển KT – XH của một quốc gia, một vùng lãnh thổ nhất định ĐKTN và TNTN bao gồm các yếu tố như địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, sinh vật, khoáng sản… Đây là điều kiện thường xuyên, cần thiết, tạo khả năng cho quá trình sản xuất, là một trong những nhân
tố tạo vùng quan trọng và là tài sản quý báu của mỗi quốc gia ĐKTN và TNTN có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến CLCS dân cư ở các khía cạnh như điều kiện cư trú của người dân, chất lượng môi trường sống, khả năng khai thác các tài nguyên làm nguồn sống cho con người…
Trong giai đoạn hiện nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế thì hoạt động khai thác nguồn TNTN diễn ra mạnh mẽ, nhiều nơi diễn ra quá mức, chưa hợp lí, đã làm cho TNTN bị suy giảm nghiêm trọng, ô nhiễm môi trường, đất đai bị thoái hóa…
Trang 29Cùng với đó là hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã gây ra hàng loạt các hệ quả như Trái đất nóng dần lên, băng tan, nước biển dâng, thiên tai xuất hiện nhiều và phức tạp hơn…, các vấn đề này có ảnh hưởng to lớn đến CLCS dân cư Do đó, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để có thể thích ứng, nâng cao CLCS dân cư, để đảm bảo các yêu cầu cần thiết, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống dân cư ở nhiều nơi
1.1.2.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân cư, nguồn lao động và dân tộc
- Dân cư: Con người vừa là lực lượng sản xuất vừa là lực lượng tiêu thụ các sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ trong xã hội Với tư cách là lực lượng sản xuất, con người chính là chủ thể tiến hành các hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động xã hội, cải tạo và
sử dụng tự nhiên, bộ phận dân số tham gia sản xuất đó là nguồn lao động của xã hội Với tư cách là lực lượng tiêu thụ, con người đóng vai trò là thị trường tiêu dùng các sản phẩm do chính họ sản xuất ra để thỏa mãn các nhu cầu của mình Các đặc điểm về quy mô dân số, gia tăng dân số, cơ cấu và phân bố dân cư… điều ảnh hưởng đến CLCS dân cư Cụ thể:
+ Quy mô dân số: Quy mô dân số đông sẽ gây ra khó khăn trong việc đáp ứng các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần vốn hạn chế của xã hội, vốn đầu tư cho sản xuất ngày càng thấp từ đó gây áp lực đối với việc nâng cao CLCS dân cư Ngược lại, dân số ít sẽ gây ra sự khan hiếm về nguồn lực lao động, vốn là động lực chính cho sự phát triển Đi đối với quy mô dân số thì chất lượng dân số hay chất lượng nguồn lao động cũng là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến CLCS dân cư, đây là yếu tố có tính quyết định đến trình độ sản xuất và sự phát triển KT – XH của lãnh thổ Chất lượng lao động tỉ lệ thuận với CLCS dân cư
+ Gia tăng dân số: Bao gồm gia tăng tự nhiên và gia tăng cơ học, trong đó gia tăng tư nhiên có tác động hơn cả đến với CLCS dân cư Trong phạm vi của một quốc gia nếu tỉ lệ này vượt quá 3%/năm thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc nâng cao CLCS dân cư, do khối lượng của cải làm ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng của dân số Tốc độ gia tăng dân số quá cao hoặc quá thấp đều làm nảy sinh vấn đề mất cân đối cơ cấu dân số, từ đó ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao CLCS dân cư của địa phương, của quốc gia
Trang 30+ Cơ cấu dân số theo tuổi: Cơ cấu dân số trẻ làm nảy sinh nhiều vấn đề về cải thiện CLCS dân cư như tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm, thu nhập thấp, suy dinh dưỡng và tỉ lệ tử vong ở trẻ em cao do thiếu điều kiện về y tế, chăm sóc sức khoẻ, nạn thất học do thiếu điều kiện giáo dục… Ngược lại, cơ cấu dân số già sẽ dẫn tới tình trạng thiếu nguồn nhân lực, gây sức ép cho vấn đề an sinh xã hội… Bên cạnh đó, nếu
