NHỮNG PHẦN TRÍCH DẪN TỪ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA TRẦN QUỐC TUẤN, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NƯỚC ĐẠI VI
Trang 1
NHỮNG PHẦN TRÍCH DẪN TỪ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA TRẦN QUỐC TUẤN, GIÁ
TRỊ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA NÓ
CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI NƯỚC ĐẠI VIỆT THẾ KỶ XIII ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC CỦA
TRẦN QUỐC TUẤN
Các bậc vĩ nhân, triết gia của mỗi thời đại, dân tộc không phải từ trên trời rơichu, hay là nấm dại từ dưới đất mọc lên mà họ chính là kết tinh, sản phẩm của mộtdân tộc mình, một giai đoạn lịch sử nhất định Tư tưởng là sự phản ánh chân thựcnhất của tồn tại khách quan Tồn tại đó đã quy định những đặc điểm cố hữu của tưtưởng Nói chính xác hơn, nội dung, đặc điểm của một tư tưởng nào đó được quyđịnh bởi một tồn tại xã hội thời kỳ lịch sử nhất định Chính vì vậy, những tư tưởngcủa họ là bức tranh thu nhỏ, là lăng kính giúp chúng ta có một cái nhìn nhận đúngđắn, khách quan, chân thực nhất về thực tiễn lịch sử, kinh tế, chính trị, và xã hộicủa một thời kỳ hay quốc gia dân tộc nhất định Như C.Mác (K.Marx) từng nói:
"Con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình lấy mà là làm theo những điều kiện nhất
định trực tiếp sẵn có, do quá khứ để lại" [C Mác, F Ăngghen, Tuyển tập, Tập 1,
Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 377] Không nằm ngoài quy luật khách quan đó, khi
Trang 2nghiên cứu tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấn chúng ta không thể bỏ qua cácđiều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị và xã hội Đại Việt cuối thể kỷ XII đầu thế kỷXIII Tư tưởng của Trần Quốc Tuấn gắn liền với hai yếu tố vô cùng quan trọng đó
là sự chuyển giao quyền lực chính trị từ nhà Lý sang nhà Trần và cuộc chiến khángchống quân Nguyên – Mông thế kỷ XIII
1.1 Điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Đại Việt thế kỷ XIII đối với sự hình thành tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấn
Triều đại nhà Lý là vương triều tồn tại lâu nhất Việt Nam với hơn 200 năm đã
có công xây dựng một nước Đại Việt giàu mạnh, thịnh cường gắn với công lao tolớn của các vị vua anh minh, hào kiệt từ Lý Thái Tông đến Lý Anh Tông Đỉnh caohuy hoàng và thịnh vượng của nhà Lý tồn tại không được bao lâu đã phải đi đếngiai đoạn suy thoái trầm trọng Nhà Lý đã trượt dài trên vết nhơ không có điểmdừng, một vương triều mà sự nhu nhược, thiển cận, suy đồi đạo đức của các bậcminh quân cuối cùng, và sự lộng hành của những kẻ gian thần là nguyên nhân trựctiếp đưa Đại Việt đứng trước bờ vực của sự sụp đổ cả về mặt chính trị và kinh tế.Chính những điều đó đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự suy yếu, lung lay tột
độ của toàn bộ nền thống trị nhà Lý Đồng thời, sự áp bức của triều đình đối vớinhân dân Đại Việt đã vượt quá giới hạn cho phép của lịch sử
Trong bối cảnh biến động, nhà Trần là thế lực mạnh và có uy quyền nhất trongtriều đình nhà Lý Sự ra đời của nhà Trần gắn liền với vai trò quan trọng của TrầnThủ Độ Ông là người có công trực tiếp chỉ đạo điều hành công việc truyền ngôi từnhà Lý là vua Lý Chiêu Hoàng sang nhà Trần là Trần Cảnh; nhà Trần thành lậpnăm 1225 Nhà Trần thay thế nhà Lý là một quá trình tất yếu khách quan, thuậntheo ý trời, lòng dân nhằm đáp ứng nhu cầu ổn định chính trị đất nước, tạo nên mộtsức mạnh để chống giặc ngoại xâm Nguyên - Mông Thời Trần là giai đoạn phát
Trang 3triển rực rỡ của chế độ phong kiến Việt Nam gắn với cuộc kháng chiến trường kỳchống giặc xâm lược Nguyên – Mông Có thể thấy rằng, nhà Lý suy tàn nhườngngôi cho nhà Trần là hợp quy luật lịch sử phát triển của các triều đại phong kiếnViệt Nam
1.1.1 Về kinh tế
Nông nghiệp
Nhà Trần có một bước tiến vượt bậc hơn nhà Lý khi đã phong thưởng và bancấp ruộng đất cho quan lại, quý tộc Đại Việt thời Trần mang đậm nét đặc trưng củamột nhà nước nông nghiệp có cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu ruộng đất Trong chế
độ này bao gồm 2 loại: chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất thông qua công xã
nông thôn giữ vai trò chủ đạo và chế độ sở hữu ruộng đất tư nhân: "Cơ sở kinh tế của xã hội thời Lý – Trần (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII) về cơ bản là chế độ sở hữu
nhà nước về đất đai thông qua công xã nông thôn".[Trương văn chung, tư tưởng
triết học của thiền phái Trúc lâm đời trần, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1998, tr.14]
Sở hữu nhà nước về ruộng đất thông qua công xã nông thôn với quan điểmđất của vua, chùa của bụt là một biểu hiện của sự thống trị, uy quyền, thắng thế củacác vị vua thời Trần Sở hữu nhà nước được cấu thành từ hai bộ phận chính ruộngđất do nhà nước trực tiếp quản lý và ruộng đất công làng xã (địa phương) cai quản
Thứ nhất, ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý là tài sản nhà vua và hoàng cung, một loại tư hữu đặc biệt mà những hoa lợi bóc lột là của riêng vua Bộ phận ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý có sơn lăng, tịch điền và quốc khố Có thể khẳng định rằng, cả hai loại ruộng sơn lăng và tịch điền là ruộng mang đặc trưng
của vua quan và quý tộc phong kiến Việt Nam, mà đặc biệt là thời Trần Trong đó,Sơn Lăng là đất phần mộ vua quan và quý tộc nhà Trần Săn lăng không chỉ có ở
Trang 4thời Trần mà nó được xuất từ thời Lý: "Năm 1010 đời Lý Thái Tông, xa gia nhà vua đến Châu Cổ Pháp yết lăng thái hậu, sai các quan do đất vài mươi dặm đặt
làm cấm địa thuộc sơn lăng"[Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1980), Viện sử học, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
tr 18] Tiếp theo, tịch điền là loại ruộng do nhà vua tự giẫm chân mà cày, hoặc
mượn sức dân mà cày, nơi nào nhà vua tới làm lễ cày thì chỗ đố gọi là tịch điền
Thời Lý, Vua cày ruộng tịch điền là nghi thức tượng trưng khuyến khích nông nghiệp, lấy nông làm gốc:"Mùa đông, tháng 11, sai tể thần, tôn thất và các quan
gặt ruộng tịch điền" [viện khoa học xã hội Việt Nam: Đại việt sử ký toàn thư,
t.2 tr101] Sang thời Trần, các vị vua đã giao công việc cày ruộng tịch điền lại, tế
thần và tôn thất thực hiện và sản phẩm thu được từ ruộng tịch điền đều vào kho
riêng của vua Có thể nói, sơn lăng và tịch điền thời Trần là hai loại ruộng thuộc sở
hữu của nhà nước với mục đích thúc đẩy sản xuất nông nghiệp qua các nghi thức,nghi lễ và nơi thờ cúng của dòng họ nhà vua Đây là hai loại ruộng mang tính chấttượng trưng tín ngưỡng hơn ruộng đất sản xuất Qua đó, Nhà Trần đã tích cựcquan tâm đến quá trình sản xuất nông nghiệp đây là lĩnh vực hàng đầu giữ vai tròđầu tàu của nền kinh tế Đại Việt thời Trần thế kỷ XIII
Thứ hai, ruộng đất công xã của thôn làng hay còn gọi là quan điền hay quan
điền bản xã thời Trần đã được triều đình "bán ruộng công, mỗi một diện là 5
quan"[viện khoa học xã hội Việt Nam: Đại việt sử ký toàn thư, t.2 tr25] Sở
hữu ruộng đất công làng thuộc về nhà nước theo quan niệm dân gian đất của vua
và phân bố không đều: "nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc, người không có
ruộng đất thì miễn cả" [viện khoa học xã hội Việt Nam: Đại việt sử ký toàn thư,
t.2 tr19] Ngoài ra, nhà Trần đã có chế độ tô thuế đối với từng loại ruộng đất công
làng xã, năm 1242: "nhân đinh có ruộng đất thì nộp tiền thóc Có 1,2 mẫu ruộng thì nộp 1 quan tiền, có 3,4 mẫu thì nộp 2 quan tiền, có từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3
Trang 5quan tiền Tô ruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc" [viện khoa học xã hội Việt
Nam: Đại việt sử ký toàn thư, t.2 tr19 Thời Trần, người có ruộng công làng xã
phải nộp bằng thóc và một số tiền gắn với diện tích canh tác nhất Chính việc nộpthuế của nông dân làng xã thời Trần vừa là nộp thuế, vừa là địa tô, đây còn là đặctrưng của phương thức sản xuất châu Á
Bên cạnh việc phát triển nền kinh tế nhà nước, vua nhà Trần đã ban thưởng và
cấp lương bổng cho quý tộc, quan lại bằng phong cấp là thái ấp và điền trang "là hai bộ phận quan trọng có ý nghĩa quyết định tính chất loại hình sở hữu ruộng đất
phong kiến quý tộc thời bấy giờ" [Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2002), Trần Quốc Tuấn – nhà quân sự thiên tài, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, tr 76] Trong đó, Thái ấp là một điểm khác biệt so với thời kỳ nhà Lý Có
thể thấy rằng, Thái ấp là một biểu hiện của sự quan tâm, hậu đãi của triều đình đốivới quý tộc, quan lại dưới quyền, để thu phục lòng người, lòng trung thành tuyệtđối từ đó đoàn kết vua tôi tạo nên sức mạnh phát triển đất nước vững bền Tất cảthái ấp thời Trần đều thực hiện theo quan hệ dòng họ với lực lượng sản xuất nông
nô mang tính khép kín, vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của quan hệ kinh tế thân
tộc: "Theo quy chế nhà Trần, các vương hầu đều ở phủ đệ nơi hương ấp của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc lại về phủ đệ Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả Đến khi vào triều làm
tể tướng, mới thống lĩnh việc nước Nhưng cũng chỉ nắm đại cương thôi, còn quyền thì thuộc về hành khiển Người khinh lại thành trọng, người trọng lại thành kính, mà không phải lo thêm một tầng công việc, cũng là có ý bao toàn vậy Vả lại, như năm Đinh Tỵ đời Nguyên Phong, giặc Nguyên sang cướp, các vương hầu cũng đem gia đồng và hướng binh thổ hào làm quân cần vương Trong sự biến đời Đại Định lại đem người thôn trang sắm sửa nghi trượng đi đón vua, đó cũng làm vững
cái thế duy thành vậy" [Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký
Trang 6toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, tập 2, tr 32] Bên cạnh, tổ chức sản xuất kinh tế phát triển, thái ấp
thời Trần là nơi đào tạo và xây dựng quân đội địa phương mạnh cùng với triều đìnhtạo nên sức mạnh toàn diện Đồng thời, thái ấp là một biểu hiện cao nhất của kếsách giữ nước để chiến thắng giặc ngoại xâm hung dữ làm rạng danh non sông của
nhân dân Đại Việt thời Trần Bên cạnh thái ấp, điền trang là hình thức thứ hai của
sở hữu tư nhân về ruộng đất ra đời đầu thời nhà Trần Điền trang cũng là ruộng đấtvương hầu quý tộc tôn thất được nhà nước cho phép thành lập ở các đất hoang
Năm 1266, Triều đình nhà Trần đã cho phép: "vương hầu, công chúa phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai khẩn ruộng bỏ
hoang, lập thành điền trang Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy"[đại việt sử
ký toàn thư, tập 2, tr 36] Nếu thái ấp lấy quan hệ dòng họ làm nền tảng thì
ngược lại điền trang là quan hệ bóc lột địa chủ đối với tá điền nông nô hoặc nô tì
Như vậy, Thái ấp và điền trang là hai tổ chức kinh tế quan trọng có ý nghĩa
quyết định đến phát triển vững vàng của loại hình sở hữu ruộng đất phong kiến quý
tộc trong suốt thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIX Sự phát triển mạnh điền trang và
thái ấp chứng minh quyền lực nhà nước quân chủ chuyên chế nhà Trần chưa thực
sự mang tính tập trung, triệt để mà: "là một hình thức tản quyền, thừa nhận chế độ chủ động, tự quản của từng khu vực lãnh thổ, qua đó có thể làm gia tăng sản xuất trong nước, tăng thêm sức mạnh cho nhà nước trung ương, góp phần tăng cường
lực lượng quân sự, làm cho việc chống ngoại xâm thêm thuận lợi hơn "[Phan Đặng Thanh, Trương Thị Hòa (1995), Lịch sử các định chế và pháp quyền VIệt
Nam, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 220] Thái ấp và điền trang
cùng với sở hữu ruộng ruộng đất nhà nước tạo nên một khối đoàn kết về mặt lợiích làm tiền đề cơ bản thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, phát triển nền kinh tế và bảo
vệ Tổ quốc thời Trần cả thời bình lẫn thời chiến tranh
