- Yêu cầu sử dụng :Để giúp học sinh làm những bài tập, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phân tích các ngữ liệu mẫu để hình thành kiến thøc Gi¸o viªn cã thÓ lµm mÉu mét phÇn .Sa[r]
Trang 1Phần mở đầu
1.Lý do chọn đề tài
1.1.Xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay
Hiện nay, nội dung chương trình sách giáo khoa được đổi mới Chúng
ta dạy theo bộ sách mới được thống nhất trong toàn quốc nên việc dạy cho học sinh tiếp thu kiến thức, kĩ năng mới là cần thiết để đáp ứng nhu cầu văn hoá xã hội hiện nay Dạy văn là cần thiết để giúp trẻ sản sinh ra những văn bản có cảm xúc chân thực khi nói và viết
1.2.Xuất phát từ khó khăn thực tế
Thực tế cho thấy, nội dung, chương trình của sách mới khác nhiều so với chương trình cũ nên người giáo viên cần nắm bắt được phương pháp dạy
bộ môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng để giảng
dạy có hiệu quả
Hơn nữa, chương trình, sách giáo khoa được biên soạn theo quan điểm giao tiếp nghĩa là học sinh đựơc luyện nói trong qúa trình giao tiếp Muốn vậy dạy lý thuyết văn nói chung và lý thuyết văn miêu tả nói riêng như thế nào để giúp học sinh được luyện nói mà nắm được kiến thức cơ bản để viết văn đúng thể loại Từ khái niệm về thể loại văn, học sinh vận dụng viết văn
đúng dạng bài như (miêu tả con vật, miêu tả đồ vật ….)
Để học sinh nắm được lí thuyết văn miêu tả, người giáo viên cần sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học kết hợp hình thức tổ chức dạy học phù hợp để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức Muốn vậy người giáo viên cần
có những biện pháp nhất định giúp giờ học đạt hiệu quả cao
Thời gian nghiên cứu đề tài có hạn nên tôi chỉ chọn đề tài trong phạm
vi hẹp: "Dạy lý thuyết văn miêu tả cho học sinh lớp 4"
1.3 Yêu cầu nâng cao chất lượng phân môn và nghiệp vụ bản thân
Trang 2Bên cạnh đó, mỗi giáo viên tiểu học cũng cần nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm có năng lực nhất định để đào tạo thế hệ trẻ thành con người phát triển toàn diện Bản thân tôi mong muốn được trao đổi kinh nghiệm dạy học với đồng nghiệp giúp mình có nghiệp vụ sư phạm vững vàng hơn
2.Đối tượng phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng
Khảo sát học sinh lớp bốn cũ và học sinh lớp 4 mới Trường tiểu học Hưng Đạo.
2.2 Phạm vi
- Dạy lý thuyết văn miêu tả.
- Vì thời gian, điều kiện không cho phép tôi chỉ lựa chọn đề tài: "Dạy
lý thuyết văn miêu tả cho học sinh lớp 4" để nâng cao chất lượng viết văn miêu tả cho học sinh.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu các cở sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy Tập làm văn lớp 4 nói chung, hướng dẫn học sinh hình thành khái niệm lý thuyết văn miêu tả nói riêng.
- Nghiên cứu quy trình, nội dung, phương pháp dạy tiết Tập làm văn hình thành khái niệm về lý thuyết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nội dung và phương pháp dạy Tập làm văn lớp 4.
- Tìm hiểu quan điểm biên soạn Tiếng Việt 4.
- Vận dụng để thiết kế bài dạy lý thuyết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
Trang 3- Đề xuất các biện pháp giúp nâng chất lượng tiết dạy lý thuyết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
4.Phương pháp nghiên cứu lí luận
4.1 Phân tích các tài liệu dạy học
- Sách giáo khoa Tiếng Việt 4
- Sách giáo viên Tiếng Việt 4
- Vở bài tập Tiếng Việt 4
4.2 Phương pháp điều tra thực tế
Qua dự giờ, qua khảo sát thực tế
Qua nghiên cứu sách giáo khoa Tiếng Việt 4, tôi thấy một số bài còn
có những câu hỏi mang tính khái quát, khó đối với học sinh.