tỉ lệ người phụ thuộc (độ tuổi dưới và trên lao động) chiếm tỉ lệ cao, Nhà nước sẽ tốn nhiều chi phí đầu tư để đáp ứng nhu cầu như hệ thống giáo dục, y tế chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ khác… khi đó nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng ngày càng giảm, điều này sẽ ảnh hưởng đến vấn đề nâng cao CLCS dân cư
+ Di dân: Vấn đề này đã đặt ra những thách thức lớn đối với chính quyền các địa phương có người nhập cư Những người di dân, trong giai đoạn đầu thường có CLCS thấp và kéo dài, do đó CLCS dân cư thực sự được đảm bảo khi quá trình di dân được đặt dưới sự tổ chức, hướng dẫn của Nhà nước và theo quy hoạch phát triển KT – XH của địa phương…
+ Phân bố dân cư: Những nơi có điều kiện thuận lợi cả về tự nhiên, KT – XH thường là nơi dân cư tập trung đông đúc, đồng thời CLCS dân cư ở mức cao Ngược lại, những nơi có điều kiện ít thuận lợi cũng là nơi dân số thưa thớt CLCS dân cư cũng thấp hơn
- Nguồn lao động: Nguồn lao động được xác định là bộ phận năng động nhất của
dân cư tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là cơ sở để nâng cao CLCS dân cư
Nguồn lao động với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển thì bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường Với tư cách là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KT – XH, nguồn lao động bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động,
có khả năng tham gia lao động vào nền sản xuất xã hội, tức là toàn bộ cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Số lượng nguồn lao động có tác động hai mặt đối với phát triển KT – XH Nguồn lao động dồi dào là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, đây là lực lượng lao động
có sức lao động sung mãn nhất, tham gia lao động vào nền sản xuất xã hội, góp phần
Trang 31tăng thu nhập Ngược lại, nếu nguồn lao động lớn nhưng khả năng phát triển kinh tế chưa đáp ứng được nhu cầu đặc biệt là vấn đề việc làm thì sẽ là gánh nặng lớn cho tăng trưởng, phát triển kinh tế của lãnh thổ, tạo sự ép cho các vấn đề giáo dục, hệ thống an sinh xã hội… và nâng cao CLCS dân cư
Yêu cầu lớn nhất của nguồn lao động đối với nền sản xuất xã hội trong thời kì hội nhập đó là trình độ hay chất lượng nguồn lao động, đây là yếu tố cơ bản để đánh giá hiệu quả nguồn lao động Nguồn lao động chất lượng cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị -
xã hội, về đạo đức, tình cảm… Nguồn lao động chất lượng cao có thể không cần đông
về số lượng mà phải đi sâu vào thực chất Nguồn lao động chất lượng cao là điều kiện
để rút ngắn khoảng cách tụt hậu về nền kinh tế, là điều kiện cần thiết để hội nhập kinh
tế quốc tế, đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững, tạo ra năng suất lao động xã hội cao, tăng thu nhập, cải thiện CLCS
- Dân tộc: Sự phân hóa các dân tộc trong cùng một quốc gia có những ảnh hưởng
đáng kể đến CLCS Trong phạm vi của một lãnh thổ, các dân tộc đa số thường sinh sống ở những vùng đồng bằng, nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, cơ sở hạ tầng, bên cạnh đó trình độ hiểu biết, tiếp thu KHKT dễ dàng và cao hơn…, do đó CLCS ở mức cao Ngược lại, các dân tộc thiểu số thường cư trú ở những địa bàn vùng núi, vùng sâu vùng xa, trong khi đó trình độ nhận thức, hiểu biết và tiếp thu KHKT hạn chế, nên CLCS cũng thấp hơn
Trong thực tế, trên thế giới đang nổi lên sự tương phản về trình độ phát triển kinh
