1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài soạn Quy trình xây dựng Ma Trận- môn Sử

185 702 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy trình xây dựng ma trận - môn sử
Người hướng dẫn Phạm Vũ Luận
Trường học Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Văn bản hướng dẫn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHà Nội, ngày tháng 12 năm 2010 Kính gửi: Các Sở Giáo dục và Đào tạo Thực hiện Chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT, ngày 16/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo GDĐT vềN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2010

Kính gửi: Các Sở Giáo dục và Đào tạo

Thực hiện Chỉ thị số 3399/CT-BGDĐT, ngày 16/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vềNhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp nămhọc 2010-2011; Công văn số 4718/BGDĐT-GDTrH ngày 11/8/2010 của Bộ GDĐT về Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụGiáo dục trung học năm học 2010-2011; nhằm tiếp tục đổi mới công tác kiểm tra đánh giá, thúc đẩy đổi mới phươngpháp dạy học, thực hiện thống nhất trong tất cả các trường trung học cơ sở (THCS), trường trung học phổ thông (THPT)

về quy trình và kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra kết quả học tập của học sinh theo ma trận đề, Bộ GDĐT chỉ đạo thực hiện

việc biên soạn đề kiểm tra theo các yêu cầu cụ thể sau (văn bản đính kèm)

Bộ GDĐT yêu cầu các Sở GDĐT chỉ đạo các Phòng GDĐT và các trường THCS , THPT tổ chức thực hiện tốtcác công việc sau:

1 Đối với Sở giáo dục và Đào tạo, Phòng giáo dục và Đào tạo:

1.1 Tổ chức cho các phòng, ban chuyên môn nghiên cứu, thảo luận văn bản để thống nhất quan điểm và cách thực

hiện;

1.2 Cử cán bộ, giáo viên tham dự các lớp tập huấn do Bộ GDĐT tổ chức vào tháng 12/2010 và tiến hành tập huấn lại

cho toàn bộ cán bộ quản lí và giáo viên ngay trong học kì I năm học 2010-2011;

Trang 2

1.3 Ban hành văn bản chỉ đạo các Phòng GDĐT, các trường THCS, THPT tổ chức thực hiện theo nội dung văn bản

này ngay từ kì kiểm tra học kì I, năm học 2010-2011

2 Đối với các trường THPT, THCS

2.1 Theo sự chỉ đạo của Sở/Phòng GDĐT, Hiệu trưởng các trường tổ chức cho tổ chuyên môn và giáo viên nghiêncứu, thảo luận nội dung văn bản; tham khảo các tài liệu về đánh giá kết quả học tập của học sinh để hiểu rõ các nộidung và tổ chức thực hiện việc biên soạn đề kiểm tra kết quả học tập của học sinh theo ma trận đề;

2.2 Trước mắt các tổ chuyên môn biên soạn đề kiểm tra theo ma trận đề của các chương, học kì và cuối năm đảmbảo các yêu cầu như văn bản quy định Sau đó mỗi giáo viên phải tự xây dựng được ma trận và biên soạn đề kiểm trađảm bảo các yêu cầu

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc xin phản ánh về Bộ GDĐT (qua Vụ Giáo dục Trung học hoặc quaemail: vugdtrh@moet.edu.vn)

Trang 3

Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm theo dõi quá trình học tập của học sinh, đưa ra các giải phápkịp thời điều chỉnh phương pháp dạy của thày, phương pháp học của trò, giúp học sinh tiến bộ và đạt được mục tiêu giáodục.

Trang 4

Có nhiều khái niệm về “Đánh giá”, được nêu trong các tài liệu của nhiều tác giả khác nhau Dưới đây là một số

khái niệm thường gặp trong các tài liệu về đánh giá kết quả học tập của học sinh:

- “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhâncủa chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hànhđộng giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót”

- “Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng đạt được mụctiêu học tập của HS cùng với tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạmcủa giáo viên và nhà trường để HS học tập ngày một tiến bộ hơn”

- Theo Jean- Marie De Ketele phát biểu (1989): “Đánh giá có nghĩa là: Thu thập một tập hợp thông tin đủ, thíchhợp, có giá trị và đáng tin cậy; và xem xét mức độ phù hợp giữa tập hợp thông tin này và một tập hợp tiêu chí phù hợpvới các mục tiêu định ra ban đầu hay điều chỉnh trong quá trình thu thập thông tin; nhằm ra một quyết định”

- Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị”

- Trong Giáo dục học: “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả côngviệc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất nhữngquyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục”

- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định

về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã đưa ra trong các chuẩn hay kết quả học tập” (mô hình ARC)

- “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định

về mức độ đạt được theo các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay kết quả học tập Đánh giá có thể là đánhgiá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính (qualitative) dựa vào các ý kiến và giá trị”

Trang 5

Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra quyết định Đánh giá là một quá trìnhbắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu phải theo đuổi và kết thúc khi chúng ta đã đề ra một quyết định liên quan đếnmục tiêu đó Điều đó không có nghĩa là quá trình tổng thể kết thúc khi ra quyết định Ngược lại, quyết định đánh dấu sựkhởi đầu một quá trình khác cũng quan trọng như đánh giá: đó là quá trình đề ra những biện pháp cụ thể tuỳ theo kết quảđánh giá.

Đánh giá (assessment) là một thuật ngữ mang cả nghĩa đánh giá (evaluation) và đo đạc (measurement)

Đánh giḠthực hiện đồng thời 2 chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa góp phầnđiều chỉnh hoạt động này

Chuẩn đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đánh giá, được hiểu là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạtđược trong việc xem xét chất lượng sản phẩm

Kiểm tra là tiền đề của đánh giá, là khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học

Việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây

1 Đảm bảo tính khách quan, chính xác

Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý muốnchủ quan của người đánh giá

2 Đảm bảo tính toàn diện

Đầy đủ các khía cạnh, các mặt cần đánh giá theo yêu cầu và mục đích

Trang 6

Đánh giá được tiến hành công khai, kết quả được công bố kịp thời, tạo ra động lực để thúc đẩy đối tượng đượcđánh giá mong muốn vươn lên, có tác dụng thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế mặt xấu.

5 Đảm bảo tính công bằng

Đảm bảo rằng những học sinh thực hiện các hoạt động học tập với cùng một mức độ và thể hiện cùng một nỗ lực

se nhận được kết quả đánh giá như nhau

1 Định hướng chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá

1) Phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp QLGD

Đổi mới KT-ĐG là một bộ phận của đổi mới PPDH nói riêng và đổi mới GDPT nói chung Việc đổi mới phải đi từtổng kết thực tiễn để phát huy ưu điểm, khắc phục các biểu hiện hạn chế, lạc hậu, yếu kém trên cơ sở đó tiếp thu vậndụng các thành tựu hiện đại của khoa học GD trong nước và quốc tế vào thực tiễn nước ta Các cấp quản lý GD chỉ đạochặt chẽ, coi trọng hướng dẫn các cơ quan quản lý GD cấp dưới đến các trường học, các tổ chuyên môn và từng GVtrong việc tổ chức thực hiện, sao cho đi đến tổng kết, đánh giá được hiệu quả cuối cùng Thước đo thành công của cácgiải pháp chỉ đạo là sự đổi mới cách nghĩ, cách làm của từng GV và các chỉ số nâng cao chất lượng dạy học

2) Phải có sự hỗ trợ của đồng nghiệp, nhất là GV cùng bộ môn

Đơn vị tổ chức thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG là trường học, môn học với một điều kiện tổ chức dạyhọc cụ thể Do việc đổi mới KT-ĐG phải gắn với đặc trưng mỗi môn học, nên phải coi trọng vai trò của các tổ chuyênmôn, là nơi trao đổi kinh nghiệm giải quyết mọi khó khăn, vướng mắc Trong việc tổ chức thực hiện đổi mới KT-ĐG,cần phát huy vai trò của đội ngũ GV giỏi có nhiều kinh nghiệm, GV cốt cán chuyên môn để hỗ trợ GV mới, GV taynghề chưa cao, không để GV nào phải đơn độc Phải coi trọng hình thức hội thảo, thao giảng, dự giờ thăm lớp để rútkinh nghiệm kịp thời, đánh giá hiệu quả từng giải pháp cụ thể trong việc đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG: kinh

Trang 7

nghiệm ra đề sao cho bảo đảm chất lượng, kinh nghiệm kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm cho phù hợp với đặctrưng bộ môn.

