1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN HOÀN CHỈNH 9-10-converted

132 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, thế kỉ mà khoa học–công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, đưa loài người sang kỉ nguyên công nghệ, thông tin và phát triển kinh tế tri thức Một trong những con đường để đưa đất nước phát triển và hội nhập với thế giới thành công, đó là phát triển GD&ĐT Nghị quyết số 29-NQ/TW, Hội nghị lần thứ tám ban chấp hành trung

ương Đảng khóa XI nêu: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học,

ngành học.” [16, tr.2]

Nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đặc biệt trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng, đặt cơ sở ban đầu cho việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người Vì vậy, giáo dục tiểu học là bậc học

có ảnh hưởng sâu sắc đến cả quá trình giáo dục ở các cấp, bậc học sau này Mục tiêu của giáo dục tiểu học nước ta đã được cụ thể hóa trong Luật

giáo dục 2005 như sau: “Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho

sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các

kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”[1, mục 2, Điều 27]

Trang 2

Mục tiêu đổi mới đối với giáo dục tiểu học là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh; Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn;

Hiện nay ở nước ta, chất lượng giáo dục đã có sự khởi sắc, đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục, góp phần vào sự phát triển và hội nhập của đất nước Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên và giáo viên được nâng cao giáo dục đại học đó từng bước vươn lên, đào tạo được đội ngũ đông đảo cán bộ khoa học kĩ thuật đã và đang công tác và có những cống hiến quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế,

xã hội Mặc dù đạt được những thành tựu trên song nhìn chung hệ thống giáo dục đào tạo của nước ta vẫn còn bất cập so với yêu cầu phát triển của đất nước Nghị quyết Trung ương TW2 khoá VIII đã khẳng định “Giáo dục nước

ta vẫn còn nhiều yếu kém bất cập cả qui mô lẫn cơ cấu và nhất là chất lượng ít hiệu quả, chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Để giải quyết mâu thuẫn trên đòi hỏi chúng ta phải thay đổi quan niệm, nhận thức

về giáo dục, giáo dục phải hướng tới chất lượng chứ không phải số lượng, chú trọng và nâng cao trách nhiệm và các biện pháp quản lí hoạt động dạy học [17]

Môn Tiếng Việt trong nhà trường TH là công cụ để học tập những môn học khác và vận dụng vào trong đời sống thực tế Trong thực tế hiện nay, công tác QLHĐDH môn Tiếng Việt bậc TH ở quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh đã có sự cố gắng, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Đội ngũ

Trang 3

CBQL, GV giảng dạy chưa thực hiện tốt các yêu cầu của mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt bậc TH HS chưa tự giác trong học tập và chưa tìm được phương pháp học tập hiệu quả CSVC phục vụ việc dạy và học còn thiếu, chưa đồng bộ, công tác QLHĐDH môn Tiếng Việt chậm đổi mới và còn nhiều bất cập so với yêu cầu đổi mới Giáo dục tiểu học

Từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu là:“Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố

Hồ Chí Minh”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng đề xuất các biện pháp hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân,

Thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận

Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được các cấp quản lí giáo dục quan tâm chỉ đạo và đạt được những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, so với yêu cầu đổi mới vẫn còn nhiều bất cập Nếu tổ chức nghiên cứu sâu sắc cơ

sở lí luận và khảo sát, đánh giá đúng thực trạng về quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí

Trang 4

Minh thì sẽ đề xuất được các biện pháp cho việc quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học, Thành phố Hồ Chí Minh đạt hiệu quả

5.3 Đề xuất được các biện pháp cần thiết, khả thi để quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh và khảo sát ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

đề xuất

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Chủ thể quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học được xác định là: Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn

6.2 Về địa bàn nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu tại 15 trường tiểu học thuộc địa bàn Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh Các trường tiểu học được khảo sát nghiên cứu gồm: Lê Trọng Tấn, Tân Tạo, Bình Trị Đông, Lê Công Phép, An Lạc 1, An Lạc 2, An Lạc 3, Bình Trị 1, Bình Trị 2, Ngô Quyền, Kim Đồng, Bình Hưng Hòa 1 Bình Trị Đông A, Bình Long, Bình Thuận

6.3 Thời gian nghiên cứu đề tài thuộc các năm học 2016–2017;

2017-2018

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhó m phương pháp nghiên cứu lí luận

Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận nhằm thu thập các thông tin khoa học, các tài liệu về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lí

Trang 5

giáo dục, quản lí dạy học với đối tượng học sinh tiểu học ở quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

Ở nhóm phương pháp này đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nhằm phân tích các tài liệu khoa

học, các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về quản lí giáo dục, quản lídạy học thành từng bộ phận, theo mặt thời gian, tạo thành hệ thống mới phục

vụ cho việc nghiên cứu

- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết: Nhằm sắp xếp các tài liệu khoa học, văn bản chỉ đạo thành hệ thống logíc chặc chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học; sắp xếp thành một mô hình lí thuyết

7.2 Nhó m phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài Thuộc nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí giáo dục: Trên cơ sở báo cáo của phòng Giáo dục quận Bình Tân cùng với tổng kết những mặt mạnh và mặt còn tồn tại trong việc thực hiện công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học, Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu

Trang 6

8 Đóng góp của luận văn

Đề xuất được các biện pháp, cần thiết, khả thi, phù hợp nâng cao chất lượng hiệu quả quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu; kết luận và khuyến nghị; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục nghiên cứu, luận văn có 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC

MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Trong lịch sử, có những ngôn ngữ mà vì một lí do nào đó đã bị chia tách

ra thành nhiều ngôn ngữ khác nhau Ngôn ngữ bị chia tách đó thường được

gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ sở Như vậy, về nguyên tắc, có thể tìm

tòi ngược dòng thời gian lịch sử của những ngôn ngữ được giả định là vốn cùng “sinh ra” từ một ngôn ngữ mẹ, để quy chúng vào những nhóm, những chi, những ngành, những dòng khác nhau, tuỳ theo mức độ thân thuộc nhiều hay ít

Trong hai năm 1953 và 1954, A.G Haudricourt đã lần lượt công bố hai

bài báo quan trọng: Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt; Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt Với hai bài báo này, ông đề nghị phải xếp tiếng Việt

vào họ ngôn ngữ Nam Á Cần phải nói ngay rằng, A.G Haudricourt không phải là người đầu tiên nêu ra quan điểm xếp tiếng Việt vào họ ngôn ngữ Nam

Á Hiện nay, đây là quan điểm nhận được nhiều sự đồng tình nhất bởi cơ sở khoa học của nó Trong số những ý kiến ủng hộ đó, có thể coi lập luận của Haudricourt là đầy đủ nhất và là những lí lẽ đại diện cho cách phân loại này Hơn thế nữa, qua lập luận của Haudricourt chúng ta còn có thể rút ra được những cơ sở để xác định nguồn gốc tiếng Việt A.G Haudricourt đã khẳng

định: “tốt nhất là chỉ nên xếp tiếng Việt là thành viên của nhánh Mon-Khmer thuộc họ Nam Á ở khu vực Đông Nam Á hiện nay”.[1,tr 19-22], [2, tr.23-31]