Trang 7Có thể nói, nhà Trần đã tiếp tục kế thừa những thành tựu về chế độ sở hữuruộng đất của nhà Lý trong việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp lúa nước Trongchế độ sở hữu về ruộng đất nhà Trần là sở hữu ruộng đất của nhà nước và sở hữuruộng đất tư nhân với các hình thức tiêu biểu Trong đó, sở hữu nhà nước chiếm vịtrí thống trị, trung tâm, còn sở hữu tư nhân đang thực hiện vai trò tiên phong mởđường, là mầm mống cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp thời Trần
Trần Quốc Tuấn sinh ra và lớn lên trong công cuộc xây dựng để phát triển nềnkinh tế của nhà Trần Theo Trần Quốc Tuấn, yêu nước là phải làm sao để đất nước,thái ấp được phát triển mạnh mẽ và đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần của nhândân được ấm no, hạnh phúc muôn đời Trần Quốc Tuấn chỉ rõ phát triển nền kinh
tế đất nước thì phải đảm bảo được lợi ích kinh tế trước tiên là gia tộc, tiếp theo làquyền lợi của toàn dân, và cả nước Chính tình yêu quê hương, đất nước sâu sắcTrần Quốc Tuấn cùng vua dân nhà Trần ra sức thực hiện hai chế độ kép về ruộngđất, một mặt ông muốn xây dựng chế độ sở hữu ruộng đất nhà nước để đem lạinguồn lợi kinh tế để duy trì và phát triển bộ máy chính quyền trung ương của triềuđình Mặt khác, Trần Quốc Tuấn đã tạo điều kiện thuận lợi cho chế độ sở hữuruộng đất tư nhân phát triển với điển hình là điền trang và thái ấp Ông đã kêu gọi
sự đoàn kết của các gia nô như Yết Kiêu và Dã Tượng trong thái ấp của mình đểtăng cường khai hoang đất đai, cùng ăn, cùng làm để phát triển kinh tế giàu mạnh
và ngược lại nếu không tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp thì: "Chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lọc của các ngươi cũng về tay người kẻ
khác"[Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo
bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2,
tr 83] Chúng ta nhận thấy ở Trần Quốc Tuấn một tình yêu nước đúng đắn và gắn
liền với thực tiễn lợi ích kinh tế, xã hội của quốc gia, dân tộc chứ không phải là thểhiện qua câu chữ bay bổng Tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấn thể hiện qua
Trang 8việc ý thức được vai trò quan trọng của việc xây dựng, phát triển kinh tế nhà nướcngày càng giàu mạnh, thịnh vượng từ đó tạo điều kiện thuận lợi để chăm lo tốt hơncho đời sống vật chất và tinh thần nhân dân được ấm no hạnh phúc, đất nước được
duy trì thịnh vượng muôn đời với mong muốn thái ấp của ông được lưu truyền
muôn đời, mà còn giúp đem đến lợi cho nhân dân, tướng sĩ dưới quyền Theo ông,
lòng yêu nước không chỉ thể hiện trong chiến tranh kiên cường chống giặc ngoạixâm mà còn khắc họa trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế đất nước.Tâm nguyện cao cả nhất của vị tướng yêu nước Trần Quốc Tuấn là xây dựng mộtđất nước phồn vinh, thái bình, giàu mạnh, đời sống nhân dân luôn ấm no hạnhphúc Đây là nền tảng và cở sở để hình thành tư tưởng yêu nước, thôi thúc ôngchống giặc Nguyên – Mông gìn giữ độc lập, bảo vệ chủ quyền, thành quả đất nướcđạt được
Bên cạnh phát triển chế độ sở hữu ruộng đất, nhà Trần tăng cường các biệnpháp khuyến nông bằng việc tổ chức xây dựng và củng cố công trình thủy lợi, trịthủy trong phạm vi cả nước Chính vì thế, nông nghiệp nhà Trần đã phát triển rực
rỡ và ổn định Các vua Trần nhận thức rõ muốn bảo vệ mùa màng, nhà cửa, tínhmạng con người một cách ổn định lâu dài nên đã đề ra các chức quan hà đề sứ,
chánh phó sứ phụ trách việc đề điều: "Đắp đê để giữ nước sông gọi là đê quai vạc, đắp suốt từ đầu nguồn cho tới bờ biển để ngăn nước lũ tràn ngập Đắp đê quai vạc
bắt đầu từ đấy" [Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư
dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, tập 2, tr.19] Đây là một công việc quan trọng, bước ngoặt to lớn trong lịch sử
trị thủy, thủy lợi nước ta Hình ảnh Đê đỉnh nhĩ là hình ảnh nhân hóa của một biểu
tượng sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để đối phó và chế ngự lại thiên nhiên khắcnghiệt Theo Trần Quốc Tuấn thì việc đoàn kết toàn dân trong công cuộc thủy lợi,trị thủy thời Trần làm cơ sở tiền đề hình thành nên truyền thống đoàn kết, yêu
Trang 9nước, chống ngoại xâm lược của dân tộc Tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấncũng không nằm ngoài sự tác động của truyền thống đó Ngoài ra, Ông cho rằng
thực hiện tốt chính sách "ngụ binh ư nông" để phát huy cao độ sức mạnh của quân
dân trong việc đắp đê và kiến thiết, tu bổ các trình thủy lợi Thời kỳ nhà Trần đểxây dựng các công trình công cộng như trị thủy, thủy lợi, tạo cơ sở vật chất cho sảnxuất nông nghiệp đã huy động hai nguồn sức mạnh trong tầng lớp nhân dân vàbinh lính trong quân đội
Như vậy, nhà Trần là nhà nước quân chủ chuyên chế luôn đặt lợi ích của giatộc, nhân dân và dân tộc lên trên hết thông qua việc lo lắng đến phát triển sản xuấtnền nông nghiệp lúa Đặc trưng của nền nông nghiệp thời Trần là sự tồn tại songsong chế độ sở hữu kép về ruộng đất nhằm phát huy mọi nguồn lực của cải và sứclực của nhân dân, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Các công trình trị thủy
và thủy lợi thời Trần đã góp phần quan trọng vào sự phát triển nền nông nghiệp vànhằm bảo vệ người, bảo vệ ruộng đất, bảo vệ cây trồng và gia súc Hơn thế, cáccông trình đó còn là một minh chứng sinh động của tinh thần kiên cường, đoàn kếttương trợ lẫn nhau, một tình yêu nước nồng nàn để chế ngự lại sức mạnh của thiênnhiên
Chính một nền kinh tế nông nghiệp giàu mạnh, đã tạo điều kiện thuận lợi chothủ công nghiệp thời Trần có bước phát triển chuyển bước tiến bộ rõ nét Thủ côngnghiệp nhà Trần là giai đoạn phát triển cao và đạt nhiều thành tựu bao gồm thủcông nghiệp nhà nước và nhân dân tồn tại, phát triển đan xen nhau Trong đó, thủcông nghiệp nhà nước nhà Trần tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ công nghiệp vớimục đích sản xuất các đồ gốm, xưởng chế tạo vũ khí, đúc tiền, xây dựng đền đàicung điện và tập trung chủ yếu ở kinh thành Thăng Long, Thiên Trường Thủ côngnghiệp trong nhân dân thời Trần cũng được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là nghề
Trang 10dệt thể hiện rõ nét trong các hình thức văn học, nghệ thuật, đặc biệt qua bài thơ
"Trăng" của Trần Nhân Tông với tiếng chày nện vải:
"Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai"
Dịch:
"Thức dậy, tiếng chày đập vải tơ đã vắng ngắt
Bóng trăng vừa hé gọi trên chùm hoa mộc"
[Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học: Thơ văn Lý – Trần, Nxb.
Khoa học xã hội, 1989, t.2, quyển thượng, tr.465]
Nghề dệt vải là một biểu tượng phản ánh sự phát triển rực rỡ của nền thủ côngnghiệp nói chung và thủ công nghiệp trong nhân dân nói riêng Ngoài ra, nhân dânĐại Việt phát triển các hàng mỹ nghệ, kim hoàn với các sản phẩm làm bằng vàng,bạc, ngọc trai đá quý cũng được chế tạo đẹp và vô cùng tinh xảo Các sản phẩmcủa thủ công nghiệp nhân dân thời Trần là sự kết tinh cao nhất tình yêu lao độngsản xuất, phát huy trí tuệ thông minh, cần cù, sáng tạo giúp nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần cho nhân dân nhân dân Đại Việt Đây là một biểu hiện quan tâmcủa nhà nước đối với đời sống nhân dân nhiều hơn, đảm bảo cho sự đoàn kết nhândân cả nước
Thương nghiệp, thời Trần đã phát triển lớn mạnh nền nông nghiệp và thủ
công nghiệp để tạo nền tảng, cơ sở cho hoạt động buôn bán diễn ra sầm uất, chợxuất hiện với quy mô ngày càng nhiều Trong ba ngành, nông nghiệp, công nghiệp
và thương nghiệp thì thương nghiệp là ngành thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ củanền kinh tế Nhà Trần đã nhận thức được điều đó, các vua Trần đã tích cực xây
Trang 11dựng một hệ thống giao thông thủy bộ trong phạm vi cả nước Thương nghiệp pháttriển không chỉ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, mà nó còn giúp cho việc giao lưuvăn hóa được mở rộng của nhà Trần với các quốc gia trong khu vực và thế giới.Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển vượt bậc thì việc ra đời của một phươngthức thanh toán mới bằng tiền tệ là điều tất yếu, hữu dụng Chính vì vậy, nhà Trầnchú trọng phát triển lĩnh vực tiền tệ trở thành một phương tiện lưu thông hàng hóa:
"Xuống chiếu cho dân gian dùng tiền "tỉnh bách" mỗi tiền là 69 đồng Tiền nộp
cho nhà nước (tiền "thượng cung") thì mỗi tiền là 70 đồng" [Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa
thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr 9] Quan hệ tiền tệ cũng
xâm nhập vào đời sống chính trị, dần dần khẳng định vị trí, vai trò thông qua việcnhà nước xuống chiếu quy định việc thu thuế, thưởng phạt bằng tiền Năm 1396,
nhà Trần đã phát hành tiền giấy Thông báo hội sao, và chủ trương đổi tiền xu thành
tiền giấy theo những thể thức nhất định Sự ra đời của tiền giấy là một điểm tiến bộhơn so với nhà Lý, là một cơ sở quan trọng thúc đẩy quá trình sản xuất, buôn bán,tiêu dùng kinh tế nông nghiệp nhà Trần được thuận lợi, phát triển, thịnh vượng
Suy ra nền kinh tế thời Trần so với thời Lý đã trội hơn về mọi mặt Nhà Trần
quan tâm, chú trọng công việc phát triển kinh tế nông nghiệp thông qua việc pháthuy sức mạnh toàn dân tộc Kinh tế nhà Trần là một đại diện tiêu biểu của phươngthức sản xuất châu Á, thể hiện sức mạnh của giai cấp thống trị nhằm đảm bảo cho
sự phát triển toàn diện của đất nước Đại Việt Đời sống của nhân dân đã được cảithiện, không ngừng nâng lên Cơ sở, nguồn gốc sự phát triển của kinh tế Đại Việtthời Trần chính là lòng yêu nước, yêu quê hương, ý thức tự tôn dân tộc, tinh thầnđoàn kết vua dân một lòng xây dựng một quốc gia thịnh vượng và thái hòa Vì vậy,thời Trần là thời kỳ mang đậm hào khí Đông A đã tạo ra một thế hệ những conngười thiên tài, trung quân ái quốc, suốt đời chỉ nghĩ cho sự an nghi của Tổ quốc,
Trang 12tiêu biểu nhất là Trần Quốc Tuấn Ông là một người con Đất Việt, sinh ra, trưởngthành trong bối cảnh lịch sử đầy biến động với một nền kinh tế đang phát triểnvượt bậc và nhanh chóng để trở thành một quốc gia thịnh vượng bậc nhất trongkhu vực Đông Nam Á Chính sự phát triển một đất nước Đại Việt hùng mạnh, đãtạo điều kiện thuận lợi để giúp đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc về mặtvật chất lẫn tư duy chính trị xã hội Tư tưởng yêu nước Trần Quốc Tuấn là tình yêunước nồng nàn, yêu quý, tôn trọng các giá trị thành quả mà dân tộc xây dựng vàđạt được Theo ông, yêu nước là trách nhiệm của mỗi cá nhân, công dân cần phải
ra sức xây dựng, tăng cường bảo vệ kinh tế phát triển của gia tộc Trần, rộng hơn làviệc bảo vệ thành tựu kinh tế Đại Việt ngày càng vững mạnh, thịnh vượng để đảmbảo cho nhân dân có được một cuộc sống ấm, hạnh phúc, giàu mạnh Chính vì thế,Trần Quốc Tuấn đã cùng với nhân dân Đại Việt thực hiện công cuộc xây dựng nềnkinh tế phát triển toàn diện và gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trước họa xâmlăng của quân thù Có thể khẳng định, tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấn luôngắn bó chặt chẽ với điều kiện kinh tế, xã hội của thời Trần Trần Quốc Tuấn là mộtchân dung biểu hiện cho tinh thần yêu nước của nhân dân Đại Việt trong cả laođộng sản xuất phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa, giữ gìn, phát huy bản sắc dântộc và trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm
1.1.2 Về chính trị - xã hội
Về kết cấu giai cấp thời Trần, sự phát triển mạnh mẽ kinh tế đã kéo theo các
mâu thuẫn xã hội kết quả là sự phân hóa mạnh mẽ, sâu sắc kết cấu giai cấp trong
xã hội Thời Trần là thời đại có nhiều đẳng cấp cùng tồn tại song song và tác độngqua lại lẫn nhau với ba đẳng cấp chính: đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại trong
chính quyền quân chủ, đẳng cấp những người bình dân và đẳng cấp nô tỳ Trong
đó, đẳng cấp quý tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ nhà Trần đã có
sự phân chia thành hai tầng lớp, đó là tầng lớp quý tộc, tôn thất nhà Trần và tầng
Trang 13lớp địa chủ quan liêu, mà cụ thể là các nho sĩ trong bộ máy quản lý của nhà Trần.