3) Cần lấy ý kiến xây dựng của HS để hoàn thiện PPDH và KT-ĐG

Đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG chỉ mang lại kết quả khi HS phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, biếtđổi mới PPHT, biết tự học, tự đánh giá kết quả học tập Trong môi trường sư phạm thân thiện, việc thu thập ý kiến xâydựng của HS để giúp GV đánh giá đúng về mình, tìm ra con đường khắc phục các hạn chế, thiếu sót, hoàn thiện PPDH,đổi mới KT-ĐG là hết sức cần thiết và là cách làm mang lại nhiều lợi ích, phát huy mối quan hệ thúc đẩy tương hỗ giữangười dạy và người học

4) Đổi mới KT-ĐG phải đồng bộ với các khâu liên quan và nâng cao các điều kiện bảo đảm chất lượng dạy học Đổi mới KT-ĐG gắn liền với đổi mới PPDH của GV và đổi mới PPHT của HS, kết hợp đánh giá trong với đánhgiá ngoài Ở cấp độ thấp, GV có thể dùng đề kiểm tra của người khác (của đồng nghiệp, do nhà trường cung cấp, từnguồn dữ liệu trên các Website chuyên ngành) để KT-ĐG kết quả học tập của HS lớp mình Ở cấp độ cao hơn, nhàtrường có thể trưng cầu một trường khác, cơ quan chuyên môn bên ngoài tổ chức KT-ĐG kết quả học tập của HS trườngmình

Đổi mới KT-ĐG chỉ có hiệu quả khi kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS Sau mỗi kỳ kiểm tra, GVcần bố trí thời gian trả bài, hướng dẫn HS tự đánh giá kết quả làm bài, tự cho điểm bài làm của mình, nhận xét mức độchính xác trong chấm bài của GV Trong quá trình dạy học và khi tiến hành KT-ĐG, GV phải biết “khai thác lỗi” đểgiúp HS tự nhận rõ sai sót nhằm rèn luyện PPHT, PP tư duy

Chỉ đạo đổi mới KT-ĐG phải đồng thời với nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ GV, đầu tư nâng cấpCSVC, trong đó có thiết bị dạy học và tổ chức tốt các phong trào thi đua mới phát huy đầy đủ hiệu quả

5) Phát huy vai trò thúc đẩy của đổi mới KT-ĐG đối với đổi mới PPDH

Trang 8

Trong mối quan hệ hai chiều giữa đổi mới KT-ĐG với đổi mới PPDH, khi đổi mới mạnh mẽ PPDH sẽ đặt ra yêucầu khách quan phải đổi mới KT-ĐG, bảo đảm đồng bộ cho quá trình hướng tới nâng cao chất lượng dạy học Khi đổimới KT-ĐG bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác, công bằng sẽ tạo tiền đề xây dựng môi trường sư phạm thân thiện,tạo động lực mới thúc đẩy đổi mới PPDH và đổi mới công tác quản lý Từ đó, sẽ giúp GV và các cơ quan quản lý xácđịnh đúng đắn hiệu quả giảng dạy, tạo cơ sở để GV đổi mới PPDH và các cấp quản lý đề ra giải pháp quản lý phù hợp.

6) Phải đưa nội dung chỉ đạo đổi mới KT-ĐG vào trọng tâm cuộc vận động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

Trong nhà trường, hoạt động dạy học là trung tâm để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, thực hiện sứ mệnh

“trồng người” Hoạt động dạy học chỉ đạt hiệu quả cao khi tạo lập được môi trường sư phạm lành mạnh, bầu không khíthân thiện, phát huy ngày càng cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Do đó, phải đưa nội dung chỉ đạo đổi

mới PPDH nói chung và đổi mới KT-ĐG nói riêng thành trọng tâm của cuộc vận động "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Cũng

trong mối quan hệ đó, bước phát triển của cuộc vận động và phong trào thi đua này sẽ tạo động lực thúc đẩy quá trình

đổi mới PPDH và đổi mới KT-ĐG đạt được mục tiêu cuối cùng là thúc đẩy nâng cao chất lượng GD toàn diện

2 Một số nhiệm vụ trong chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá

2.1 Các công việc cần tổ chức thực hiện

a) Các cấp quản lý GD và các trường PT cần có kế hoạch chỉ đạo đổi mới PPDH, trong đó có đổi mới KT-ĐGtrong từng năm học và trong 5 năm tới Kế hoạch cần quy định rõ nội dung các bước, quy trình tiến hành, công tác kiểm

Trang 9

tra, thanh tra chuyên môn và biện pháp đánh giá chặt chẽ, hiệu quả cuối cùng thể hiện thông qua kết quả áp dụng củaGV.

b) Để làm rõ căn cứ khoa học của việc KT-ĐG, cần tổ chức nghiên cứu cho đội ngũ GV cốt cán và toàn thể GVnắm vững CTGDPT của cấp học, từ mục tiêu cấp học, cấu trúc chương trình, chương trình các môn học, các hoạt động

GD và đặc biệt là chuẩn KT-KN, yêu cầu về thái độ đối với người học

Phải khắc phục tình trạng GV chỉ dựa vào sách giáo khoa để làm căn cứ soạn bài, giảng dạy và KT-ĐG đã thànhthói quen, tình trạng này dẫn đến diễn giảng dàn trải dài dòng, chưa thực sự bám sát chuẩn KT-KN, bám sát trọng tâmbài học

c) Để vừa coi trọng nâng cao nhận thức vừa coi trọng đổi mới trong hoạt động KT-ĐG của từng GV, phải lấy đơn

vị trường học và tổ chuyên môn là đơn vị cơ bản triển khai thực hiện

Từ năm học 2010-2011, các Sở GDĐT cần chỉ đạo các trường PT triển khai một số chuyên đề sinh hoạt chuyênmôn sau đây (tổ chức theo cấp: cấp tổ chuyên môn, cấp trường, theo các cụm và toàn tỉnh, thành phố)

- Về nghiên cứu Chương trình GDPT: Chuẩn KT-KN và yêu cầu về thái độ đối với người học của các môn học vàcác hoạt động GD; khai thác chuẩn để soạn bài, dạy học trên lớp và KT-ĐG

- Về PPDH tích cực: Nhận diện PPDH tích cực và cách áp dụng trong hoạt động dạy học, nghệ thuật bồi dưỡngtình cảm hứng thú học tập cho HS; phát huy quan hệ thúc đẩy giữa đổi mới KT-ĐG với đổi mới PPDH

- Về đổi mới KT-ĐG: Nhận diện về KT-ĐG trong PPDH tích cực và cách áp dụng; cách kết hợp đánh giá của GVvới đánh giá của HS, kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài

- Về kỹ thuật ra đề kiểm tra, đề thi: Kỹ thuật ra đề tự luận, đề trắc nghiệm và cách kết hợp hợp lý hình thức tự luậnvới hình thức trắc nghiệm cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học; cách khai thác nguồn dữ liệu mở:Thư viện câu hỏi và bài tập, ngân hàng đề kiểm tra, đề thi trên các Website chuyên môn

Trang 10

- Về sử dụng SGK: GV sử dụng SGK và khai thác chuẩn KT-KN của chương trình môn học thế nào cho khoa học,

sử dụng SGK trên lớp thế nào cho hợp lý, sử dụng SGK trong KT-ĐG;

- Về ứng dụng CNTT: Ứng dụng CNTT để sưu tầm tư liệu, ứng dụng trong dạy học trên lớp, trong KT-ĐG và quản

lý chuyên môn thế nào cho khoa học, tránh lạm dụng CNTT;

- Về hướng dẫn HS đổi mới PPHT, biết tự đánh giá và thu thập ý kiến của HS đối với PPDH và KT-ĐG của GV;Ngoài ra, căn cứ tình hình cụ thể của mình, các trường có thể bổ sung một số chuyên đề phù hợp, thiết thực đápứng nhu cầu của GV

d) Về chỉ đạo của các cơ quan quản lý GD và các trường

Về PP tiến hành của nhà trường, mỗi chuyên đề cần chỉ đạo áp dụng thí điểm, xây dựng báo cáo kinh nghiệm vàthảo luận, kết luận rồi nhân rộng kinh nghiệm thành công, đánh giá hiệu quả mỗi chuyên đề thông qua dự giờ thăm lớp,thanh tra, kiểm tra chuyên môn

Trên cơ sở tiến hành của các trường, các Sở GDĐT có thể tổ chức hội thảo khu vực hoặc toàn tỉnh, thành phố,nhân rộng vững chắc kinh nghiệm tốt đã đúc kết được Sau đó, tiến hành thanh tra, kiểm tra chuyên môn theo từngchuyên đề để thúc đẩy GV áp dụng và đánh giá hiệu quả