Nhà sư phạm J.A Cômenxki (1592 - 1670) khi đặt nền móng cho hệ thống các nhà trường cũng đề cập đến vấn đề quản lí hoạt động dạy học của người giáo viên Ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên

Trang 8

Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào

sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ điều gì Ông cũng đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị lớn như: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; Dạy học phải thiết thực; Dạy học theo nguyên tắc cá biệt…[11]

Trong quá trình phát triển GD Xô Viết (cũ), nhiều nhà nghiên cứu khoa học GD đã lần lượt cho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về QL hai quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: QL quá trình DH (trong đó có QL hoạt động DH) và QL quá trình GD Sự tập trung của những kiến giải đó được thể hiện cụ thể trong các tác phẩm xuất bản vào giữa những năm 70 Đặc biệt, M.I Kôndakốp, nhà lí luận và hoạt động thực tiễn xuất sắc của Liên Xô (cũ) đã dày công nghiên cứu những vấn đề về

QLGD [28]

Như vậy, trong những công trình nghiên cứu của mình, các nhà nghiên

cứu QLGD Xô Viết cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lí công tác hoạt động của đội ngũ GV” [49, tr 53] Đó chính là QL hoạt động DH

Các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và trong nước với tầm vóc qui mô về giá trị lí luận và thực tiễn được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả to lớn trong phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà Tuy nhiên, phần lớn các công trình trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về lí luận có tính chất tổng quan về QLGD, QL trường học, ý kiến xác định nguồn gốc tiếng Việt, còn về QLHĐDH môn Tiếng Việt bậc TH chưa được đề cập nhiều Trước yêu cầu cấn thiết của thực tiễn ở các trường TH là đổi mới công tác QLHĐDH,

Trang 9

trong đó có QLHĐDH môn Tiếng Việt, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu về QLHĐDH môn Tiếng Việt ở các trường TH ở quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước

Trong lịch sử giáo dục, ở mỗi thời kỳ phát triển, dưới những góc độ khác nhau, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp quản lí hữu hiệu để xây dựng được nền giáo dục có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển của mỗi quốc gia và của thời đại

Theo Trung tâm KHXH&NV Quốc gia ghi rõ:“ Tiếng Việt có nguồn gốc rất cổ xưa và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài, đầy sức sống Sức sống đó biểu hiện tinh thần dân tộc mạnh mẽ và sáng tạo của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh anh dũng vì tiền đồ của đất nước, trong sự phấn đấu bền bỉ để xây dựng và phát triển một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học

Việt Nam” [50, tr 13-15]

Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt, Nguyễn Thiện Giápđã nêu: “Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa lại “địa vị ngôn ngữ chính thức của quốc gia” cho tiếng Việt Từ đó, tiếng Việt đã phát triển nhanh chóng, toàn diện, có ảnh hưởng sâu rộng đến tất cả các ngôn ngữ thiểu số ở Việt Nam”.[21, tr 2]

Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, tại chương I điều 5 mục 3, là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết Tuy nhiên hiện chưa có bất kì văn bản nào ở cấp nhà nước quy

định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt Hiện nay phần lớn các văn bản trong nước được viết theo những "Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ Tiếng Việt" áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục nêu tại Quyết định của Bộ Giáo dục số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm

Trang 10

1984 do những người thụ hưởng giáo dục đó sau này ra làm việc trong mọi

Về mặt phương pháp dạy học Tiếng Việt, có một số tài liệu, tác giả đề cập đến như:

- Một số vấn đề cơ bản của Trần Bá Hoành: Đánh giá trong giáo dục, Nhà xuất bản Giáo Dục [26]

- Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt- Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm - Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội [37]., Đặng Thị Lanh (2009) [32]

- Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ đề cập đến QLGD, QL trường học, đặc trưng bộ môn Tiếng Việt hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung

Gần đây một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục chuyên ngành quản lí giáo dục bước đầu cũng đã đề cập đến các biện pháp quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học dưới nhiều góc độ khác nhau Đó là các đề tài như:

- Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận

Ngô Quyền, Thành phố Hải phòng của tác giả Phạm Minh Ngọc [40]

Trang 11

- Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học Thành phố Uông Bí quận Ngô Quyền Tỉnh Quảng Ninh của tác giả Ngô Thị

Việt Hà [22]

Các đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sĩ của một số tác giả, mỗi đề tài nghiên cứu đều đề cập đến những khía cạnh khác nhau của Quản lí hoạt động

dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học Với nguồn tư liệu thu thập

được, chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đề cập và nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh Nên đã chọn đề tài:

“Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh” và từ đó đề xuất những biện pháp quản lí phù

hợp và hiệu quả để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học nhất là trong giai đoạn thực hiện chương trình giáo dục

phổ thông mới và sách giáo khoa mới

1.2 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

1.2.1.1 Hoạt động

Hoạt động là quá trình tác động qua lại tích cực giữa con người với thế giới khách quan mà qua đó mối quan hệ thực tiễn giữa con người với thế giới khách quan được thiết lập

Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau là quá trình đối tượng hoá và quá trình chủ thể hoá

Quá trình đối tượng hóa là quá trình chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm của hoạt động, hay nói khác đi tâm lý người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm

Trang 12

Quá trình chủ thể hóa là quá trình chuyển từ phía khách thể vào bản thân chủ thể những quy luật, bản chất của thế giới để tạo nên tâm lý, ý thức nhân cách của bản thân bằng cách chiếm lĩnh thế giới

Như vậy, trong hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói khác đi tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ và hình thành trong hoạt động.[42, tr.16]

1.2.1.2 Hoạt động dạy học

a) Khái niệm dạy học

Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích lũy được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội

thành phẩm chất và năng lực cá nhân

b) Hoạt động dạy học

Hoạt động dạy học là quá trình hoạt động phối hợp giữa giáo viên và học sinh Hoạt động tích cực của hai nhân vật này quyết định đến chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Hoạt động dạy chỉ đạo hoạt động học và hoạt động học là cơ sở, là trung tâm cho mọi sự cải tiến của hoạt động dạy

Sự thống nhất biện chứng giữa hai hoạt động dạy và hoạt động học thể hiện

ở sự gắn bó chặt chẽ, tính chất hai mặt Không có học không thể có hiện tượng dạy học và ngược lại không có dạy vẫn có hiện tượng dạy học diễn ra theo kiểu tự học nhưng nó không gắn liền với khái niệm dạy học Hai hoạt động này tác động biện chứng với nhau, thúc đẩy lẫn nhau để cùng phát triển

Sự tác động biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học dẫn đến sự phát triển không ngừng của quá trình dạy học Hoạt động dạy và hoạt động học là hai quá trình thống nhất với nhau có sự tác động qua lại chặt chẽ với nhau và là sự tác động của quá trình dạy mà giáo viên là chủ thể, xét cho cùng

là nhằm thực hiện tốt sự tác động vào hoạt động học tập, nhằm thúc đẩy hoạt động nhận thức mà học sinh là chủ thể

Trang 13

Vậy hoạt động dạy học là hệ thống những hành động phối hợp, tương

tác giữa GV và HS, trong đó, dưới tác động chủ đạo của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học

và những phẩm chất của nhân cách

1.2.1.3 Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học bước đầu dạy cho học sinh nhận biết được những tri thức sơ giản, cần thiết bao gồm ngữ

