1. Trang chủ
  2. » Kỹ Năng Mềm

Giáo án môn Ngữ văn 10 - Chí khí anh hùng

5 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 157,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HS trả lời GV nhận xét, chốt GV bình: Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian như “ mười vạn tinh binh” với bóng cờ, tiếng chiêng gợi nên khát vọng l[r]

Trang 1

CHÍ KHÍ ANH HÙNG (Trích: Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Mức độ cần đạt: Giúp học sinh:

- Hiểu được ước mơ công lý của Nguyễn Du qua chí khí lẫm liệt của Từ Hải

- Thấy được những đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả nhân vật của tác giả

Trọng tâm kiến thức, kĩ năng:

- Kiến thức: + Ước mơ công lí của Nguyễn Du gửi gắm qua hình tượng Từ Hải, một con người có phẩm chất và chí khí phi thường

+ Sáng tạo đặc sắc trong việc xây dựng hình tượng anh hùng Từ Hải

- Kĩ năng: + Củng cố kĩ năng đọc – hiểu một đoạn thơ trữ tình

+ Biết cảm thụ và phân tích những câu thơ hay

III Nội dung bài mới:

a Đặt vấn đề: Nếu Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân trong Kim Vân Kiều truyện là một nho sinh thi hỏng, một nhà buôn, một nhà sư, một tướng cướp tho hào thì Từ Hải của Nguyễn Du là một bậc đại trượng phu anh hùng cái thế, một tráng sĩ anh hùng tung hoành thiên hạ, vừa có khí phách phi thường vừa

có tâm hồn khoáng đạt Một phần chí khí anh hùng lí tưởng ấy được thể hiện trong buổi chia tay với Thúy Kiều để chàng ra đi vì nghiệp lớn

b Triển khai bài dạy:

Hoạt động 1 H: Em hãy tóm tắt những nội dung chính của

phần Tiểu dẫn?

HS:Làm việc cá nhân, suy nghĩ, trả lời

GV: Nhận xét, chốt

Hoạt động 2

GV gọi 1 HS đọc diễn cảm VB, 1 HS khác nhận

xét cách đọc

GV nhận xét cách đọc, hướng HS đến cách đọc

đúng cho đoạn trích: giọng đọc chậm rãi, hào

hùng thể hiện sự khâm phục, ngợi ca.

GV lưu ý HS phần chú giải từ khó chân trang113

H: Em hãy cho biết trong đoạn trích trên có lời

của những ai?

HS: Làm việc cá nhân, phát biểu

GV: Nhận xét, kết luận

H: Theo em nên chia đoạn trích này thành mấy

phần? Nêu nội dung chính của từng phần?

HS trả lời

GV gọi HS bổ sung

GV chốt

GV yêu cầu 1 HS đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu

H: Em hãy cho biết Từ Hải ra đi trong hoàn

cảnh nào?

HS suy nghĩ, trả lời

GV bình:

Thời điểm Từ Hải ra đi lập nên sự nghiệp lớn cũng

chính là lúc cuộc sống lứa đôi với Thúy Kiều mới

đang bắt đầu và vô cùng mặn nồng hạnh phúc Đó

là cuộc sống của “Trai anh hùng, gái thuyền quyên

Phỉ nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng”

Thúy Kiều là tri kỉ của anh hùng, Từ Hải là tri kỉ

của giai nhân, họ đã nhận ra nhau ngay từ buổi đầu

I Tìm hiểu chung:

1 Tóm tắt cuộc gặp gỡ giữa Từ Hải và Thúy Kiều

2 Vị trí đoạn trích: Câu 2213 – 2230

II Đọc hiểu văn bản:

1.Đọc, chú giải từ khó:

- Lời tác giả

- Lời Thúy Kiều

- Lời Từ Hải

2 Bố cục: có 3 phần

- P1: 4 câu thơ đầu→ Cuộc chia tay giữa Từ Hải

và Thúy Kiều sau nửa năm chung sống

- P2: 12 câu thơ tiếp→ Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải – tính cách anh hùng của Từ

- P3: 2 câu cuối: Hình ảnh Từ Hải dứt áo ra đi

3 Tìm hiểu văn bản:

a 4 câu đầu:

“Nửa năm hương lửa đương nồng, Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương

Trông vời trời bể mênh mang, Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng rong.”

→ Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống vô

cùng hạnh phúc “hương lửa đương nồng”

Trang 2

gặp gỡ “ Cười rằng “ Tri kỉ trước sau mấy người”

Thế nhưng Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống

êm đềm nhưng chật hẹp, tù túng mà luôn khao

khát giấc mộng anh hùng nên đã dứt áo ra đi

H: Hình ảnh Từ Hải được hiện lên qua những

từ ngữ, hình ảnh, chi tiết nào trong 4 câu thơ

trên?

HS phát hiện chi tiết

GV nhận xét và yêu cầu HS trình bày cách hiểu về

các chi tiết, hình ảnh đã tìm ra

GV bình cụm “lòng bốn phương”:Bốn phương ở

đây là đông, tây, nam, bắc có nghĩa là thiên hạ thế

giới Theo Kinh lễ, xưa sinh con trai, người ta làm

cái cung bằng cây dâu, tên bằng cỏ bồng gọi tắt là

tang bồng, bắn ra bốn phương, tượng trưng cho

mong muốn sau này người con trai làm nên sự

nghiệp lớn Nên khi nói đến lòng bốn phương là

nói đến chí tang bồng, chí làm trai của nam tử thời

xưa.Ngày xưa chí làm trai là phải “xuống Đông,

Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài yên” Chính Nguyễn

Công Trứ cũng từng khẳng định “ Chí làm trai

nam bắc Đông Tây, cho phỉ sức vẫy vùng trong

bốn bể

Vốn là một bậc anh hùng cái thế “ đội trời đạp đất”

với “ gươm đàn nửa gánh non sông một chèo, Từ

Hải làm sao có thể say sưa trong hạnh phúc lứa đôi

khi mà chí lớn chưa thành? Chính vì vậy chàng đã

quyết chí “lên đường thẳng rong”dứt khoát và mau

lẹ chứ hề không bịn rịn, quyến luyến gia đình

H: Em có nhận xét gì về tâm thế ra đi của Từ

Hải?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt

GV bình:Từ Hải ra đi một cách mau lẹ, dứt khoát

trong không gian mênh mang cao rộng của trời

đất: “Trông vời trời bể mênh mang”Câu thơ miêu

tả hành động nhìn ra xa, đồng thời khắc hoạ dáng

vẻ phóng khoáng của Từ Hải Nguyễn Du đã xây

dựng hình ảnh Từ Hải song song, sánh ngang với

hình ảnh trời đất Nhắc đến Từ Hải là thấy hình

ảnh cao rộng của trời đất, vũ trụ Những từ láy, từ

biểu cảm chỉ độ rộng, độ cao càng khắc hoạ rõ hơn

tư thế của Từ Hải Cái nhìn của chàng không phải

là trông hay nhìn bình thường mà là “trông vời” -

cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt và suy nghĩ phi

thường

Từ Hải một mình ra đi thực hiện ý nguyện của

mình Việc xây dựng Từ Hải độc lập một mình

không làm chân dung chàng đơn độc mà càng cho

thấy sự dũng mãnh của chàng Hành động được

miêu tả đầy sự dứt khoát, nhanh nhẹn Đã nghĩ là

làm, Từ Hải không bao giờ chần chừ, do dự, suy

tính lâu “Thoắt đã động lòng bốn phương” là “lên

đường thẳng rong” ngay

H: Nguyễn Du đã xuất phát từ cảm hứng gì khi

- Trượng phu: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc

anh hùng → Thái độ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du với Từ Hải

- Thoắt: dứt khoát, mau lẹ,nhanh chóng.

- Động lòng bốn phương: trong lòng náo nức chí

tung hoành ở bốn phương

- Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch

→ Một tư thế đẹp, hiên ngang không vướng bận, không lệ thuộc của người quân tử sẵn sàng lên đường

Trang 3

miêu tả khi miêu tả người anh hùng?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt

H: Tóm lại qua bốn câu thơ đầu tác giả cho

chúng ta thấy được điều gì ở nhân vật Từ Hải?

HS trả lời

GV chốt

GV gọi HS đọc, cho HS xác định lời của Thúy

Kiều và Từ Hải

H: Trước quyết định ra đi của Từ Hải, Thúy

Kiều có thái độ ntn? Thái độ ấy được thể hiện

qua những hình ảnh, chi tiết nào?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt ý

(GV có bình thêm về chữ “tòng” trong quan niệm

của Nho giáo)

GV bình: Trước khi gặp Từ Hải Kiều đã trải qua

một cuộc sống vô cùng đau khổ trong cảnh “

Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần” Chính Từ

Hải đã chuộc Kiều ra và đem đến cho Kiều một

danh phận và một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc

Cơn bão lớn của cuộc đời nàng vừa đi qua song

dư âm của nó vẫn còn Với dự cảm tinh tế của

người phụ nữ hẳn Kiều cũng cảm thấy lo sợ trước

quyết định ra đi của Từ Hải và hoang mang về

cuộc sống của mình nhưng nàng không hề can

gián hay cản bước người anh hùng mà vẫn quyết

một lòng theo chàng, ủng hộ chàng theo đuổi chí

làm trai.( vậy )

H: Qua câu nói này em thấy Kiều là một người

vợ ntn?