2.2 Phương pháp tổ chức thực hiện

a) Công tác đổi mới KT-ĐG là nhiệm vụ quan trọng lâu dài nhưng phải có biện pháp chỉ đạo cụ thể có chiều sâucho mỗi năm học, tránh chung chung theo kiểu phát động phong trào thi đua sôi nổi chỉ nhằm thực hiện một “chiếndịch” trong một thời gian nhất định Đổi mới KT-ĐG là một hoạt động thực tiễn chuyên môn có tính khoa học cao trongnhà trường, cho nên phải đồng thời nâng cao nhận thức, bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng cho đội ngũ GV, đông đảo

Trang 11

HS và phải tổ chức thực hiện đổi mới trong hành động, đổi mới cách nghĩ, cách làm, đồng bộ với đổi mới PPDH, coitrọng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, kiểm chứng kết quả để củng cố niềm tin để tiếp tục đổi mới

Trong kế hoạch chỉ đạo, phải đề ra mục tiêu, bước đi cụ thể chỉ đạo đổi mới KT-ĐG để thu được kết quả cuối cùng,phát động, xây dựng, củng cố thành nền nếp chuyên môn vững chắc trong hoạt động dạy học:

- Trước hết, phải yêu cầu và tạo điều kiện cho từng GV nắm vững chuẩn KT-KN và yêu cầu về thái độ đối với

người học đã được quy định tại chương trình môn học vì đây là căn cứ pháp lý khách quan để tiến hành KT-ĐG;

- Phải nâng cao nhận thức về mục tiêu, vai trò và tầm quan trọng của KT-ĐG, sự cần thiết khách quan phải đổi mớiKT-ĐG, bảo đảm khách quan, chính xác, công bằng để nâng cao chất lượng dạy học;

- Phải trang bị các kiến thức và kỹ năng tối cần thiết có tính kỹ thuật về ĐG nói chung và các hình thức

KT-ĐG nói riêng, trong đó đặc biệt là kỹ thuật ra đề trắc nghiệm, giới hạn áp dụng hình thức trắc nghiệm trong KT-KT-ĐG.Đây là khâu công tác có tầm quan trọng đặc biệt vì trong thực tế, phần đông GV chưa được trang bị kỹ thuật nàykhi được đào tạo ở trường sư phạm, nhưng chưa phải địa phương nào, trường PT nào cũng đã giải quyết tốt Vẫn cònmột bộ phận không ít GV phải tự mày mò trong việc tiếp cận hình thức trắc nghiệm, dẫn đến chất lượng đề trắc nghiệmchưa cao, chưa phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng bộ môn, không ít trường hợp có tình trạng lạm dụng trắcnghiệm

- Phải chỉ đạo đổi mới KT-ĐG theo chuyên đề có chiều sâu cần thiết, coi trọng phổ biến kinh nghiệm tốt và tăngcường tháo gỡ khó khăn, vướng mắc thông qua sinh hoạt tổ chuyên môn giữa các GV cùng bộ môn

b) Các cấp quản lý phải coi trọng sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, nhân điển hình tập thể, cá nhân tiên tiếntrong đổi mới KT-ĐG

Trang 12

c) Trong mỗi năm học, các cấp quản lý tổ chức các đợt kiểm tra, thanh tra chuyên đề để đánh giá hiệu quả đổi mớiKT-ĐG ở các trường PT, các tổ chuyên môn và từng GV Thông qua đó, rút ra kinh nghiệm chỉ đạo, biểu dương khenthưởng các đơn vị, cá nhân làm tốt, uốn nắn các biểu hiện bảo thủ ngại đổi mới hoặc thiếu trách nhiệm, bàng quan thờ ơ.

2.3 Trách nhiệm tổ chức thực hiện

a) Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo:

- Cụ thể hóa chủ trương chỉ đạo của Bộ GDĐT về đổi mới KT-ĐG, đưa công tác chỉ đạo đổi mới PPDH, trong đó

có đổi mới KT-ĐG làm trọng tâm của cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”

và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, với mục tiêu xây dựng môi trường sư phạm lành

mạnh và phát huy vai trò tích cực, tinh thần hứng thú, chủ động, sáng tạo trong học tập của HS;

- Lập kế hoạch chỉ đạo đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG dài hạn, trung hạn và năm học, cụ thể hóa các trong tâmcông tác cho từng năm học:

+ Xác định rõ mục tiêu cần đạt được, nội dung, đối tượng, phương pháp tổ chức bồi dưỡng, hình thức đánh giá,kiểm định kết quả bồi dưỡng; lồng ghép việc đánh giá kết quả bồi dưỡng với việc phân loại GV, cán bộ quản lý cơ sở

GD hằng năm theo chuẩn đã ban hành

+ Xây dựng đội ngũ GV cốt cán vững vàng cho từng bộ môn và tập huấn nghiệp vụ về đổi mới PPDH, đổi mớiKT-ĐG cho những người làm công tác thanh tra chuyên môn

+ Tăng cường đầu tư xây dựng CSVC, thiết bị dạy học để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mới PPDH, đổi mới ĐG

KT-+ Giới thiệu các điển hình, tổ chức trao đổi, phổ biến và phát huy tác dụng của các gương điển hình về đổi mớiPPDH, đổi mới KT-ĐG

+ Tổ chức tốt việc bồi dưỡng GV:

Trang 13

Trước hết, cần tổ chức sử dụng tài liệu “Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN của Chương trình giáo dục phổ thông”

do Bộ GDĐT ban hành, sớm chấm dứt tình trạng GV chỉ dựa vào SGK như một căn cứ duy nhất để dạy học và KT-ĐG,không có điều kiện và thói quen tiếp cận nghiên cứu nắm vững chuẩn KT-KN của chương trình môn học

- Tăng cường khai thác CNTT trong công tác chỉ đạo và thông tin về đổi mới PPDH, KT-ĐG:

+ Lập chuyên mục trên Website của Sở GDĐT về PPDH và KT-ĐG, lập nguồn dữ liệu về thư viện câu hỏi và bàitập, đề kiểm tra, giáo án, kinh nghiệm, các văn bản hướng dẫn đổi mới PPDH, KT-ĐG, các video bài giảng minh họa…;+ Thí điểm hình thức dạy học qua mạng (learning online) để hỗ trợ GV, HS trong giảng dạy, học tập, ôn thi;

- Chỉ đạo phong trào đổi mới PPHT để phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập và rèn luyện đạođức của HS, gắn với chống bạo lực trong trường học và các hành vi vi phạm quy định của Điều lệ nhà trường

b) Trách nhiệm của nhà trường, tổ chuyên môn và GV:

- Trách nhiệm của nhà trường

+ Cụ thể hóa chủ trương của Bộ và Sở GDĐT về chỉ đạo đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG đưa vào nội dung các kếhoạch dài hạn, trung hạn và năm học của nhà trường với các yêu cầu đã nêu Phải đề ra mục tiêu phấn đấu tạo cho đượcbước chuyển biến trong đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG; kiên trì hướng dẫn GV thực hiện, kịp thời tổng kết, rút kinhnghiệm, nhân điển hình tiên tiến và chăm lo đầu tư xây dựng CSVC, TBDH phục vụ đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG;+ Tổ chức hợp lý việc lấy ý kiến của GV và HS về chất lượng giảng dạy, giáo dục của từng GV; đánh giá sát đúngtrình độ, năng lực đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG của từng GV trong trường, từ đó, kịp thời động viên, khen thưởngnhững GV thực hiện đổi mới PPDH có hiệu quả;

+ Tổ chức tốt công tác bồi dưỡng GV:

Trang 14

(i) Trước hết, phải tổ chức cho GV nghiên cứu nắm vững chuẩn KT-KN của chương trình, tích cực chuẩn bịTBDH, tự làm đồ dùng DH để triệt để chống “dạy chay”, khai thác hồ sơ chuyên môn, chọn lọc tư liệu liên hệ thực tếnhằm kích thích hứng thú học tập cho HS.

