1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5

129 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 11,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân môn Tập làm văn ở tiểu học được thể hiện qua nhiều kiểu bài như:Viết lời đối thoại, quan sát tranh trả lời câu hỏi, nghe kể chuyện trả lời câu hỏi,miêu tả, kể chuyện, tường thuật, t

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Phân môn Tập làm văn đóng một vai trò quan trọng trong chươngtrình Tiếng Việt ở tiểu học Đây là một phân môn có tính chất thực hành toàndiện, tổng hợp và sáng tạo Nó là kết quả của nhiều phân môn Tiếng Việt hợplại, do đó nó huy động vốn kiến thức nhiều mặt, sử dụng nhiều loại kĩ năng đểhình thành một năng lực mới Có thể khẳng định rằng, kết quả học tập mônTiếng Việt của học sinh tiểu học được thể hiện phần lớn thông qua phân mônTập làm văn

Phân môn Tập làm văn ở tiểu học được thể hiện qua nhiều kiểu bài như:Viết lời đối thoại, quan sát tranh trả lời câu hỏi, nghe kể chuyện trả lời câu hỏi,miêu tả, kể chuyện, tường thuật, tranh luận, thuyết trình… Trong đó văn miêu tảchiếm một vị trí lớn về thời lượng và đóng một vai trò quan trọng đối với sựphát triển năng lực của học sinh Văn miêu tả là loại văn giàu những cảm xúc,những rung động, những nhận xét tinh tế, dồi dào sức sáng tạo giúp học sinh thểhiện được sự hiểu biết của mình về cuộc sống xung quanh, bồi dưỡng cho họcsinh óc quan sát tinh tế, nhạy cảm cũng như vốn sống và tâm hồn

1.2 Trong xu hướng thực hiện nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học,phân môn TLV nói chung và thể loại VMT nói riêng đã thay đổi theo hướngcoi trọng việc thực hành của học sinh (HS) Điều đó được thể hiện ở sự thayđổi hình thức cũng như phương pháp giảng dạy nhằm tích cực hoá hoạt độngcủa HS Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, có rất nhiều tài liệu về cách dạy, cáchhọc thể loại VMT ra đời Tuy nhiên, đa số các tài liệu chỉ nghiên cứu vềchương trình giảng dạy, hướng dẫn phương pháp giảng dạy cho giáo viên(GV), đặc biệt là các sách tham khảo sưu tầm các bài văn mẫu của HS Tưliệu về hình ảnh, âm thanh và đặc biệt là các đoạn phim nhằm đáp ứng yêucầu của kĩ năng quan sát, một trong những kĩ năng có vai trò hết sức quan

Trang 2

trọng trong VMT, là rất ít Điều đó dẫn đến bài VMT của HS Tiểu học vẫncòn chung chung, khuôn sáo, không thấy được cái mới, cái riêng, cái độc đáocủa chính các em khi miêu tả.

1.3 Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật,việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy và học là một điều tấtyếu Những sản phẩm của máy tính là phương tiện đa truyền thông có đầy đủtrực quan và công cụ thiết lập các ý tưởng giáo dục để đưa vào sử dụng Bêncạnh những phần mềm, bài giảng giáo án điện tử, một thư viện điện tử có thểchứa đựng rất nhiều tài liệu về chương trình, phương pháp giảng dạy, nhữngtác phẩm văn học thiếu nhi và đặc biệt là các tư liệu về hình ảnh, âm thanh vàđoạn phim phục vụ việc đổi mới giảng dạy cho thể loại VMT là hết sức cầnthiết

Xuất phát từ những lí do trên, người viết đã lựa chọn đề tài:“Thiết kế Thư viện điện tử hỗ trợ dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5” với

mong muốn giúp GV rèn luyện kĩ năng viết VMT cho HS lớp 4,5 trong phânmôn TLV Đề tài bao gồm một hệ thống các tài liệu về chương trình, phươngpháp giảng dạy, các tư liệu về các hình ảnh, âm thanh, đoạn phim và các tríchđoạn trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi thiết kế dưới dạng mộtthư viện điện tử dựa vào phần mềm Dreamweaver 9.0 – phần mềm thiết kếWeb – để làm tăng hiệu quả sử dụng và đáp ứng các yêu cầu của việc đổi mớidạy và học thể loại văn VMT trong phân môn TLV

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng được một thư viện điện tử chứa đựng tư liệu về các hình ảnh,

âm thanh, đoạn phim và các trích đoạn trong các tác phẩm văn học thiếu nhi,bài giảng điện tử nhằm hỗ trợ cho quá trình dạy học văn miêu tả, góp phầnnâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn cho HS lớp 4,5

Trang 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học VMT ở lớp 4,5

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cấu trúc và nội dung của Thư viện điện tử hỗ trợ dạy học văn miêu tảcho học sinh lớp 4, 5

3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ dạy học văn miêu tả cho học

sinh lớp 4, 5 dựa trên các phần mềm Dreamweaver 9.0, Corel VideoStudio

Pro X3 và Adobe Flash Professional CS5

- Đề tài giới hạn phạm vi nội dung ở các loại bài: tả cây cối trongchương trình VMT lớp 4, tả cảnh trong chương trình VMT lớp 5

- Đề tài tập trung khảo sát thực trạng và thử nghiệm ở các trường tiểuhọc thuộc địa bàn TP Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu Thư viện điện tử được xây dựng phù hợp với mục đích và yêu cầucủa nội dung chương trình VMT ở lớp 4,5 thì sẽ nâng cao chất lượng dạy vàhọc thể loại VMT cho HS

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học VMT cho HS lớp 4,5

5.2 Nghiên cứu thực trạng về chất lượng dạy học VMT cho HS lớp 4,55.3 Thiết kế Thư viện điện tử hỗ trợ dạy học văn miêu tả cho HS lớp

4, 5 và kiểm chứng tính hiệu quả của việc thiết kế thư viện điện tử nhằm nângcao chất lượng dạy học VMT cho HS lớp 4,5 thông qua thử nghiệm sư phạm

6 Phương pháp nghiên cứu

Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là:

Trang 4

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Để có cơ sở lí luận về đề tài này chúng tôi đã tiến hành đọc, phân tíchmột số tài liệu nhằm xác lập cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp An két: Sử dụng các mẫu phiếu điều tra để thu đượcnhững thông tin về thực trạng dạy học văn miêu tả ở Tiểu học

6.2.2 Điều tra quan sát: Dự giờ các tiết dạy Tập làm văn miêu tả đểquan sát hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu một số bài vănmiêu tả của học sinh

6.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định hiệu quả và

độ tin cậy của việc vận dụng phương pháp đặc tả vào văn miêu tả

6.3 Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lí số liệu trong quátrình nghiên cứu

7 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tham khảo và phụ lục, luậnvăn gồm 3 chương :

 Chương 1 : Cơ sở lí luận của đề tài

 Chương 2 : Thực trạng của việc dạy học VMT ở lớp 4,5

 Chương 3 : Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học VMT cho

HS lớp 4, 5

Trang 5

1.1.1 Tài liệu nghiên cứu về phương pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học văn miêu tả

Theo hướng nghiên cứu về đặc điểm và cách giảng dạy văn miêu tả ở

trường tiểu học, có Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học

(tập 1) của Lê Phương Nga – Đỗ Xuân Thảo – Lê Hữu Tỉnh (1995), Giáo

trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 của Lê Phương Nga – Nguyễn Trí (2006), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học thuộc Dự án phát triển giáo viên Tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Dạy văn cho học sinh Tiểu học của Hoàng Hòa Bình (1999), Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học

của Nguyễn Trí (2000)…

Theo hướng nghiên cứu khảo sát kỹ năng và hướng dẫn HS viết VMT

có: “Vài suy nghĩ về vấn đề rèn kĩ năng viết cho học sinh” của tác giả Trần Thị Thìn (1995), “Về khả năng liên tưởng và tưởng tượng của học sinh tiểu học trong làm văn miêu tả” của Chu Thị Phương (1994), Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả của nhà văn Tô Hoài (1997), Văn miêu tả và kể chuyện của

Vũ Tú Nam – Phạm Hổ – Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng (1999), Trò chuyện về cách làm văn miêu tả và văn kể chuyện của nhà văn Bùi Hiển

(1999) Đặc biệt, có một số sách hướng sâu vào việc bồi dưỡng cách làm một

bài văn miêu tả cho học sinh như Tiếng Việt trong nhà trường của Viện ngôn

Trang 6

ngữ học (1999) Bồi dưỡng văn tiểu học (2000) của Nguyễn Trí, Nguyễn Trong Hoàn; Bài tập luyện viết văn miêu tả ở Tiểu học của nhà xuất bản Giáo

tư liệu phân tích về các đối tượng miêu tả trong chương trình VMT nhằmcung cấp về nội dung miêu tả, vốn kiến thức, vốn sống, hỗ trợ việc rèn kỹnăng quan sát để nhận thức, cảm nhận về đối tượng miêu tả

1.1.2 Tài liệu nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học

Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học, việc thiết kế bàigiảng điện tử (BGĐT) vào trong các tiết học TLV để giúp HS tăng cường kĩnăng quan sát, cảm nhận hình ảnh, âm thanh của các đối tượng miêu tả đãđược đề cập trong nhiều tài liệu, giáo trình nghiên cứu Ngoài ra, hưởng ứng

cuộc vận động của bộ Giáo dục và Đào tạo “Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập và quản lí giáo dục”, các sản phẩm, phần mềm phục vụ cho việc dạy –

học ngày càng nhiều Tuy nhiên, các sản phẩm này vẫn chưa đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng lớn và càng cao của giáo dục, nhất là các phần mềm hỗ trợviệc dạy học VMT rất ít, đặc biệt chưa có thư viện điện tử nào hỗ trợ việc dạyhọc VMT lớp 4,5 Có thể kể đến một số sản phẩm, phần mềm đang lưu hành

ngoài thị trường như : Em học tốt Tiếng Việt do Nhóm phát triển phần mềm sinh viên học sinh SSDG thực hiện, Gu Gu học Tiếng Việt của trường Ngoại

ngữ và Tin học Inforward School … Tuy nhiên, các sản phẩm này còn hạn

Trang 7

chế về số lượng, nội dung và hình thức Phần mềm Gu Gu chỉ thực hiện ở lớp

luận văn chọn hướng nghiên cứu về “Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5”

1.2 Văn miêu tả và Tập làm văn miêu tả ở lớp 4, 5

1.2.1 Khái niệm văn miêu tả

Theo sách giáo khoa Tiếng Việt 4 - tập 1, trang 140, “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy.” Như vậy, có thể hiểu

VMT giúp người đọc hình dung một cách cụ thể hình ảnh của sự vật thôngqua những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc của người viết, chứađựng tình cảm của người viết Đây là loại văn giàu cảm xúc, đòi hòi ở ngườiviết khả năng quan sát tinh tế, khả năng liên tưởng và tưởng tượng phongphú Học VMT, học sinh có thêm điều kiện để tạo sự thống nhất giữa tư duy

và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội, đểkhơi gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng, đẹp đẽ, v.v

1.2.2 Vị trí, nhiệm vụ của dạy học văn miêu tả trong chương trình Tập làm văn ở lớp 4, 5

VMT có vị trí quan trọng trong phân môn TLV ở bậc Tiểu học So vớicác thể loại khác, VMT chiếm một tỉ lệ khá lớn về số tiết theo qui định : lớpBốn tiết 31/70 tiết (48,4%) ; lớp Năm tiết 46/70 tiết (69,4%) Bên cạnh đó,

