Đề tài đưa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành và thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư. Đề tài không chỉ nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về hành nghề luật sư, mà còn thể hiện vai trò, tầm quan trọng nghề luật sư trong xã hội hiện đại.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Số 10, Đường 3/2, Phường 12, Quận 10, TP Hồ Chí Minh Thời gian: vào hồi 15 giờ 00 ngày 29 tháng 8 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Ban Quản lý đào tạo Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là về kinh tế - xã hội, cùng với đó là sự hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Hệ quả của sự phát triển nhanh chóng này cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong sản xuất kinh doanh, quan hệ
xã hội Do đó, sự có mặt của luật sư trong giải quyết các tranh chấp
và tư vấn trong nhiều lĩnh vực là rất cần thiết và trở nên không còn xa
lạ Ngày nay hành nghề luật sư được nhìn nhận với tư cách là một nghề nghiệp có vị thế và vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc đem lại công bằng, bình đẳng cho xã hội
Chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước ta là phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” cũng đã có đề ra nhiệm vụ của một số cơ quan tư pháp trong việc tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng, tranh tụng dân chủ với luật sư, tăng cường củng cố các tổ chức hành nghề luật sư, phát triển và kiện toàn đội ngũ luật sư, hoàn thiện pháp luật về luật sư… Thực hiện nhiệm vụ đã được đề ra trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, chúng ta đã đạt được một số thành tựu có đóng góp tích
Trang 4cực cho sự phát triển của luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam như: ban hành được một số các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật luật sư, nâng cao vị thế, vai trò của luật sư trong xã hội
Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm
2020, đã từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, chất lượng hoạt động hành nghề luật sư, vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động
tố tụng, từng bước phát triển, mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý, tạo nền tảng để phát triển nghề luật sư Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới
Từ thực tế khách quan của một quốc gia đang không ngừng phát triển, của một đất nước luôn hướng đến nền dân chủ vững mạnh
và của một dân tộc ngày ngày vươn mình ra với bè bạn năm châu, thì
sứ mệnh bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội được đề cao là tất yếu và chính đáng
Nghề luật sư với một vị thế và tầm quan trọng như thế thì việc nghiên cứu khoa học về hành nghề luật sư là một điều rất cần thiết và không kém phần quan trọng trong việc định hướng và phát triển bền vững nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập hiện nay
Vì các lẽ trên, với mong muốn góp phần hiểu biết nhỏ bé của mình vào pháp luật về hành nghề luật sư, vì vậy, tác giả chọn đề tài
“Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư - Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu của luận văn cao học
luật học
Trang 52 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chính vì vai trò quan trọng của luật sư trong xã hội và sự phát triển khá nhanh của nghề luật sư nên đã có nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là từ khi Nghị quyết 49-NQ/TW năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, có thể kể ra một số đề tài đã được nghiên cứu như:
- Tác phẩm “Vấn đề hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam” của Tiến sĩ Phan Trung Hoài được nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2009;
- Đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam” Chủ nhiệm đề tài:
Nguyễn Văn Thảo – Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp;
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Giải pháp đào tạo luật sư hội nhập kinh tế quốc tế”, do Học viện tư pháp tiến hành;
- Chuyên đề “Pháp luật về luật sư nước ngoài và tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam - thực trạng và kiến nghị”
do Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc Hội thực hiện;
- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”, Hoàng Thị Anh Thư
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí như:
- Bài viết “Vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính” của Luật sư Nguyễn Thành Vinh;
Trang 6- Bài viết “Chiến lược phát triển nghề luật sư còn thiếu sót” của Luật sư Ngô Ngọc Trai;
- Bài viết: “Chuyện về chiếc thẻ luật sư” của Luật sư Phan Trung Hoài;
- Bài viết: “Tiêu chuẩn luật sư Việt Nam và rủi ro cho khách hàng” của Luật sư Nguyễn Văn Thành;
- Bài viết: “Nâng cao chất lượng luật sư – Góc nhìn từ giải pháp” của đồng tác giả: Ths Đinh Duy Bằng & Ths Hoàng Thanh Hoa