(ii) Nghiên cứu áp dụng PPDHTC vào điều kiện cụ thể của lớp; nghiên cứu tâm lý lứa tuổi để vận dụng vào hoạt

động giáo dục và giảng dạy Nghiên cứu các KN, kỹ thuật dạy học và kỹ năng tổ chức các hoạt động cho HS Tổ chức

cho GV học ngoại ngữ, tin học để làm chủ các phương tiện dạy học, ứng dụng CNTT, khai thác Internet phục vụ việchọc tập nâng cao trình độ chuyên môn

(iii) Hướng dẫn GV lập hồ sơ chuyên môn và khai thác hồ sơ để chủ động liên hệ thực tế dạy học, bồi dưỡng tìnhcảm hứng thú học tập cho HS

+ Tổ chức diễn đàn về đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG của GV, diễn đàn đổi mới PPHT cho HS; hỗ trợ GV về kỹ

thuật ra đề tự luận, trắc nghiệm, cách kết hợp hình thức tự luận với trắc nghiệm sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra

và đặc trưng của môn học

+ Kiểm tra các tổ chuyên môn và đánh giá hoạt động sư phạm của GV:

(i) Kiểm tra công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của GV, kịp thời động viên mọi cố gắng sáng tạo, uốn nắn cácbiểu hiện chủ quan tự mãn, bảo thủ và xử lý mọi hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm;

(ii) Tiến hành đánh giá phân loại GV theo chuẩn đã ban hành một cách khách quan, chính xác, công bằng và sửdụng làm căn cứ để thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng;

+ Phối hợp với Ban đại diện cha mẹ HS để quản lý học tập HS ở nhà, bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS học lực yếukém, giảm lưu ban, bỏ học:

Trang 15

(i) Duy trì kỷ cương, nền nếp và kỷ luật tích cực trong nhà trường, kiên quyết chống bạo lực trong trường học vàmọi vi phạm quy định của Điều lệ nhà trường, củng cố văn hóa học đường tạo thuận lợi để tiếp tục đổi mới PPDH, KT-ĐG;

(ii) Tổ chức phong trào đổi mới PPHT để thúc đẩy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo và lấy ý kiến phản hồi của

HS về PPDH, KT-ĐG của GV

+ Khai thác CNTT trong công tác chỉ đạo đổi mới PPDH, KT-ĐG:

+ Lập chuyên mục trên Website của trường về PPDH và KT-ĐG, lập nguồn dữ liệu về câu hỏi và bài tập, đề kiểmtra, giáo án, kinh nghiệm, các văn bản hướng dẫn đổi mới PPDH, KT-ĐG, các video bài giảng minh họa…;

+ Thí điểm hình thức dạy học qua mạng LAN của trường (learning online) để GV giỏi, chuyên gia hỗ trợ GV, HStrong giảng dạy, học tập, ôn thi

- Trách nhiệm của Tổ chuyên môn:

+ Đơn vị tổ chức bồi dưỡng thường xuyên quan trọng nhất là các tổ chuyên môn Cần coi trọng hình thức tổ chứccho GV tự học, tự nghiên cứu, sau đó GV có kinh nghiệm hoặc GV cốt cán chủ trì thảo luận, giải đáp thắc mắc, trao đổikinh nghiệm Sau khi nghiên cứu mỗi chuyên đề, cần tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm để hỗ trợ GV thực hiện đổi mớiPPDH và KT-ĐG;

+ Tổ chức cho GV nghiên cứu nắm vững chuẩn KT-KN của CT môn học và hoạt động GD mình phụ trách và tổchức đều đặn việc dự giờ và rút kinh nghiệm, giáo dục ý thức khiêm tốn học hỏi và sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm; thảoluận cách giải quyết những vấn đề mới, vấn đề khó, phát huy các hoạt động tương tác và hợp tác trong chuyên môn;+ Đề xuất với Ban giám hiệu về đánh giá phân loại chuyên môn GV một cách khách quan, công bằng, phát huy vaitrò GV giỏi trong việc giúp đỡ GV năng lực yếu, GV mới ra trường;

Trang 16

+ Phản ánh, đề xuất với nhà trường về công tác chuyên môn và công tác bồi dưỡng GV, phát hiện và đề nghị nhânđiển hình tiên tiến về chuyên môn, cung cấp các giáo án tốt, đề kiểm tra tốt để các đồng nghiệp tham khảo;

+ Đánh giá đúng đắn và đề xuất khen thưởng những GV thực hiện đổi mới PPDH, đổi mới KT-ĐG có hiệu quả

- Trách nhiệm của GV:

+ Mỗi GV cần xác định thái độ cầu thị, tinh thần học suốt đời, không chủ quan thỏa mãn; tự giác tham gia các lớp

bồi dưỡng, tự bồi dưỡng thường xuyên và sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ GV cốt cán chuyên môn khi được lựa chọn;kiên trì vận dụng những điều đã học để nâng cao chất lượng dạy học;

+ Phấn đấu thực sự nắm vững nội dung chương trình, đổi mới PPDH và KT-ĐG, rèn luyện kỹ năng, kỹ thuật dạyhọc (trong đó có kỹ năng ứng dụng CNTT, khai thác internet…), tích lũy hồ sơ chuyên môn, tạo được uy tín chuyênmôn trong tập thể GV và HS, không ngừng nâng cao trình độ các lĩnh vực hỗ trợ chuyên môn như ngoại ngữ, tin học; + Thực hiện đổi mới PPDH của GV phải đi đôi với hướng dẫn HS lựa chọn PPHT hợp lý, biết tự học, tự đánh giá,

tự chủ, khiêm tốn tiếp thu ý kiến của đồng nghiệp và của HS về PPDH, KT-ĐG của mình để điều chỉnh;

+ Tham gia dự giờ của đồng nghiệp, tiếp nhận đồng nghiệp dự giờ của mình, thẳng thắn góp ý kiến cho đồngnghiệp và khiêm tốn tiếp thu góp ý của đồng nghiệp; tự giác tham gia hội giảng, thao giảng, thi GV giỏi, báo cáo kinhnghiệm để chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm nhằm trau dồi năng lực chuyên môn

Trong quá trình đổi mới sự nghiệp GD, việc đổi mới PPDH và KT-ĐG là giải pháp then chốt để nâng cao chấtlượng dạy học nói riêng và chất lượng GD toàn diện nói chung Đây là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏiphải chỉ đạo chặt chẽ, liên tục và phải động viên mọi sự kiên trì nỗ lực sáng tạo của đội ngũ GV, lôi cuốn sự hưởng ứngcủa đông đảo HS Để tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả chủ trương đổi mới PPDH và KT-ĐG, phải từng bước nângcao trình độ đội ngũ GV, đồng thời tăng cường đầu tư xây dựng CSVC, nhất là TBDH Các cơ quan quản lý GD phải

lồng ghép chặt chẽ công tác chỉ đạo đổi mới PPDH và KT-ĐG với việc tổ chức thực hiện cuộc vận động "Mỗi thầy cô

Trang 17

giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo" và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” để từng bước nâng cao chất lượng GD toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước và hội nhập quốc tế

PHẦN THỨ HAI BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA

Trang 18

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP HỌC SINH MÔN LỊCH SỬ 1.Về khái niệm kiểm tra, đánh giá

Đánh giá, trong giáo dục là một quá trình tiến hành có hệ thống để xác định mức độ đạt được của học sinh về cácmục tiêu giáo dục Nó có thể bao gồm sự mô tả về mặt định tính hay định lượng những hành vi của người học cùng vớinhững nhận xét đánh giá những hành vi này đối chiếu với sự mong muốn đạt được về mặt hành vi đó

Một khái niệm khác cho rằng đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lý giải kịp thời có hệ thống thôngtin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêuđào tạo làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo

Như vậy, kiểm tra, đánh giá (KTĐG) kết quả học tập lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình tiến hành có hệthống, liên tục và thường xuyên, theo dõi thu thập số liệu, chứng cứ nhằm đánh giá kết quả học tập, củng cố, mở rộng,tăng cường hoạt động học tập của học sinh Đồng thời, qua đó xác định mức độ các mục tiêu dạy học đạt được, làm cơ

sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân học sinh, góp phần nâng cao chất lượng

dạy học ở trường phổ thông KTĐG kết quả học tập lịch sử ở trường phổ thông nhằm đo khả năng biết, hiểu và vận dụng

kiến thức của học sinh về sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, qua đó rút ra điểm mạnh, điểm yếu của nộidung, chương trình, SGK để có những bổ sung, điều chỉnh kịp thời về cách dạy và cách học, giúp bộ môn lịch sử thựchiện tốt vai trò giáo dục của mình

Như vậy, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có nội dung khác nhau, nhưng có mối liên quan mật thiết vớinhau, những thông tin thu được đối chiếu với những mục tiêu đề ra nhằm đề xuất những giải pháp phù hợp để điềuchỉnh phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học Trong quá trình dạy học, kiểm trađược xem là phương tiện và hình thức của đánh giá Thông qua kiểm tra cung cấp những dữ liệu, những thông tin cần