tế quá đó hình thành nên bức tranh về sự phân hóa CLCS dân cư Ở các nước phát
Trang 32triển có trình độ phát triển kinh tế cao thì CLCS dân cư ở mức cao Ngược lại, các nước đang phát triển, nhất là nước kém phát triển nền kinh tế ở mức thấp dẫn đến CLCS dân cư cũng ở mức thấp, nhiều nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như lương thực, nhà ở, nước sạch… không được đảm bảo Trong chính sách phát triển KT – XH của từng quốc gia, để nâng cao CLCS dân cư trước hết phải đẩy mạnh phát triển kinh
tế, song cần lưu ý thu nhập của người dân tăng không phải lúc nào cũng mang lại những kết quả tốt về phát triển con người mà những tiến bộ đáng kể về phát triển con người có thể đạt được ở những quốc gia, địa phương có GDP/người tăng chậm
c Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật
Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các trung tâm kinh tế, hệ thống cung cấp điện, cấp và thoát nước… Cơ sở vật chất kĩ thuật bao gồm hệ thống các yếu tố vật chất của sản xuất xã hội phù hợp với trình độ KHKT, mỗi phương thức sản xuất nhất định có một cơ sở vật chất kĩ thuật tương ứng Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành nông nghiệp là các trạm bơm, các công trình thủy lợi, các trung tâm giống…; của ngành công nghiệp là các nhà xưởng, máy móc…; của ngành dịch vụ là hệ thống nhà hàng, khách sạn, ngân hàng, trung tâm thương mại…
Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và nâng cao CLCS của dân cư, nó là tiền đề để đảm bảo cho các hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa diễn ra bình thường và thuận lợi Từ đó tạo điều kiện
để xây dựng, mở rộng các cơ sở giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ… Cơ sở vật chất hạ tầng, kĩ thuật tạo ra sức sản xuất mới đó là cơ sở để tăng năng suất lao động; làm chỗ dựa cho việc cải tạo và phát triển các ngành kinh tế quốc dân; tạo điều kiện hình thành nền kinh tế độc lập – tự chủ, tham gia vào hệ thống phân công lao động xã hội trong
và ngoài nước…
d Khoa học kĩ thuật và công nghệ
Nếu ĐKTN và TNTN cung cấp khả năng cho sự phát triển của lãnh thổ thì điều kiện KT - XH trong đó nổi bật lên đó là yếu tố KHKT và công nghệ (CN) sẽ giúp khai thác khả năng ấy hay quy định mức độ “biến” khả năng ấy thành hiện thực Không có KHKT và CN thì dù lãnh thổ đó có giàu có về tài nguyên thì cũng chỉ ở dạng tiềm năng, không thể tiến hành khai thác và tổ chức sản xuất hiệu quả Trong tiến trình phát
Trang 33triển của nền sản xuất xã hội, mỗi lần đổi mới CN là mang đến hiệu quả sản xuất nhanh chóng hơn, toàn diện hơn
Do đó, có thể nói KHKT và CN có vai trò rất lớn đối với phát triển kinh tế của lãnh thổ từ đó tác động đến quy mô của nền kinh tế và mức độ đáp ứng các dịch vụ trong đời sống… Tiến bộ KHKT và CN còn mở ra lối thoát lớn hay là giải quyết số lượng việc làm cho người lao động, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, hiệu quả sản xuất được nâng cao, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng thu nhập để cải thiện CLCS Bên cạnh đó, KHKT và CN có tác động đến hành vi, triển vọng của mỗi cá nhân, của cộng đồng và toàn xã hội, “làm phẳng” thế giới Các thành tựu của KHKT
và CN giúp nâng cao được khả năng chăm sóc sức khoẻ, điều trị các dịch bệnh, giáo dục phát triển đồng bộ, đời sống con người được cải thiện, tiện nghi hiện đại hơn…
e Đường lối chính sách