Thứ nhất là tầng lớp quý tộc, tôn thất nhà Trần gắn liền với quyền lực tối cao củavua (hoàng đế) đối với quyền sở hữu danh nghĩa toàn bộ ruộng đất, tài sản của đấtnước, lãnh đạo và điều hành mọi công việc của nhà nước từ kinh tế, chính trị đến
văn hóa, quân sự Nhà Trần tồn tại chế độ hai vua tức là chế độ thái thượng hoàng Theo Ngô Sĩ Liên nói: "Từ sau khi Hạ Vũ truyền ngôi cho con thì cha chết con nối,
anh chết em thay, đã thường phép thường mãi mãi"[đại việt sử ký toàn thư, tập 2,
tr 29] Quyền hành của thái thượng hoàng là lớn, không chỉ có quyền chỉ định
người kế vị mà khi cần có thể truất bỏ ngôi vua và dạy dỗ cho tất cả thái tử, hoàng
tử về các chuẩn mực đạo đức, đạo trị nước, ứng nhân xử thế Chính điều này, chế
độ thái thượng hoàng đã góp phần hạn chế sự độc đoán và chuyên quyền của vua đương quyền, củng cố được chính quyền quý tộc thời Trần Chế độ thái thượng hoàng vừa giúp bảo đảm vững chắc vị trí và khả năng nắm giữ chính quyền của
dòng họ nhà Trần tránh được những vụ tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc. Chế
độ lưỡng đầu chế (thái thượng hoàng) nhà Trần trở thành một điển hình tiêu biểucủa chế độ quân chủ trung ương tập quyền của lịch sử phong kiến Việt Nam Bên cạnh sức mạnh đầy quyền lực của nhà vua, thì quý tộc, vương hầu, tônthất nhà Trần cũng được trọng đãi và phong cấp thái ấp để thay mặt triều đình quản
lý, kiểm soát các địa phương, và chỉ huy các lực lượng quân đội Vương hầu, tônthất nhà Trần đã ý thức được việc gắn bó chặt chẽ với nhau, toàn tâm toàn ý cùngnhau lo bảo vệ sự vững bền của nền chuyên chính của dòng họ, tức là mối quan hệ
biện chứng giữa quyền lợi đất nước và quyền lợi riêng cá nhân: "Thiên hạ là thiên
hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông phải cùng hưởng phú quý với anh em trong họ Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt Lo thì cùng lo, vui thì cùng vui Các khanh nên truyền những lời này cho con cháu, để chúng đừng bao
Trang 14giờ quên, thì đó là phúc muôn năm của tông miếu, xã tắc"[đại việt sử ký toàn thư,
tập 2, tr37] Nếu đời nhà Lý các tôn thất không được hưởng công lộc và quyền lợi
nên thờ ơ sự mất còn của ngôi vua: "Gặp loạn Quách Bốc, vua Lý Cao Tông và thái tử sam chạy bạt đi tận đâu đâu, khi có một làng tôn thất ở Hoa Lâm, Đông Ngạn (Bắc Ninh) đầy người trong họ thì lại không thấy chạy về Vua Lý Huệ Tông truyền ngôi cho con gái biết rằng nó lấy chồng thì ngôi sẽ sang họ khác, nhưng sao chẳng biết trọng họ có thiếu gì các cháu gần cháu xã để truyền cho mà giữ lấy
ngôi Ấy là lúc thường sự đối xử với anh em họ hàng cũng có điều quá tệ vậy" [Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương – Văn minh Đại Việt, Nxb.
Thanh niên, tr.304] Quý tộc, tôn thất nhà Trần được hưởng nhiều bổng lộc như
cấp đất ở, nô tì, nô lệ gia đình đặc biệt là được trao quyền tự khai hoang đất trốngnhằm phát triển kinh tế cho thái ấp và điền trang của mình Theo Ngô Sĩ Liên:
"Theo quy chế nhà Trần, các vương hầu đều ở phủ đệ nơi hương ấp của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc lại về lại về phủ đệ Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả Đến khi vào triều
làm tể tướng, thì mới thống lĩnh việc nước" [Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18
(1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr.33] Vì thế chúng ta có thể thấy
được một sự gắn kết chặt giữa vua tôi nhà Trần cả mặt tư tưởng và mặt lợi ích kinh
tế với mục đích chung là đồng lòng, đồng thuận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: "Nội người hoàng phái thuộc dòng chính của vua ai cũng được phong vương cả, người
ở bàng hệ thì phong hầu Hễ được phong vương phong hầu là có phủ đệ, có lãnh địa có quyền khai khẩn đất và có quyền nuôi gia binh gia tướng Như vậy quyền lợi mỗi cá nhân đã dính liền với sự mất còn của ngôi vua, nên ai nấy đều một lòng
hi sinh đánh đuổi ngoại xâm" [Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương
– Văn minh Đại Việt, Nxb Thanh niên, tr 304 – 305] Phong thưởng bổng lộc
Trang 15bằng ruộng đất được xem là một chính sách mới tiến bộ của nhà Trần so với các
triều đại trước, mà tiêu biểu là triều Lý
Có thể thấy rằng, tầng lớp quý tộc, tôn thất nhà Trần với sự đứng đầu của vuaTrần đã thực sự là người cầm lái để điều khiển con thuyền Đại Việt đi đúng theoquỹ đạo đã được định sẵn Mối quan hệ đoàn kết giữa các quý tộc, tôn thất nhàTrần tạo nên sức mạnh vững bền, là một kế sách giữ nước đặc sắc của nhà Trần.Việc phân bổ quyền lực giữa nhà vua và quý tộc nhà Trần không những không ảnhhưởng đến tính chất trung ương tập quyền, mà giúp cho chế độ ngày càng củng cố
và phát triển mạnh mẽ Đây thực sự là một phương thức cai trị chuyên chế theokiểu dòng họ trị điển hình nhất trong lịch sử dân tộc
Sự phát triển toàn diện về mọi mặt của kinh tế, đời sống chính trị và xã hộithời Trần đặt ra một yêu cầu bức thiết là phải có một bộ phận chuyên môn đại diệncho sức mạnh triều đình quản lý đất nước Chính điều đó đã dẫn đến sự ra đời vàngày càng phát triển của tầng lớp thứ hai trong xã hội là tầng lớp quan lại quan liêunhà Trần chủ yếu là nho sĩ Mặc dù không được hậu đãi, bổng lộc giống tầng lớpvương hầu, quý tộc nhà Trần mà đơn giản chỉ được cấp lương theo thứ bậc Tầnglớp quan lại quan liêu thời Trần tạo ra một hệ thống cơ quan quản lý hành chính vàchuyên môn đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, văn hóa ngày càng hưngthịnh Chính vì vậy, nhà Trần tăng cường phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng
tầng lớp quan lại:"Theo chế độ cũ, không phải là nội nhân (hoạn quan) thì không được làm hành khiển, chưa bao giờ dùng nho sĩ văn học Bắt đầu từ đây, nho sĩ
văn học mới được giữ quyền bính"[ Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại
Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr 36] Triều đình nhà Trần tổ chức các kỳ thi để
tuyển chọn người tài phục vụ cho triều đình, đa phần là các nho sĩ, "kẻ sĩ": "Mùa xuân, tháng 2, mở khoa thi chọn kẻ sĩ Ban cho Nguyễn Hiền đỗ trạng nguyên, Lê
Trang 16Văn Hưu đỗ bảng nhãn; Đặng Ma La đỗ thám hoa lang Cho 48 người đỗ thái học
sinh, xuất thân theo thứ bậc khác nhau"[ Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998),
Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr 21].
Ngoài ra, triều đình nhà Trần còn : "xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm tư nghiệp, quốc tử giám, tìm người có thể giảng bàn ý
nghĩa của Tứ thư, Ngũ kinh vào hầu nơi vua đọc sách"[Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18
(1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr 31] Quy trình tuyển chọn nhân
tài cho đất nước thời Trần diễn ra nghiêm chỉnh và quy củ hơn nhà Lý chủ yếu theohình thức lý luận Nho giáo Tầng lớp quan lại quan liêu đa phần là những bậc trung
thần với vua, làm việc có trách nhiệm và cương trực vững vàng tư tưởng: "Thần thà chịu trách phạt chứ không dám lừa dối, làm quan mà lừa dối thì sao suất lĩnh
được liêu thuộc"[Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư
dịch theo bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, tập 2, tr 135].