Trang 19

thiết làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng dạy học KTĐG hướng tới thực hiện mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo Cho nên, xét ở một mức độ nào đó KTĐG có điểm chung: kiểm tra gắn liền với đánh giá, đánh giá được hiểu theo nghĩa

bao gồm cả kiểm tra

2 Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá

KTĐG có vị trí quan trọng để củng cố, phát triển kiến thức của học sinh trong học tập nói chung, học tập lịch sử

nói riêng Nó là một khâu không thể tách rời diễn ra trong suốt quá trình dạy học nhằm đánh giá thường xuyên năng lựchọc tập của học sinh hướng tới việc hướng dẫn học sinh học tập, giáo viên giảng dạy và giám sát, cải tiến chất lượnggiáo dục trong nhà trường Từ kết quả KTĐG, những kết luận chính xác về thực trạng dạy học đã được rút ra để điềuchỉnh hoạt động dạy học của thầy - trò Vì vậy, KTĐG có hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thôngtin cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnh hoạt động học, giúp giáo viên có những thông tin phản hồi để điều chỉnh vàhoàn thiện quá trình dạy, đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học từ đó nâng cao chất lượng dạy học của nhà

trường phổ thông KTĐG có tính mục đích, có ý nghĩa đối với cả giáo viên và học sinh

a.Mục đích của kiểm tra, đánh giá:

*Thứ nhất: Định hướng và thúc đẩy quá trình học tập:

- Qua KTĐG thông báo cho từng học sinh biết được trình độ tiếp thu kiến thức và những kỹ năng môn học củamình so với yêu cầu của chương trình cũng như sự tiến bộ của họ trong quá trình học tập, nhằm thúc đẩy tính tích cực,hứng thú học tập

- KTĐG giúp học sinh phát hiện những nguyên nhân sai sót cần phải bổ sung, điều chỉnh trong hoạt động học

*Thứ hai: KTĐG để phân loại, xếp loại học sinh:

- Công khai hoá các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi học sinh và mỗi tập thể lớp, tạo cơ hội đểcác em phát triển kỹ năng tự đánh giá để nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên các em học tập, có kế

Trang 20

hoạch bồi dưỡng kịp thời Đồng thời, qua đó giáo dục học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, rèn luyện

tu dưỡng đạo đức, có thêm niềm tin ở sức lực, khả năng của mình để từ đó có nhu cầu tự KTĐG thường xuyên

- Giúp giáo viên có cơ sở nhận ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạyhọc, không ngừng nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

Như vậy, KTĐG là nhiệm vụ cần thiết, phức tạp nhất và tất yếu không thể thiếu được của quá trình dạy học nóichung, dạy học lịch sử nói riêng Nó chính là động lực thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động dạy - học KTĐG không những

là một nhân tố dạy học mà còn là một nhân tố kích thích học sinh học tập vươn lên, hai nhân tố này có mối liên hệ biệnchứng lẫn nhau Việc đánh giá càng chính xác giúp giáo viên hoàn thiện, cải tiến phương pháp dạy học ngày càng cóhiệu quả Ngược lại, nếu mục đích dạy học của KTĐG bị xem nhẹ sẽ dẫn tới hậu quả buông lỏng quá trình dạy học,không động viên, khuyến khích, thúc đẩy học sinh tự vươn lên trong quá trình học tập

b.Ý nghĩa của kiểm tra, đánh giá:

* Đối với học sinh:

KTĐG là thước đo kết quả học tập của học sinh trong từng môn học cụ thể Việc KTĐG thường xuyên (bao gồmKTĐG của giáo viên và hoạt động tự KTĐG của học sinh) tạo nên mối “liên hệ ngược” giúp các em tự điều chỉnh hoạtđộng học tập của mình:

-Về kiến thức: KTĐG giúp học sinh nhận thức đúng mức độ kiến thức đã đạt được so với yêu cầu của chương

trình Nó giúp các em phát hiện những thiếu sót, “lỗ hổng” trong kiến thức, kỹ năng để kịp thời sửa chữa, thay đổi, điềuchỉnh phương pháp học tập đạt kết quả cao hơn

-Về giáo dục: KTĐG được thực hiện nghiêm túc đúng qui trình sẽ có tác dụng giáo dục rất lớn góp phần hình

thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp: ý chí tự giác vươn lên trong học tập, củng cố lòng tự tin vào khả năng củamình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn, thể hiện lòng trung thực, tinh thần tập thể…

Trang 21

-Về kĩ năng: Thông qua KTĐG, học sinh có điều kiện rèn luyện các kĩ năng tư duy trí tuệ từ đơn giản đến phức

tạp: biết tái hiện sự kiện, hiện tượng lịch sử, hiểu sâu sắc các sự kiện, hiện tượng lịch sử, qua đó vận dụng khả năng thựchành, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, rút ra qui luật và bài học lịch sử … KTĐG được thực hiện tốt

sẽ giúp các em phát triển trí thông minh, biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới

* Đối với giáo viên:

KTĐG thường xuyên, nghiêm túc, cung cấp cho giáo viên những thông tin tương đối chính xác và toàn diện vềmức độ hiểu và nắm kiến thức của học sinh đạt hay chưa đạt so với mục tiêu môn học đề ra, nắm được mức độ tiến bộhay sút kém của từng học sinh để có những biện pháp khuyến khích, động viên hay giúp đỡ, bồi dưỡng kịp thời Từnhững “mối liên hệ ngược” này giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học, tìm ra những biện pháp cải tiến, nâng caochất lượng dạy học Thông qua KTĐG giúp giáo viên thẩm định trên thực tế hiệu quả những cải tiến, đổi mới nội dung

và phương pháp dạy học của mình

3 Yêu cầu của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả KTĐG cần đảm bảo thực hiện các yêu cầu sau:

*Một là: KTĐG kết quả học tập của học sinh phải bảo đảm độ tin cậy, tính giá trị, tính toàn diện về nội dung và các loại hình KTĐG

- Độ tin cậy là yêu cầu quan trọng đối với bài kiểm tra Đây là thước đo năng lực sư phạm của người thầy, đồng

thời phản ánh đúng trình độ, năng lực của người học Bài kiểm tra đạt được độ tin cậy với điều kiện sau:

+ Ít nhất trong hai lần kiểm tra khác nhau, cùng một học sinh phải đạt số điểm xấp xỉ hoặc bằng nhau nếu bàikiểm tra có cùng một nội dung và mức độ khó tương đương nhau

+ Nhiều giáo viên chấm cùng một bài đều cho điểm như nhau hoặc gần như nhau

+ Kết quả bài kiểm tra phản ánh đúng trình độ, năng lực của người học

Trang 22

Độ tin cậy của bài KTĐG bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó yếu tố quyết định là ra đề kiểm tra Nếu đề kiểmtra quá dễ hoặc quá khó sẽ không xác định được sự phân hoá trình độ học sinh Vì vậy, để một bài kiểm tra đạt được độtin cậy, vai trò quyết định là ở khâu ra đề của giáo viên Khi ra đề giáo viên cần:

Giảm các yếu tố ngẫu nhiên, may rủi đến mức tối thiểu

Diễn đạt đề bài rõ ràng để học sinh hiểu đúng nội dung, yêu cầu của đề

Ra nhiều câu hỏi, bao quát tới mức tối đa các vấn đề cần kiểm tra

Câu hỏi kiểm tra đòi hỏi học sinh vừa phải ghi nhớ, vừa phải hiểu, vừa phải biết vận dụng vào việc tiếp thu kiếnthức mới vào cuộc sống

Nội dung kiểm tra phải giảm đến mức thấp nhất sự gian lận trong thi cử (đề thi phải đảm bảo học sinh “biết”,

“hiểu”, “vận dụng” thông minh) và cách thi (có thể sử dụng hay không sử dụng tài liệu) Đồng thời giám sát chặt chẽviệc thi

Chuẩn bị tốt đáp án, thang điểm để một người chấm trong nhiều lần hoặc nhiều người chấm đều cho kết quảtương đương

*Hai là: Kiểm tra, đánh giá phải bảo đảm kết hợp giữa sự đánh giá của giáo viên với sự tự đánh giá của học sinh.

Yêu cầu và đòi hỏi của KTĐG đặt ra là phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong việc xác định mụcđích, động cơ, thái độ và tâm lý trong học tập, biết tự đánh giá kết quả học tập của mình một cách chủ động, không quá

lo sợ kiểm tra dẫn tới học tập đối phó và gian lận trong thi cử

KTĐG đảm bảo sự kết hợp giữa đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của học sinh là đòi hỏi cấp thiết của lýluận dạy học hiện đại nhằm tích cực hoá người học trong quá trình tiếp nhận tri thức Tự đánh giá được coi như một

Trang 23

hoạt động học tập của học sinh Hoạt động tự KTĐG của học sinh chủ yếu được thực hiện sau mỗi bài học, mỗi phần,mỗi chương học thông qua giải các bài tập, qua việc nắm kiến thức lịch sử của mỗi học sinh.