HS: Làm việc cá nhân, trả lời

GV chốt ý

H: Trước thái độ của TK như vậy, TH đã trả

lời ra sao?

HS phát hiện, trả lời

GV nhận xét, chốt

GV giải thích cụm “ tâm phúc tương tri”: hai

người đã hiểu biết lòng dạ nhau, tức là đã hiểu

nhau sâu sắc

GV bình: Trong lời đáp của mình Từ Hải đã từ

chối mong muốn của Kiều và khẳng định tình cảm

chân thành đối với K, coi nàng là người tri ân, tri

kỉ vì trong cuộc hội ngộ ở lầu xanh chính K đã

nhìn ra TH bằng con mắt tinh đời của mình: “Khen

cho con mắt tinh đời

Anh hùng đoán giữa trần ai mới già” TH khuyên

K nên vượt lên thói tầm thường nhi nữ Lời trách

khéo của Từ với Kiều đồng thời cũng là lời khẳng

định và nâng vị thế của nàng ( một kĩ nữ lầu xanh”

lên ngang tầm với mình

( một vị anh hùng) Đằng sau lời trách ấy là ý chí

dứt khoát, kiên quyết,ko bị níu kéo bởi thê nhi của

TH

H: Sau khi từ chối TK, Từ Hải muốn nói gì với

→ Cảm hứng vũ trụ, con người vũ trụ với kích thước phi thường, không gian bát ngát, ngợi ca, khâm phục

=> Từ Hải không phải là con người của những đam mê thông thường mà là con người của khát vọng công danh

b 12 câu tiếp:

* Lời Thúy Kiều:

- Xưng hô: Chàng – thiếp: tình cảm vợ chồng mặn

nồng, tha thiết

- Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải

theo chồng

- Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải

→ Muốn ra đi để tiếp sức, chia sẻ, gánh vác công việc với chồng

=> Thúy Kiều không chỉ ý thức được bổn phận của người vợ, thể hiện tình yêu với chồng mà còn hiểu, khâm phục và kính trọng Từ Hải Nàng xứng đáng

là tri kỉ của bậc anh hùng

* Lời Từ Hải:

+ Lời đáp:

“Từ rằng: “Tâm phúc tương tri Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”

- Từ chối mong muốn của Kiều

- Khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ một người anh hùng

- Coi Kiều là người tri kỉ, hiểu mình

→ Tính cách anh hùng của Từ Hải

+ Lời hứa:

Trang 4

nàng qua bốn câu thơ tiếp theo?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt

GV bình: Nguyễn Du đã sử dụng một loạt các từ

ngữ, hình ảnh thuộc phạm trù không gian như “

mười vạn tinh binh” với bóng cờ, tiếng chiêng gợi

nên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người

anh hùng TH Khát vọng “ làm cho rõ mặt phi

thường” chính là khát vọng xây dựng một sự

nghiệp, công danh lừng lẫy, xuất chúng, hơn

người Thành công ấy sẽ là sính lễ để TH rước

người tri kỉ “ Nghi gia” là nghi thức đón người

con gái về làm vợ, làm dâu, một nghi thức có

nhiều bước chu đáo và trang trọng Thế là so với

lần chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh trước đây thì lời

hứa thực hiện những nghi thức trang trọng này

chính là món quà và là hành động rửa sạch vết nhơ

của đời kĩ nữ cho Kiều

H: Em có nhận xét gì về TH qua lời hứa với

TK?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt

H: Ngoài lời hứa trở về đón TK, TH còn nói

những gì với TK qua 4 câu thơ tiếp?