Qua những phân tích trên có thể khẳng định, thời Trần là thời kỳ nho sĩ đượctín nhiệm, phát triển mạnh mẽ nhất, địa vị và quyền hạn được nâng lên, gắn vớihọc thuyết của Nho giáo trường tồn theo thời gian Chính những chính sách mởtrường dạy học, mở khoa thi, tuyển chọn người có tài, có đức vào vị trí quan trọngcủa triều đình nhà Trần đã khẳng định vai trò quan trọng của tầng lớp quan lại quanliêu trong củng cố vững chắc hệ thống chính quyền nhà nước trên học thuyết Nhogiáo mang đậm tính chất quan liêu, chuyên chế Đồng thời nó làm phai dần tínhchất quý tộc trong đẳng cấp quan liêu Ngoài ra, tầng lớp quan lại quan liêu khẳngđịnh sự thắng thế của Nho giáo trước phật giáo trên vũ đài tư tưởng chính trị thờiTrần
Trang 17Khác với hai tầng lớp trên, tầng lớp bình dân nhà Trần là tầng lớp đông đảotổng hợp nhiều thành phần bao gồm nông dân, thợ thủ công và thương nhân, nho
sĩ, sư tăng hay đạo sĩ Đây là đẳng cấp gánh vác hầu hết các nghĩa vụ xã hội nhưnộp thuế cho nhà nước, đắp đê chống lụt, tham gia quân đội Tầng lớp bình dân
thời Trần sống gắn bó với nền nông nghiệp lúa nước Nông dân ở thời Trần là giai
cấp được nhận ruộng đất công của làng xã và thực hiện các nghĩa vụ tô thuế, binh
dịch, lao dịch cho nhà nước Thợ thủ công và thương nhân đa phần sinh sống chủ
yếu trong làng xã và một số ít sống theo phường ở kinh đô và phải đóng thuế và
làm nghĩa vụ đối với nhà nước Đẳng cấp nông nô, nô tì thời Trần là lực lượng
đông đảo và địa vị thấp nhất trong xã hội Nô lệ, nô tỳ là lao động chủ yếu trong
các đại điền trang của quý tộc, tôn thất nhà Trần: "luật pháp đã không ngăn cấm việc mua bán nô tì hoặc cho phép biến những người phạm tội thành nô tì, hoặc
cho phép chủ nợ được biến con nợ lâu năm thành nô tì" [Huỳnh Công Bá (2011),
Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế, tr 486].
Thân phận của nô tỳ không phải do họ quyết định nhưng cũng không phụ thuộchoàn toàn vào chủ Có thể nói rằng, nô lệ, nô tùy là giai cấp có cuộc sống cùng cựcnhất xã hội bấy giờ, bị thích chữ vào mặt theo hàm hiệu của chủ, không được kếthôn với con nhà thường dân, trong chiến đấu dù có công lao họ cũng không được
quyền dự vào hàng quan tước: "Tháng 12, xuống chiếu bắt gia nô của các vương hầu, công chúa đều phải thích chữ vào trán và phải gọi theo loại hàm Kẻ nào không thích chữ, không khai sổ bị coi là giặc cướp, lớn thì trị tội, nhẹ thì sung
công"[Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo
bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2,
tr 141] Gia cấp nô tỳ tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm Nguyên –
Mông nhưng không được dự vào quan chức trong triều đình, nhưng được ban cấp
ruộng đất như Yết Kiêu, Dã Tượng là những gia nô của Trần Quốc Tuấn:"Gia nô
tuy có chút công lao, nhưng không được dự vào quan tức triều đình"[ Viện khoa
Trang 18học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm
Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr.116] Qua
hình ảnh chân thực đời sống của nô tùy, nô lệ, chúng ta thấy được tính chất khắckhe trong việc phân biệt đẳng cấp, giai tầng trong xã hội nhà Trần
Nhìn chung, kết cấu giai cấp thời Trần là một cấu trúc đẳng cấp hướng tâm.
Trong đó, vua quan là giữ vai trò trung tâm, tâm điểm cố kết cộng đồng, là đỉnhcao của quyền lực xã hội Quần tụ xung quanh nhà vua là hệ thống quan lại quanliêu được tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Vua qua, quý tộc là đẳngcấp bên trên, cầm quyền, điều khiển sự vận hành của guồng máy xã hội với mọiđặc quyền, đặc lợi thống trị và bóc lột đối với nhân dân Bên kia chuyến tuyến,tầng lớp bình dân làng xã là hệ thống thứ cấp, tạo thành nền tảng vững chắc của xãhội Có thể khái quát rằng, sự chuyển biến và biến đổi không ngừng của đời sống
chính trị - xã hội thời nhà Trần đã làm nảy sinh hai mâu thuẫn chủ yếu, thứ nhất,
mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc, tôn thất nhà Trần với tầng lớp địa chủ quan liêu,
thứ hai, mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc, tôn thất nhà Trần với nhân dân đây là
mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trong xã hội thời kỳ này Tuy nhiên, các vua thờiTrần đa phần là những bậc minh quân, nhân từ, thương dân, luôn mong muốn xâydưng một đất nước thịnh vượng, thái bình nên đã ban hành, thực thi nhiều biệnpháp chính sách để đoàn kết dân tộc, xóa bỏ mọi mâu thuẫn hiềm khích Vì thế,tình hình chính trị, xã hội thời Trần tương đối "ổn định", tạo nền tảng giúp đoàn kếtdân tộc trong phát triển nền kinh tế và kháng chiến chống giặc ngoại xâm Nguyên -Mông dành những thắng lợi hiển hách, oai hùng
Trần Quốc Tuấn là một người đại diện cho giai tầng quý tộc, vương hầu nhàTrần Ông đã sớm ý thức việc phân chia thành đẳng cấp quý tộc, tôn thất giúp tăngcường, thắt chặt tình cảm, đoàn kết họ hàng nhà Trần, đồng thời giúp bảo vệ lợi íchcủa dòng họ Chính vì vậy, tư tưởng yêu nước của Trần Quốc Tuấn đều hướng đến
Trang 19mục đích chung, duy nhất là bảo vệ và phát huy lợi ích của gia tộc, của đất nước,đảm bảo cho nhân dân được ấm no hạnh phúc muôn đời Ngoài ra, ông đã nhậnthức đúng đắn vai trò của từng giai tầng trong xã hội, mỗi giai cấp là một mắc xíchquan trọng của một chuỗi cố kết toàn xã hội để thực hiện công cuộc xây dựng vàbảo vệ dân tộc Mặt khác, việc phân chia tầng lớp trong xã hội Đại Việt thời Trần làmột nhân tố quan trọng giúp quá trình phân công lao động trong xã hội được thuậnlợi hơn vua ra vua, dân ra dân không có sự nhầm lẫn về địa vị và vai trò xã hội tạođiều kiện xây dựng một quốc gia thống nhất quy củ Mặc dù có sự phân chia,nhưng các giai tầng trong xã hội thời Trần luôn gắn kết chặt chẽ với nhau trên bìnhdiện chính trị và kinh tế, trong đó kinh tế luôn là nhân tố quyết định đem lại lợi íchcho nhân dân và dân tộc Tư tưởng yêu nước Trần Quốc Tuấn là luôn hướng mụcđích đoàn kết toàn dân tộc, vua tôi đồng lòng, lấy dân làm gốc để tạo nên một sứcmạnh to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nhà Trần đã tích cực xây dựng nên một bộ máy hành chính mang khuynhhướng dòng tộc cùng kết hợp với việc tuyển dụng các tầng lớp sĩ phu, nho sĩ để
xây dựng một bộ máy quản lý từ trung ương đến địa phương: "Nhà nước này là khối liên kết của dòng họ Trần với bộ phận quan liêu ở các cấp chính quyền khác
nhau và ngày càng mở rộng" [Bộ quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2002), Trần Quốc Tuấn – nhà quân sự thiên tài, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr 26] Ngoài ra, trên nền tảng bộ máy chính quyền nhà Lý, nhà Trần đã xây
dựng nên một bộ máy chính quyền mang đậm dấu ấn của một triều đại quân chủchuyên chế điển hình Triều đình nhà Trần giữ lại một số trọng thần nhà Lý nhưPhùng Tá Chu, Phạm Kính Ân Bộ máy tổ chức hành chính nhà Trần cũng giốngnhư các triều đại trước đó bao gồm hai bộ phận chính là triều đình và địa phương.Trong đó, triều đình là cơ quan đầu não có quyền quyết định mọi công việccủa đất nước, gắn liền với quyền hành tối cao của vua (hoàng đế) bao gồm hai bộ
Trang 20phận trung khu và các cơ quan chức năng Thứ nhất là bộ phận trung khu, hoàng
đế là người có quyền lực tối cao của đất nước từ chính quyền trung ương và địa
phương Đây là biểu hiện rõ nét của chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tậpquyền, mọi quyền lực đều nằm hết vào trong tay một người Cũng giống như nhà
Lý, người đứng đầu trung khu là quan chức mang danh hiệu tam thái như thái sư, thái phó, thái bảo, tam thiếu gồm thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo và tam tư gồ tư đồ,
tư mã, tư không Ngoài danh hiệu tam thái, tam thiếu còn có chức tể tướng và á tướng Như vậy, bộ phận trung khu thời Trần là sự kết tinh của cả dòng họ Trần
mang tính chất dòng họ trị với việc nắm giữ chức vụ quan trọng trong triều đình,điều này giúp bảo vệ sức mạnh, hạn chế sự việc phân chia quyền lực với các họ
khác Bộ phận cơ quan chức năng nhà Trần gồm có 6 bộ: lại, lễ, hộ, binh, hình,
công thống nhất quản lý tất cả các công việc của đất nước Các nhà nho sĩ thờiTrần ngày càng được trọng dụng và tuyển chọn vào các bộ
Ở các địa phương nhà Trần xây dựng và tổ chức các cơ quan gồm có 3 cấp:phủ lộ, huyện, châu, hương xã Nhà Trần đã đổi 24 phủ thành 12 lộ đó là ThiênTrường, Long Hưng, Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương,
Hồng Lộ, Khoái Lộ, Thanh Hoa, Hoàng Giang và Lạng Giang Bên cạnh lộ còn có
một số phủ độc lập như phủ Tân Bình, phủ Nghệ An, phủ Thái Nguyên, phủ ThiênTrường Dưới lộ là phủ, dưới phủ là châu, dưới châu là huyện, dưới huyện là xãmỗi cấp đều các một người đứng đầu tương ứng Ở những nơi biên giới, hải đảo,miền núi khó khăn thì nhà Trần đưa ra nhiều chính sách vừa mang tính mềm dẻo,vừa khéo léo đã giải quyết mối quan hệ bất hòa một cách êm đẹp làm cho khốiđoàn kết dân tộc được củng cố một cách vững chắc Bộ máy hành chính nhà Trần
đã có sự kiện toàn, quy củ, hoàn thiện hơn, tạo nên sức mạnh vững vàng để đápứng với những yêu cầu điều kiện lịch sử đặt ra
Trang 21Nhà Trần đã tích cực xây dựng nhà nước Đại Việt ngày càng hoàn thiện đápứng tốt hơn cho sự phát triển kinh tế xã hội đương thời Năm 1230, Nhà Trần đãdựa vào các luật lệ thời trước thống kê, sửa đổi ban hành ra Quốc triều thống chế
và sau nhiều lần sửa chữa, bổ sung, đã ban hành bộ Quốc triều hình luật Đến năm
1244, nhà Trần định các điều về hình luật; đến thời Trần Dụ Tông lại sai Trương
Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên định bộ Hình thư: "là một bộ luật hoàn chỉnh gồm ba quyển Bộ Hình thư thời Lý được xây dựng trên cơ sở tiếp thu các thành tựu của hoạt động pháp luật thời kỳ dài trước đó Từ thời Bắc thuộc, trên cơ
sở phát triển của những tập quán truyền thống của xã hội Lạc Việt, do kết quả của
sự phân hóa giai cấp trong xã hội Người Việt đã có luật lệ riêng của mình"[Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1980), Viện sử học, Tìm hiểu xã hội Việt Nam
thời Lý – Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 360 – 361] Nhà Trần tăng
cường củng cố và hoàn thiện luật pháp thông qua việc thành lập cơ quan thẩm hình viện chuyên xét xử ngục tụng và nhà bình doãn xử án Việc tuyển dụng chọn quan chức phụ trách hình án cũng được chú trọng lấy tiêu chí thanh liêm, thẳng thắn, mẫu mực, hết lòng vì dân vì nước Khác với thời Lý, sang thời Trần việc hình thành
một hệ thống quan lại, quý tộc từ trung ương đến địa phương đã giảm bớt đi tínhchất chuyên quyền, độc đoán của nhà vua trên mọi mặt đời sống chính trị, xã hội,
trong đó có cả luật pháp: "Nếu như ở thời Lý, vua trực tiếp xử kiện, lắng nghe ý
kiến của dân thì sang thời Trần với sự hoàn chỉnh của bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở, có các cơ quan chuyên trách việc hình luật thì hiện tượng vua trực tiếp xử kiện được chuyển giao cho cơ quan chuyên trách và cơ quan đó
có quyền hạn và tính độc lập ở mức độ nhất định"[Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1980), Viện sử học, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội tr 365]
Trang 22Pháp luật thời Trần giữ vai trò quan trọng trong việc xác nhận và bảo vệ
quyền tư hữu của giai cấp thống trị trong xã hội Ngoài ra, pháp luật còn là mộtchuẩn mực quan trọng để đánh giá các giá trị đạo đức của con người Pháp luật nhàTrần được xem là một nền pháp luật mang tính chất quan liêu, cục bộ nhằm bảo vệđặc quyền, đặc lợi trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội cho tập đoàn quý tộc tôn thất
và quan lại phong kiến Nếu đối với quan liêu quý tộc, họ hàng thân thiết và tônthất của nhà vua thì pháp luật có sự khoan hồng, khoan dung và nghiêm khắc với
đẳng cấp nông dân làng xã, thợ thủ công, thương nhân và địa chủ Chính vì mang
danh phận là thấp hèn nhất trong xã hội nên đẳng cấp nô tỳ không có quyền lợi gì
trước pháp luật Bên cạnh đó, pháp luật nhà Trần ra sức bảo vệ quyền tư hữu về tàisản, bảo vệ mùa màng sản xuất nông nghiệp thông qua ban hành các điều luật về
bảo vệ sức kéo trâu bò đặc biệt là ruộng đất "Nhà Trần xử nặng các tội như trộm cắp thì lần đầu bị đánh 80 trượng, thích chàm vào mặt hai chứ "phạm đạo", và phải đền cho chủ, cứ 1 đền 9 Nếu không đủ, phải đem gán vợ con làm nô tỳ Tái
phạm thì bị chặt chân tay Tái phạm lần thứ ba thì bị giết" [Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm Chính Hòa
thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr ?] Ở thời Trần, quan hệ
tiền tệ đã được pháp luật thừa nhận và tôn trọng
Hệ thống chính quyền thời Trần đã được củng cố hoàn thiện tạo điều kiệnthuận lợi để pháp luật phát triển, kiện toàn Hệ thống pháp luật và tổ chức xét xửthời Trần đã quy củ và hoạt động hiệu quả hơn thời Lý Vì vậy, thời Trần việc xét
xử có tính chất nghiêm túc, đảm bảo tính khách quan, dân chủ hóa của xã hội Sau
khi giành độc lập, nhà Trần bước vào thời kỳ phục hưng về mọi mặt: "Từ thế kỷ XI – XIV, quốc gia Đại Việt đã có một quy mô rộng lớn Trên cơ sở kinh tế đã khá phát triển, một nhà nước trung ương xây dựng một cơ cấu quản lý từ trung ương đến địa phương đạt tới sự hoàn chỉnh, ổn định Nhà nước đã can thiệp trực tiếp
Trang 23vào các công việc của thôn, xã (hương giáp) Đó cũng là quá trình thiết chế hóa các luật lệ nhằm tăng cường sự thống trị của giai cấp thống trị phong kiến Các nhà vua thời Trần đã xây dựng những bộ luật nhằm đảm bảo một kỷ cương ổn định cho sự thống trị của mình Vì thế cùng với sự phát triển, củng cố chính quyền
trung ương tập quyền, luật pháp cũng ngày càng hoàn thiện" [Ủy ban Khoa học
xã hội Việt Nam (1980), Viện sử học, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý – Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 380].