Cách thức tiến hành hoạt động tự đánh giá của học sinh do giáo viên đề xuất Muốn tổ chức cho các em tự KTĐG, giáo viên cần chuẩn bị nội dung đánh giá, hình thức và tiêu chuẩn đánh giá Để học sinh tự đánh giá kết quả học tậpcủa mình, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh đánh giá qua nhóm (đánh giá chéo nhau trong một nhóm), hoặc để họcsinh tự đánh giá năng lực học tập của mình trên cơ sở định hướng của giáo viên Hoạt động tự đánh giá này đòi hỏi họcsinh phải tự nêu nhận xét về kết quả học tập của bản thân hay nhận xét về kết quả học tập của bạn Hình thức tự đánhgiá có thể tiến hành bằng phát biểu ý kiến cá nhân, bình chọn bằng phiếu kín hoặc cho điểm độc lập Để đánh giá đúng,chính xác giáo viên cần gợi ý để học sinh tự xác lập các tiêu chuẩn đánh giá cho phù hợp với từng kiến thức hoặc kỹnăng cần đánh giá

*Ba là: Các phương pháp kiểm tra, đánh giá càng đơn giản, tốn ít thời gian, sức lực và ít chi phí, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể càng tốt.

Đơn giản không có nghĩa là sơ sài, bài kiểm tra đơn điệu và buồn tẻ với câu hỏi của giáo viên và trả lời của họcsinh nhằm tóm tắt những kiến thức có sẵn trong SGK và lời thầy giảng trong vở ghi Bài kiểm tra đòi hỏi học sinh khảnăng hiểu sâu sắc các kiến thức lịch sử và biết vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn

4.Nội dung kiểm tra, đánh giá:

Chương trình bộ môn lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở đồng tâm Ở cấp THCS học sinhđược trang bị những kiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển của lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc từ nguyên thuỷcho đến nay Lên cấp THPT, học sinh tiếp tục được trang bị những kiến thức cơ bản, có hệ thống về sự phát triển củalịch sử thế giới và lịch sử dân tộc từ nguyên thuỷ cho đến nay nhưng ở mức độ nhận thức cao hơn, sâu hơn Cho nên,

Trang 24

tiến hành KTĐG, giáo viên bộ môn phải căn cứ vào nội dung, chương trình của môn học, cấp học để đánh giá toàn diệnhọc sinh trên cả ba mặt kiến thức, kỹ năng và định hướng thái độ.

*Về mặt kiến thức: Đánh giá trình độ, khả năng tiếp nhận kiến thức lịch sử của học sinh ở trường phổ thông hiện nay, về cơ bản chúng ta đánh giá khả năng Biết (ghi nhớ, thuộc sự kiện), Hiểu (bản chất sự kiện) và Vận dụng kiến thức

trong quá trình học tập, trong thực hành Đây cũng là 3 cấp độ trong thang đánh giá thường được sử dụng ở nước ta vàđược vận dụng cụ thể vào từng môn học, từng cấp học, lớp học Đối với bộ môn lịch sử ở trường THCS đánh giá học

sinh ở 3 cấp độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng Cấp THPT, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh ở 3 cấp độ trên

nhưng ở mức cao hơn Tuy nhiên, thực tế các đề kiểm tra hiện nay các đề kiểm tra cho thấy khó có sự tách bạch mộtcách tuyệt đối các cấp độ đánh giá trong một đề kiểm tra, mà chúng thường đan xen lẫn nhau, mức độ trước có thể là cơ

sở cho mức độ sau, chẳng hạn như kiến thức nhận biết và thông hiểu, vận dụng Thậm chí, trong một câu hỏi kiểm tracũng có thể bao gồm 2 đến 3 cấp độ khác nhau Vì vậy, kết quả học tập của học sinh được đánh giá theo các cấp độkhông có nghĩa là trong mỗi đề kiểm tra phải kiểm tra đủ các cấp độ đó, vì nếu có muốn như vậy cũng khó có thể thựchiện được

*Về thái độ, tình cảm: Bộ môn lịch sử ở trường phổ thông rất có ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ, rèn luyện

những phẩm chất, nhân cách cao đẹp của con người mới từ những bài học kinh nghiệm quí báu của cha ông trong côngcuộc dựng nước và giữ nước

Việc đổi mới nội dung, chương trình, SGK cấp THCS, việc tiến hành phân ban cấp THPT mà chúng ta đang tiếnhành hiện nay vừa tạo điều kiện, vừa đặt ra những đòi hỏi cấp thiết cần đổi phương pháp dạy học nhằm đào tạo nhữngcon người năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, hoà nhập với sự phát triển chung của cộng

đồng Chính điều này đã đặt ra cho KTĐG bộ môn lịch sử không chỉ dừng lại ở yêu cầu biết tái hiện kiến thức, lặp lại

các kỹ năng đã học mà cần phải khuyến khích trí thông minh, sáng tạo, khả năng tư duy của học sinh

Trang 25

*Về kỹ năng: KTĐG kỹ năng của học sinh đối với bộ môn lịch sử phải căn cứ vào đặc trưng của môn học Lịch sử

đã diễn ra, không lặp lại Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông được chuyển tải qua kênh chữ và kênh hình (bản đồ, biểu

đồ, tranh ảnh.) Cho nên, KTĐG kỹ năng của học sinh trong dạy học lịch sử cũng giống như các bộ môn khoa học xã hội

khác nhằm rèn luyện tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ Đồng thời, cầntập trung vào các kỹ năng bộ môn như: khả năng trình bày nói và viết, đặc biệt là kỹ năng thực hành, vận dụng:

- Sử dụng bản đồ, lược đồ

- Quan sát, nhận xét tranh ảnh, bản đồ

- Kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức

- Kỹ năng thu thập, xử lý, viết báo cáo và trình bày các vấn đề lịch sử

5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá:

Lựa chọn phương pháp KTĐG phù hợp với với đối tượng học sinh, với nhà trường, với xu thế chung của tình hình KTĐG của thế giới hiện nay là yêu cầu và đòi hỏi cấp thiết hiện nay Việc xác định đúng mục tiêu, nội dung KTĐG

chỉ đạt được kết quả mong muốn khi xác định đúng phương pháp KTĐG Tuy nhiên, khi lựa chọn các phương pháp

KTĐG cần phải xác định rõ những ưu, nhược điểm của mỗi phương pháp để phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế của

những phương pháp này Ví dụ:

*Đối với câu hỏi tự luận: Đòi hỏi học sinh phải vận dụng vốn kiến thức, kinh nghiệm học tập để tự trình bày ý

kiến về vấn đề mà câu hỏi nêu ra

-Ưu điểm:

+ Việc ra đề Tự luận, thường không khó, dễ thực hiện, tốn ít thời gian, dựa vào kinh nghiệm chủ yếu của giáoviên

Trang 26

+ Các câu hỏi tự luận cho phép đánh giá được tối đa kỹ năng diễn đạt, khả năng suy luận lôgíc của học sinh để trảlời đầy đủ các dạng câu hỏi “Tại sao?” và “như thế nào?” Hay nói cách khác, câu hỏi tự luận cho phép đánh giá nănglực sáng tạo của học sinh ở mức độ cao.

-Hạn chế:

+Câu hỏi kiểm tra tự luận thường kích thích thói quen học tủ của học sinh

+Chấm bài tốn nhiều thời gian và công sức đồng thời kết quả đánh giá thường mang nhiều yếu tố chủ quan củangười chấm

Tuy nhiên, nếu lựa chọn phương pháp kiểm tra kết hợp trắc nghiệm với tự luận thì câu hỏi dạng tự luận nên chọncâu tự luận ngắn, vì với loại câu này mỗi bài kiểm tra có nhiều câu hỏi hơn so với bài kiểm tra có câu hỏi tự luận truyềnthống Câu tự luận ngắn đề cập tới một nội dung hạn chế, câu trả lời là một đoạn ngắn, tạo điều kiện cho việc chấmđiểm nhanh chóng, chính xác, có độ tin cậy cao hơn loại câu hỏi tự luận truyền thống

*Đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học lịch sử gồm nhiều loại:

Trắc nghiệm đúng - sai, trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trắc nghiệm điền khuyết, trắc nghiệm đối chiếu - cặp đôi, thực hành(vẽ bản đồ, biểu đồ) Câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm cho phép bao kín kiến thức của chương trình, trong đó mỗi câu chỉnêu ra một vấn đề cùng những thông tin cần thiết để học sinh lựa chọn câu trả lời ngắn, song lại có độ tin cậy cao đòihỏi học sinh phải tích luỹ được nhiều kiến thức

-Ưu điểm:

+Độ phổ kiến thức cần kiểm tra rộng

+Ít tốn công chấm bài (có thể sử dụng các phần mềm chuyên dụng như QUEST, TEST, SPS) để chấm

+Tính khách quan của kết quả chấm bài được đảm bảo, ít bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người chấm

-Hạn chế:

Trang 27

+Tốn thời gian và công sức ra đề.