4.3 Phương pháp dạy thực nghiệm.
Dạy tiết lý thuyết văn miêu tả.
Phần nội dung Chương 1: Nội dung dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4
1.1 Mục tiêu của phân môn Tập làm văn lớp 4
1.1.a Yêu cầu kiến thức :
*Yêu cầu kiến thức đạt của học sinh lớp 4 ở phân môn Tập làm văn là: + Thể loại văn kể chuyện
- Học sinh phải hiểu thế nào là văn kể chuyện?
- Hiểu được nhân vật trong truyện Kể lại hành động của nhân vật Tả ngoại hình của nhân vật trong bài văn kể chuyện Kể lại lời nói, ý nghĩ của nhân vật
- Bên cạnh đó học sinh phải hiểu cốt chuyện
Trang 4- Biết xây dựng đoạn văn, biết mở bài và biết kết bài trong bài văn kể chuyện Từ đó, học sinh biết viết và nói một bài văn kể chuyện hoàn chỉnh
+ Thể loại văn miêu tả
- Học sinh phải hiểu thế nào là miêu tả?
- Miêu tả đồ vật: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật
- Miêu tả cây cối: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả cây cối
- Miêu tả con vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả con vật
+ Các loại văn bản khác:
- Viết thư: Nắm được mục đích của việc viết thư, nội dung cơ bản, cách xưng hô và cách trình bày một bức thư
- Trao đổi ý kiến với người thân: Xác định được mục đích trao đổi, vai trò trao đổi, lập được dàn ý của bài trao đổi và biết đóng vai trao đổi tự nhiên, tự tin, cử chỉ thích hợp, lời lẽ thuyết phục để đạt được mục đích đề ra
- Giới thiệu hoạt động địa phương: Biết cách giới thiệu tập quán, trò chơi lễ hội, truyền thống của địa phương, quan sát và trình bày được những
đổi mới của quê hương, có ý thức đối với việc xây dựng quê hương
- Tóm tắt tin tức và điền vào giấy tờ in sau (phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng, thư chuyển điện, điện chuyển tiền ): Biết cách nói tóm tắt tin tức,
tự tìm tin, biết điền nội dung cần thiết vào giấy tờ in sẵn Qua đó học sinh biết ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày
1.1.b Yêu cầu kỹ năng.
* Học xong chương trình Tập làm văn lớp 4, học sinh phải có được các
kỹ năng làm văn :
+ Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp:
- Nhận diện loại văn bản
Trang 5- Phân tích đề.
+ Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:
- Xác định dàn ý bài văn đã cho
- Tìm ý và xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
- Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn kể chuyện
- Quan sát đối tượng, tìm ý sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
+ Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp:
- Xây dựng liên kết các đoạn văn bản thành bài văn
+ Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp
- Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt
- Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
1.2 Nội dung của phân môn Tập làm văn trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4
- Cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 4
- Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 (2 tập) đã thiết kế chương trình Tập làm văn lớp 4 như sau :
Số tiết dạy Loại văn miêu tả
- Miêu tả
- Các loại văn bản khác
Trang 6+ Viết thư 3 3
* Lưu ý
- Số tiết trong bảng được thực hiện trong 31 tuần học, không kể 4 tuần
ôn tập giữa học kì 1 và cuối học kì
- Các loại văn bản khác được bố trí dạy xen kẽ với văn kể chuyện, văn miêu tả
1.3 Quan điểm biên soạn sách giáo khoa
1.3.a Quan điểm dạy giao tiếp
Để thực hiện mục tiêu "Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc,viết) để học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi", cũng như sách giáo khoa Tiếng Việt
ở các lớp khác, sách giáo khoa Tiếng Việt 4 lấy nguyên tắc dạy giao tiếp làm
định hướng cơ bản
Có thể hiểu giao tiếp hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc nhằm thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác giữa các thành viên trong xã hội Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi giải mã (nhận thông tin) và
kí mã (phát thông tin); trong ngôn ngữ, mỗi hành vi đều có thể được thực hiện bằng hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết)