Nhà Trần đã tiến hành công cuộc xây dựng đất nước, tạo nên một sức sống
mới, để làm đòn bẩy nhanh chóng ổn định trật tự xã hội, sắp xếp triều chính Đồngthời, nhà Trần tăng cường sức mạnh quân sự để đủ sức đưa đất nước vượt quanhững khó khăn thách thức, bảo vệ nền độc lập dân tộc Quân đội nhà Trần được
chia làm hai loại quân cấm vệ và quân các lộ Trong đó, quân cấm vệ thực hiện
việc bảo vệ kinh thành và quân các lộ có nhiệm vụ bảo vệ ở các địa phương Cấm
quân ở kinh thành có thích chữ "Thiên tử quân" vào tráng, là những người có sức
khỏe tốt, được chọn lọc kỹ càng tiêu biểu như Phạm Ngũ Riêng chức Phiêu kỵtướng quân phải do chính hoàng tử nắm giữ Đây là một đặc điểm quan trọng vềquân đội nhà Trần nhằm đảm bảo, củng cố sức mạnh đất nước một cách toàn diện.Trong đó, quân cấm vệ được chia thành 10 đô là Tả Hữu Thánh dực, Tả Hữu Thầndực, Tả Hữu Long dực, Tả Hữu Hổ dực, và Tả Hữu Phụng nha quan chức lang.Đồng thời, các vương hầu, quý tộc nhà Trần cũng được phép thành lập quân độiriêng và trong những lúc có chiến tranh, nhà nước được quyền điều động để đánhgiặc, nhằm bảo vệ đất nước
Trong chiến tranh, Nhà Trần tập hợp được lực lượng quân đội lớn mạnh, đông
đảo do thực hiện theo chính sách ngụ binh ư nông với nguyên tắc toàn dân đều là
lính Mặt khác, khi nói đến lực lượng quân đội nhà Trần, ngoài quân triều đình vàđịa phường, chúng ta cần phải nhắc đến một số lượng lớn quân vương hầu gia đồng
Trang 24như Hưng Hiến Vương Úy, Hưng Nhượng Vượng Tảng, Hưng Trí Vương Nghiện:
"Lúc nhà Trần đương thịnh, đánh giặc Nguyên nhờ sức các gia nô của vương hầu
nhiều lắm" [Ngô Thì Sĩ (1960), Việt sử tiêu án, Nxb Văn hóa Á Châu, Sài Gòn,
tr 244] Thời bình, dân binh vừa sản xuất vừa bảo vệ an ninh hương xã: "Tổ chức
quân đội thời Trần chia làm hai loại và thực hiện chính sách "ngụ binh ư nông" không chỉ có ở thời Trần mà nó đã có từ thời Lê Sơ, đặc biệt phát triển hoàn thiện
ở thời Lý Chính vì vậy, so với các thời đại trước thì nhà Trần đã xây dựng được một đội quân giỏi một cách toàn diện, đồng lòng, quy củ, sẵn sàng hi sinh vì dân vì nước, vua tôi đồng lòng để dành những thắng lợi vẻ vang cho dân tộc, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên Đây là một hình thức tiêu biểu của
quân đội thời chiến: "Có thể xem đây là sự kết hợp đúng đắn giữa xây dựng kinh
tế và củng cố quốc phòng, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và tổ chức vũ trang
của thời đó[Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Lương Ninh, Nguyễn Quang Ngọc, Trần Quốc Vượng (2012), Lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà
Nội, tr 675] Nhà Trần đã chú trọng việc xây dựng quân đội theo phương châm
quân cốt tinh nhuệ, chứ không cốt nhiều:"Quân quý ở tinh nhuệ, không quý ở số
đông Dẫu đến 100 vạn quân mà như Bồ Kiên thì cũng làm được gì"[Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư dịch theo bản khắc năm
Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tập 2, tr 59] Về binh
chủng, quân đội thời Trần gồm có bộ binh và thủy binh, kỵ binh và tượng binh, kếthợp hài hòa với nhau tạo nên một sức mạnh toàn diện, hùng hậu Trang bị vũ khínhà Trần gồm có gươm, giáo, cung tên và súng ống Về tuyển chọn quân, tuyển
tướng và huấn luyện binh pháp, nhà Trần xem vũ thuật là lối sống của trai tráng
các tầng lớp xã hội từ quý tộc đến nô tỳ bấy giờ người người học võ, nhà nhà học
võ, đánh nhau bằng tay không Người học võ được xã hội nhà Trần tôn trọng vàđánh giá cao Trong việc xây dựng, củng cố và phát triển quân đội nhà Trần, TrầnQuốc Quốc là người có công lao quan trọng để xây dựng một đội quân hùng mạnh,
Trang 25đồng sức, đồng lòng Trần Quốc Tuấn là người được giao trọng trách phải tổng hợp
tất các kinh nghiệm về binh pháp tôn tử các thời đại trước để soạn ra cuốn Binh gia điệu lý yếu lược để giảng dạy và rèn luyện binh lính Có thể nói, tác phẩm Binh gia điệu lý yếu lược là một trong những cuốn binh pháp đặc sắc nhất của dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, Trần Quốc Tuấn soạn ra cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư
nhằm để lãnh đạo và tổ chức chiến tranh, công tác xây dựng và huấn luyện quânđội từ các tổng kết các kinh nghiệm binh pháp thời Trần Các tác phẩm của TrầnQuốc Tuấn đều bị cướp mất bởi quân Minh trong thời gian xâm lược nước tanhưng chúng ta vẫn thấy một tinh thần ham học hỏi, kế thừa những giá trị quý báu
Trần Quốc Tuấn qua: "chiến tranh của Trung Quốc cổ đại từ Xuân thu đến tận thời
Tống, Nguyên" [Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Lương Ninh, Nguyễn Quang Ngọc, Trần Quốc Vượng (2012), Lịch sử Việt Nam tập I, Nxb Giáo dục Việt
Nam, Hà Nội, tr 676] Hai tác phẩm trên là những bộ binh thư đầu tiên của dân
tộc với mục đích huấn luyện binh sĩ dưới quyền Ông từng nói với những tướng sĩ:
"Các ngươi, ai biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy thế là thầy trò đời đời Ai
mà trái lời ta dạy thế là nghịch thù đời đời" [Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Lương Ninh, Nguyễn Quang Ngọc, Trần Quốc Vượng (2012), Lịch sử Việt
Nam tập I, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr 676] Trần Quốc Tuấn là một vị
tướng tài giỏi trong đánh giặc, tổ chức quân đội theo một khuôn khổ, kỷ luật chặtchẽ và am hiểu những học thuyết binh pháp tôn tử các thời đại trước để đưa ranhững kế sách giữ nước hiệu quả Ông đã ý thức được tầm quan trọng của việc xâydựng một đội quân hùng mạnh và tinh nhuệ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Ông chủ trương đánh giặc phải thực hiện theo kế sách lấy ít địch nhiều, đánh du kích, chiến tranh nhân dân Chính vì thế, Trần Quốc Tuấn đã dành nhiều
thời gian và công sức để giảng dạy và tinh thần thượng võ cho nhân dân, binh sĩ.Theo Trần Quốc Tuấn, yêu nước không chỉ kháng chiến khi có giặc ngoại xâm màcòn thể hiện cần phải xây dựng một quân đội hùng mạnh, tướng và binh sĩ như anh
Trang 26em một nhà, đồng lòng, luôn sát cánh bên nhau tạo nên sức mạnh để thắng bất kỳ
kẻ thù nào
KẾT LUẬN
Trên tinh thần kế thừa các giá trị thành tựu của bộ máy chính quyền nhà Lý,thì nhà Trần đã tăng cường xây dựng một hệ thống bộ máy nhà nước từ trung ươngđến địa phương mang tính chất dòng họ trị, quan liêu nhằm bảo vệ cho lợi ích củagiai cấp thống trị, của gia tộc họ Trần Đồng thời, nhà Trần đã xây dựng một bộmáy chính quyền với hệ thống pháp luật ngày càng quy củ, kiện toàn và một quânđội hùng mạnh để xây dựng một xã hội phát triển về mọi mặt và đã tạo nên nhữngchiến công vang dội trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Có thểnói tư tưởng nói chung và tư tưởng yêu nước nói riêng của Trần Quốc Tuấn có cơ
sở từ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội đất nước nhà Trần Theo ông,yêu nước là phải xây dựng một đất nước thái hòa, kinh tế phát triển vượt bậc, đờisống nhân dân ổn định, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tạo nên một sức mạnhquật khởi, những kỳ tích vang danh muôn đời Đồng thời, ông cũng đóng góp lớnvào công cuộc xây dựng đoàn kết trong nội bộ quý tộc, vương hầu bằng việc xóa
bỏ hiềm khích cá nhân, tăng cường phát triển nền kinh tế thái ấp vững mạnh để tạođộng lực đưa nền kinh tế đất nước phát triển Ông là người giữ một vai trò quantrọng trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông, đứng trên cương vịngười chỉ huy toàn quân Trần Quốc Tuấn luôn thể hiện là một con người giàu lòngyêu nước, căm thù giặc, động viên khích lệ tinh thần chiến đấu của ba quân tướng
sĩ, một nhân cách anh hùng, quyết tâm đánh đuổi thù trong giặc ngoài để giữ trọnnền độc lập nước nhà Không chỉ là một vị tướng thiên tài, Trần Quốc Tuấn là biểutượng của đạo đức cao cả biết đặt quyền lợi dân tộc lên trên lợi ích cá nhân Vớitấm lòng vì nước và tài năng xuất chúng, Trần Quốc Tuấn đã xây dựng nên mộtkhối đoàn kết vì mục đích thiêng liêng là đánh giặc giữ nước đặt quyền lợi của Tổ
Trang 27quốc lên trên lợi ích của gia tộc Từ những phân tích trên, tư tưởng yêu nước củaTrần Quốc Tuấn là sự kết tinh, kết quả của thành tựu vẻ vang của nhân dân ĐạiViệt thời Trần thế kỷ XIII Ngoài ra, tư tưởng đó là một minh chứng tiêu biểu nhấtcủa tinh thần ý chí kiên cường, bất khuất anh dũng không thể khuất phục của nhândân Đại Việt trong công cuộc xây dựng đất nước và trong kháng chiến chống quânNguyên Mông trường kỳ Trần Quốc Tuấn còn để lại những kinh nghiệm quý giátrong việc đoàn kết muôn dân, xây dựng nên một triết lý yêu nước vẫn còn nguyêngiá trị lâu dài về lòng yêu nước là phải xây dựng cho đất nước, dân tộc, đảm bảocho đời sống nhân dân ổn định, đồng thời phải bảo vệ nền độc lập, thành quả đó
được trọn vẹn tồn tại với muôn đời
1.1.3 Cuộc đời và sự nghiệp của Trần Quốc Tuấn (? – 1300)