Trang 8

các kiến thức cơ bản của VMT cũng đã được trang bị cho HS từ lớp 2 và lớp

3 với nhiều hình thức bài tập khác nhau

Luyện viết VMT giúp HS rèn luyện nhiều kĩ năng như: phân tích đề, kĩnăng quan sát thực hành tìm ý, lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng dùng từ,đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn,… qua đó góp phần rèn luyện tư duy, pháttriển ngôn ngữ, trí tưởng tượng, sự liên tưởng cho các em Để viết được bàivăn hay, HS phải cảm nhận được cái đẹp, yêu cái đẹp từ thiên nhiên rộng lớn

và cuộc sống muôn màu muôn vẻ, từ đó giúp hình thành nhân cách cho mỗiHS

1.2.3 Đặc điểm văn miêu tả

1.2.3.1 Văn miêu tả là thể văn sáng tác

Văn miêu tả không phải là sự sao chép, chụp lại những sự vật, sự việc,con người một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng,đánh giá hết sức phong phú

Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới mẻ, riêng biệt của người viết.Nếu như miêu tả một em bé, một con mèo hay một cái cặp…mà ai cũng tảgiống nhau thì sẽ không ai thích đọc cả Khi ta bắt gặp một đoạn văn miêu tả,

ta đọc cảm thấy rất hay và khâm phục người viết Nhưng lần sau ta bắt gặpcũng đoạn văn đó thi ta sẽ thấy không hay nữa Cũng như khi ta nhớ lại nhữngcách miêu tả về nắng mưa : nắng to, nắng già, nắng non…thật là hay nhưng tachỉ dừng lại ở cách nhìn đó thì người đọc sẽ thấy bình thường, chẳng có gìmới mẻ, hấp dẫn

Vích-to Huy-go nhìn một bầu trời đầy sao thấy như một cánh đồng lúachín Mai-a-cốp-xki thì lại thấy ngôi sao như giọt nước mắt của người da đenđang khóc Lênin khi biết Lênin vừa qua đời Còn I-ga-ga-rin thì lại thấy vìsao như những hạt giống mới mà loài người bay vào vũ trụ…Cả 3 hình ảnh vềnhững vì sao đều rất khác nhau nhưng đều đúng đều hay và là cái mới của

Trang 9

mỗi tác giả nên tạo ra cái riêng Nếu chỉ là sự sao chép chụp lại mà không cócái mới, cái riêng thì không có văn học Phải có cái mới cái riêng bắt đầu từnhững quan sát, miêu tả sau đó mới tiến đến cái mới, cái riêng trong tình cảm,trong tư tưởng.

Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới mẻcủa người viết Như vậy không có nghĩa là văn miêu tả cho phép người viếtbịa một cách tuỳ tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết

Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn bó chặt chẽ với cái chân thật Thấyđúng như thế nào thì tả như vậy Không phải thấy con mèo rất nhỏ mà lại tả tonhư cái phích được Nhà thơ đã nói cái giả và cái thật như sau :

“Giả và thật cũng giống như 2 cái dây điện có mắc bóng điện đâu vào đấy Nhưng bấm một cái thì bóng điện này sáng còn bóng điện kia thì tối vì một bên có điện (thật ) còn một bên thì không (giả) ” Còn Phạm Hổ lại thấy có

hiện tượng đặc biệt khi ông đọc những tác phẩm văn, thơ của những tác giả

nổi tiếng “Khi người ta chân thật thì dù cái điều người ta viết ra là vô lý, người đọc vẫn chấp nhận và vẫn thấy hay Có gì vô lý hơn khi cha ông mình trong lòng, trong tâm hồn cảm thấy điều ấy thật thì khi nói ra là được người nghe tiếp nhận một cách thích thú” Nhờ sự quan sát tinh tế của người viết

mà giúp người đọc hiểu biết rộng hơn, sâu hơn, và tinh tế hơn những cái được

tả rất thật, khi đọc nó sẽ gợi lên cho người đọc rất nhiều điều Theo Nghệ thuật làm văn của Vũ Ký, Hoàng Đạo đã có bài Tả hai mẹ con Hươu sao như

sau:

“Một đám mây vàng hiện ra ở Phương Đông , nằm ngang chân trời Lá cây nặng trĩu sương đêm nghiêng mình và bỏ những giọt nước trong vắt lốp bốp xuống nội cỏ Tiếng hai con chim thủ thỉ và thù thì nghe đã gần nhau lắm Trời đã rạng Đông

Trang 10

Dưới gốc cây trám nắng, trong bụi rậm con hươu nhỏ và gầy, chập chững trên bốn chân còn run run và yếu ớt quá Một con chim chích choè ý chừng vừa mới ngủ dậy ở trên cành cao bay là là xuống đậu gần hai mẹ con hươu, vểnh đuôi lên mấy cái nhìn tả, nhìn hữu để làm duyên rồi nói:

- Mẹ tròn con vuông chứ ? Chích !Chích! Trông nó hay đấy nhỉ!

Nhưng nó to lớn làm sao ! và lông nó thô quá , ít ỏi quá !

Hôm nọ, chị tôi cũng vừa ở cữ một lứa, những năm đứa trẻ nhỏ xíu trông xinh lắm! Chích! Chích!

Hươu mẹ lơ đãng trả lời cô chích choè lắm điều:

- Chị nói gì kia ạ ! Xin lỗi chị, tôi không nghe chị nói gì cả!

Chích choè giương mắt nhìn Hươu, vểnh đuôi lên rồi vỗ cánh bay đi Hươu

mẹ không để ý đến sự tức giận của chích choè cứ rúc đầu vào con mà hun hít

âu yếm.Hươu con ngơ ngác nhìn xung quanh những hình ảnh mới lạ, bên ngoài hỗn độn in vào trong trí khôn còn non nớt Ánh nắng lọt qua lá cây, dịu dàng soi sáng một vùng rừng thẳm Những cây cổ thụ dướn cao lên không, dưới chân cây lá khô xào xạc trong gió nhẹ Mấy cây lau chốc chốc lại khẽ chạm đầu vào nhau như thầm thì nói chuyện riêng Dưới nội cỏ ướt sương có muôn vàn tiếng động rất khẽ của côn trùng Ở trên bụi tre một con sáo sậu cãi chí cha chí chát Còn mấy con chim ri, mấy con chim sâu đậu chỗ này bay chỗ kia không lúc nào yên Xa xa như cầm nhịp, vọng đưa lại tiếng chua ngoa của con chim thân yêu của những nơi nước độc: “Bắt cô trói cột ! Bắt cô trói cột!”