Đường lối chính sách phát triển bao gồm các chiến lược phát triển KT – XH, quy hoạch phát triển vùng lãnh thổ, các chính sách, đường lối phát triển các lĩnh vực khác của xã hội trong từng giai đoạn của Nhà nước và của từng địa phương Riêng chính sách, đường lối phát triển kinh tế gồm các chính sách đầu tư, chính sách ưu tiên phát triển các ngành kinh tế, trợ giúp về vốn, chính sách mở cửa hội nhập kinh tế Các chính sách thuộc các lĩnh vực khác gồm y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo,… Đường lối chính sách của quốc gia và địa phương có ảnh hưởng đáng kể đến CLCS dân cư… Chính sách xoá đói, giảm nghèo tạo ra cơ hội việc làm và thu nhập cho nhóm người nghèo; làm giảm bớt nguy cơ dễ bị tổn thương và tăng khả ứng phó với những rủi ro cho người nghèo… Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với người nghèo thông qua việc tạo lập môi trường thông thoáng cũng như hỗ trợ trực tiếp trong việc tiếp cận các cơ hội việc làm, tạo điều kiện vay vốn, nâng cao tay nghề…
Chính sách mở cửa hội nhập nền kinh tế giúp người dân dễ dàng tiếp cận với các trang thiết bị, KHKT và CN hiện đại dễ dàng hơn, giúp tăng năng suất lao động, thị trường trao đổi hàng hóa mở rộng, tạo cơ hội tăng thu nhập cho bộ phận dân cư
f Các nhân tố kinh tế - xã hội khác (Vốn, thể chế chính trị…)
- “Vốn là tiền của bỏ ra kinh doanh nhằm sinh lời Vốn tiền tệ luôn vận động và chuyển hóa về hình thái vật chất, đồng thời từ trạng thái vật chất sang hình thái tiền tệ”
Trang 34[49] Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt, nó không chỉ là nguồn lực quan trọng và là yếu tố cấp thiết đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có nền kinh tế đang và kém phát triển Vốn vừa là phương thức, vừa là điều kiện để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, vốn tạo ra khả năng huy động, sử dụng
và khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển KT – XH, tác động trực tiếp tới thu nhập của người lao động, cải thiện mức sống cho người dân
- Thể chế chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng quyết định tới an ninh và ổn định xã hội, do đó cũng tác động đến CLCS của người dân CLCS của người dân chỉ
có thể được đảm bảo khi đất nước hoà bình, xã hội ổn định
1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
1.1.3.1 Chỉ số phát triển con người (HDI) – Một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh CLCS
Phát triển con người là phát triển mang tính nhân văn vì con người và do con người Hàng năm, Tổ chức báo cáo phát triển con người (HDRO) của UNDP công bố báo cáo phát triển con người toàn cầu, trong mỗi báo cáo đều đề cập chỉ tiêu HDI Đây
là chỉ tiêu tổng hợp nhất, phản ánh CLCS dân cư của một quốc gia, một lãnh thổ Chỉ số phát triển con người ra đời là kết quả nghiên cứu của một nhóm chuyên gia kinh tế về phát triển nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của ông Mahbub ul Hap (nguyên
là Bộ trưởng Bộ kế hoạch và tài chính của Pakixtan, sau đó làm cố vấn đặc biệt cho
ban quản trị của UNDP) Theo đó, HDI được định nghĩa “HDI là thước đo tổng hợp về
sự phát triển con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng chung của họ
Đó là có sức khoẻ dồi dào, có trí thức và thu nhập cao” [52]
Theo quy định của HDRO, chỉ số phát triển con người tổng hợp của ba chỉ số thành phần: Chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục và chỉ số GDP/người:
- Chỉ số tuổi thọ: Phản ánh độ dài của cuộc sống và sức khoẻ, được đo bằng tuổi
thọ trung bình tính từ lúc sinh
- Chỉ số giáo dục: Phản ánh về trí thức, được đo bằng tỉ lệ người lớn biết chữ và
tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục
- Chỉ số GDP/người: Phản ánh về mức sống, được đo bằng tổng sản phẩm quốc
nội bình quân đầu người điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) theo đồng đô la Mĩ (USD)