Các công trình trên đã góp phần không nhỏ vào việc đưa ra các luận điểm lý luận, khoa học, luận giải cho những giải pháp thực tiễn góp phần vào sự phát triển pháp luật về luật sư và nghề luật sư Tuy nhiên hiện chưa có đề tài nào khái quát chung thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư từ thực tiễn
Chính những lý do trên, tác giả sẽ nghiên cứu ở một góc độ, khía cạnh thực hiện pháp luật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về hành nghề luật sư tại Việt Nam
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một cách có hệ thống những nội dung pháp lý cơ bản, những thành tựu cũng như những vướng mắc khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật
về hành nghề luật sư từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hành nghề tại Việt Nam
Trang 7Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu gồm:
- Khái quát các vấn đề lý luận về luật sư và hành nghề luật sư;
- Nắm bắt được thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư;
- Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật để thấy được những bất cập của pháp luật;
- Đề ra hướng hoàn thiện pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật hành nghề luật
sư từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh
- Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chọn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh làm thực trạng nghiên cứu Đề tài giới hạn và tập trung việc nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư từ khi Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2015 (tức từ năm 2015) cho đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo
đề tài
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 8- Phương pháp thu thập và hồi cố thông tin dữ liệu từ các nguồn khác nhau
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
Đề tài đưa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành và thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Đề tài không chỉ nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về hành nghề luật sư,
mà còn thể hiện vai trò, tầm quan trọng nghề luật sư trong xã hội hiện đại
7 Kết cầu của đề tài
Bên cạnh mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo thì
nội dung đề tài gồm 03 Chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật
về hành nghề luật sư
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật
sư tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
Trang 91.1.1 Nhận thức chung về luật sư và hành nghề luật sư
Ở Việt Nam lâu nay vẫn sử dụng các cụm từ “nghề luật sư”,
“hành nghề luật sư” Theo chúng tôi việc sử dụng các cụm từ “nghề luật sư” và “hành nghề luật sư” là phù hợp với thực tiễn của ta, có thể chấp nhận được, vì: Nếu dùng cụm từ “nghề luật” thì e rằng theo cách biểu hiện của ngôn ngữ Việt Nam sẽ quá rộng, không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước Tòa án và làm tư vấn pháp luật (cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư Theo thói quen sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như trong văn viết thì thuật ngữ “nghề luật sư” có thể được chấp nhận, cũng giống như nói “kiến trúc sư” và nghề “kiến trúc sư”, “thầy thuốc” và “nghề thầy thuốc” v.v
Vậy, “hành nghề luật sư” là gì? Đó là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật
Nhà nước đã luật hóa và tạo cơ hội cho các quan hệ xã hội liên quan đến luật sư và nghề luật sư phát triển lành mạnh, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, vào công cuộc cải cách
tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Pháp luật về hành nghề luật sư
1.1.2.1 Khái niệm pháp luật về hành nghề luật sư
Pháp luật về hành nghề luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức
Trang 10và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành
1.1.2.2 Đặc điểm pháp luật về hành nghề luật sư
a) Pháp luật về hành nghề luật sư do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện;
b) Pháp luật về hành nghề luật sư có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung;
c) Pháp luật về hành nghề luật sư có tính xác định chặt chẽ
cầu của hoạt động tư pháp nói chung, của hoạt động xét xử nói riêng,
mà còn là nhân tố quan trọng hỗ trợ các quan hệ kinh tế thị trường
phát triển;
Hai là, pháp luật về hành nghề luật sư tăng cường trách
nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong hành nghề, đặc biệt là việc tuân thủ pháp luật, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề; đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để
luật sư thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của luật sư;
Ba là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện có khả
năng bảo đảm bình đẳng xã hội;
Bốn là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện có hiệu
lực và hiệu quả trong việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của
Đảng;
Trang 11Năm là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện quan
trọng trong việc phòng, chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước, bảo đảm cho thượng tầng kiến trúc nhà nước giữ vai trò định hướng XHCN;