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn(? - 1300) là con trai của An Sinh VươngTrần Liễu và Thiện Đạo quốc mẫu cháu ruột của Trần Thái Tông Trần Quốc Tuấnquê ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là Thôn Tức Mặc, xã Lộc Hòa, thànhphố Nam Định, tỉnh Nam Định) Đây là quê hương của nhiều văn hào và các vị
tướng thi tài nhưTheo Thơ Văn Lý – Trần, Trần Quốc Tuấn: "Ông là con An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi Trần Thái Tông bằng chú, người hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, được phong ấp ở hương Vạn Kiếp, thuộc huyện Chí Linh, châu
Nam Sách, lộ Lạng Giang, sinh khoảng 1232" [Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học (1988), Thơ văn Lý – Trần, quyển thượng tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 382] Hoặc theo Phan Huy Chú chép trong Lịch triều hiến
chương loại chí có viết: "Thanh Sơn đồng tử, giáng sinh Vợ Trần Liễu nằm mộng thấy một đồng tử mặc áo xanh vào trong bụng, tỉnh dậy rồi có thai, sinh ra ông Lúc còn trẻ có người coi tướng nói rằng ngày sau có thể kinh bang tế thế, Khi lớn lên, dung mạo hùng vĩ, thông minh hơn người, học rộng các sách, tài kiêm văn võ"
[Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí,tập I,Nxb Khoa học xã
Trang 28hội, Hà Nộ, tr 309] Ngoài ra, Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng: Quốc Tuấn là con
Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo:[Ngưởi này] ngày sau co thể giúp nước cứu đời Trần Quốc Tuấn là người ham thích trò chơi
đánh trận Ông là người có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người và nhờ đượcnhững người tài giỏi đến giảng dạy ông sớm trở thành người thông hiểu rộng.Chính vì thế, ông là một người tài giỏi về mọi mặt trí tuệ và cả đạo đức nhân
cách:"học vấn rất uyên bác, vừa giỏi văn chương, vừa thấu hiểu lục thao tam
lược,, cưỡi ngựa, bắn cung đều thành thạo" [Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học (1988), Thơ văn Lý – Trần, quyển thượng tập II, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, tr.382] Trần Quốc Tuần là người hiếu học Từ thuở nhỏ, ông đã
độc tất cả các sách lược thao của lịch sử Trung Quốc, nghiền ngẫm Binh pháp Tôn
Tử của Tôn Vũ và nghiên cứu phép dùng binh của Ngô Khởi Trần Quốc Tuấn xuất
thân từ một gia đình quý tộc quyền quý họ Trần nên được kế thừa những tinh hoa
văn hóa của dân tộc Ông là một "viên ngọc quý" không chỉ nhà Trần mà cả trong
lịch sử dựng nước, giữ nước chống giặc ngoại xâm của dân tộc Trước tình hìnhnguy cơ xâm chiếm của quân Nguyên – Mông, Trần Quốc Tuấn luôn là người tiênphong dám chống lại giặc, không một chút sợ hãi Khi các vua nhà Trần hỏi về việcđối phó với quân giặc, ông luôn luôn kiên định kháng chiến chống giặc ngoại xâm
cho tới cùng : "Năm 1257, quân Nguyên – Mông sang xâm lược nước ta lần đầu, ông được cử cầm quân giữ biên thùy phí Bắc Ba chục năm sau, trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287-1288), ông lại được đề bạt làm Tiết chế thống lĩnh toàn quân và đã giành thắng lợi lẫy
lừng" [Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học (1988), Thơ văn Lý –
Trần, quyển thượng tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 382] Trần Quốc Tuấn
được vua Trần Thái Tông đề nghị chỉ huy các cánh quân thủy bộ ra chặn đánh giặc,trấn giữ biên giới trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất(1258) Trên cương vị đứng đầu một cánh quân, Trần Quốc Tuấn bằng trí tuệ thông
Trang 29minh và bằng nhãn quân sự thiên tài đã tổ chức, chỉ huy toàn quân dân đánh thắngquân Nguyên - Mông tại biên giới Năm 1283, Trần Quốc Tuấn được vua Trầnphong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân, chuẩn bị và chỉ huy chốngquân Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) Năm 1284, ông đã điều động quân línhcủa các vương hầu thực hiện một cuộc duyệt binh quy mô lớn tại Đông Bộ Đầu,đồng thời chia quân đóng giữ các nơi hiểm yếu, chuẩn bị đánh giặc Với công lao
vô cùng to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trước sựxâm lược của quân Nguyên - Mông hùng mạnh, năm 1289 Trần Quốc Tuấn đượcvua Trần phong làm Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng 8năm Canh tý (1300) tại nhà riêng ở Vạn Kiếp Nhân dân Đại Việt thời Trần để tỏlòng biết ơn sâu sắc, yêu quý đối với một vị tướng tài, anh hùng dân tộc Trần Quốc
Tuấn đã tôn thờ thành Đức Thánh Trần Trong tâm khảm nhân dân Việt Nam, ông
luôn là một vị thánh mang đến sự tốt lành, phù hộ độ trì giúp cho đất nước vượtqua những khó khăn, thách thức để làm nên chiến chống, thành tựu rạng rỡ non
sông Sau khi mất, ông được triều đình phong tặng Thái sư thượng phụ thượng quốc công, nhân võ Hưng đạo đại vương Ông không chỉ là một công thần của nhà
Trần mà còn là một anh hùng của dân tộc
Trần Quốc Tuấn là người có tấm lòng yêu nước nồng nàn, thủy chung son sắt,anh hùng dân tộc, có nhân cách cao đẹp, và giữ vai trò quan trọng trong ba lầnkháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược Ngoài ra, ông là một vị tướngluôn yêu thương, sống chan hòa với nhân dân và tướng dưới quyền, dành trọn cuộcđời để cống hiến tài năng, trí tuệ để xây dựng một quốc gia thịnh vượng và bảo vệ
sự an nguy của Tổ quốc: "Là một vị tướng tài kiêm văn võ, đánh giá đúng vai trò quan trọng của dân, - nền tảng của xã tắc – và của quân – lông cánh của chim hồng hộc – Trần Quốc Tuấn đã biết đề ra một đường lối quân sự ưu việt, có tính chất nhân dân, mà tiêu biểu là hai cuộc rút lui chiến lược khỏi kinh thành Thăng
Trang 30Long, tránh cho nhà Trần những tổn thất lớn, và tạo thời cơ bẻ gãy lực lượng của
địch" [Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn học (1988), Thơ văn Lý –
Trần, quyển thượng tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 382] Sử sách từng
ghi lại những câu nói nổi tiếng của Trần Quốc Tuấn với vua Trần Thánh Tông, khiđất nước đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc xin được lấy tính mạng ra để tiếpthêm niềm tin chiến thắng cho các vua Trần và đánh đổi sự an nguy của quốc giadân tộc Ông đã đại diện cho tâm tư, ước nguyện của toàn thể nhân dân Đại Việtnói lên ý chí kiên cường, bất khuất, chiến đấu đánh giặc không hề chùn bước dù có
hi sinh tất cả cũng phải giữ vững nền độc lập dân tộc không có gì quý hơn độc lậpdân tộc
Trần Quốc Tuấn là một người văn võ song toàn, ngoài sự nghiệp chống giặcgiữ nước, thì sự nghiệp văn học cũng phát triển rực rở và xuất sắc Thời gian làchứng nhân vĩ đại của lịch sử, nó có thể xóa nhòa tất cả nhưng giá trị đọng lạitrong các tác phẩm của Trần Quốc Tuấn mãi mãi trường tồn với thời gian Ở lĩnhvực này, Trần Quốc Tuấn đã để lại một di sản văn học có giá trị lịch sử sâu sắc, làmphong phú thêm cho kho tàng văn hóa chung của dân tộc thông qua các tác phẩm
Dụ chư tỳ tướng hịch văn hay gọi là Hịch tướng sĩ, Binh gia diệu lý truyền thư (Binh thư yếu lược và tác phẩm )và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (Vạn Kiếp binh thư)
Trong đó, tác phẩm Hịch tướng sĩ là một tác phẩm tiêu biểu cho tấm lòng yêu
nước trong sáng mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn Đồng thời, tác phẩm này là mộtáng văn chương yêu nước thiên cổ, với ngôn ngữ gần gũi mà sâu sắc, nó chứa đựngmột tình cảm yêu nước thiêng liêng của vị tướng tài, là một ngọn lửa khơi dậy vàthôi thúc tinh thần chiến đấu của nhân dân và tướng sĩ trước họa giặc dữ Qua tác
phẩm Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn không chỉ thể hiện tài sáng tác văn học mà
còn am hiểu sâu sắc lịch sử Đông Tây kim cổ Để đánh thắng quân giặc, Trần Quốc
Trang 31Tuấn hết sức quan tâm việc huấn luyện võ nghệ, ý chí chiến đấu cho binh sĩ Binh thư yếu lược của Trần Quốc Tuấn là một cuốn binh thư để giáo dục binh sĩ đặc sắc
và vô cùng độc đáo Ông đã học hỏi, kế thừa, đúc kết những kinh nghiệm của cácvương triều, các vị tướng tài của Việt Nam và Trung Quốc tạo nên một cuốn sách
vô cùng quý giá nhằm giảng dạy binh sĩ, rèn luyện tính kỷ luật và xây dựng mộtmột quân tinh nhuệ chính quy Sau ba lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, Trần
Quốc Tuấn đã thu nhặt kinh nghiệm dùng binh và giữ nước để soạn ra cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư Ông chỉ ra rằng nội dung cơ bản của kế sách giữ nước là
lấy dân làm gốc làm kế sâu bền rễ, xây dựng một đội quân như cha con, anh em
hòa mục, thực hiện kế sách ngụ binh ư nông
1.1.4 Vai trò của Trần Quốc Tuấn trong ba lần chống quân Nguyên – Mông
Nhà Trần sau khi kế vị nhà Lý đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng, củng
cố và phát triển nền kinh tế, xã hội, chính trị và nhà nước ngày càng lớn mạnh,đảm bảo cho đời sống nhân dân, giúp đất nước đi vào quy củ, hoàn thiện Ngoài ra,nhà Trần cũng tăng cường xây dựng quân đội ngày càng vững mạnh để chiến đấubảo vệ nền độc lập nước nhà Trước sức mạnh của cơn cuồng phong chiến tranh