âm, chữ viết, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả Trên cơ sở đó, rèn luyện các kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu quả trong suy nghĩ và trong giao tiếp

Hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học gồm các bước sau:

- Giáo viên giảng dạy đúng mục tiêu phân môn Tiếng Việt tiểu học giúp

HS phát triển nhận thức mà còn phát triển các đặc điểm nhân cách để trở thành một người có ích cho xã hội sau này Môn Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng:

nghe, nói, đọc, viết

- Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, hoạt động giáo dục, đặc điểm đối tượng học sinh và điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình

cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh

- Sách giáo khoa và phương tiện dạy học môn Tiếng Việt phải đáp ứng

yêu cầu của phương pháp giáo dục tiểu học

Trang 14

- Hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt bao gồm các hình thức tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục trên lớp, trong và ngoài nhà trường Các hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt phải bảo đảm cân đối, hài hoà giữa dạy học môn Tiếng Việt và hoạt động giáo dục khác; giữa dạy học theo lớp, nhóm và cá nhân ; bảo đảm chất lượng giáo dục chung cho mọi đối tượng và tạo điều kiện phát triển năng lực cá nhân của học sinh

- Để bảo đảm quyền học tập và học tập có chất lượng cho mọi trẻ em,

có thể tổ chức dạy học và hoạt động giáo dục theo lớp ghép, lớp học hoà nhập, Đối với học sinh biểu hiện có năng khiếu, có thể vận dụng hình thức dạy học và hoạt động giáo dục phù hợp nhằm phát triển các năng khiếu đó Giáo viên chủ động lựa chọn, vận dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với nội dung, từng đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể

- Đánh giá kết quả môn học Tiếng Việt được đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét của giáo viêntrong mỗi lớp và cuối cấp cần phải :

a) Bảo đảm tính toàn diện, khoa học, khách quan và trung thực;

b) Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ của từng môn học và hoạt động giáo dục ở từng lớp, ở toàn cấp học để xây dựng công cụ đánh giá thích hợp;

c) Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì ; giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh ; giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng;

d) Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các hình thức đánh giá khác

- Đánh giá kết quả giáo dục đối với học sinh ở môn Tiếng Việt trong mỗi lớp và cuối cấp nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu môn Tiếng Việt, làm căn cứ để điều chỉnh quá trình giáo dục, góp phần nâng cao chất lượng

Trang 15

giáo dục toàn diện, động viên, khuyến khích học sinh chăm học và tự tin trong học tập.

1.2.2 Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

1.2.2.1 Quản lí

Hoạt động quản lí đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Quản lí là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, mỗi ngành khoa học nghiên cứu quản lí từ góc độ riêng của mình và đưa ra những định nghĩa khác nhau Chúng tôi sẽ trình bày dưới đây một số định nghĩa, quan niệm về

"Quản lí" của các nhà triết học, nhà khoa học quản lí như sau: Theo Harold Koontz: "Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì cách quản

lí là một nghệ thuật, còn kiến thức có thể tổ chức về quản lí là một khoa học” [29, tr.138]

Tác giả Trần Khánh Đức (2014) khái quát: “Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và các điều kiện nhất định” [15, tr.393, 394]

Theo tác giả Nguyễn Lộc (2010), quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có để đạt được những mục tiêu của tổ chức

[35, tr 16]

Các tác giả Đặng Quốc Bảo,Vũ Ngọc Hải, Bùi Minh Hiền (2011) định

Trang 16

nghĩa: “ Quản lí là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [24, tr 12]

Như vậy bản chất của quản lí là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua 4 chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, để đạt được các mục tiêu đề ra Nói cách khác , các chức năng quản lí là bô khung để các chủ thể quản lí tổ chức các tri thức quản lí trong nó Qua các định nghĩa và quan niệm về “quản lí” như đã trình bày ở trên, ta thấy rằng trong hoạt động quản lí luôn tồn tại hai thành tố đó là chủ thể quản lí và khách thể quản lí Chủ thể quản lí có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lí, điều khiển tổ chức để tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu Khách thể quản lí là những người chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lí nhằm đạt mục tiêu

chung

Vậy có thể đưa ra khái niệm: “QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”

Sơ đồ 1.2 Chức năng của quản lí

Kế hoạch

Chỉ đạo

Trang 17

1.2.2.2 Quản lí hoạt động dạy học

Quản lí hoạt động dạy học là một trong những công việc quan trọng nhất trong công tác quản lí nhà trường Quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường là nội dung, là cách thức mà chủ thể quản lí cần cụ thể hoá để thực hiện các chức năng quản lí giáo dục và mục tiêu quản lí giáo dục

Quản lí hoạt động dạy học là nhiệm vụ trọng tâm trong quản lí giáo dục nói chung và quản lí nhà trường nói riêng Trong quá trình dạy học, các yếu tố mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện dạy học, luôn vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò là hai hoạt động trung tâm của quá trình dạy học, là hai hoạt động có tính chất khác nhau nhưng thống nhất biện chứng với nhau trong mối quan hệ qua lại giữa thầy với trò, giữa dạy với học, chúng cùng lúc diễn ra trong những điều kiện

cơ sở vật chất, kỹ thuật nhất định Nếu coi quá trình dạy học như một hệ thống thì trong đó quan hệ dạy của thầy với học của trò thực chất là mối quan

hệ điều khiển Với tác động sư phạm của nhà giáo, thầy tổ chức điều khiển hoạt động của trò

Kết luận có ý nghĩa thực tiễn rút ra từ quá trình dạy học đối với người quản lí nhà trường là: Hoạt động quản lí chủ yếu tập trung vào hoạt động của thầy và trực tiếp với thầy, gián tiếp với trò; thông qua hoạt động dạy của thầy

để quản lí hoạt động học của trò Quản lí chuyên môn trong nhà trường thực chất là quản lí hoạt động dạy và học, trong đó ta cần quan tâm đến quản lí hoạt động dạy của thầy, quản lí hoạt động học của trò, quản lí trang thiết bị phục vụ cho dạy và học

Yêu cầu của quản lí hoạt động dạy học là phải quản lí các thành tố cấu trúc của quá trình dạy học vì vậy nội dung quản lí dạy học bao gồm quản lí

Trang 18

mục tiêu, chương trình, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện, hình thức t ổ chức dạy học, giáo viên, học sinh, kết quả dạy học

1.2.2.3 Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

a) Quản lí việc dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên

Quan hệ giữa dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên và học tập môn Tiếng Việt của học sinh là mối quan hệ thống nhất biện chứng.Với tác động

sư phạm, giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh Hiệú trưởng quản li việc dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên trong nhà trường là quản lí các mặt sau:

- Quản lí việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt

Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt được quy định tại Chương trình tiểu học (Theo Quyết định 43/2001/ QĐ-BGD & ĐT ngày 9/11/2001 về Chương trình tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) Nhà quản lí căn cứ sự chỉ đạo thực hiện mục tiêu của các cấp lãnh đạo, căn cứ đặc điểm tình hình

của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng

Việt; quản lý kế hoạch thực hiện mục tiêu; điều chỉnh kế hoạch thực hiện mục tiêu khi cần thiết; đánh giá sơ kết, tổng kết thực hiện mục tiêu theo từng giai đoạn

