Bài giảng powerpoint: Tái canh cà phê vối. Nguồn bài giảng của Viện Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Tây Nguyên. Gồm 63 slide hướng dẫn quy trình tái canh từ làm đất, luân canh, trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh; tóm tắt lý thuyết và hình ảnh minh họa cụ thể. Dùng làm tài liệu tập huấn cho nông dân, cán bộ nông nghiệp, khuyến nông viên
Trang 1TÁI CANH CÂY CÀ PHÊ
VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT NÔNG LÂM NGHIỆP TÂY NGUYÊN
Trang 2PHẠM VI ÁP DỤNG
Quy trình này áp dụng cho việc tái canh cà phê đối với các vườn cà phê già cỗi, năng suất thấp, không thể ghép cải tạo hay cưa đốn phục hồi được.
Trang 3QUY TRÌNH KỸ THUẬT
1 Chuẩn bị đất
1.1 Nhổ bỏ cây và xử lý tàn dư thực vật
- Nhổ bỏ cây cà phê, cây che bóng trong lô ngay sau khi thu hoạch
cà phê (tháng 12, 1) Thu gom và đưa toàn bộ thân, cành, rễ ra khỏi vườn cây
- Dùng cày một lưỡi cày ngay ở độ sâu 40cm theo chiều ngang và dọc của lô, sau đó dùng bừa răng (độ sâu bừa răng 20-30cm) bừa lại theo chiều ngang và chiều dọc lô Trong quá trình cày bừa tiếp tục gom nhặt rễ còn sót lại và đốt Sau khi cày lần 1 bón 1.000 kg vôi rãi đều trên bề mặt đất.
Trang 6Đất sau khi cày
Trang 7Chuẩm bị đất trước khi trồng
Trang 8Chuẩm bị đất trước khi trồng
Trang 9- Bón lót và xử lý hố: Phân chuồng hoai mục, vôi, phân lân trộn đều cho xuống
hố theo khối lượng sau: 10kg phân chuồng + 1kg vôi + 0,5kg lân nung chảy/hố Những nơi không có đủ phân
chuồng có thể dùng phân hữu cơ vi sinh,
hữu cơ sinh học từ 2 - 3 kg/hố Công việc đào và xử lí hố phải hoàn thành ít nhất
01 tháng trước khi trồng.
Trang 11Trồng luân canh sau khi nhổ bỏ cà phê
Trang 13Trồng cây cải tạo đất
Trang 144.5 Trồng cây đai rừng, cây che
bóng, cây trồng xen
Các cây đai rừng, cây che bóng được trồng đồng thời hoặc trước khi trồng cà phê Tận dụng các hàng đai rừng đã có sẵn trên lô, nơi nào thiếu tiến hành trồng bổ sung.
Trang 15Trồng cây chắn gió tạm thời
Trang 16Trồng cây chắn gió tạm thời
Trang 173.2 Cây ghép
- Chồi ghép dùng để ghép phải được nhân từ các dòng đã được công nhân giống như TR4, TR5, TR6, TR7, TR8
- Chồi được ghép tối thiểu 02 tháng trước khi trồng
- Kiểm tra hệ thống rễ cây trong bầu ươm trước khi đem trồng Kiên quyết loại bỏ cây giống bị thối rễ hoặc rễ bị tuyến trùng gây hại.
Trang 18Cây đủ tiêu chuẩn: có từ 4-5 cặp lá
(5-6 tháng tuổi)
Trang 194 Trồng mới
4.1 Thời vụ trồng
Bắt đầu vào đầu mùa mưa và kết thúc trước mùa khô 2 – 3 tháng Thời vụ trồng ở khu vực Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ từ
15 tháng 5 đến 15 tháng 8 hàng năm.
Trang 204.3.Tạo bồn
•Công việc đào bồn phải được tiến
hành trước mùa khô từ 1-2 tháng
•Khi vét đất tạo bồn cần hạn chế tối
đa gây thương tổn cho rễ cà phê.
Trang 21cơ cải tạo đất Nguyên liệu tủ cách gốc 10-15cm, ép xanh cách gốc 30-50cm.