Quan điểm dạy giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học Về nội dung, thông qua các phân môn tập
đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, Tiếng Việt 4 tạo ra
Trang 7những môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh mở rộng vốn từ theo
định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp Về phương pháp dạy học, kĩ năng nói trên được dạy thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên
1.3.b Quan điểm tích hợp
Tích hợp nghĩa là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học Có thể thực hiện tích hợp theo chiều ngang và chiều dọc
Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc
đồng quy Hướng tích hợp này được sách Tiếng Việt 4 thực hiện thông qua
hệ thống các chủ điểm học tập Theo quan điểm tích hợp, các phân môn (Tập
đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và Câu, Tập làm văn) trước đây ít gắn bó với nhau, nay được tập hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn kuyện kĩ năng cũng gắn bó chặt chẽ với nhau hơn trước
Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm (còn gọi là đồng trục hay vòng tròn xoáy trôn ốc) Cụ thể là: Kiến thức và kĩ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới, nhưng cao hơn, sâu hơn kiến thức và kĩ năng của lớp dưới, bậc học dưới
Dĩ nhiên, trong tích hợp vẫn có điểm nhấn Không nắm được điểm nhấn này, giáo viên dễ hiểu lệch yêu cầu tích hợp, dẫn tới chỗ sa đà
Trang 81.3.c Quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học; chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó thầy, cô đóng vai trò người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được bộc lộ mình và được phát triển
Thể theo phương pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, sách giáo khoa Tiếng Việt 4 không trình bày kiến thức như là những kết quả
có sẵn mà xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt; sách giáo khoa Tiếng Việt 4 hướng dẫn thầy, có cách thức cụ thể tổ chức các hoạt động này
1.4 Các phương pháp dạy Tập Làm văn lớp 4
Trong quá trình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4, người giáo viên
có nhiều cách thức, nhiều con đường và nhiều phương pháp đề hình thành kiến thức, kĩ năng cho học sinh Theo tôi những phương pháp thường dùng
để dạy Tập làm văn lớp 4 là nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo học sinh
1.4.a Phương pháp thực hành giao tiếp
Khái niệm: Phương pháp thực hành giao tiếp là phương pháp dạy học bằng sắp xếp tài liệu ngôn ngữ sao cho vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ trong hệ thống ngôn ngữ phản ánh được đặc điểm, chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp
Mục đích: Tận dụng vốn hiểu biết về ngôn ngữ nói của học sinh, để học sinh cảm thấy nhẹ nhàng hơn trong việc tiếp nhận kiến thức và rèn luyện
kỹ năng học tập mới Rèn cho học sinh tính tự tin chính kiến của mình
Yêu cầu học sinh: Khi sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp, giáo viên phải tạo điều kiện tối đa để học sinh được giao tiếp (giao tiếp giữa giáo
Trang 9viên với học sinh, giao tiếp giữa học sinh với học sinh) Thông qua giao tiếp, giáo viên cho học sinh nhận thấy được cái đúng, cái sai để bổ sung hoặc sửa chữa nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giao tiếp Ngoài ra, giáo viên cần tạo không khí lớp học vui, thoải mái để học sinh có kỹ năng giao tiếp, tự nhiên, tự tin
1.4.b Phương pháp gợi mở vấn đáp
- Khái niệm: Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước một để các em tự tìm ra kiến thức mới phải học
- Mục đích: Phương pháp gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường khả năng suy nghĩ, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng như kinh nghiệm đã có của học sinh Giúp học sinh hình thành khả năng tự lực tìm tòi kiến thức Qua đó học sinh ghi nhớ tốt hơn, sâu sắc hơn
và còn biết chia sẻ hiểu biết kinh nghiệm
- Yêu cầu khi sử dụng: Giáo viên phải lựa chọn những câu hỏi theo