Mọi vật trong rừng đều rung động theo một điệu sống mạnh mẽ, những con hươu sao mới ra đời chưa cảm thông được với khúc nhạc hoà hợp, nhịp nhàng ấy, nó chỉ biết nó khoan khoái trong người, con hươu mẹ đứng một chỗ cho con bú, thỉnh thoảng nó mới cúi xuống liếm lông con và nói se sẽ :

- Bú đi con !Bú đi Búp Bú đi, búp yêu dấu của mẹ ”

Trang 11

Đọc xong bài văn trên ta thấy những quan sát để miêu tả vẻ bề ngoàicủa các sự vật đều hoà quyện với lòng yêu thiên nhiên nhờ đó mà tạo dược cáibên trong, cái hồn của các sự vật Tác giả tả hai mẹ con Hươu sao nhưng khiđọc lên ta lại nghĩ tới những con người Ở đây tác giả đã có sự sáng tạo, vớicách nhìn hóm hỉnh, với những quan sát tinh tế, tỉ mỉ tác giả đã thể hiện đượccuộc sống của các loài động vật thật sinh động và thật hấp dẫn.

1.2.3.2 Văn miêu tả mang tính thông báo, thẩm mỹ và chứa đựng tình cảm của người viết

Bất kỳ một sự vật hiện tượng nào trong thực tế khách quan cũng có thểtrở thành đối tượng của văn miêu tả Nhưng không phải bất kỳ một hiện tượngmiêu tả nào cũng trở thành văn miêu tả Văn miêu tả phải là những loại văngiàu cảm xúc, những rung động, những nhận xét tinh tế, dồi dào sáng tạonhằm mục đích thông báo thẩm mỹ Người đọc qua văn bản miêu tả nhậnthức thực tế khách quan không phải bằng con đường lý trí mà chủ yếu bằngnhững cảm xúc, những rung động mạnh mẽ của tâm hồn

Dù tả một con mèo, một con gà, một cây bàng thay lá mùa thu đến mộtcánh đồng lúa chín, một cảnh nhà ga hay bến tàu…Bao giờ người viết cũngđánh giá chúng theo một quan điểm thẩm mỹ, cũng gửi vào bài viết ít nhiềutình cảm hay ý kiến đánh giá, bình luận của mình Do vậy từng chi tiết của bàivăn miêu tả đều mang ấn tượng cảm xúc chủ quan Cành thông lá liễu tronghai câu thơ của Hồ Xuân Hương nêu trên mang rõ dấu ấn cá tính, tạo hình vừagiàu sức sống tiềm tàng

“Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc

Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo”

“Hồ Xuân Hương”

Trong đời sống chúng ta gặp nhiều sự vật, sự việc, con người…khácnhau đều có thể trở thành đối tượng của việc miêu tả Chính vì sự khác nhau

Trang 12

đó người ta chia văn miêu tả thành : tả đồ vật, tả cây cối, tả cảnh, tả người, tảcon vật…mỗi loại khi miêu tả đếu có đối tượng miêu tả là những vật gần gũithân thiết với đời sống con người…Trong “Tiếng mưa” Nguyễn Thị NhưTrang có đoạn “Mưa mùa xuân” tả về mưa mùa xuân :

“ Mưa mùa xuân xôn xao, phơi phới Những hạt mưa bé nhỏ mềm mại, rơi mà như nhảy nhót Hạt nọ nối tiếp hạt kia đan xuống lá cây ổi cong mọc

lả xuống mặt ao Mùa đông xám xịt và khô héo đã qua Mặt đất đã kiệt sức bỗng thức dậy, âu yếm đón lấy những giọt mưa ấm áp trong ngày Đất trời lại dịu mềm, lại cần mẫn tiếp nhựa cho cây Mưa mùa xuân đã đem lại cho chúng cái sức sống ứ đầy, tràn lên các nhánh lá mầm non.Và cây trả nghĩa cho mưa bằng cả mùi hoa thơm, trái ngọt”

Còn Vic-to Huy-gô có đối tượng miêu tả là những cây cỏ, hoa lá, chimmuông sau trận mưa rào :

“ …Không gì đẹp bằng cây lá vừa tắm xong đang được mặt trời lau ráo, lúc đó trông nó vừa tươi ráo, vừa ấm áp…khóm cây, luống cành trông đổi hương thơm và tia sáng Trong tán lá mấy cây sung, chích choè huyên náo, chim sẻ tung hoành, gõ kiến leo dịch thân cây giẻ, bửa mỏ lách cách trên vỏ Hoa cẩm chướng có mùi thơm nồng nồng Ánh sáng mạ vàng những đoá hoa kim hương làm cho nó sáng rực như những ngọn đèn Quanh các luống hoa kim hương vô số bướm chập chờn như những tia sáng lập loè của các đoá đèn hoa ấy…”(Trích Những người khốn khổ của Vich-to Huy-gô)

1.2.3.3 Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình

Có thể nói đây là một đặc điểm rất nổi bật của văn miêu tả Song hiệnnay đặc điểm quan trọng này thường chưa được làm rõ trong các tài liệu về vănmiêu tả ở nhà trường Bài văn miêu tả của học sinh thường mờ nhạt và rất chungchung Đọc xong bài văn miêu tả của các em người đọc không hình dung ra

Trang 13

được sự vật , sự việc được tả như thế nào, mặc dù học sinh đã nêu ra tất cả cácchi tiết về sự vật, sự việc đó.