Trang 224.5.1 Đai rừng
a Đai rừng chính
Gồm 2 hàng muồng đen (Cassia
siamea) cách nhau 2m, khoảng cách
cây 2m, trồng nanh sấu Đai rừng chính được bố trí thẳng góc với hướng gió chính (có thể xiên một góc 60o).
b Đai rừng phụ
Gồm 1 hàng muồng đen hoặc cây ăn quả, trồng cách nhau 6-9m và được thiết kế thẳng góc với đai rừng chính.
Trang 23b Cây che bóng tạm thời
Cây muồng hoa vàng (Crotalaria sp.), Flemingia congesta là
những cây che bóng tạm thời thích hợp đối với cây cà phê kiến thiết cơ bản Hạt cây che bóng tạm thời được gieo từ đầu mùa mưa vào giữa 2 hàng cà phê với khoảng cách 2-3 hàng cà phê có 1 hàng cây che bóng.
c Cây trồng xen che phủ đất
Các loại cây đậu đỗ ngắn ngày có thể trồng xen vào giữa 2 hàng cà phê kiến thiết cơ bản để tăng thêm thu nhập và bảo
vệ đất, băng đậu đỗ cách hàng cà phê tối thiểu 0,7m.
Trang 245 Chăm sóc
5.1 Làm cỏ
- Đối với cà phê kiến thiết cơ bản phải làm
cỏ sạch theo băng dọc theo hàng cà phê với chiều rộng lớn hơn tán cây cà phê mỗi bên 0,5m
- Đối với cà phê kinh doanh cần làm sạch
cỏ 3-4 lần trong năm trên toàn bộ diện tích
- Hàng năm vào đầu mùa khô phải tiến
hành diệt cỏ dại chung quanh vườn cà phê
để chống cháy.
Trang 255.2 Bón phân
a Phân hữu cơ:
Phân chuồng hoai mục được bón định kỳ 2-3 năm bón một lần với lượng 10-15 kg phân chuồng hoai hoặc 2- 3 kg phân hữu
cơ sinh học hoặc hữu cơ vi sinh/cây
Phân hữu cơ được bón theo rãnh vào đầu hay giữa mùa mưa, rãnh được đào dọc theo một bên thành bồn rộng 20cm, sâu
25 – 30cm và sau khi bón phân cần lấp đất lại Các năm sau rãnh được đào theo hướng khác.
Trang 26Năm 3 250 150 550 200
Trang 27b Phân hoá học
Bảng 2: Định lượng phân bón cho 1ha cà phê vối giai đoạn
Kinh doanh (kg/ha/năm)
Năm Lượng phân bón thương phẩm Phân hỗn hợp
Đất bazan
(3 tấn/ha) 400- 450 200- 250 450- 550 350- 400 Có lượng dinh dưỡng tương
đương với phân đơn
Đất khác
(2 tấn/ha)
350-400 200-250 550-750 300-350
Trang 28Định lượng phân bón trên được chia làm 4 lần trong năm
- Lần 1 (giữa mùa khô kết hợp với tưới nước): Bón 100% phân SA.
- Lần 2 (đầu mùa mưa): 30% phân urê , 30% phân kali, 100% phân lân
+ Lần 3 (giữa mùa mưa): 40% phân urê , 30% phân kali + Lần 4 (trước khi kết thúc mùa mưa 1 tháng): 30% phân urê, 40% phân kali
Trang 29• Riêng năm nhất (trồng mới): toàn bộ
phân lân được bón lót Phân urê và phân kali được chia đều và bón 2 lần trong mùa mưa.
• Trong thời kỳ kinh doanh, nếu năng suất
cao hơn mức bình quân nói trên thì cần bón lượng phân tăng cường Cứ 1 tấn cà phê nhân tăng thêm/ha cần được bón thêm 150kg Urê + 100kg Lân nung chảy + 120kg KCl/ha
Trang 30• Cách bón
- Phân lân rải đều trên mặt cách gốc 30-40cm Không nên trộn phân lân nung chảy với phân đạm.
- Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay Đào rãnh chung quanh tán cây cà phê, rộng 10-15cm, sâu 5cm rải đều phân và lấp đất.