đúng nội dung bài học Những câu hỏi đưa ra phải rõ ràng, dễ hiểu và phù hợp với mọi đối tượng học sinh trong cùng một lớp Giáo viên dành thời gian hợp lý cho học sinh suy nghĩ Sau đó cho học sinh trả lời ( tự nguyện hoặc giáo viên gọi Các học sinh nhận xét bổ sung và rút ra kết luận, giáo viên chốt lại kiến thức Kiến thức phân môn Tập làm văn lớp 4 cung cấp cho học sinh đều được hình thành dưới dạng bài tập Do đó phương pháp gợi mở vấn
đáp phù hợp với cả hai kiểu bài dạy ( dạy lý thuyết và dạy thực hành)
1.4.c Phương pháp rèn luyện theo mẫu
- Khái niệm: Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp dạy học
mà giáo viên đưa ra các mẫu cụ thể về lời nói hoặc mô hình lời nói (cũng có thể cùng học sinh xây dựng mẫu lời nói ) Từ mẫu đó, học sinh biết cách tạo
ra các đơn vị lời nói theo định hướng của mẫu
Trang 10- Mục đích: Giúp học sinh làm bài đặc biệt là học sinh trung bình và học sinh yếu
- Yêu cầu sử dụng :Để giúp học sinh làm những bài tập, dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh phân tích các ngữ liệu mẫu để hình thành kiến thức ( Giáo viên có thể làm mẫu một phần ).Sau khi làm mẫu, giáo viên tổ chức cho học sinh quan sát mẫu và suy ra cách làm các phần tương tự còn lại
1.4.d Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề
- Khái niệm: Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề là giáo viên đưa ra tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực chủ động và sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó mà kiến tạo tri thức rèn luyện kỹ năng để đạt được mục đích học tập
- Mục đích: Tăng thêm sự hiểu biết và khả năng áp dụng lý thuyết vào giải quyết có vấn đề của thực tiễn Nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát
từ tình huống cụ thể và khả năng độc lập cũng như khả năng hợp tác trong giải quyết vấn đề
- Yêu cầu sử dụng: Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn
bị trước đề phù hợp với nội dung bài và đảm bảo tính sư phạm Giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức lý luận cũng như thực tiễn để giải quyết vấn đề
mà học sinh đưa ra
1.4.e Phương pháp đóng vai.
- Khái niệm: Phương pháp đóng vai trò tổ chức cho học sinh thực hành làm thử một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp giáo dục nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được
_ Mục đích: Cụ thể hoá bài học bằng sự diễn xuất để phân tích nội dung bài giảng chi tiết, sâu sắc hơn Làm cho giờ học sinh động hơn Học sinh dễ dàng nắm bắt được nội dung bài học
Trang 11- Yêu cầu sử dụng: Giáo viên phải dành thời gian nhất định cho học sinh thảo luận kịch bản(xây dựng kịch bản ), phân vai và thống nhất lời thoại
1.4.h Phương pháp phân tích ngôn ngữ.
- Khái niệm: Đây là phương pháp dạy học trong đó học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên tiến hành tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, quan sát và phân tích hiện tượng đó theo định hướng của bài học, trên cơ sở
đó rút ra những nội dung lý thuyết cần ghi nhớ
- Mục đích: Giúp học sinh tìm tòi, huy động vốn hiểu biết của mình về
từ ngữ Tiếng Việt và cách sử dụng Tiếng Việt trong những hoàn cảnh cụ thể,
làm cho bài nói, bài làm của các em chân thực, giàu hình ảnh và sinh động hơn
- Yêu cầu sử dụng: Giáo viên phải tạo điều kiện học sinh tự phát hiện và chữa lỗi diễn đạt Hướng dẫn học sinh cách sử dụng Tiếng Việt khi nói( đúng
ngữ điệu ) viết ( đúng ngữ pháp ) cho phù hợp với nội dung bài tập
1.4.g Phương pháp trực quan.
- Khái niệm: Phương pháp trực quan là phương pháp dạy học trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan nhằm giúp học sinh có biểu tượng đúng về sự vật và thu nhận kiến thức, rèn kỹ năng theo mục tiêu bài học một cách thuận lợi
- Mục đích: Thu hút sự chú ý và giúp học sinh hiểu bài, ghi nhớ bài tốt hơn Học sinh có thể khái quát nội dung bài và phát hiện những mối liên hệ của các đơn vị kiến thức dễ dàng hơn
- Yêu cầu sử dụng: Giáo viên phải hướng dẫn học sinh quan sát (Bằng nhiều giác quan ) để học sinh hiểu và cảm nhận về đối tượng cần quan sát Hướng dẫn cách quan sát từ bao quát đến chi tiết, từ tổng thể đến bộ phận, giúp học sinh hình thành phương pháp làm việc khoa học Hơn nữa, trong