Đặc điểm quan trọng này của văn miêu tả đã được Góc- ki phân tích : “ Dùng từ để “ tô điểm” cho người và vật là một việc Tả một cách sinh động cụ thể cụ thể đến nỗi người ta muốn lấy tay sờ, như người ta muốn sờ mó các nhân vật trong Chiến tranh và hoà bình của Lép – Tônxtôi đó là một việc khác ”

Làm nên sự sinh động tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống,gây ấn tượng… tước bỏ chúng đi bài văn miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị Đọclại bài văn khi đó chúng ta tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt nhạt của một ngườikhông còn sinh khí

Khi miêu tả, chúng ta cần chú ý không nên đưa vào bài quá nhiều chi tiếtlàm cho bài văn trở nên rườm rà theo kiểu liệt kê đơn điệu Cần phải biết gạt bỏ

đi những chi tiết thừa không có sức gợi tả hay gợi cảm để làm cho bài văn miêu

tả gọn và giàu chất tạo hình Muốn làm được điều này người viết không chỉ biếtquan sát mà phải biết quan sát có chọn lọc, thu lượm tích luỹ những kinhnghiệm sống trong cuộc sống hàng ngày Có như vậy bài văn mới sinh động tạohình và hấp dẫn người đọc

Chúng ta hãy đọc đoạn văn miêu tả về những chú gà trong xóm của Võ

Quảng: “ Chợt con gà trống ở phía nhà bếp nổi gáy Tiếng nó lanh lảnh Tôi biết đó là con gà của anh Bốn Linh Con gà này có bộ mã tía, cổ bạnh, mào hạt dâu Tiếng nó dõng dạc nhất xóm Nó thường làm tôi chú ý Nó nhón chân bước từng bước oai vệ, ức ưỡn ra đằng trước Nó có gan nhảy lên lưng trâu Bỉnh, nó

vỗ cánh phành phạch rồi gáy như thét vào tai trâu Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy Đột ngột, nó quay lại nện cho chó Vện một đá vào đầu, rồi nhảy phốc lên cổng chuồng trâu, đứng nhìn xuống vẻ phớt lờ Nó nổi gáy như thách thức:

- Tao không sợ ai hết !

Trang 14

Sau gà anh Bốn Linh, gà của ông Bảy Hoá gáy theo Tiếng của nó khàn khàn làm tôi nhớ đến tiếng rao của ông thợ hàn nồi khi đi qua xóm:

- Ai hàn nồi không?

Con gà ông Bảy Hoá hay bới bậy Nó có bộ mã khá đẹp, lông trắng, phao to, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh như hai vỏ trai úp, nhưng lại hay tán tỉnh, láo toét Nó đến chỗ bờ tre mời bọn gà mái theo nó để đãi giun Bới được con giun, nó lấy mỏ kẹp bỏ ra giữa đất, kêu tục tục mời bọn gà mái đến xơi Bọn này vừa xô tới nó đã nuốt chửng con giun vào bụng Nó còn giả vờ nghểnh

cổ kêu “oắc” như phân bua: “Ủa ! Chớ con giun đâu mất rồi hè?” Bọn gà mái tưng hửng nhưng chúng vốn dễ tính nên bỏ qua Nó còn ra nương mổ bắp Bị bắt quả tang, tôi xuỵt chó cắn cho một trận Chó vặt mất tụm lông đuôi Một con

gà trống bị mất tụm lông đuôi trông cụt ngủn, đầu như bị chúc về đằng trước trông buồn cười hết sức Sau gà ông Bảy Hoá, gà bà Kiến nổi gáy theo Nó phóng ra ba tiếng không đều nhau éc, e, e Gà bà Kiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, có bộ giò cao, cổ ngắn Tiếng nó gáy còn vướng trong cổ, chưa làm ai

mê được Mấy lần tôi gặp nó nhảy tót lên cây rơm thật cao phóng tầm mắt nhìn quanh như muốn mọi người hãy chú ý, nó sẽ gáy một hơi thật to, thật dài Nó xoè cánh, nghểnh cổ, chuẩn bị chu đáo, nhưng rốt cuộc chỉ rặn ra được ba tiếng

éc, e, e cụt ngủn Nó ngượng quá đỏ chín mặt, hấp tấp nhảy xuống đất Gà ông Kiểm Sành, gà nhà chị Bảy Co cũng thi nhau gáy… ”

Nhà văn Võ Quảng tả đến ba con gà trong một đoạn văn Vậy mà đọclên, mỗi con một khác: khác từ hình dáng đến tập tính và giọng gáy Chỉ một vài

cử chỉ, dáng điệu chọn lọc, con gà nhà anh Bốn Linh hiển hiện trước mắt chúng

ta không giống con gà của ông Bảy Hoá, lại càng khác xa con gà nhà bà Kiến

Đây là cái ngang tàng, nếu chưa muốn nói là “đại ca” của gà anh Bốn

Linh Bước đi thì oai vệ, ức ưỡn ra đằng trước Còn hành động thì nhảy lên lưng trâu Bỉnh, vỗ cánh phành phạch rồi gáy Bị chó đuổi thì bỏ chạy, nhưng rồi

Trang 15

đột ngột quay lại nện cho chó vện một đá vào đầu Ta như thấy rõ cái vẻ phớt lờ

của gà ta sau khi nện cho chó một cú đá đau điếng

Song có lẽ “anh chị ” hơn phải kể đến gà của ông Bảy Hoá Nó chủ độngmời bọn gà mái theo nó để đãi giun Bới được giun, nó bỏ ra giữa đất và lên

tiếng tục tục mời Nhưng khi bọn gà mái xô đến, nó đã nuốt chửng con giun vào bụng Đã thế, nó còn làm ra điều không biết con giun kia biến đâu mất !

Còn gà bà Kiến thì đúng là một anh chàng mới lớn, to toe, tập tành làmngười lớn Hắn muốn lên mặt với bọn gà nhóc Đối với họ nhà gà, tiếng gáy làdấu hiệu của sự trưởng thành Hắn muốn phô phang tiếng gáy Và hắn đã làm đủđiệu bộ trước khi gáy: nhảy lên đống rơm cao, phóng mắt nhìn quanh, xoè cánh,nghểnh cổ… Hành động thì đẹp lắm Chỉ tiếc là đến sự việc chính là tiếng gáythì than ôi, cụt ngủn, chẳng giống ai

Không chỉ hành động mà vóc dáng mỗi con cũng mỗi khác Ngay đến

tiếng gáy cũng mỗi con một giọng Nếu như gà anh Bốn Linh gáy như thét vào tai trâu thì tiếng gáy của gà bà Kiến chỉ cụt ngủn ba tiếng éc,e, e.