Trang 31c Phân bón lá:
- Phun 2-3 lần trong năm, sử dụng phân bón lá chuyên dùng như NUCAFE với nồng độ 0,4%- 0,5% hoặc các loại phân bón lá có hàm lượng các chất trung vi lượng như S, Mg, Zn, B cao Phun đẫm, đều mặt trên và mặt dưới lá, phun vào lúc mát trời, tránh lúc nắng
to và mưa.
- Thời điểm phun: từ tháng 5-8
Trang 32Bảng 2: Lượng nước và chu kỳ tưới
(ngày)
Tưới phun (m3/ha/lần)
Tưới gốc (lít/gốc/lần)
Trang 33• Lượng nước tưới lần đầu cao hơn định
mức trên từ 10-15%
Thời điểm tưới lần đầu được xác định khi mầm hoa đã phát triển đầy đủ ở các đốt ngoài cùng của cành, thông thường xảy ra sau khi kết thúc mùa mưa 2-2,5 tháng Trong vụ tưới cần theo dõi lượng mưa để điều chỉnh lượng nước tưới hay chu kỳ tưới (một lượng mưa 35-40mm có thể thay thế cho 1 lần tưới).
Trang 345.4 Tạo hình
a Tạo hình cơ bản
Được thực hiện trong thời gian kiến thiết cơ bản để tạo bộ khung tán cho cây, gồm các công việc:
Trang 35• Hãm ngọn
Lần đầu: hãm ngọn ở độ cao 1,2-1,3m
Lần thứ hai: khi có 50-70% cành cấp 1 phát sinh cành cấp 2 tiến hành nuôi chồi vượt trên đỉnh tán cũ Mỗi thân nuôi 1 chồi cao 0,4m và duy trì độ cao của cây từ 1,7-1,8m
Trang 36b.Cắt cành
Cây cà phê kinh doanh được cắt cành 2 lần/năm.
* Lần đầu
Ngay sau khi thu hoạch, gồm các công việc:
- Cắt bỏ các cành vô hiệu (cành khô, cành bị sâu bệnh, nhỏ yếu…), chú ý tỉa kỹ cành vô hiệu ở phần trên đỉnh tán.
- Cắt ngắn các đoạn cành già cỗi ở xa trục thân chính để tập trung dinh dưỡng nuôi các cành thứ cấp bên trong,
- Cắt bỏ các cành mọc chạm mặt đất.
Trang 37*Cắt cành lần thứ hai
Vào giữa mùa mưa, tiến hành tỉa thưa các cành thứ cấp mọc ở những vị trí không thuận lợi (nằm sâu trong tán lá, mọc thẳng đứng, mọc chen chúc nhiều cành thứ cấp trên cùng một đốt) để tán cây được thông thoáng.
Trang 38Tái canh bằng giống mới
Trang 39Tái canh thành công
Trang 41Thường xuyên kiểm tra vườn cây, nếu phát hiện rệp, dùng một trong các loại thuốc: Bi 58 40 EC, Ofatox 400 EC, Subatox 75 EC nồng độ 0,3 % để phun trừ rệp Đối với cây bị rệp nhiều nên phun
2 lần cách nhau 7-10 ngày
Trang 42b Rệp sáp hại quả (Planococcus kraunhiea)
Rệp chích hút hoa, cuống quả và quả non làm hoa, quả khô và rụng Rệp gây hại nặng trong mùa khô, từ sau khi cây ra hoa,
đặc biệt là thời gian có các giai đoạn mưa nắng xen kẻ nhau.
EC, Polytrin 440 EC, Bull Star 265.2 EC ở nồng độ 0,3 %, Admire 200 OD ở nồng độ 0,1 %, phun 2-3 lần cách nhau 10-15 ngày Chú ý chỉ phun các cây có rệp
Trang 43c Rệp sáp hại rễ (Planococcus lilacinus)
Biện pháp phòng trừ:
Thường xuyên kiểm tra phần cổ rễ cà phê, nếu thấy mật độ lên cao (trên 100 con/gốc ở vùng cổ rễ sâu 20cm) thì xử lý thuốc sinh học Metarhizium hoặc thuốc hóa học theo phương pháp sau: bới đất chung quanh vùng cổ rễ theo dạng hình phễu cách gốc 10cm, sâu 20cm, sau đó bón Metarhizium (250g/ gốc) hoặc Basudin 10 G (30g/gốc) hoặc dùng một trong các loại thuốc như Ofatox 400 EC, Subatox 75 EC nồng độ 0,3 %, cộng thêm 1% dầu hoả tưới cho mỗi gốc 0,5-1lít dung dịch và lấp đất lại, tránh để lâu kiến sẽ mang rệp phát tán đi nơi khác Chú ý chỉ xử lý các cây có rệp.