xâm lược mang tên Nguyên - Mông, các quốc gia trên thế giới đều là mục tiêu xâm
lược của đội quân này và Đại Việt cũng không phải là một ngoại lệ Tư tưởng yêunước của Trần Quốc Tuấn không chỉ phản ánh điều kiện kinh tế, xã hội, chính trịcủa Đại Việt, mà còn khắc họa thực tiễn sinh động cuộc kháng chiến chống quânNguyên - Mông thế kỷ XIII đầy thách thức và gian khổ Trong cuộc kháng chiếnnày, tư tưởng yêu nước của ông thể hiện thông qua những câu nói với vua Trần,
hành động, cách ứng nhân xử thế, mưu kế đánh giặc, đặc biệt là trong Hịch tướng
sĩ Ngoài ra, Trần Quốc Tuấn luôn là người tuyên phong đánh giặc, ba lần kháng
chiến là ba lần tài năng, trí tuệ quân sự, lòng nhiệt thành yêu nước trong con người
Trang 32ấy được trổi dậy Ông là một trong những nhân tố quyết định giúp nhà Trần giành
thắng lợi trước một thế giặc hùng mạnh, đặc biệt là trong lần kháng chiến thứ hai
và ba Như chúng ta đã biết, Trần Quốc Tuấn không chỉ là một vị tướng tài giỏi,đồng thời ông còn là một con người nhân hậu với nhân cách lớn, luôn yêu thương
và gắn bó với nhân dân và binh lính cả nước Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào củacuộc kháng chiến, lòng yêu nước, ý chí căm thù giặc, chống giặc ngoại xâm củaTrần Quốc Tuấn vẫn luôn luôn bừng sáng, không hề chùn bước trước sức mạnh củaquân thù, là nguồn động lực lớn lao cho sức chiến đấu của toàn quân, toàn dân đểgiành được thắng lợi trọn vẹn
Nếu như trước thế kỷ XIII, Mông Cổ vẫn đang tồn tại trong thời kỳ chế độcông xã thị tộc, sống thành từng bộ lạc hay liên minh bộ lạc Cuối thế kỷ XII, xãhội Mông Cổ đã có sự phân hóa giai cấp, tầng lớp quý tộc ngày càng lớn mạnh trên
cơ sở chiếm đoạt đất đai, bãi chăn nuôi của công xã, dần chiếm quyền lực chính trịtrong xã hội Chính vì vậy, trong xã hội Mông Cổ xuất hiện nhiều mâu thuẫn giaicấp giữa tầng lớp nông dân với giới quý tộc phong kiến đương thời Điều đó dẫnđến các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, liên minh bộ lạc nhằm mục đích để cướpsúc vật, của cải, nô lệ diễn ra quyết liệt Các bộ lạc thất bại trở thành chư hầu của
những bộ lạc chiến thắng gọi là Hãn Quốc gia Mông Cổ được hình thành gắn liền
với chiến thắng của liên minh bộ lạc do Têmujin (Thiết Mộc Chân) đứng đầu Đếnnăm 1206, Têmujin được đại hội quý tộc tôn làm Tringhít Khan (tức là Thành Cát
Tư Hãn) là Hãn mạnh nhất và tên Mông Cổ bắt đầu từ đây
Do chịu sự ảnh hưởng của Trung Quốc nên trong quá trình hình thành vàphát triển Mông Cổ không chuyển từ chế độ công xã nguyên thủy sang chế độchiếm hữu nô lệ mà chuyển thẳng sang chế độ phong kiến Chính sự ra đời của
Hãn mạnh nhất và việc ra đời ông vua phong kiến trong xã hội Mông Cổ đã chấm
dứt chiến tranh bộ lạc và một nhà nước phong kiến quân sự độc tài ra đời Sau khi
Trang 33được thành lập Mông Cổ dưới sự thống trị của Thành Cát Tư Hãn đã tổ chức cáccuộc chiến tranh xâm chiến các dân tộc khác Một hình ảnh đặc trưng của đội quânMông Cổ là vó ngựa đã tràn khắp nơi từ châu Âu sang châu Á, gây nên bao nỗikinh hoàng cho các dân tộc Sở trường và điểm mạnh của quân đội Mông Cổ đó là
kỵ binh: Người Thát lớn lên trên yên ngựa, tự luyện tập chiến đấu, từ mùa xuân
đến mùa đông, ngày ngày săn bắn, đó là cách sống của họ Về đánh trận, họ lợi ở
dã chiến, không thấy lợi thì không tiến quân Trăm quân kỵ của họ quay vòng cóthế bọc được vạn người Nghìn quân kỵ của họ tản ra có thể dài đến trăm dặm Kẻđịch chia ra thì họ chia ra, kẻ địch hợp lại thì họ cũng hợp lại Cho nên, kỵ đội làthế mạnh của họ; hoặc xa hoặc gần; hoặc nhiều hoặc ít; hoặc hợp lại; hoặc tản ra;hoặc ẩn hoặc hiện Đến thì như trên trời rơi xuống, đi thì nhanh và mạnh như chớpgiật Họ mà thắng thì đuổi theo kẻ địch và ra sức chém giết, không để cho trốnthoát; họ mà thua thì chạy nhanh, kẻ địch đuổi theo không thể nào kịp
Các quốc gia, dân tộc trên thế giới chịu sự giày xéo của vó ngựa Mông Cổnhư Trung Á (1218), Bắc Trung Quốc (1219), đánh tan liên quân vương công Nganăm (1223), tiếp đến đánh sang nước Hungrie, Bungrie, Tiệp Khắc v.v Về phíaĐông, quân Mông Cổ tiêu diệt nước Kim ở Bắc Trung Quốc, đánh chiếm TriềuTiên, diệt nhà Tống(1278) lập ra nhà Nguyên trên đất Trung Quốc Có thể khẳngđịnh, trong vòng nửa thế kỷ mà quân Mông Cổ đã tiến hành chiến tranh xâm chiếmtoàn bộ thế giới Á, Âu, đe dọa hòa bình đối với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào màchúng nhòm ngó, Đại Việt cũng không phải là một ngoại lệ Trước sóng gió, hiểmnguy của giặc mạnh, nước Đại Việt nhỏ bé với bề dày truyền thống chống giặcngoại xâm đã dũng cảm đứng lên chiến đấu cả ba lần và đều giành thắng lợi vangdội, ghi danh vào lịch sử hào hùng của dân tộc
Đến năm 1257, quân Nguyên - Mông đã tiến hành mở cuộc tấn công quy môlớn vào Nam Tống của Trung Quốc Bên cạnh đó, một cánh quân khác do tướng
Trang 34Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy kết hợp với đạo quân ở Vân Nam đánh lên Đại Việt
từ đó làm bàn đạp để đánh lên phía Nam nước Tống Tăng cường áp lực đối vớiĐại Việt triều đình Nguyên - Mông đã yêu cầu nhà Trần đầu hàng Đại Việt cùngchung với số phận với các dân tộc khác, nhưng với một dân tộc giàu lòng truyềnthống chống giặc ngoại xâm không biết mệt mỏi, nước ta đã đứng lên đương đầuvới khó khăn và thách thức Ý chí độc lập dân tộc, quyết tâm bảo vệ giang sơn củanhà Trần thể hiện qua việc bắt giam sứ giả của Nguyên - Mông vào ngục Đồngthời, cả nước Đại Việt đã gấp rút chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất để chiến đấu với
giặc dữ Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống giặc Nguyên - Mông lần thứ nhất chính thức bắt đầu.
Trong hoàn cảnh Tổ quốc lâm nguy, cả nước bừng bừng khí thế chống quânxâm lược, thì Trần Quốc Tuấn là một nhân tố góp sức vào công cuộc chuẩn bị đócủa vua, quan nhân dân nhà Trần Ông được vua Trần Thái Tông đề cử làm chỉ huycác tướng đem quân thủy bộ lên phòng thủ vùng biên giới Đây là địa bàn rừng núihiểm yếu có một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng đối với chiến sự nhà Trần.Trần Quốc Tuấn với trí tuệ, tài năng và mưu lược về việc dụng binh, khiển tướng
đã góp phần vào chiến thắng chung của cả nước Bên cạnh đó, cả nước Đại Việtđược lệnh sắm sửa vũ khí, sẵn sàng đánh giặc, vốn dĩ vua quan nhà Trần thích thú,ngày đêm luyện tập võ nghệ để bây giờ có thời cơ để trổ tài Bên kia chiến tuyến,quân Nguyên - Mông với tâm lý chờ đợi, mong tin từ sứ giả nhưng không thànhcông Vua Nguyên - Mông quyết định dùng quân sự xâm chiếm Đại Việt Chínhtâm lý của nước mạnh nên Nguyên - Mông chỉ đem khoảng 3 vạn quân để đánhthắng Đại Việt Đầu năm 1258, quân Nguyên - Mông dưới sự chỉ huy của NgộtLương Hộp Thai với âm mưu tiêu diệt quân chủ lực và bắt sống vua nhà Trần đãtấn công nước ta Sau khi đánh tan các đạo quân biên giới, tiếp đến vùng Bình LêNguyên, thì tại nơi đây quân Nguyên - Mông đã gặp phải một sự chiến đấu anh
Trang 35dũng của quân và dân nhà Trần Trước khí thế như vũ bão của quân địch, quân nhàTrần tạm thời rút lui về Phù Lỗ để bảo toàn lực lượng Vua Trần đã phá tan kếhoạch đánh nhanh thắng nhanh của quân Nguyên - Mông qua việc phá cầu Phù Lỗ
và lập phòng tuyến ở bờ nam sông Cà Lồ, nhưng vẫn không cản được bước tiếncủa giặc quân ta lại lui quân về Thăng Long, rồi đến Đông Bộ Đầu Trước sự uyhiếp của giặc Nguyên - Mông đối với kinh thành Thăng Long, triều đình nhà Trần
đã chủ trương vận động nhân dân di chuyển vê Thiên Mặc, thực hiện kế sách Vườn không nhà trống để đánh giặc Khi địch tiến vào kinh thành chỉ thấy được một
cảnh hoang tàn không một bóng người, chỉ có duy nhất những sứ giả bị trói trongngục, quân Nguyên - Mông vô cùng giận dữ tàn phá Thăng Long và tiến hànhcướp bóc dân chúng xung quanh để báo thù nhưng đều bị đánh trả quyết liệt, thấtbại
Trong tình thế bị tấn công liên tiếp của quân giặc, đã xuất hiện những người
đã tỏ ra lo lắng với mong muốn đầu hàng nhưng đa phần quân dân Đại Việt luônkhẳng định chiến đấu đến cuối cùng, quyết tâm không chịu đầu hàng và chịu mất
nước thể hiện qua câu nói của Trần Thủ Độ: Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ
hạ đừng lo" Câu trả lời hùng hồn, đầy khí phách đó đã tiếp thêm sức mạnh cho ý
chí chiến đấu của quân dân nhà Trần Sau một thời gian chuẩn bị sẵn sàng, cùngvới đó quân giặc đang lâm vào tình thế khó khăn vì thiếu lương thực, ngày 19tháng 1 năm 1258 quân ta đã mở một cuộc phản công từ Thiên Mạc ngược dòngsông Hồng tiến lên Đông Bộ Đầu để đánh thẳng kinh thành Thăng Long Chínhyếu tố bất ngờ cộng với sự yếu ớt của quân giặc không mấy chốc quân ta đã đánhtan đạo quân Nguyên - Mông, buộc chúng phải tháo chạy về phương Bắc Quátrình rút lui của quân địch diễn ra vô cùng khó khăn, gian nan và luôn bị quân ta
mai phục khắp nơi chặn đánh bất ngờ Nhân dân Đại Việt mỉa mai đó là "giặc Phật".