Thật đúng như một nhà văn Pháp có nói một câu nổi tiếng mà nhà văn

Tô Hoài của chúng ta đã trích dẫn trong Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả của ông Câu nói đó thật đúng với trường hợp tả ba con gà này: Một trăm thân cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửa giống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưng nhìn kĩ thì thân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nào cũng khác nhau Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phải thấy ra mỗi người mỗi khác nhau, không một ai giống ai.

1.2.3.4 Ngôn ngữ của văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Do đặc điểm của văn miêu tả mang tính thông báo thẩm mĩ, chứa đựngtình cảm và cảm xúc của người viết, bài văn bao giờ cũng mang tính sinh động

và tạo hình nên yêu cầu đặt ra cho ngôn ngữ của bài văn miêu tả là phải giàu

Trang 16

cảm xúc và hình ảnh Chỉ có như vậy ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tảcảm xúc của người viết, vẽ nên sự sinh động tạo hình cho đối tượng miêu tả.

Ngôn ngữ của bài văn miêu tả giàu tính từ, động từ và thường hay sửdụng phép nhân hoá, so sánh, ẩn dụ Có thể thấy đủ loại tính từ màu sắc, tínhchất, đánh giá, kết hợp với các động từ các biện pháp tu từ tạo thành “nhữngchùm sáng ngôn ngữ lung linh” trong văn miêu tả Những ngôn ngữ ấy gợi lêntrong lòng người đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng hình ảnh về sự vậtđược miêu tả

Để cho bài miêu tả hay được hấp dẫn hơn người viết còn đan xennhững giai điệu phụ trợ như tường thuật, kể chuyện… làm cho bài văn trở nênsinh động, người đọc hứng thú hơn trong tiếp nhận văn bản

Trong sách giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học, các đoạn văn được đưa vàochương trình đều sử dụng ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh mà tiêu biểu đó là

đoạn trích Đêm trăng đẹp của nhà văn Thạch Lam.

Ngày chưa tắt hẳn trăng đã lên rồi Mặt trăng tròn to và đỏ từ từ lên ở phía chân trời, sau rặng tre đen của làng xa Mấy sợi mây còn vắt ngang qua mỗi lúc một mảnh đàn rồi đứt hẳn Trên quãng đồng rộng, cơn gió nhẹ hiu hiu đưa lại, thoang thoảng mùi hương thơm mát.

Sau tiếng chuông của ngôi chùa cổ một lúc lâu, trăng đã nhô lên khỏi rặng tre Trời bây giờ trong vắt, thăm thẳm và cao Mặt trăng đã nhỏ lại, sáng vằng vặc ở trên không và du du như sáo diều Ánh trăng trong chảy khắp nhành cây, kẽ lá, tràn ngập con đường trắng xoá.

Cành lá sắc và đen như mực vắt qua mặt trăng như một bức tranh tàu Bức tường hoa giữa vườn trắng lên, lá lựu dày và nhỏ nhấp nhánh như thuỷ tinh

Tác giả dùng từ ngữ rất giàu hình ảnh và gợi cảm để tả vẻ đẹp của đêm

trăng: gió nhẹ hiu hiu, thoang thoảng, trong vắt, thăm thẳm, sáng vằng vặc, trắng xoá… đây là những tính từ chỉ mức độ, những từ ngữ đó diễn tả sự chính

Trang 17

xác cao khi tả về đêm trăng Tác giả còn sử dụng các biện pháp so sánh: trăng như sáo diều, cảnh vật như bức tranh tàu, lá lựu dày nhỏ nhấp nhánh như thuỷ tinh, làm cho người đọc như đang đắm mình trong đêm trăng đó để tận hưởng

cái mát mẻ, cái tinh khiết của đêm trăng ở đồng quê

Như vậy, một bài văn miêu tả bao giờ cũng mang đầy đủ các đặc điểmtrên, nếu thiếu đi các đặc điểm đó thì không thể trở thành văn miêu tả được

1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4, 5 với việc học văn miêu tả

1.3.1 Tri giác

Tri giác là sự phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của

sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan Tri giác là mộtquá trình tâm lý Quá trình này có khởi đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõràng Tri giác phản ánh các dấu hiệu bề ngoài của sự vật, hiện tượng, phảnánh sự vật, hiện tượng một cách trực tiếp

Tri giác sử dụng dữ liệu trực quan do cảm giác đang mang lại, đồngthời sử dụng cả các kinh nghiệm đã học được trong quá khứ để có hình ảnhcủa sự vật một cách trọn vẹn, để gọi tên sự vật Đây là điểm khác biệt lớn sovới cảm giác

Quan sát là hình thức tri giác cao nhất của con người Đây là quá trìnhtri giác mang tính chủ động, có mục đích, có ý thức rõ ràng Quan sát có vaitrò quan trọng trong hoạt động của con người “Quan sát, quan sát, quan sát”-Pavlốp

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chitiết và mang tính không chủ động.Ở các lớp đầu bậc tiểu học, tri giác của trẻ

em thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ em Tri giác sựvật có ý nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật : cầm nắm, sờ mó sự vật ấy.Những gì phù hợp với nhu cầu của học sinh, những gì các em thường gặp

Trang 18

trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của chúng, những gì chỉ dẫn thìđược các em tri giác

Chú ý không chủ định: Trong lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý khôngchủ định chiếm ưu thế Những gì mang tính mới mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khácthường dễ dàng lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực của ý chí

Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồdùng dạy học đẹp, mới lạ, ít gặp, gợi cho các em cảm xúc tích cực Vì vậy,việc sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, hình vẽ, biểu đồ, mô hình vậtthật… là điều kiện quan trọng để tổ chức sự chú ý