+Không đánh giá được một số kỹ năng của học sinh, đặc biệt là khả năng sáng tạo trong trình bày, lập luận vàphát biểu ý kiến của mình

Khi sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cần thống nhất đưa về một dạng câu hỏi nhất định để tạo sự thuậnlợi cho quá trình chấm bài Thông thường câu hỏi trắc nghiệm khách quan được sử dụng phổ biến là loại câu hỏi nhiềulựa chọn có 4 lựa chọn

Như vậy, mỗi loại câu hỏi đều có những ưu điểm và hạn chế của nó, khi xây dựng đề kiểm tra không nên tuyệtđối hoá một loại câu hỏi nào mà cần kết hợp sử dụng các loại câu hỏi cho phù hợp với đối tượng học sinh Tuy nhiên,

khi xây dựng hệ thống câu hỏi cần chú ý:

-Xác định mục đích của câu hỏi: Nhằm KTĐG năng lực học tập, kĩ năng thực hành lịch sử của học sinh qua mộttiết học hay một phần học cụ thể

-Xác định yêu cầu mức độ các câu hỏi: Câu hỏi phải rõ ràng, phải thể hiện sự phân hoá trình độ học tập của họcsinh Mỗi câu hỏi trong một đề kiểm tra đều nhằm phân loại năng lực học tập của học sinh theo các mức giỏi - khá -trung bình- yếu kém

+Câu hỏi dễ dành cho học sinh có năng lực học yếu

+Câu hỏi trung bình để dành cho học sinh có năng lực học trung bình

+Câu hỏi khó dành cho học sinh có lực học khá giỏi

Như vậy, phương pháp KTĐG đóng vai trò quan trọng đối với việc đổi mới hoạt động KTĐG, tác động trở lại đổimới phương pháp dạy học, thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học Giúp lựa chọn đúng những hình thức và phương phápKTĐG vừa đảm bảo phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong trong học tập vừa đánh giá đúng chất lượng họctập bộ môn

Trang 28

6 MÔ TẢ VỀ CẤP ĐỘ TƯ DUY VẬN DỤNG TRONG MÔN LỊCH SỬ

Nhận biết Học sinh nhớ được (bản chất) những khái niệm cơ bản của chủ đề và có thể nêu hoặc

nhận ra các khái niệm khi được yêu cầu

Đây là bậc thấp nhất của nhận thức, khi học sinh kể tên, nêu lại, nhớ lại một sự kiện,hiện tượng

Thí dụ: Học sinh nhớ được ngày, tháng của một sự kiện lịch sử, tên một nhân vật lịch

sử cụ thể.

Thông hiểu Học sinh hiểu các khái niệm cơ bản và có thể sử dụng khi câu hỏi được đặt ra gần với

các ví dụ học sinh đã được học trên lớp

Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể giải thích được một sự kiện, hiện tượng lịch sử,tóm tắt được diễn biến một sự kiện, nghe và trả lời được câu hỏi có liên quan

Thí dụ: Học sinh có thể giải thích được sự kiện lịch sử diễn ra như thế nào.

Vận dụng ở cấp độ thấp Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệm của chủ đề

trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trênlớp

Ở bậc nhận thức này, học sinh có thể sử dụng được kiến thức để giải quyết 1 tìnhhuống cụ thể

Thí dụ: áp dụng một sự kiện lịch sử này để lý giải một sự kiện khác.

Vận dụng ở cấp độ cao Học sinh có khả năng sử dụng các khái niệm cơ bản để giải quyết một vấn đề mới

hoặc không quen thuộc chưa từng được học hoặc trải nghiệm trước đây, nhưng có thểgiải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương Các vấn

Trang 29

đề này tương tự như các tình huống thực tế học sinh sẽ gặp ngoài môi trường lớp học.

Ở bậc này học sinh phải xác định được những thành tố trong 1 tổng thể và mối quan

hệ qua lại giữa chúng; phát biểu ý kiến cá nhân và bảo vệ được ý kiến đó về 1 sựkiện, hiện tượng hay nhân vật lịch sử nào đó

Thí dụ: tìm hiểu một sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử, học sinh phải phân biệt, phân tích được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử khác nhau, v.v Hoặc học sinh đánh giá được một sự kiện, nhân vật lịch sử.

Trong dạy học, để thuận lợi cho việc xác định mục tiêu nhận thức của bài học, các nhà giáo dục đã đưa về các bậc:

Biết (bậc 1): Với các động từ: nêu, liệt kê, trình bày, khái quát, kể tên v.v

Hiểu (bậc 2 ) : Với các động từ: giải thích, phân biệt, tại sao, vì sao, hãy lí giải, vì sao nói v.v

Vận dụng (bậc 3) : Với các động từ : so sánh, phân tích, bình luận, nhận xét, vận dụng, đánh giá vv…

II KĨ THUẬT BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA

1 QUI TRÌNH BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là một hoạt động rất quan trọng trong quá trình giáo dục Đánh giá kết quảhọc tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh nhằm tạo cơ

sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, các giải pháp của các cấp quản lí giáo dục và cho bản thân học sinh, đểhọc sinh học tập đạt kết quả tốt hơn

Đánh giá kết quả học tập của học sinh cần sử dụng phối hợp nhiều công cụ, phương pháp và hình thức khác nhau

Đề kiểm tra là một trong những công cụ được dùng khá phổ biến để đánh giá kết quả học tập của học sinh

Để biên soạn đề kiểm tra cần thực hiện theo quy trình 6 bước sau:

Trang 30

Bước 1 Xác định mục đích của đề kiểm tra

Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi học xong một chủ đề, mộtchương, một học kì, một lớp hay một cấp học nên người biên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra,căn cứ chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề kiểm tracho phù hợp

Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản, cầnthiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới ; góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêuquê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúngđắn trong đời sống xã hội

Môn Lịch sử ở trường phổ thông nhằm giúp học sinh đạt được :

1 Về kiến thức

Nắm vững sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của lịch sử thếgiới từ thời nguyên thuỷ đến nay Chú trọng đến những nội dung quan trọng nhất để hiểu biết về quá trình phát triển củalịch sử loài người, những nền văn minh, những mô hình xã hội tiêu biểu, lịch sử các nước trong khu vực và các sự kiệnlịch sử thế giới có ảnh hưởng lớn, liên quan đến lịch sử nước ta

Hiểu biết về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ nguồn gốc đến nay, trên cơ sở nắm vững được những sựkiện tiêu biểu của từng thời kì, những chuyển biến lịch sử và sự phát triển hợp quy luật của lịch sử dân tộc trong sự pháttriển chung của thế giới

Hiểu biết về một số nội dung cơ bản, cần thiết về nhận thức xã hội như : kết cấu xã hội loài người, mối quan hệgiữa các yếu tố trong cơ cấu hệ thống xã hội, vai trò to lớn của sản xuất (vật chất, tinh thần) trong tiến trình lịch sử, vai

Trang 31

trò của quần chúng nhân dân và cá nhân, nguyên nhân và động lực tạo ra các chuyển biến lịch sử, quy luật vận động củalịch sử

2 Về kĩ năng

Hình thành các kĩ năng cần thiết trong học tập bộ môn như :

+ Xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ không gian, thời gian (đồng đại, lịch đại)

+ Làm việc với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu

+ Phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, đánh giá các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

Bồi dưỡng năng lực phát hiện, đề xuất và giải quyết các vấn đề trong học tập lịch sử (điều tra, thu thập, xử lí thông tin, nêu dự kiến giải quyết vấn đề, tổ chức thực hiện dự kiến, kiểm tra tính đúng đắn của kết quả, thông báo, trình bày về kết quả, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế đời sống và để tiếp nhận kiến thức mới )

Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử cho học sinh thông qua các nguồn sử liệu khác nhau (đã có

và phát hiện mới)

3 Về tình cảm, thái độ, tư tưởng

Có tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân tộc, có thái độ trân trọng đối vớicác di sản lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc

Trân trọng nền văn hoá của các dân tộc trên thế giới, có tinh thần quốc tế chân chính, vì hoà bình, tiến bộ xã hội

Có niềm tin về sự phát triển từ thấp đến cao, từ lạc hậu đến văn minh của lịch sử nhân loại và lịch sử dân tộc