Trang 35Đến năm 2010, UNDP đã điều chỉnh và đưa ra cách tính mới sát thực với thực tế hơn HDI vẫn đo với 3 phương diện như trên nhưng có sự thay đổi một vài chỉ số
thành phần, cách tính và giá trị biên (Xem phụ lục 1):
- Chỉ số tuổi thọ: Vẫn được đo bằng tuổi thọ nhưng thay đổi giá trị biên
- Chỉ số giáo dục: Thay đổi chỉ số thành phần và giá trị biên
+ Tỉ lệ người lớn biết chữ (%) thay bằng số năm đi học trung bình (năm)
+ Tỉ lệ nhập học các cấp (%) thay bằng số năm đi học kỳ vọng (năm)
- Chỉ số GDP/người được thay bằng GNI/người và điều chỉnh theo phương pháp
sức mua tương đương (PPP) theo đồng đô la Mĩ (USD)
Như vậy, có thể nhận thấy HDI là thước đo tổng quát về sự phát triển KT – XH của một quốc gia và là công cụ so sánh quốc tế về thành tựu phát triển con người và tiến bộ xã hội giữa các quốc gia trên thế giới Cách xác định chỉ số HDI mới của UNDP buộc các quốc gia phải nhìn nhận, đánh giá con người một cách nhân văn, thực
tế, không viễn vông
1.1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLCS dân cư nghiên cứu trong luận văn
Đối với lãnh thổ cấp dưới quốc gia như tỉnh hoặc huyện, do số liệu thống kê về các yếu tố của CLCS dân cư còn nhiều hạn chế nên các chỉ tiêu đánh giá có sự thay đổi cho phù hợp
a Nhóm chỉ tiêu về kinh tế
- GDP/người và thu nhập bình quân đầu người
+ GDP/người được tính bằng GDP chia cho dân số TB cùng thời kỳ nghiên cứu Chỉ tiêu này thường được tính hàng năm trên phạm vi cả nước và từng tỉnh, TP tương đương GDP/người tính theo giá thực tế, tính theo nội tệ hoặc ngoại tệ GDP/người là chỉ tiêu quan trọng dùng để so sánh, đánh giá trình độ phát triển kinh tế và mức sống dân cư giữa các quốc gia, hoặc giữa các tỉnh, TP tương đương và các vùng
+ Thu nhập bình quân đầu người: Là mức trả công lao động mà người lao động nhận được trong khoảng thời gian nhất định (tháng hoặc năm) và được tính bằng VNĐ/tháng hoặc VNĐ/năm [45]
+ Thu nhập bình quân của hộ gia đình: Là toàn bộ tiền và giá trị hiện vật (đã trừ chi phí và thuế sản xuất) mà hộ và thành viên của hộ nhận được trong một khoảng thời
Trang 36gian nhất định (thường là một năm), từ các nguồn: Tiền công, tiền lương; Hoạt động sản xuất nông – lâm – thủy sản; Hoạt động sản xuất các ngành nghề; Các hoạt động khác không bị pháp luật ngăn cấm [45]
- Chuẩn nghèo và tỉ lệ hộ nghèo
+ Chuẩn nghèo: Là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người được dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo Những người hoặc hộ có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ
nghèo [45] Quy định mức chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2015 (Xem
phụ lục 2)
Chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm: Được xác định bằng giá trị của một rổ hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là 2.100 Kcal
Chuẩn nghèo chung: Được xác định bằng chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm cộng với mức chi tối thiểu cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm, gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn hóa giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc, v.v + Tỉ lệ nghèo: Là phần trăm giữa số người hoặc số hộ có mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu [45]
b Nhóm chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khoẻ
Hoạt động y tế có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và liên quan chặt chẽ đến CLCS dân cư, Hơn nữa, hoạt động y tế còn tác động lớn đến mức gia tăng dân số tự nhiên, điều này được thể hiện rõ nhất qua mức sinh và mức tử của lãnh thổ, từ đó tác động đến vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế của lãnh thổ Nghiên cứu CLCS dân