Để quản lí việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt của nhà trường đạt kết quả, nhà quản lí cần triển khai kế hoạch thực hiện mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt đến các tổ chức, đoàn thể trong trường; tổ chức cho giáo viên, cán bộ nhân viên học tập, quán triệt kế hoạch thực hiện mục tiêu; đưa ra quy trình kiểm tra đánh giá việc thực hiện mục tiêu

- Quản lí việc thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt

Chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành cho từng khối lớp, bậc học, ngành học là căn cứ để các trường tổ chức giảng dạy Trong chương trình giáo dục phổ thông, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo giảm tải

Trang 19

đối với bậc tiểu học Do vậy, hiệu trưởng các trường căn cứ hình hình cụ thể của địa phương, khả năng tiếp thu của học sinh, điều kiện, phương tiện dạy học mà vận dụng chương trình dạy học môn Tiếng Việt cho phù hợp Hiệu trưởng tổ chức để hội đồng sư phạm nhà trường xác định cụ thể việc thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt từng khối lớp Chương trình dạy học quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học môn Tiếng Việt và thời gian dạy học môn Tiếng Việt

Để quản lí thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt, vào đầu năm học, người quản lí phổ biến nội dung, những sửa đổi trong chương trình

và sách giáo khoa theo chỉ thị hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Hàng tháng, kết thúc học kì, cuối năm kiểm điểm, đánh giá tình hình thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt đến từng khối lớp, từng lớp đã đề ra trong chương trình dạy học

- Quản lí soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp dạy học môn Tiếng Việt

Việc soạn bài dạy học môn Tiếng Việt cần đảm bảo nội dung, phương pháp giảng dạy sát với đối tượng học sinh, đúng với yêu cầu của chương trình dạy học Để quản lí tốt công việc này, người quản lí cần phổ biến: Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài; Thống nhất về nội dung, về hình thức các loại bài soạn; Đặt lịch soạn bài cho cả năm học; Kiểm tra theo dõi tình hình soạn bài

- Quản lí giở lên lớp dạy học môn Tiếng Việt

Giờ lên lớp là hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt trên lớp của giáo viên Việc xây dựng các tiêu chuẩn giờ lên lớp trong công tác quản lí nhằm kiểm tra đánh giá để hướng tới các giờ lên lớp dạy học môn Tiếng Việt đạt hiệu quả

Áp dụng thời khóa biểu trong quản lí giờ lên lớp nhằm duy trì nền nếp dạy học, tạo nên bầu không khí sư phạm chất lượng thoải mái giúp HS tiếp

Trang 20

thu bài tốt Thời khóa biểu sắp xếp khoa học phù hợp với hoạt động học tập của học sinh, xen kẽ hợp lí các bộ môn, tạo sự cân đối, mối tương quan khoa học giữa việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trong tuần

- Quản lí việc giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh học môn Tiếng Việt

Việc dạy học môn Tiếng Việt của giáo viên sẽ hoàn thành trọn vẹn khi việc học của học sinh được tổ chức, hướng dẫn tốt từ trong lớp học - giờ lên lớp, đến ngoài trường và ở nhà Đó là trách nhiệm của giáo viên đối với sản phẩm đào tạo của mình Do đó, bằng những yêu cầu, những quy định thống nhất, người quản lí xem xét đánh giá sự chăm sóc, quan tâm của giáo viên đến hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của học sinh

- Quản lí việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh

Quản lí việc giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Việt; chấm và trả bài đúng thời hạn, lưu trữ điểm trong sổ điểm để tổng kết, chỉ đạo

Quản lí nội dung kiểm tra môn Tiếng Việt: Nội dung kiểm tra phải sát chương trình, phù hợp đối tượng học sinh, phát huy tính sáng tạo của học sinh

b) Quản lí việc học môn Tiếng Việt của học sinh

Việc học môn Tiếng Việt của học sinh diễn ra ở trong lớp, ngoài lớp, ngoài trường và ở nhà Thời gian học tập gồm giờ học trên lớp, học ở nhà Do

đó, khi quản lí hoạt động học tập của học sinh, cần bao quát cả không gian, thời gian và các hình thức học tập

Thông qua giáo viên, hiệu trưởng quản lí hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh, trong đó có cả việc theo dõi tình hình học sinh lưu ban, bỏ học, lên lớp, tốt nghiệp, phổ cập giáo dục Để quản lí việc học tập của học

Trang 21

sinh nhà quản lí cần quan tâm các mặt sau: Giáo dục tinh thần, thái độ, động

cơ học tập đúng đắn trong học sinh Xây dựng và thực hiện nền nếp học tập

Áp dụng các hình thức động viên và khuyến khích học sinh học tập Phối hợp các lực lượng trong việc quản lí hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh

Tổ chức các hoạt động học tập, lao động, giải trí phù hợp tâm lí, sức khỏe của học sinh

c) Quản lí việc sử dụng sách tham khảo, trang thiết bị dạy học môn Tiếng Việt

Thiết bị dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất mà giáo viên sử dụng với tư cách là phương tiện để điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh Nhờ có thiết bị dạy học mà học sinh có thể được nghe phát âm chuẩn tiếng Việt Thiết bị dạy học giúp học sinh hiểu rõ, hiểu sâu từ ngữ và những khái niệm trừu tượng; đó là hệ thống tranh ảnh, mô hình, mẫu vật, trang thiết

bị hiện đại

Quản lí thiết bị dạy học là quản lí việc đầu tư trang thiết bị phù hợp với nội dung chương trình, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; quản lí việc sử dụng trang thiết bị một cách hiệu quả; quản lí việc tự tạo ra đồ dùng dạy học trong GV

1.2.3 Trường tiểu học

Theo Thông tư số 41/2010/TT- BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của

Bộ Giáo dục và Đào tạo:“ Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của

hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu

riêng (Điều 2)

Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục

- Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;

Trang 22

- Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước.”