Có những phẩm chất cần thiết nhất của người công dân : thái độ tích cực trong việc thực hiện nghĩa vụ, tráchnhiệm đối với đất nước − cộng đồng ; yêu lao động ; sống nhân ái, có kỉ luật, tôn trọng và làm theo luật pháp, đoàn kếtdân tộc và quốc tế

Trang 32

Bước 2 Xác định hình thức đề kiểm tra

Đề kiểm tra có các hình thức sau:

1) Đề kiểm tra tự luận;

2) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;

3) Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan.Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý các hình thức sao cho phù hợp vớinội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinhchính xác hơn

Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần trắc nghiệm khách quan độc lậpvới việc làm bài kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tựluận

Bước 3 Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)

Ma trận đề kiểm tra là một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh giá, mộtchiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết, thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độthấp và vận dụng ở cấp độ cao)

Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số điểm, số lượng câu hỏi và tổng sốđiểm của các câu hỏi

Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần đánh giá, lượng thời gian làmbài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch kiến thức, từng cấp độ nhận thức

Trang 33

KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA (Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ) Tên Chủ đề

Cấp độ cao

Chủ đề 1 Chuẩn KT,

KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chủ đề 2 Chuẩn KT,

KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chủ đề n Chuẩn KT,

KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Chuẩn KT, KNcần kiểm tra

Trang 34

ChuẩnKT,KNcầnkiểmtra

ChuẩnKT,KNcầnkiểmtra

ChuẩnKT,KNcầnkiểm tra

ChuẩnKT,KNcầnkiểm tra

ChuẩnKT,KNcầnkiểm tra

Chuẩn KT,KNcầnkiểm tra

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ %

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Chủ đề … Chuẩn

KT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

ChuẩnKT,KNcần

Chuẩn KT,KNcầnkiểm tra

Trang 35

kiểmtra

kiểmtra

kiểmtra

kiểm tra kiểm tra kiểm tra

Số câu

Số điểm

Tỉ lệ %

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Số câu Số điểm

Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra: (minh họa tại phụ lục)

B1 Liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương ) cần kiểm tra;

B2 Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy;

B3 Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương );

B4 Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra;

B5 Tính số điểm cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với tỉ lệ %;

B6 Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng;

B7 Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột;

B8 Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột;

Trang 36

B9 Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết

Cần lưu ý:

- Khi viết các chuẩn cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy:

+ Chuẩn được chọn để đánh giá là chuẩn có vai trò quan trọng trong chương trình môn học Đó là chuẩn cóthời lượng quy định trong phân phối chương trình và làm cơ sở để hiểu được các chuẩn khác

+ Mỗi một chủ đề (nội dung, chương ) đều phải có những chuẩn đại diện được chọn để đánh giá

+ Số lượng chuẩn cần đánh giá ở mỗi chủ đề (nội dung, chương ) tương ứng với thời lượng quy định trong phânphối chương trình dành cho chủ đề (nội dung, chương ) đó Nên để số lượng các chuẩn kĩ năng và chuẩn đòi hỏi mức

độ tư duy cao (vận dụng) nhiều hơn

- Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề (nội dung, chương ):

Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra, căn cứ vào mức độ quan trọng của mỗi chủ đề (nội dung, chương ) trongchương trình và thời lượng quy định trong phân phối chương trình để phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho từng chủ đề

- Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng

Căn cứ vào mục đích của đề kiểm tra để phân phối tỉ lệ % số điểm cho mỗi chuẩn cần đánh giá, ở mỗi chủ đề,theo hàng Giữa ba cấp độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng theo thứ tự nên theo tỉ lệ phù hợp với chủ đề, nội dung vàtrình độ, năng lực của học sinh

Trang 37

+ Căn cứ vào số điểm đã xác định ở B5 để quyết định số điểm và câu hỏi tương ứng, trong đó mỗi câu hỏi dạngTNKQ phải có số điểm bằng nhau.

+ Nếu đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận thì cần xác định tỉ lệ % tổng sốđiểm của mỗi một hình thức sao cho thích hợp

Bước 4 Biên soạn câu hỏi theo ma trận

Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo nguyên tắc: mỗi câu hỏi chỉ kiểm tra một chuẩn hoặc một vấn

đề, khái niệm; số lượng câu hỏi và tổng số câu hỏi do ma trận đề quy định

Để các câu hỏi biên soạn đạt chất lượng tốt, cần biên soạn câu hỏi thoả mãn các yêu cầu sau: (ở đây trình bày 2

loại câu hỏi thường dùng nhiều trong các đề kiểm tra):

a Các yêu cầu đối với câu hỏi có nhiều lựa chọn

1) Câu hỏi phải đánh giá những nội dung cơ bản của chương trình;

2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm tương ứng;

3) Câu dẫn đặt ra phải là một câu hỏi trực tiếp hoặc một câu chưa hoàn chỉnh (bỏ lửng);

4) Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;

5) Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;

6) Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến thức;

7) Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học sinh;

8) Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác trong bài kiểm tra;

Trang 38

9) Giữa nội dung của câu dẫn và phần lựa chọn phải thống nhất, phù hợp;

10) Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, tránh tạo phương án đúng quá khác biệt với các phương án nhiễu;

11) Sắp xếp các phương án theo thứ tự ngẫu nhiên, tuyệt đối không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có phương án nào đúng”.

- b Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận

1) Câu hỏi phải đánh giá những nội dung cơ bản của chương trình;

2) Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm tương ứng;

3) Câu hỏi phải thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;

4) Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu cầu đó;

5) Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh;

6) Yêu cầu học sinh phải am hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;

7) Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải trong sáng, diễn đạt được hết những yêu cầu của cán bộ ra đề đến họcsinh;

8) Câu hỏi nên nêu rõ các vấn đề: Độ dài của bài luận; Mục đích bài luận; Thời gian để viết bài luận; Các tiêu chí

cần đạt

9) Nếu câu hỏi yêu cầu học sinh nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của mình, câu hỏi cần nêu rõ: bàilàm của học sinh sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận logic mà học sinh đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quanđiểm của mình chứ không chỉ đơn thuần là nêu quan điểm đó

Trang 39

Bước 5 Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm

Việc xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm đối với bài kiểm tra cần đảm bảo các yêu cầu:

- Nội dung: khoa học và chính xác;

- Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu;

- Phù hợp với ma trận đề kiểm tra

Cách tính điểm

a Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan

Cách 1: Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi

Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi thì mỗi câu hỏi được 0,25 điểm.

Cách 2: Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, mỗi câu trả lời sai

X , trong đó + X là số điểm đạt được của HS;

+ X max là tổng số điểm của đề

Ví dụ: Nếu đề kiểm tra có 40 câu hỏi, mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, một học sinh làm được 32 điểm thì qui

về thang điểm 10 là: 10.32 8

40 = điểm.

b Đề kiểm tra kết hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan

Trang 40

Cách 1: Điểm toàn bài là 10 điểm Phân phối điểm cho mỗi phần TL, TNKQ theo nguyên tắc: số điểm mỗi phần tỉ

lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng phần và mỗi câu TNKQ có số điểm bằng nhau

Ví dụ: Nếu đề dành 30% thời gian cho TNKQ và 70% thời gian dành cho TL thì điểm cho từng phần lần lượt là 3

điểm và 7 điểm Nếu có 12 câu TNKQ thì mỗi câu trả lời đúng sẽ được 3 0, 25

12 = điểm.

Cách 2: Điểm toàn bài bằng tổng điểm của hai phần Phân phối điểm cho mỗi phần theo nguyên tắc: số điểm mỗi

phần tỉ lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng phần và mỗi câu TNKQ trả lời đúng được 1 điểm, saiđược 0 điểm

Khi đó cho điểm của phần TNKQ trước rồi tính điểm của phần TL theo công thức sau:

+ T TL là số thời gian dành cho việc trả lời phần TL

+ T TN là số thời gian dành cho việc trả lời phần TNKQ

Chuyển đổi điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:

ax

10

m

X

X , trong đó + X là số điểm đạt được của HS;

+ X max là tổng số điểm của đề

Ngày đăng: 24/11/2013, 17:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức : tự luận - Bài soạn Quy trình xây dựng Ma Trận- môn Sử
Hình th ức : tự luận (Trang 86)
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA - Bài soạn Quy trình xây dựng Ma Trận- môn Sử
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA (Trang 125)
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA - Bài soạn Quy trình xây dựng Ma Trận- môn Sử
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA (Trang 131)
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA Kiểm tra viêt, tự luận - Bài soạn Quy trình xây dựng Ma Trận- môn Sử
2. HÌNH THỨC KIỂM TRA Kiểm tra viêt, tự luận (Trang 138)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w