HS trả lời

(GV bình qua về lời khẳng định của TH)

GV nhận xét, chốt

GV bình: Người ta học nghề mất vài ba năm, phải

mất hàng chục năm nghề nghiệp mới tinh thông

vững vàng Sự nghiệp lớn muốn hoàn thành có khi

phải hiến dâng trọn đời người TH quyết việc lớn

ấy sẽ được thực hiện trong một năm Phải là một

người quyết đoán, tự tin, đầy tài năng mới dám đặt

ra một thời hạn như thế cho một sự nghiệp long

trời lở đất

H: Tóm lại, em có nhận xét gì về TH qua đoạn

đối thoại với TK?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt

H: Hai câu thơ cuối cho ta thấy hành động gì

của TH?

HS trả lời

GV nhận xét, chốt ý

GV bình: Theo sách xưa kể rằng chim bằng là một

giống chim rất lớn, đập cánh làm động nước trong

ba ngàn dặm, cưỡi gió mà bay lên chín ngàn dặm

Chim bằng trong thơ văn thường tượng trưng cho

khát vọng của người anh hùng có bản lĩnh phi

thường, khao khát làm nên sự nghiệp lớn Đem

hình ảnh chim bằng để ẩn dụ cho tư thế ra đi của

TH, Nguyễn Du muốn khẳng định TH chính là bậc

anh hùng cái thế có tầm vóc phi thường, sánh

ngang đất trời, vũ trụ.

H: Theo em Nguyễn Du đã gửi gắm điều gì qua

nhân vật TH?

“Bao giờ mười vạn tinh binh, Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường

Làm cho rỡ mặt phi thường, Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.”

- Rõ mặt phi thường: tạo nên sự nghiệp xuất

chúng, phi thường→ niềm tin sắt đá vào bản thân,

sự nghiệp của mình

- Rước nàng nghi gia: hứa trở về đón Kiều

→ Người anh hùng có chí khí, sự thống nhất giữa khát vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ

* 4 câu thơ tiếp:

“Bằng nay bốn bể không nhà, Theo càng thêm bận biết là đi đâu?

Đành lòng chờ đó ít lâu Chầy chăng là một năm sau vội gì!”

- Bốn bể không nhà: khẳng định thực tế gian nan,

vất vả, khó khăn của buổi đầu lập nghiệp

- Lời hẹn: “ một năm” : mốc thời gian cụ thể,

nhanh chóng → Khẳng định ý chí, bản lĩnh, sự tự tin

→ Lời hẹn ước ngắn gọn, dứt khoát, tự tin

=> Từ Hải không chỉ là người anh hùng có khát vọng, chí khí lớn mà còn rất tự tin vào tài năng của mình

c Hai câu cuối:

“Quyết lời dứt áo ra đi, Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”

- Hành động :

+ quyết lời + dứt áo ra đi

→thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề

do dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý chí người anh hùng

- Hình ảnh chim bằng :

→ ẩn dụ tượng trưng về người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi thường, mang tầm vóc vũ trụ

=>Thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng

Trang 5

HS trả lời

GV chốt

GV bình: Trong KVK truyện, TH chỉ đơn thuần là

một tên tướng cướp từng thi hỏng và đi buôn

Nhưng trong TK, ND đã nhận thức lại nhân vật

TH, nhất quán miêu tả nhân vật với một sự cảm

phục không che giấu, trao cho nhân vật TH lí

tưởng anh hùng của ông Đó là lí tưởng về một

con người có phẩm chất, chí khí phi thường, một

khát vọng làm nên sự nghiệp lớn.

Hoạt động 3 H: Em hãy nhận xét giá trị nghệ thuật và nội

dung của đoạn trích “ Chí khí anh hùng”? Theo

em, vì sao tác giả lại đặt tên là CKAH?

HS thảo luận (2 phút) và trả lời

GV chốt lại những ý chính

của Nguyễn Du ( chân dung kì vĩ, chí khí, tài

năng, bản lĩnh phi thường, thực hiện giấc mơ công lí)

III Tổng kết

- Nghệ thuật: Khuynh hướng lí tưởng hóa người anh hùng bằng bút pháp ước lệ và cảm hứng vũ trụ; trong đó, hai phương diện ước lệ và cảm hứng

vũ trụ gắn bó chặt chẽ với nhau

- Ý nghĩa văn bản: Lí tưởng anh hùng của Từ Hải và ước mơ công lí của Nguyễn Du

- Hướng dẫn tự học:

+ Học thuộc long đoạn thơ

+ Anh hùng theo quan niệm xưa là người phi thường Theo anh (chị), ngôn từ và cách tả Từ Hải trong đoạn trích đã nêu lên nét phi thường như thế nào?

Ngày đăng: 03/04/2021, 03:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w