1.2.4 Môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác Môn Tiếng Việt là môn học không những giúp HS phát triển nhận thức mà còn phát triển các đặc điểm nhân cách để trở thành một người có ích cho xã hội sau này Môn Tiếng Việt ở Tiểu học được chia thành nhiều phân môn hẹp: Tập đọc; Chính tả; Luyện từ và câu; Tập làm văn; Kể chuyện Do đó, dạy học môn Tiếng Việt là một hoạt động tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khác nhau

- Phân môn Tập đọc: Là phân môn mang tính tổng hợp luyện câu, tạo cảm xúc cảm nhận văn học cho học sinh

- Phân môn Tập làm văn: Tập trung luyện khả năng viết đúng từ, đúng câu, đúng ngữ pháp;

- Phân môn Luyện từ và câu: Rèn luyện kĩ năng phát âm, cấu trúc tiếng, câu, cung cấp lí thuyết tiếng Việt cho HS

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất

ở bậc tiểu học Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho con, việc

học tiếng việt sẽ giúp các con hình và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua môn Tiếng Việt, các con sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm

xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm

Trang 23

1.3 HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.3.1 Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

1.3.1.1 Mục tiêu giáo dục tiểu học

Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bước đầu xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở (theo Điều 23 Luật Giáo dục - 1998)

Từ mục tiêu này, học sinh học xong bậc tiểu học phải đạt được những yêu cầu sau:

- Có lòng nhân ái, mang bản sắc con người Việt Nam: yêu quê hương, đất nước, hòa bình và công bằng bác ái, kính trên, nhường dưới, đoàn kết và sẵn sàng hợp tác với mọi người; có ý thức về bổn phận của mình với người thân, bạn bè, cộng đồng, môi trường sống; tôn trọng và thực hiện đúng pháp luật, các quy định của nhà trường, khu dân cư, nơi công cộng, sống hồn nhiên, mạnh dạn, tự tin, trung thực

- Có kiến thức cơ bản về tự nhiên, xã hội, con người và thẩm mĩ, có khả năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán, có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh; có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật

- Biết cách học tập; biết tự phục vụ, biết sử dụng một số đồ dùng trong gia đình và công cụ lao động thông thường; biết vận dụng và làm một số việc như chăn nuôi, trồng trọt, giúp đỡ gia đình

Trang 24

1.3.1.2.Mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

Chương trình tiểu học (Theo Quyết định 43/2001/ QĐ-BGD & ĐT

ngày 9/11/2001 về Chương trình tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban

hành) xác định mục tiêu như sau:

Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt

(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các

thao tác của tư duy

Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và

những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học

của Việt Nam và nước ngoài

Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự

trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con

người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”[ 13, tr 9]

Chương trình môn Tiếng Việt tiểu học đưa mục tiêu giao tiếp bằng

tiếng Việt - hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết lên hàng ưu tiên Những kiến thức về tiếng Việt cùng với các kiến thức về xã hội, tự nhiên và con người, văn hoá, văn học cũng được cung cấp cho học sinh một cách sơ giản Trong chương trình, hoạt động giao tiếp vừa là mục đích số một vừa là phương tiện của dạy học môn Tiếng Việt Chú trọng hơn đến kĩ năng sử dụng

tiếng Việt

1.3.2 Nội dung dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Tiếng Việt là môn học nền tảng của bậc tiểu học, rèn luyện khả năng ngôn ngữ cho học sinh Qua đó, cung cấp kiến thức về văn hóa - xã hội, khoa học - kĩ thuật; Đồng thời giáo dục đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh Môn Tiếng Việt chia thành nhiều phân môn hẹp như: Luyện từ và câu; Tập đọc; Chính tả;

Trang 25

Tập làm văn; Kể chuyện Do vậy, dạy học môn Tiếng Việt là một hoạt động

tổng hợp thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khác nhau

- Phân môn Tập đọc: Là phân môn mang tính tổng hợp, ngoài nhiệm vụ

dạy đọc còn có nhiệm vụ trau dồi khả năng Tiếng Việt cho học sinh; luyện câu, tạo cảm xúc cảm nhận văn học cho học sinh Mỗi bài tập đọc có nhiệm

vụ mở rộng vốn từ cho học sinh; câu hỏi khai thác bài tập đọc thường cô

đọng, kích thích các em suy nghĩ

- Phân môn Tập làm văn: Mỗi khối lớp có những yêu cầu khác nhau,

nhưng đều tập trung luyện khả năng viết đúng từ, đúng câu, đúng ngữ pháp; tạo cho học sinh khả năng diễn đạt ý tương cá nhân, cảm xúc trước sự vật,

hiện tượng, con người, thiên nhiên

- Phân môn Luyện từ và câu: Rèn luyện kĩ năng phát âm, cấu trúc tiếng,

câu; cung cấp kiến thức lí thuyết môn Tiếng Việt cho học sinh Đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai trong giao tiếp hàng ngày thì phân môn này đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong quá trình

học môn Tiếng Việt nói riêng và học tập trong trường phổ thông nói chung

Ở bậc tiểu học môn Tiếng Việt được thể hiện rõ rệt qua 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Các lớp 1, 2, 3

Đối với trẻ học lớp 1, 2, 3, nội dung của môn Tiếng Việt tập trung hình thành những cơ sở ban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nói dựa trên vốn Tiếng Việt mà trẻ đã có Các bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành, được thấm vào học sinh một cách tự nhiên qua các bài học thực tế Ví dụ, học âm “e”, sau đó viết con chữ “e” Những tri thức về âm – chữ cái, về tiếng (âm tiết) – chữ, về thanh điệu – dấu ghi thanh đều được học qua những bài dạy chữ Những tri thức về câu trong đoạn hội thoại (câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lý

thuyết mà học sinh được hình dung cụ thể trong một văn bản cụ thể

Trang 26

Ở giai đoạn này, trẻ sẽ nhận diện được và sử dụng được các đơn vị của tiếng Việt, các quy tắc sử dụng tiếng Việt trong lúc đọc, viết, nghe, nói Vậy

nên, việc học tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền tảng cho trẻ trong việc phát

triển tư duy ngôn ngữ, biểu hiện qua việc trẻ đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ

động, rành mạch

Giai đoạn 2: Các lớp 4, 5

Về nội dung môn học, học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móng cho việc phát triển kĩ năng Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạn trước), học sinh được học các bài về trí thức môn Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp, văn bản, phong cách,…) Những bài học này cũng không phải là lí thuyết đơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng, mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu đã đọc, viết, nghe, nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm Nội dung chương trình giai đoạn này nhằm phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn

Nói tóm lại, môn Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất nước, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học – lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Vì vậy, môn Tiếng Việt không những là“công cụ của tư duy” mà còn bước đệm để hình

thành nhân cách của một đứa trẻ

1.3.3 Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

1.3.3.1 Khái niệm phương pháp dạy học ở các trường tiểu học

Phương pháp dạy học là hệ thống những cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học xác định

Phương pháp dạy học bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học

Trang 27

- Phương pháp dạy: Phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp

điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và

thái độ đúng đắn cho học sinh

- Phương pháp học: Phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình

thành hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành, hình thành nhân cách người học

Phương pháp dạy và học liên quan và phụ thuộc nhau

1.3.3.2 Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

a) Khái niệm: Với tư cách là một khoa học, phương pháp dạy học

Tiếng Việt được xem là một bộ phận của khoa học giáo dục (“khoa học sư phạm” hay “sư phạm học”) là một hệ thống lí thuyết dạy học tiếng Việt với tư cách là tiếng mẹ đẻ và với tư cách là ngôn ngữ thứ hai để đảm bảo cho việc dạy học Tiếng Việt đạt kết quả tốt

Khi nói PPDH Tiếng Việt là một khoa học vì:

- Có đối tượng riêng, nhiệm vụ nghiên cứu riêng

- Có tiền đề lí thuyết và thực tiễn

- Có các phương pháp nghiên cứu đặc thù

Khi nói PPDH Tiếng Việt là một hệ thống cần chú ý:

- PPDH Tiếng Việt là một thể thống nhất: hệ thống này có thể chứa nhiều bộ phận; Mỗi bộ phận lại có đặc trưng riêng nhưng chúng đều thống nhất ở những quy luật chung nhất

b) Các phương pháp dạy học Tiếng Việt

- Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Phân tích ngôn ngữ là phương pháp dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phát hiện ra các hiện tượng ngôn ngữ nhất định từ các ngữ liệu để phát hiện ra những đặc trưng của chúng Như vậy, thực chất của phương pháp này là từ việc quan sát, phân tích các hiện tượng ngôn ngữ theo các đặc điểm nhất định và tìm ra nét đặc trưng của những hiện tượng ấy

Trang 28

- Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Rèn luyện theo mẫu trong dạy học Tiếng Việt là phương pháp hoạt

động có ý thức, trong đó giáo viên hướng dẫn cho học sinh dựa theo mẫu hoạt động lời nói đã được sách giáo khoa xây dựng hoặc mẫu của giáo viên rồi phân biệt làm cho học sinh hiểu và nắm được cơ chế của chúng, bắt trước mẫu đó để giải quyết các bài tập, rèn kĩ năng hoặc tạo ra mẫu lời nói của chính mình

Phương pháp rèn luyện theo mẫu được ứng dụng trong tất cả các phân môn Tiếng Việt ở tiểu học Học sinh có thể dựa theo các mẫu của Sách giáo khoa của giáo viên để rèn luyện về chữ viết, luyện về phát âm, luyện đọc, giải

nghĩa từ, đặt câu, viết đoạn

- Phương pháp giao tiếp

Phương pháp giao tiếp là phương pháp giáo viên hướng dẫn học sinh

vận dụng những tri thức sơ giản đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao

tiếp cụ thể bằng Tiếng Việt

Phương pháp này có tác dụng khắc sâu tri thức và rèn luyện kĩ năng

Là phương pháp chủ yếu để phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh

c) Ngoài ba PP dạy học Tiếng Việt mang tính đặc trưng trên, để dạy

và học Tiếng Việt đạt kết quả tốt cần sử dụng một số PP sau:

- Phương pháp trò chơi học tập

Trò chơi là một hình thức học tập có hiệu quả đối với HS Thông qua

các trò chơi, HS được luyện tập làm việc cá nhân, làm việc trong đơn vị nhóm, đơn vị lớp theo sự phân công và với tinh thần hợp tác Cùng với những hình thức học tập khác, trò chơi tạo cơ hội để HS học bằng tự hoạt động: tự củng cố kiến thức và tự hoàn thiện kĩ năng

Không được lạm dụng phương pháp chơi để học trong dạy Tiếng Việt Tùy vào yêu cầu, nội dung của bài học mà giáo viên có thể tổ chức một hoặc

Trang 29

hai trò chơi cho một bài học, cũng sẽ có những bài học không có trò chơi Việc tổ chức hoạt động chơi để học trong giờ học cần được giáo viên cân nhắc kĩ để điều hòa với các hoạt động khác

- Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm có tác dụng hình thành ở HS khả

năng giao tiếp, khả năng hợp tác, khả năng thích ứng và khả năng độc lập suy nghĩ Hình thức thảo luận có thể dùng ở nhiều loại bài thuộc nhiều nội dung học

- Phương pháp dạy học nêu vấn đề

Phương pháp dạy học nêu vấn đề là PP tích cực nhằm chuẩn bị trực

tiếp cho HS khả năng giải quyết vấn đề, khả năng thích ứng và khả năng hợp tác Có thể sử dụng phương pháp nêu vấn đề trong tất cả các loại bài của môn Tiếng Việt, đặc biệt là các bài có yêu cầu thực hành kĩ năng nói, viết văn bản; nói các nghi thức lời nói

- Phương pháp dạy học ngoài không gian lớp học

Dạy học ngoài không gian lớp học là sử dụng không gian sư phạm của

trường, sử dụng môi trường sống sôi động của cộng đồng làm phương tiện dạy những nội dung học tập chính khoá Nội dung dạy học ở ngoài lớp phải được GV soạn thành các nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể gửi đến HS và phải hướng dẫn HS cách làm để thực hiện các nhiệm vụ được giao

- Lớp nhận xét, đánh giá các nhóm GV chốt lại

Trang 30

1.3.4 Hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Khái niệm hình thức dạy - học được hiểu là những cách thức hiện thực

hoá, hành động hóa các phương pháp và thủ pháp dạy - học ( Chẳng hạn hình thức diễn giảng, đàm thoại, đọc giáo khoa,

- Tổ chức cho học sinh làm việc cá nhân

- Tổ chức thảo luận nhóm (nhóm nhỏ, nhóm lớn)

- Tổ chức cho học sinh làm việc theo cả lớp

- Tổ chức cho học sinh học theo góc( góc xem phim, góc quan sát, góc trải nghiệm…)

- Tổ chức cho học sinh dạy học ngoài không gian lớp học

- Tổ chức cho học sinh học theo hướng phân hóa học sinh

- Tổ chức cho học sinh tập trình bày, thuyết trình trước lớp

1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả học của học sinh môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết

làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh

Kiểm tra định kì môn Tiếng Việt theo Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT Mỗi giáo viên đều hiểu biết rõ ràng, đầy đủ và thực hành biên soạn được các câu hỏi / bài tập 4 mức độ và đề kiểm tra định kì dựa trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Tiếng Việt; từng bước đổi mới hình thức ra đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của từng học sinh theo tiếp cận năng lực và đảm bảo

phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, vùng miền.[ 6, tr.3]

Kiểm tra định kì môn Tiếng Việt được tiến hành với 2 bài kiểm tra: Đọc, Viết, bao gồm:

Bài kiểm tra đọc (10 điểm)

Trang 31

Bài kiểm tra viết (10 điểm)

(ở mỗi lớp, sẽ có hướng dẫn riêng)

Điểm kiểm tra định kì môn Tiếng Việt (điểm chung) là trung bình cộng điểm của 2 bài kiểm tra Đọc, Viết quy về thành điểm 10 (chia số điểm thực tế cho 2) và được làm tròn 0,5 thành 1 Ví dụ: điểm thực tế của 2 bài kiểm tra Đọc, Viết là 19, quy về thang điểm 10 là 9,5 (làm tròn số thành 10)

Theo Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Đánh giá học sinh tiểu học: Đánh giá học sinh tiểu học nêu trong Quy

định này là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu

học.(Điều 2)

Giáo viên chủ nhiệm ghi nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá vào học bạ Học bạ là hồ sơ chứng nhận mức độ hoàn thành chương trình và xác định những nhiệm vụ, những điều cần khắc phục, giúp đỡ đối với từng học sinh khi

bắt đầu vào ho ̣c kì II hoặc năm học mới.(Điều 11)

1.4 QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

QLDHMTV là quá trình người CBQL hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu đề ra Trong công tác quản lí nhà trường QLDHMTV của hiệu trưởng không thể thiếu và rất quan trọng QLDHMTV ở trường Tiểu học bao gồm các nội dung sau:

Trang 32

1.4.1 Tầm quan trọng của quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất

ở bậc tiểu học Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho con, việc

học tiếng Việt sẽ giúp các con hình và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua môn Tiếng Việt, các con sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm

Tiếng Việt ở bậc tiểu học sẽ tạo nền tảng cho trẻ trong việc phát triển tư duy ngôn ngữ, biểu hiện qua việc trẻ đọc thông thạo và hiểu đúng ý nghĩa một văn bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động; nói chủ động, rành mạch

Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kĩ năng mềm, kĩ năng sống cần thiết cho trẻ Nội dung kĩ năng sống được thể hiên ở tất cả các nội dung của môn học Những kĩ năng đó chủ yếu là: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng suy nghĩ sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng làm chủ bản thân, Thông qua các kĩ năng này sẽ giúp trẻ nhận biết được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, biết tự nhìn nhận đánh giá đúng về bản thân để tự tin, tự trọng và không ngừng vươn lên trong học tập cũng như cuộc sống Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh

Nói tóm lại, Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong hệ thống giáo dục của đất nước, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học – lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Vì vậy, Tiếng Việt không những là “công cụ của tư duy” mà còn bước đệm để hình thành nhân cách của một đứa trẻ

Trang 33

1.4.2 Nội dung quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học

1.4.2.1 Lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

a) Khái niệm lập kế hoạch

Lập KH là thiết kế các bước đi cho hoạt động tương lai để đạt được những mục tiêu đã xác định thông qua việc sử dụng tối ưu nhưng nguồn lực

đã có và sẽ khai thác Lập KH có hai cấp: cấp vĩ mô và cấp vi mô Tuy nhiên,

sự phân định KH vĩ mô hay vi mô tùy theo điều kiện, hoàn cảnh và theo thời

gian cụ thể Vì vậy, ta có thể hiểu: Lập KHGD là quá trình xác định các mục

tiêu giáo dục và lựa chọn những phương thức hành động để đạt được mục tiêu giáo dục đó

b) Mục tiêu lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Quá trình xác định các mục tiêu lập kế hoạch là lựa chọn những phương thức hành động để đạt được mục tiêu: Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học TViệt, góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội,

tự nhiên và con người, về văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”

c) Nội dung lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Việc xây dựng kế hoạch QLDHMTV là khâu quan trọng nhất, được thực hiện trước tiên trong hoạt động QL Khi xây dựng kế hoạch, hiệu trưởng cần dựa vào các Thông tư, Công văn hướng dẫn, chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và kế hoạch chung của toàn

Trang 34

trường Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch của nhà trường nói chung và đề ra chỉ tiêu, kế hoạch QLDHMTV nói riêng sau đó chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chuyên môn triển khai hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, xây dựng kế hoạch cá nhân DHMTV lập kế hoạch từng tuần, tháng, học kì, năm học dựa vào kế hoạch chung của tổ, của nhà trường trong đó cụ thể từng công việc cần làm của mình Lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học là việc xác định các mục tiêu và mục đích mà tổ chức phải hoàn thành trong tương lai và quyết định về cách thức để đạt được những mục tiêu, nhiệm

vụ đó Kế hoạch GV lớp khi xây dựng xong sẽ được tổ trưởng chuyên môn xem trước sau đó được hiệu phó chuyên môn nhà trường phê duyệt Việc phê duyệt kế hoạch có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, một mặt có thể kiểm tra điều chỉnh những chỉ tiêu, biện pháp chưa phù hợp của GV lớp, mặt khác có thể học hỏi những biện pháp, sáng kiến hay của đồng nghiệp hay những điểm mới cần GV lớp luôn cập nhật và nghiên cứu thường xuyên Lập kế hoạch là tiến trình mà thông qua đó kế hoạch được soạn thảo Là quá trình đưa ra những định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà nhà trường mong muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được trên cơ sở khả năng hiện tại

d) Phương thức thực hiện lập kế hoạch hoạt động dạy học môn Tiếng Việt

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng trường tiểu học được quy định tại Khoản 5 Điều 20 Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT về Điều lệ Trường tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, cụ thể như sau:

- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn

Trang 35

trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

- Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

- Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

- Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng Khảo sát đội ngũ giáo viên về nhận thức, năng lực chuyên môn và điều kiện để đổi mới phương pháp dạy học - Phân tích nguyên nhân tồn tại phương pháp dạy học lỗi thời, xây dựng những nhân tố tích cực làm hạt nhân cho đổi mới phương pháp dạy học

Căn cứ vào Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT về Điều lệ Trường tiểu học

do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành: Hiệu trưởng chỉ đạo tổ trưởng tổ chuyên môn xây dựng một số bài giảng mẫu môn Tiếng Việt tiểu học, thống nhất về chuẩn đánh giá tiết dạy theo hướng đổi mới Chỉ đạo tổ chức dạy thử

Trang 36

nghiệm, dự giờ, kiểm tra đánh giá, xây dựng kết quả và sơ kết, rút ra bài học kinh nghiệm để mở rộng đại trà Chỉ đạo tổ chức thực hiện dạy học theo tinh thần đổi mới ở tất cả các môn học Tiếng Việt, ở tất cả các giáo viên, gây khí thế thi đua trong tập thể giáo viên học sinh; theo dõi, động viên kịp thời thúc đẩy hoạt động Tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm ở tổ chuyên môn, chi bộ, công đoàn, thanh niên và khen thưởng những giáo viên tiên phong trong đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt Viết sáng kiến kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm cá nhân và tập thể - Tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục triển khai trong năm học tiếp theo

1.4.2.2 Tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Để giúp cho mọi người cùng làm việc với nhau nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác Cho nên, có thể nói việc xây dựng các vai trò, nhiệm vụ là chức năng tổ chức trong quản lí Vai trò của một bộ phận hay một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một phạm vi nào đó, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của họ ăn khớp như thế nào với các cá nhân hoặc bộ phận khác và những thông tin cần thiết khác để hoàn thành công việc Từ đó, có thể định nghĩa: “Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung

Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật

Từ những quan niệm trên, chức năng tổ chức trong quản lí là việc thiết

kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức Song, không phải chỉ có vậy, mà việc thực hiện chức năng tổ chức trong quản lí còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ -

Trang 37

1.4.2.4 Kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học

Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lí, vì tầm quan trọng và vai trò của nó Có thể nói, chức năng này xuyên suốt quá trình quản lí và là chức năng của mọi cấp quản lí, kể cả đối với nhà quản lí ở cơ sở giáo dục như trong trường học Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định, xác định một hành

vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định Ngoài ra,

có thể hiểu kiểm tra là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng bị quản lí với các quyết định quản lí đã lựa chọn [23, tr.128]

Kiểm tra là căn cứ vào kế hoạch và mục tiêu đã định để xem xét, đo lường và đánh giá việc thực hiện nhằm phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục Đồng thời, kiểm tra cũng nhằm tìm kiếm các cơ hội, các nguồn lực có thể khai thác để thúc đẩy hoạt động của

tổ chức Trong hoạt động quản lí, chức năng kiểm tra có vai trò hết sức quan trọng, thông qua chức năng kiểm tra một cá nhân, một nhóm hoặc một

Trang 38

tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động, nếu kết quả hoạt động không đạt được đúng với mục tiêu, người quản lí sẽ tiến hành những biện pháp điều chỉnh, sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Vì vậy, để đánh giá được hiệu quả quản lí, người lãnh đạo cần phải thực hiện chức năng kiểm tra