cư ở cấp tỉnh, chỉ tiêu này biểu hiện ở một số khía cạnh:
- Tuổi thọ trung bình (còn gọi là triển vọng sống):
Là số năm bình quân của một người mới sinh ra có khả năng sống được trong
suốt cuộc đời Tuổi thọ trung bình được thống kê theo cả nước, từng vùng và từng tỉnh, thông qua chỉ số này giúp chúng ta đánh giá được trình độ phát triển kinh tế, điều kiện sống, mức thu nhập, điều kiện giáo dục, điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ ở
các nước, các vùng và tỉnh
Trang 37- Số cán bộ y tế hoặc số giường bệnh/1 vạn dân: Là tương quan giữa số cán bộ y
tế (bao gồm: Bác sĩ, y sĩ, y tá) hoặc số giường bệnh so với số dân trong cùng một thời
điểm Trong đó, chỉ tiêu quan trọng là số bác sĩ/1 vạn dân
- Chi tiêu y tế/1 người dân: Là tương quan giữa ngân sách dành cho y tế so với số
dân trong cùng một thời điểm Chỉ tiêu này phụ thuộc rất lớn vào trình độ phát triển
kinh tế và chính sách xã hội của địa phương
- Tỉ lệ người lớn biết chữ: Là tỉ lệ phần trăm giữa số người từ 15 tuổi trở lên biết
đọc, hiểu và viết (phải hiểu được một câu ngắn, đơn giản về cuộc sống hàng ngày) so
với tổng số dân
- Tỉ lệ nhập học tổng hợp: Là tỉ lệ phần trăm giữa số HS ở tất cả các bậc học (từ tiểu học đến THPT) so với tổng số dân trong độ tuổi đi học
- Tỉ lệ học sinh trung học phổ thông/tổng số học sinh: Là tỉ lệ phần trăm giữa số
HS bậc THPT so với tổng số HS Chỉ số này có liên quan chặt chẽ đến mức thu nhập,
mức sống của người dân, qua đó phản ánh chất lượng giáo dục của địa phương
- Chi tiêu giáo dục/1 học sinh phổ thông: Là tương quan giữa tổng ngân sách dành cho giáo dục so với tổng số HS đi học trong cùng một thời điểm
d Nhóm chỉ tiêu về điều kiện nhà ở, sử dụng điện, nước sinh hoạt và VSMT
Các điều kiện về nhà ở, sử dụng điện, nước sinh hoạt và VSMT là một trong những nhu cầu quan trọng đối với cuộc sống, ở đó thể hiện rõ mức thu nhập, mức sống của mỗi người dân
- Điều kiện nhà ở: Nhà ở có vai trò quan trọng trong việc ổn định cuộc sống, góp
phần nâng cao CLCS dân cư Khi đánh giá điều kiện nhà ở, thường dựa vào hai tiêu chí: Diện tích và chất lượng nhà ở Diện tích nhà ở được đo bằng m2/người, còn chất lượng nhà ở được xác định bằng tính chất kiên cố của ngôi nhà, dựa vào tính chất này
Trang 38người ta chia thành: Nhà ở kiên cố, nhà ở bán kiên cố, nhà ở thiếu kiên cố và nhà tạm Nhà kiên cố là nhà có cả 3 kết cấu chính: Cột, mái, tường đều được làm bằng vật liệu bền chắc; nhà bán kiên cố là nhà có 2 trong 3 kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền chắc; nhà thiếu kiên cố là nhà có 1 trong 3 kết cấu chính được làm bằng vật liệu bền
chắc; nhà đơn sơ là nhà có cả 3 kết cấu chính được làm bằng vật liệu không bền chắc
- Điều kiện sử dụng điện sinh hoạt: Nhu cầu và khả năng sử dụng điện phản ánh
trình độ phát triển KT – XH và mức sống của người dân ở mỗi quốc gia Đây cũng là yếu tố quan trọng tạo nên CLCS dân cư trong thời đại ngày nay Trong một số tài liệu thống kê có thể thấy một số chỉ tiêu phổ biến phản ánh điều kiện sử dụng điện sinh
hoạt gồm có: Tỉ lệ các xã có điện, tỉ lệ số hộ sử dụng điện lưới quốc gia…
- Điều kiện sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường: Sử dụng nước sạch luôn là
nhu cầu bức thiết và cơ bản của con người, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi mà vấn đề môi trường luôn đặt lên vị trí hàng đầu Tiêu chuẩn để xem xét điều kiện sử dụng nước sạch có ảnh hưởng tới CLCS dân cư là: Tỉ lệ người dân được sử dụng nguồn nước sạch bao gồm: Nguồn nước máy, nước ngầm, nước khai thác từ nguồn lộ