Ở lớp 2, 3 nhiều học sinh đã biết tập trung chú ý vào bất cứ tài liệu nào,vào những điều giáo viên giảng giải cũng như tập trung để làm tốt các bài tậpđược giao ở lớp, ở nhà Lên lớp 4,5, không những chú ý chủ định của trẻ tănglên trong việc hoàn thành nhiệm vụ học tập mà những phẩm chất khác củachú ý cũng phát triển, trẻ có khả năng mở rộng khối lượng chú ý và có kĩnăng phân phối chú ý đối với những dạng hoạt động khác nhau (VD, trongcùng một lúc trẻ vừa có thể chú ý đọc, vừa theo dõi để tìm các lỗi sai củabạn…)

Trang 19

1.3.3 Trí nhớ

Trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của cá nhân dướihình thức biểu tượng, bằng cách ghi nhớ, gìn giữ, nhận lại và nhớ lại nhữngđiều mà con người đã trải qua

Do hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở học sinh lứa tuổi nàytương đối chiếm ưu thế nên trí nhớ trực quan - hình tượng được phát triển hơntrí nhớ từ ngữ - logic

Từ lớp 3 trở lên, khả năng ghi nhớ có chủ định ở học sinh mới hìnhthành rõ nét, tuy nhiên trí nhớ không chủ định vẫn song song tồn tại Hai hìnhthức ghi nhớ chuyển hoá, bổ sung cho nhau trong quá trình học tập Nhiệm vụcủa GV là cần rèn luyện cho học sinh cách sử dụng hai loại trí nhớ này mộtcách hợp lí và có hiệu quả Dạy học sẽ đạt kết quả tối ưu, nếu những tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo, qui tắc ứng xử… được học sinh lĩnh hội một cách nhẹ nhàng,hấp dẫn

Điều cần lưu ý là trí nhớ của học sinh tiểu học, nhất là những năm cuốicần có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ Nhờ ngôn ngữ, trẻ thường diễn đạttri thức ghi nhớ bằng lời nói, chữ viết của mình Đây là điều kiện thuận lợi đểphát triển trí nhớ, tư duy, tưởng tượng của trẻ

1.3.4 Tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng

có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mớitrên cơ sở những biểu tượng đã có

Tư duy và tưởng tượng là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau

Tư duy đảm bảo tính hệ thống, logic, hợp lý cho họat động tưởng tượng.Ngược lại, những hình ảnh cụ thể do tưởng tượng tạo nên bao giờ cũng chứađựng và bộc lộ nội dung tư tưởng của tư duy tạo ra Nhờ tưởng tượng mà tư

Trang 20

duy được cụ thể bằng các hình ảnh Tưởng tượng vạch hướng đi cho tư duy,thúc đẩy tư duy trong việc tìm kiếm, khám phá cái mới.

Tưởng tượng ở học sinh tiểu học có 2 thời kỳ phát triển chủ yếu:

Lớp 1-3 (Thời kỳ 1): Còn ít xử lý những biểu tượng đã có Hình ảnhđược tái hiện phản ánh đặc điểm của đối tượng trong thực tiễn một cáchchung chung, các hình ảnh đó còn nghèo chi tiết, thường chưa phù hợp vớiđối tượng

Lớp 4-5 (Thời kỳ 2): tưởng tượng của trẻ ngày càng phát triển theo xuhướng rút gọn và ngày càng khái quát hơn, đặc điểm này được phát triển songsong với ghi nhớ có ý nghĩa Nhờ vậy, số lượng dấu hiệu và đặc điểm tronghình ảnh tăng lên nhiều Chúng khá trọn vẹn và cụ thể

Trên cơ sở xử lý một cách sáng tạo các biểu tượng đã có, trí tưởngtượng của học sinh nhỏ rất bay bổng, phóng khoáng và chưa bị hạn chế bởinhững hình ảnh hiện thực trực quan, mặc dù nó dựa trên những hình ảnh trựcquan

1.3.5 Tư duy

Tư duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất,những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vât hiện tượng khách quan

mà trước đó ta chưa biết

Tư duy HS tiểu học trải qua hai giai đoạn phát triển :

a/ Giai đoạn 1 (lớp 1,2): Theo J.Piagie, tư duy của trẻ em mới đếntrường (giai đoạn từ 7-10 tuổi) là tư duy cụ thể, mang tính hình thức bằngcách dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng

cụ thể

Khi khái quát hoá, học sinh tiểu học thường quan tâm đến dấu hiệu trựcquan, bề ngoài có liên quan đến chức năng của đối tượng

Trang 21

Ở giai đoạn này, thao tác trừu tượng hóa và khái quát hóa khoa học cònyếu Kỹ năng phân biệt các thuộc tính bản chất và không bản chất trong quátrình lĩnh hội khái niệm chưa cao nên trẻ có thể bị nhầm lẫn, sai sót khi lĩnhhội các âm, vần, các qui tắc ngữ pháp đơn giản.

b/ Giai đoạn 2 (tư duy trực quan hình tượng): từ lớp 3 trở đi trẻ bắt đầunắm được các mối quan hệ của khái niệm, trẻ không chỉ lĩnh hội được cácthao tác thuận mà còn biết loại trừ

Nhờ hoạt động học tập, trình độ nhận thức phát triển, học sinh lớp 3 vàlớp 4 đã biết xếp bậc các khái niệm, phân biệt khái niệm rộng hơn, hẹp hơn,nhìn ra các mối liên hệ giữa các khái niệm về giống loài

Đến cuối giai đoạn 2, phần lớn học sinh đã biết khái quát trên những cơ

sở, những biểu tượng đã tích luỹ được thông qua sự phân tích, tổng hợp bằngtrí tuệ Tư duy trực quan hình tượng bắt đầu nhường chỗ cho tư duy ngônngữ

1.4 Thư viện điện tử và việc sử dụng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học VMT cho HS lớp 4,5

1.4.1 Khái niệm thư viện điện tử

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 2004,trang 970, thư viện là “ nơi lưu giữ sách báo, tài liệu và tổ chức cho bạn đọc

sử dụng”

Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991 (áp dụng cho các hoạtđộng thông tin, thư viện, lưu trữ), khái niệm "thư viện" được hiểu là "cơ quan(hoặc một bộ phận của cơ quan) thực hiện chức năng thu thập, xử lý, bảoquản tài liệu và phục vụ bạn đọc đồng thời tiến hành tuyên truyền, giới thiệucác tài liệu đó"