Trang 44RÖp s¸p h¹i rÔ
M¨ng x«ng ë rÔ cµ phª do rÖp s¸p t¹o ra
Trang 45d Mọt đục cành (Xyleborus morstatti)
Mọt phát triển mạnh vào các tháng đầu mùa khô và tập trung phá hại trên các cành tơ Mọt đục một lỗ nhỏ bên dưới cành tơ làm cho cành bị héo dần và chết Hiện nay chưa có thuốc phòng trị hiệu quả vì vậy biện pháp tốt nhất là phát hiện kịp thời và cắt bỏ các cành bị mọt tấn công Nên cắt phía trong lỗ đục 2cm
và đốt các cành bị mọt để ngăn chặn sự lây lan của mọt.
Trang 46e Mọt đục quả (Stephanoderes hampei)
Biện pháp phòng trừ:
- Bảo quản quả khô hay nhân ở độ ẩm dưới 13%.
- Vệ sinh đồng ruộng, thu hoạch kịp thời các quả chín trên cây và phải nhặt hết các quả khô dưới đất, còn sót trên cây
để cắt đứt sự lan truyền của mọt.
- Trên những vùng bị mọt phá hại nhiều có thể dùng Oncol
20 EC hay Basudin 40 EC ở nồng độ 0,2-0,3% phun vào thời kỳ quả già.
Trang 47- Ghép chồi để thay thế các cây bị nặng
- Phun một trong các loại thuốc Anvil 5 SC hay Tilt super 300 EC ở nồng độ 0,2% để phòng trừ bệnh Khi phun thuốc phải bảo đảm các yêu cầu sau:
+ Phun 0,5-1lít dung dịch/cây vào mặt dưới của lá
+ Thời điểm phun lần đầu khi cây có 10% lá bị bệnh (thường xảy ra sau khi bắt đầu mùa mưa 2-3 tháng), phun 2-3 lần cách nhau 1 tháng.
Trang 48b Bệnh khô cành, khô quả và bệnh thối cuống quả
Bệnh khô cành khô quả có nguyên nhân do mất cân đối dinh
dưỡng hay bị nấm Colletotrichum spp gây nên Bệnh gây hại chủ
yếu trên cành, quả, làm khô cành và rụng quả Các vết bệnh do nấm gây ra ban đầu có màu nâu vàng sau đó lan rộng và chuyển sang màu nâu sẫm, các vết bệnh thường lõm sâu xuống so với các phần không bị bệnh.
Nấm Colletotrichum spp còn gây ra bệnh thối cuống quả Bệnh
xuất hiện vào giữa mùa mưa (tháng 7 - 9) Nấm bệnh gây hại ở phần cuống quả làm cuống quả thối đen, quả rụng khi còn non.
Biện pháp phòng trừ :
- Trồng cây che bóng hợp lý và bón phân đầu đủ để hạn chế tình trạng cây bị kiệt sức do ra quả quá nhiều Cắt bỏ các cành bệnh.
- Dùng một trong các loại thuốc sau đây: Derosal 50 SC, Carbenzim
500 FL, Vicarben 50 BTN, Antracol 70 WP ở nồng độ 0,2 % hay Nativo 750 WG ở nồng độ 0,05%, phun vào đầu mùa (sau khi có mưa 1 - 2 tháng), phun 2-3 lần cách nhau 15-20 ngày.