Sáu là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện hữu
hiệu để phát huy vị trí, vai trò của luật sư trong đời sống xã hội, cụ thể:
Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự trước
Toà án
Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật
sư trong hoạt động tư vấn pháp luật góp phần bảo vệ quyền, lợi ích
cá nhân, tổ chức
Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật
sư trong việc tham gia tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
1.2 Khái quát thực hiện pháp luật về hành nghề luật sƣ
1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực pháp luật trong đời sống xã hội về hành nghề luật sư Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư là quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy phạm pháp luật đi vào đời sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật về hành nghề luật sư phát triển, đồng thời ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật về hành nghề luật sư
1.2.2 Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
1.2.2.1 Nguyên tắc quản lý luật sư và hành nghề luật sư
Bảo đảm tính độc lập và tự trách nhiệm của luật sư: Nhà nước không can thiệp vào công việc hành nghề của luật sư bằng
Trang 12mệnh lệnh, quyết định hành chính hoặc tác động bằng các hình thức khác làm ảnh hưởng đến độc lập và khách quan của luật sư khi hành nghề
1.2.2.2 Nguyên tắc hành nghề luật sư
a Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
b Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam
c Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan
d Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng
e Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư
1.2.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
1.2.3.1 Yếu tố chính trị
Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư cũng như việc thực hiện pháp luật nói chung đòi hỏi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhằm bảo đảm cho việc
thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
Trang 13chức xã hội nghề nghiệp hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
1.2.3.4 Yếu tố con người
Để pháp luật về hành nghề luật sư được thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hỏi các chủ thể pháp luật, đặc biệt đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền phải nhận thức đầy
đủ ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
1.3 Nội dung hiện pháp luật về hành nghề luật sƣ
1.3.1 Thực hiện quy định về điều kiện hành nghề luật sư
Luật Luật sư 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2015 quy định về điều kiện hành nghề luật sư
Các điều kiện cơ bản để trở thành luật sư bao gồm:
1/ Có bằng cử nhân luật
2/ Có bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo luật sư
3/ Trải qua kỳ tập sự tại Tổ chức hành nghề luật sư
4/ Đạt điểm tại kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề Luật sư
5/ Cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn luật sư, cấp thẻ hành
nghề Luật sư
6/ Hành nghề luật sư
7/ Quy định khác
a/ Miễn, giảm thời gian tập sư hành nghề Luật sư
b/ Miễn kiểm tra tập sư hành nghề Luật sư
1.3.2 Thực hiện quy định về phạm vi hành nghề luật sư
Phạm vi hành nghề luật sư được quy định tại Điều 22 Luật Luật sư Như vậy, để trở thành luật sư tại Việt Nam, một cá nhân có
thể mất một thời gian ít nhất là trên 6 năm (hoặc dài hơn) vì phải
hoàn thành các khóa học, chương trình học, tập sự, kiểm tra theo quy định
Trang 141.3.3 Thực hiện quy định về hình thức hành nghề luật sư Theo quy định tại Điều 32 của Luật Luật sư
Pháp luật về hành nghề luật sư đã đưa ra quy định chặt chẽ
về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư
1.3.4 Thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý hành nghề luật sư
Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật
sư được quy định tại Điều 83 Luật luật sư
1.3.5 Thực hiện quy định về thanh tra, xử lý vi phạm liên quan đến hành nghề luật sư
Việc kiểm tra nhằm đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật về luật sư của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các vi phạm, thiếu sót và áp dụng biện pháp xử
lý thích hợp theo quy định của pháp luật
Tiểu kết chương 1
Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm, luật sư, nghề luật sư,
hành nghề luật sư, pháp luật về hành nghề luật sư, thực hiện pháp luật
về hành nghề luật sư
Thứ hai, làm rõ vai trò của pháp luật về hành nghề luật sư,
vai trò vị trí, chức năng xã hội của luật sư trong đời sống
Thứ ba, phân tích các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật
về hành nghề luật sư
Thứ tư, làm rõ các nội dung thực hiện pháp luật về hành nghề
luật sư về điều kiện hành nghề, phạm vi hành nghề, tổ chức hành nghề luật sư, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý hành nghề luật sư, thanh tra, xử lý vi phạm liên quan đến hành nghề luật sư