thiên đã qua xử lý…
Ngoài ra, khi đời sống con người ngày càng nâng cao thì vấn đề vệ sinh môi trường càng được chú trọng, các chỉ tiêu liên quan đến vệ sinh môi trường để đánh giá CLCS dân cư như: Tỉ lệ hộ gia đình có nhà vệ sinh tự hoại và bán tự hoại, tỉ lệ rác thải
sinh hoạt được thu gom…
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Khái quát về chất lượng cuộc sống dân cư của Việt Nam
Trải qua gần 40 năm xây dựng và phát triển, trình độ phát triển kinh tế và CLCS dân cư của Việt Nam đã có những thay đổi Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu trở thành nước có nền kinh tế đang phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dần theo hướng tích cực, vấn đề về giáo dục, y tế và các điều kiện sống khác có sự cải thiện đáng kể
1.2.1.1 Nhóm chỉ tiêu về kinh tế
a GDP/người và thu nhập bình quân đầu người
Ở nước ta, trong quá trình củng cố, kiện toàn và phát triển đất nước nhất là trong quá trình CNH – HĐH hiện nay, việc đầu tư đảm bảo CLCS cho người dân luôn được
Trang 39đẩy mạnh, do đó các chỉ tiêu về kinh tế liên tục thay đổi theo chiều hướng tích cực Từ năm 2000 đến năm 2013, GDP của nước ta liên tục tăng lên, một số giai đoạn tăng lên nhanh Nếu như quy mô GDP năm 2000 là 441,6 nghìn tỉ đồng thì đến năm 2013 là 3.584,3 nghìn tỉ đồng
Bảng 1.1: GDP và GDP/người của Việt Nam giai đoạn 2000 – 2013 (giá TT) [38]
Bên cạnh đó, giữa các địa phương của Việt Nam, GDP và GDP/người cũng có sự
khác biệt và khoảng cách chênh lệnh này còn khá lớn (Xem phụ lục 3) Sự chênh lệch
này dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội và hệ quả là xuất hiện một bộ phận dân cư được gọi là người nghèo, hộ nghèo
Giữa các vùng kinh tế của nước ta, có thể nhận thấy, với tiềm lực kinh tế mạnh thì Đông Nam Bộ là vùng có GDP/người cao nhất cả nước với 13,5 triệu đồng năm
2000 tăng lên 85,7 triệu đồng năm 2013, cao gấp hơn 2 lần so với cả nước Trong khi
đó, ở vùng TDMN phía Bắc thì chỉ 2,7 triệu đồng năm 2000 và đến năm 2013 là 25,7 triệu đồng, thấp hơn so với cả nước mức dao động từ 0,45 – 0,65 lần
b Thu nhập bình quân đầu người
Trong giai đoạn từ 2000 – 2013, TNBQĐN dần dần có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn còn chênh lệch giữa các vùng, các địa phương trong cả nước và theo từng nhóm
Chỉ tiêu
Trang 40thu nhập Theo thời gian, TNBQĐN/tháng đều tăng tương đối nhanh, từ 356 nghìn đồng/người/tháng năm 2000 lên 2.000 nghìn đồng/người/tháng năm 2012, mức tăng gần 6,0 lần Theo không gian, thành thị có TNBQĐN/tháng cao hơn nông thôn, cao gấp khoảng 1,9 đến 2,3 lần trong giai đoạn 2000 – 2012
Bảng 1.2: TNBQĐN/tháng phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng
của Việt Nam giai đoạn 2002 – 2012 (giá thực tế) [44], [45], [46]
Hơn nữa, giữa các vùng trong cả nước, TNBQĐN/người cũng có sự khác biệt, cao nhất là vùng Đông Nam Bộ, tiếp đến là ĐB Sông Hồng, hai vùng này có mức TNBQĐN/tháng cao hơn mức trung bình của cả nước Các vùng còn lại có mức TNBQĐN/tháng thấp hơn mức trung bình của cả nước, trong đó thấp nhất là vùng TDMN phía Bắc với 1.258 nghìn đồng/người/tháng năm 2012
Nhìn chung, TNBQĐN/tháng của nước ta thu nhập từ nhiều nguồn, riêng năm
2012 TNBQĐN/tháng đạt 2.000 nghìn đồng/người/tháng bao gồm các nguồn thu: Tiền lương, tiền công (46,2%); từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (17,0%); từ lâm nghiệp (0,7%), từ thủy sản (2,2 %); từ công nghiệp (4,1%%); từ xây dựng (0,7%); từ thương nghiệp (10,2%); từ dịch vụ (7,2%); từ các nguồn thu khác (11,9%) [45]