Trang 49c Bệnh nấm hồng
Bệnh do nấm Corticum salmonicolor
gây nên
Biện pháp phòng trừ chủ yếu là phát hiện kịp thời để cắt bỏ các cành bệnh, nếu bệnh xuất hiện phổ biến có thể dùng thuốc Validacin 5 L, Validan 5
DD nồng độ 2% hay Anvil 5 SC (0,2%), phun 2-3 lần cách nhau 15 ngày.
Trang 50d Bệnh lở cổ rễ
- Bệnh thường gây hại trên cây con trong vườn ươm, cây
trong thời kỳ KTCB Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây
Trang 51đ Bệnh vàng lá, thối rễ
Bệnh vàng lá, thối rễ do tuyến trùng Pratylenchus
coffeae gây hại
Biện pháp phòng trừ
- Tuân thủ quy trình tái canh cây cà phê khi trồng mới
- Thường xuyên kiểm tra vườn cây để phát hiện kịp thời và đào, đốt các cây bị bệnh Các cây chung quanh vùng bệnh có thể thuốc tuyến trùng như Mocap 10 G (50 g/gốc), Vimoca 20 ND (0,3%, 2lít dung dịch/gốc), Marshal 5 G (50g/gốc), Oncol 20 EC (0,3%, 2lít dung dịch/gốc).
- Bón phân đầy đủ, cân đối đồng thời tăng cường bón phân hữu cơ, phân bón lá nhất là đối với các vườn liên tục cho năng suất cao.
- Hạn chế xới xáo trong vườn cây đã bị bệnh để tránh làm tổn thương bộ rễ.
Trang 52TuyÕn trïng h¹i rÔ
Trang 53e Bệnh bạc lá do thiếu lưu huỳnh
Triệu chứng thiếu lưu huỳnh thường xuất hiện trên các lá non Các lá non có màu xanh trắng, lá dòn bìa lá dễ rách, các lá già thường rụng sớm Bón phân Sun phát đạm (SA) với liều lượng 100kg/ha trong thời kỳ kiến thiết cơ bản và 200-300kg/ha trong thời kỳ kinh doanh có thể phòng ngừa được hiện tượng thiếu lưu huỳnh
Trang 54g Bệnh xoăn lá do thiếu kẽm
Triệu chứng thiếu kẽm thường xuất hiện trên các lá non đầu cành, ngọn thân, ngọn chồi vượt Lá xoăn lại và có thể mất diệp lục từng phần ở rìa lá hoặc dọc theo hai bên gân chính Các đốt ở đầu cành, đầu thân rất ngắn do không phát triển được Để phòng ngừa và chữa trị hiện tượng thiếu kẽm có thể dùng dung dịch Sun phat kẽm nồng độ 0,4% phun lên lá vào đầu mùa mưa, phun 2-3 lần cách nhau 1 tháng hay bón Sun phát kẽm từ 20-30kg/ha.
Trang 554.6 Thu hoạch
4.6.1 Kỹ thuật thu hoạch
Quả cà phê được thu hoạch bằng tay và được thực hiện làm nhiều đợt trong một vụ để thu hái kịp thời những quả chín trên cây Không thu hái quả xanh non, không được tuốt cả cành Phải ngừng thu hái trước và sau khi nở hoa 3 ngày.
Trang 566.2 Yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm thu hoạch
Sản phẩm thu hoạch có tỷ lệ quả chín (có màu đặc trưng của quả khi chín chiếm trên 2/3 diện tích quả) đạt từ 95% trở lên và tỷ lệ tạp chất không quá 0,5% Vào đợt tận thu cuối vụ, tỷ lệ quả chín đạt trên 80%, tỷ lệ tạp chất không quá 1% và không được chiếm quá 10% tổng sản lượng của toàn vụ.
Trang 576.3 Bảo quản nguyên liệu
Cà phê quả sau khi thu hoạch phải được chuyên chở kịp thời về cơ sở chế biến, không được để quá 24giờ Phương tiện vận chuyển và bao bì đựng cà phê quả phải sạch, không nhiễm phân bón, hoá chất Trường hợp không vận chuyển hay chế biến kịp thời cà phê phải được
đổ trên nền khô ráo, thoáng mát và không được đổ đống dày quá 40 cm.
Trang 60TR 4
Trang 61TR 9
Trang 62TR 11
Trang 63TR 12