Trang 36Như vậy, chỉ trong vòng nửa tháng quân dân Đại Việt ở thời Trần đã đánhbại hoàn toàn cuộc xâm lược của quân Nguyên - Mông hung bạo, do một tên tướnglão luyện "bách chiến bách thắng" trên mọi chiến trướng Á, Âu chỉ huy Cuộckháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ nhất (1258) đã thể hiệnmột ý chí kiên cường, đoàn kết và lòng dũng cảm mưu lược vô song của quân dânĐại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của vua Trần Thái Tông và các quần thần, đặcbiệt là Trần Thủ Độ và Trần Quốc Tuấn Chính trong chiến thắng này, vua Trần đãphát hiện được tài năng quân sự xuất chúng của Trần Quốc Tuấn Ông đã tiênphong chiến đấu chống giặc, khẳng định lòng trung thành với Tổ quốc, không chùnbước trước sức mạnh quân thù Trần Quốc Tuấn là một nhân tố đã đoàn kết toàndân tham gia kháng chiến chống giặc ngoại xâm Đó là một biểu hiện sâu sắc củatinh thần yêu nước của một vị tướng tài, một người con đất Việt
Năm 1279, Nam Tống bị tiêu diệt, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ xâmchiếm, Khubilai (Hốt Tất Liệt) lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều Nguyên ở TrungQuốc (1279 - 1368) Sau khi đánh thắng quân Nguyên - Mông lần thứ nhất thì nhàTrần đã tăng cường xây dựng củng cố đất nước vừa thực hiện các chính sách ngoạigiao mềm dẻo, linh hoạt, cứng rắn đối với Nguyên - Mông và Champa ở phía Nam.Trong đó, Nguyên - Mông thì nhà Trần thực hiện chính sách ngoại giao vừa mềmdẻo vừa lại cứng rắn để kéo dài thời gian chuẩn bị cho cuộc chiến lần thứ hai.Trước chính sách ngang ngược của nhà Nguyên thì nhà Trần đã cố gắng chối từnhưng vẫn thực hiện các yêu cầu phù hợp với điều kiện nước ta, để giữ hòa hảo với
kẻ thù Vua Trần Nhân Tông để thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến đã phái Trần
Di Ái cùng Lê Tuân, Lê Mục sang nhà Nguyên Nhưng triều Nguyên đã tận dụng
cơ hội này lập nên chính quyền bù nhìn tay sai để nhanh chóng xâm chiếm ĐạiViệt Hốt Tất Liệt đã phong cho Trần Di Ái làm An Nam quốc vương, ban tước cho
Lê Tuân, Lê Mục Nhà Trần đã phát hiện âm mưu của nhà Nguyên là dùng người
Trang 37Việt đánh người Việt đánh chuẩn bị lực lượng chặn đánh chính quyền bù nhìn Trần
Di Ái của nhà Nguyên và bắt về trị tội ngay biên giới Trước khi tấn công Đại Việtlần thứ hai thì nhà Nguyên đã thực hiện chiến tranh đối với Champa nhưng chịuthất bại nặng nề Năm 1282 triều Trần đã triệu tập Hội nghị Bình Than để bàn về
kế hoạch kháng chiến Đến năm 1284, vua Trần đích thân chỉ huy một cuộc duyệtbinh quy mô lớn, và phong cho Trần Quốc Tuấn làm Tiết chế tổng chỉ huy toàn
quân đội nhà Trần Trần Quốc Tuấn đã biên soạn bài Hịch Tướng Sĩ để cổ vũ,
khích lệ, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, lòng căm thù giặc ngoại xâm củatướng sĩ Ngoài ra, để thống nhất ý chí đánh giặc trong toàn quân, toàn dân, khích
lệ tinh thần yêu nước, đoàn kết bảo vệ đất nước, Trần Thánh Tông đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng mọi người đều đồng thanh hô "Đánh" Chính hội nghị này đã thôi
thúc khí thế xả thân đánh giặc cứu nước cả nước một ngày dâng cao Hốt Tất Liệt
đã huy động một đội quân khổng lồ hàng chục vạn người đặt dưới quyền chỉ huycủa Trấn Nam Vương Thoát Hoan, và con trai của Hốt Tất Liệt, kết hợp với đạoquân của Lý Hằng, Toa Đô tiến đến gần biên giới nước ta với ba đội quân: mặtĐông Bắc là quân của Thoát Hoan Từ Quảng Tây quân Nguyên tiến vào LạngSơn, đến Mộc Châu được chia làm hai cánh quân: cánh phía tây tiến theo đườngKhâu Ôn, cánh phía Đông tiến theo đường Khâu Cấp, còn quân do Thoát Hoan chỉhuy đi với cánh đông Ngày 12 tháng 1 năm 1285, hai cánh quân cùng tiến vượtqua Khâu Cấp, quân Nguyên tấn công ải Khả Ly, tiến đánh ải Động Bản rồi chiaquân làm 6 mũi tiến công ải Nội Bàng nơi mà Trần Quốc Tuấn đang trấn giữ, cánhphía Tây vượt ải Khâu Ôn đánh chiếm ải Chi Lăng
Trước thế giặc mạnh, Trần Quốc Tuấn với mưu lược, tài năng dùng binhquyết định rút quân về Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Dương ngày nay) Hành động rútlui của Trần Quốc Tuấn phù hợp với thực tế giữa ta và địch, khi mà giặc mà ta yếu,giặc đông ta ít Đồng thời, ông đã tính toán chu đáo để giúp quân ta tránh mất mát
Trang 38về người và sức lực khi đánh với một đội đang sục sôi và mạnh mẽ như quânNguyên Vua Trần hoang mang khi chứng kiến cảnh quân Nguyên - Mông tấn công
ồn ạt như vũ bão của giặc đã hỏi ý kiến của Trần Quốc Tuấn có nên hàng hay đánh.Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái, kiên định trả lời xin bệ hạ hãy chém đầu thần trướcrồi hãy hàng Đây là câu trả đầy khí phách của vị anh hùng dân tộc khẳng định mộtniềm tin sắt đá và quyết tâm kháng chiến đến hơi thở cuối cùng của người lãnh đạocuộc kháng chiến Hơn thế, câu nói Trần Quốc Tuấn thể hiện tình yêu nước da diết,lòng căm thù giặc, lấy tính mạng của bản thân để đổi lấy độc lập dân tộc, chủquyền quốc gia, thể hiện một ý chí kiên cường bất khuất của cả một dân tộc anhdũng
Sau khi rút lui an toàn, vua dân nhà Trần đã xây dựng kế hoạch chiến lược,với một số trận đánh để tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện thuận cho nhân dân rời
khỏi kinh thành Thăng Long với kế hoạch Vườn không nhà trống Kinh thành Thăng Long lúc này trống rỗng, có treo những tấm bảng với dòng chữ: "Tất cả các quận huyện trong nước nếu có giặc ngoài đến thì phải liều chết mà đánh, nếu sức không địch nỗi thì cho phép được lẫn tránh vào rừng núi, chứ không được đầu hàng! Trần Quốc Tuấn được tin nhiệm tin tưởng giao phó toàn quyền trong việc lựa chọn nhân tài, tướng sĩ, tổ chức chỉ đạo cuộc kháng chiến Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quán sử quán triều Nguyễn tứng viết: Tháng 10, mùa Đông (năm Quý Mùi 1283) Trung Phẩm là Hoàng Ư Lệnh và Nội thư gia Nguyên sai thái tử là A Thai (Thoát Hoan) và Bình chương A Thích hội họp 50 vạn quân ở Hồ Quảng, định đến sang năm kéo sang cướp nước ta, Bấy giờ nhà vua thân hành đem các vương hầu điều động tất cả quân thủy, quân bộ, thao diễn chiến trận, hạ lệnh cho Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế thống lĩnh tất cả các sắc quân; chọn trong hàng tướng tá nếu người nào có tướng tài thì phân phối cho thống lĩnh đội ngũ của từng bộ phận và nhà vua hạ lệnh cho Hưng Đạo
Trang 39Vương Quốc Tuấn điều khiển các sắc quân của vương hầu mở cuộc duyệt binh lớn
ở Đông Bộ Đầu, rồi chia quân ra đóng giữ bến Bình Than và các nơi xung yếu"
[Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1,
tr 513 - 514] Trần Quốc Tuấn đã chủ động huy động quân, dân các lộ và quân đội
riêng của các vương hầu để bổ sung lực lượng, tăng cường sức chiến đấu, chỉ mộtthời gian ngắn số lượng quân lên tới 29 vạn quân Ông còn xây dựng một phòngtuyến chặn giặc ở Vạn Kiếp và Bình Than và bố trí quân ở Vạn Kiếp, Phả Lại, BắcGiang Trần Quốc Tuấn đã trực tiếp chỉ huy một đạo quân thủy hơn nghìn chiếcthuyền chiến bày trận cách chốt Vạn Kiếp khoảng 10 dặm Ngày 11 tháng 2 năm
1285, quân Nguyên - Mông do Ô Mã Nhi chỉ huy đánh vào các căn cứ của quânnhà Trần tại Vạn Kiếp, Phả Lại, Bình Than Vua Trần và Trần Quốc Tuấn đã anhdũng lãnh đạo toàn quân, toàn dân đứng lên chiến đấu chống lại quân Nguyên -Mông trong suốt bốn ngày, sau đó rút lui về Thăng Long nhằm bảo toàn lực lượng
Ngày 19 tháng 2 năm 1285, quân Nguyên - Mông dưới sự chỉ huy củaThoát Hoan đã dẫn quân đánh vào Thăng Long nhưng kinh thành vắng không mộtbóng người, rút kinh nghiệm từ lần thua trước, quân giặc đã tiến về phía bắc sôngHồng để đóng quân Sau khi vua Trần và binh lính rút về Thiên Trường thì TrầnQuốc Tuấn đã đưa ra kế sách điều động các tướng lĩnh trấn giữ những địa bàn xungyếu như đề nghị cử Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật trấn giữ Nghệ An, và ngày 5tháng 3 năm 1285, cử Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đem quân vào tăngcường cho Trần Nhật Duật ở Nghệ An Bên cạnh việc tấn công vào căn cứ vuaTrần, quân Nguyên - Mông còn ra sức củng cố các vùng đã chiếm được và chúngcho đóng trại dày đặc cứ 30 dặm lập một trại, 60 dặm đặt một trạm ngựa Tại mặttrận Thiên Mạc, Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng đã chiến đấu anh dũng hi sinhtrong một cuộc chiến không cân sức, ông đã anh dũng, không khuất phục trước sức
mạnh và lời dụ dỗ của quân thù Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm
Trang 40vương đất Bắc Phòng tuyến Nghệ An do Trần Nhật Duật trấn giữ đã bị quân Toa
Đô chiếm lấy và tiến thẳng vào Thanh Hóa Trước tình thế khó khăn gian nguy,nhiều quý tộc đã đầu hàng giặc như Trần Kiện, Lê Trắc thể hiện một sự nhunhược, yếu hèn Nhưng đa phần các phong trào của nhân dân Đại Việt với mộtđường lối chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân do Trần Quốc Tuấn vạch ra đãđược tiến hành khá sôi nổi và quyết liệt Khi quân Thoát Hoan tấn công vào ThiênTrường, Trần Quốc Tuấn đã mưu trí, quyền biến tổ chức việc rút lui từ ThiênTrường ra cửa Giao Hải (huyện Giao Thủy, Nam Định ngày nay) rồi ra biển đingược lên phía Bắc, quay vào Tam Trĩ nguyên Sau đó, Trần Quốc Tuấn và hai vuaTrần lại đi thuyền ra cửa Nam Triệu vào Thanh Hóa nên đã thoát khỏi sự truy đuổicủa quân Nguyên - Mông Trong cuộc rút lui tài tình này, Trần Quốc Tuấn đã đượccác vua Trần tin cậy giao một trọng trách lớn là bảo vệ và đưa hai vua đi lánh nạn
Đến tháng 5 năm 1285, nhận thấy được thời cơ phản công nên Trần QuốcTuấn và vua Trần đã chuẩn bị sẵn sàng kéo binh ra Bắc, mở đầu giai đoạn phảncông Trần Quốc Tuấn đã chủ trương cho các tướng Trần Quang Khải, Trần NhậtDuật tấn công quân Nguyên - Mông ở dọc sông Hồng nhằm chia cắt, ngăn chặn sựgặp nhau của quân Toa Đô và Thoát Hoan, từ đó uy hiếp, và đẩy quân Thoát Hoanvào thế cô lập nhằm đánh chiếm kinh thành Thăng Long Về phần mình, TrầnQuốc Tuấn đã tiên phong đem quân lên vùng Bắc Giang, Vạn Kiếp bố trí lực lượngtiêu diệt giặc trên đường tháo chạy về nước Ngoài ra, ông còn cử tướng sĩ maiphục sẵn sàng tiêu diệt quân giặc khi chúng thua chạy Nhờ tài mưu lược, điều binhkhiển tướng của Trần Quốc Tuấn quân Đại Việt đã dành thắng lợi trên nhiều mặttrận như đánh chiếm A Lỗ là cứ điểm đầu tiên của quân Nguyên trên sông Hồng,cuối tháng 5 năm 1285, quân của Trần Quang Khải, Nguyễn Khoái, Trần QuốcToản đánh bại giặc của Toa Đô ở Tây Kết hay Trần Nhật Duật tiêu diệt giặc ở Hàm
Tử, sau đó tấn công Chương Dương, giặc phải rút về Thăng Long