1.5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

1.5.1 Các yếu tố chủ quan

- Nhận thức của cán bộ giáo viên nhân viên đổi mới nhận thức của cán

bộ quản lí và giáo viên: khẳng định quyết tâm và trách nhiệm trong đổi mới cách dạy, cách dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học; xác định đổi mới phương pháp dạy học chính là quá trình lâu dài, phải kiên trì, làm từng bước (theo điều kiện cụ thể của từng trường, từng địa phương), phải ủng hộ và khuyến khích sự chủ động, năng động, sáng tạo của giáo viên và học sinh, tránh áp đặt, bảo thủ hoặc cực đoan

- Ý thức, động cơ,thái độ học tập của học sinh phần lớn học sinh có thái

độ học tập tương đối tốt Điều đó cho thấy, tuy còn có nhiều khó khăn, nhiều rào cản nhưng học sinh cũng đã có ý thức khá tốt trong việc học tập môn Tiếng Việt

- Phẩm chất trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lí nhân viên đều đạt chuần và trên chuẩn tốt nghiệp đại học sư phạm, tay nghề chuyên môn

đánh giá từ mức khá trở lên

- Mối quan hệ gia đình, nhà trường xã hội công tác giáo dục là các lực lượng ở đây bao gồm: Nhà trường, chính quyền địa phương, các tổ chức, ban ngành, đoàn thể, gia đình học sinh và cộng đồng dân cư trên địa bàn

Sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng này sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng học tập cho học sinh

Trang 39

1.5.2 Các yếu tố khách quan

- Nhận thức của phụ huynh, học sinh và các lực lượng giáo dục khác

- Các yếu tố cộng đồng xã hội: địa lí , dân số dân cư môi trường nhân dân…

- Tình hình kinh tế của xã hội địa phương

- Cơ chế chính sách, công tác chỉ đạo của các cấp quản lí nhà nước giáo dục

- Các nguồn lực vật chất đảm bảo cho hoạt động dạy môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học được tiến hành và nâng cao chất lượng giáo dục Cần có chế độ khuyến khích đội ngũ CBQL tự học tập nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quản lí

Hiệu trưởng các trường tiểu học phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức, cơ quan đoàn thể khác để hỗ trợ về nguồn lực tài chính phục vụ cho giảng dạy và học tập

Hiệu trưởng các trường tiểu học phải làm tốt công tác tham mưu cho chính quyền địa phương, giúp lãnh đạo chính quyền hiểu được, nắm được tình hình trường, tình hình giáo viên để họ có những quyết định đúng đắn về công tác giáo dục trong phường

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Việc khái quát những nội dung cơ bản của lịch sử nghiên cứu về dạy học Tiếng Việt qua các thời kỳ và các công trình nghiên cứu cho thấy các Đảng, Nhà nước và nhà giáo dục hết sức quan tâm đến dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học môn Tiếng Việt thì nhà quản lí giáo dục cần phải không ngừng nâng cao

Trang 40

năng lực quản lí bằng việc tích cực học tập từ đó vận dụng những tri thức về khoa học quản lí phù hợp với hoàn cảnh thực tế của địa phương

Nâng cao nhận thức về bản chất của dạy học Tiếng Việt cho đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lí các trường tiểu học Tăng cường quản lí hoạt động dạy học Tiếng Việt bằng việc tổ chức các hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng kĩ năng thực hiện đúng phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cho giáo

viên

Tổ chức tốt phong trào tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên tham gia dạy học Tiếng Việt ở tiểu học đáp ứng yêu cầu của giáo dục trong thời kì đổi mới

Tăng cường quản lí hoạt động của tổ chuyên môn về thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Phối hợp tốt với các lực lượng giáo dục, tổ chức đoàn thể trong và ngoài nhà trường, cha mẹ học sinh… trong việc đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

Muốn nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học các nhà quản lí cần nhận biết chính xác, rõ ràng thực trạng về việc quản lí dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học hiện nay ra sao?

Đó sẽ là vấn đề mà được chúng tôi đề cập ở chương 2

Ngày đăng: 24/10/2022, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.G. Haudricourt (1953). Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á. (Hoàng Tuệ dịch, 1991). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á". (Hoàng Tuệ "dịch, 1991"). In trong "Những bài viết về lịch sử tiếng Việt" – Trần Trí Dõi "biên soạn
Tác giả: A.G. Haudricourt
Năm: 1953
2. A.G. Haudricourt (1954). Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt. (Hoàng Tuệ dịch,1991). In trong Những bài viết về lịch sử tiếng Việt – Trần Trí Dõi biên soạn, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt". (Hoàng Tuệ "dịch,1991"). In trong "Những bài viết về lịch sử tiếng Việt" – Trần Trí Dõi "biên soạn
Tác giả: A.G. Haudricourt
Năm: 1954
3. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về quản lý giáo dục, Trường Cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
9. Nguyễn Quốc Chí (2005 ), Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục, Giáo trình Cao học QLGD, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục
10. Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1998), Đại cương khoa học quản lí, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. tr.11,13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương khoa học quản lí
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
11. Tư tưởng giáo dục của J.A Comenxki (1592 - 1670) (2009), Lý luận dạy học vĩ đai, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học vĩ đai
Tác giả: Tư tưởng giáo dục của J.A Comenxki (1592 - 1670)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
12. Đỗ Minh Cương (chủ biên) (1996), Các học thuyết quản lý, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Đỗ Minh Cương (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996
17. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện ĐHĐB Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện ĐHĐB Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
18. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II, Khoá VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II, Khoá VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
19. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V, Khoá VIII. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V, Khoá VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
20. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện ĐHĐB Đảng toàn quốc lần thứ IX. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện ĐHĐB Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
21. Nguyễn Thiện Giáp (2005), Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về sự hình thành và phát triển của tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
22. Tác giả Ngô Thị Việt Hà (2014), Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học Thành phố Uông Bí quận Ngô Quyền Tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Quản lí giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học Thành phố Uông Bí quận Ngô Quyền Tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Tác giả Ngô Thị Việt Hà
Năm: 2014
23. Phạm Minh Hạc (1986), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1986
24. Bùi Minh Hiền (chủ biên). Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2011), Quản lí Giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí Giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biên). Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2011
25. Lý Cẩm Hoa (2002), “Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở tiểu học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy ở tiểu học
Tác giả: Lý Cẩm Hoa
Năm: 2002
26. Trần Bá Hoành (1997), Đánh giá trong giáo dục, Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục
Năm: 1997
27. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại - Lý luận, biện pháp, kỹ thuật, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại - Lý luận, biện pháp, kỹ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2002
28. M.I. Kôndakốp (1984), Cơ sở lý luận của khoa học quản lý, Trường Cán bộ QLGD và Viện Khoa học Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý
Tác giả: M.I. Kôndakốp
Năm: 1984
30. Phan Văn Kha (2007), Giáo trình quản lý Nhà nước về Giáo dục, Nhà xuất bản Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý Nhà nước về Giáo dục
Tác giả: Phan Văn Kha
Nhà XB: Nhà xuất bản Quốc gia
Năm: 2007

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w