Trong xu thế hội nhập ngày nay, thư viện là kho tàng trí tuệ của nhânloại, nơi lưu trữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của loài người Cùng với sự

Trang 22

phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, đặc biệt là đĩa cứng CD-ROOM,mạng Internet, thư viện điện tử ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu lưu trữ khốilượng tài liệu khổng lồ, tốc độ tìm kiếm và xử lí thông tin nhanh chóng, chínhxác cao

Theo giáo trình Thư viện học đại cương của tác giả Bùi Loan Thuỳ, xuất bản năm 2001, trang 198, thư viện điện tử “là thư viện có vốn tài liệu dưới dạng điện tử (các cơ sở dữ liệu, đĩa quang CD-ROM, các nguồn online),

là nơi sử dụng máy tính và công nghệ thông tin vào hầu hết các hoạt động thông tin thư viện, nơi cung cấp các dịch vụ điện tử và các xuất bản phẩm điện tử đối với người dùng tin.”

1.4.2 Tầm quan trọng của việc sử dụng thư viện điện tử hỗ trợ dạy học VMT cho HS lớp 4,5

Ngày nay, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, việcứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy và học là một điều tất yếu.Nhờ sự hỗ trợ của CNTT, hệ thống máy chiếu và âm thanh, HS có thể quansát trực tiếp hình ảnh, màu sắc của các loài hoa rực rỡ, cảm nhận vẻ đẹp củaánh nắng xuyên qua kẽ lá, rọi vào những quả xoài chín mọng đang đung đưatrên cành Không những thế, các em có thể nghe được tiếng chim hót líu lo,

âm thanh “ò …ó…o” của tiếng gà gáy vào mỗi buổi sáng ở làng quê, tiếng vịtkêu “cạp cạp” những lúc ăn ngoài đồng, thậm chí cả tiếng sóng vỗ rì rào vào

bờ cát Có thể thấy, việc ứng dụng CNTT đã mang lại hiệu quả cao trong việcdạy thể loại VMT cho HS tiểu học), giúp HS phát triển kĩ năng quan sát cácđối tượng trong cuộc sống, góp phần bồi dưỡng tình yêu, sự đam mê khámphá thế giới muôn màu, muôn vẻ

Để thiết kế được một bài giảng điện tử theo phương pháp dạy học mớicho thể loại VMT, nhằm giúp HS tự viết được một bài văn mạch lạc, đầy đủnội dung, mang đậm nét riêng của chính bản thân các em là điều không phải

Trang 23

dễ GV phải sưu tầm các hình ảnh, các đoạn phim, những tác phẩm văn họcthiếu nhi liên quan đến đối tượng miêu tả trong thư viện nhà trường, trongcuộc sống thực tế và chủ yếu là truy cập Internet Bên cạnh những trang webtìm kiếm nổi tiếng như www.google.com.vn, www.youtube.com, GV có thểtruy cập vào một số trang web liên quan đến việc dạy học ở tiểu học như :Diễn đàn GV tiểu học: www.tieuhoc.info, Thư viện bài giảng điện tửwww.baigiang.violet.vn, trang web của một số trường tiểu học Tuy nhiên,nội dung các trang web về dạy học ở tiểu học chủ yếu cung cấp về sáng kiếnkinh nghiệm, giáo án đánh máy, một vài giáo án điện tử và các bài văn mẫu.

Tư liệu về hình ảnh, âm thanh, đoạn phim về nội dung chương trình VMT lớp

4, lớp 5 là rất ít, các tư liệu không đầy đủ, chỉ rải rác một số bài trong chươngtrình

Bên cạnh đó, những yêu cầu về kỹ thuật vi tính để tải về và xử lý các tưliệu trên mạng là một trong những khó khăn đối với GV tiểu học Đối vớinhững trang web khó tính như www.youtube.com, việc tìm kiếm một đoạnphim phù hợp với nội dung bài học đã khó, việc tải về đoạn phim đó càng khóhơn Đa số người tìm kiếm đều phải sử dụng phần mềm mới có thể tải được.Ngoài ra, những hình ảnh, đoạn phim trên mạng không phải lúc nào cũng cóthể sử dụng ngay mà hầu hết GV phải sử dụng phần mềm xử lí hình ảnh, xử líphim để chỉnh sửa Với những khó khăn trên, việc thiết kế bài giảng điện tửnhằm phát huy tính tích cực học tập, kĩ năng quan sát của HS đối với thể loạiVMT phần nào bị hạn chế

Như vậy, có thể thấy một TVĐT chứa đầy đủ các tư liệu hình ảnh, âmthanh, đoạn phim, những trò chơi điện tử mở rộng vốn từ cho HS cùng vớicác trích đoạn trong các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi, những đoạnvăn mẫu bám sát nội dung bài học trong chương trình VMT lớp 4, 5 có vai tròhết sức quan trọng trong việc dạy học VMT Người GV có thể tìm kiếm được

Trang 24

nhiều tài liệu cần thiết một cách nhanh chóng, thiết kế được một bài giảngđiện tử hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực sáng tạo của HS, giúp HS hứngthú và say mê trong việc học VMT

Trong đề tài này, chúng tôi định hướng xây dựng Thư viện điện tử hỗtrợ dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 dựa trên phần mềmDreamweaver 9.0

1.4.3 Giới thiệu về phần mềm Dreamweaver 9.0

1.4.3.1 Giới thiệu chương trình Dreamweaver

Dreamweaver là một chương trình dùng để tạo ra và quản lý các trangweb Cốt lõi của nó là HTML (Hyper Text Markup Language – Ngôn ngữđánh dấu siêu văn bản) – một ngôn ngữ chứa đựng một loạt các thẻ dùng đểđịnh nghĩa cấu trúc của trang web

Dreamweaver là một công cụ dễ dùng, là một công cụ mạnh và đã trởthành một trong số những công cụ được ưa thích của các nhà thiết webchuyên nghiệp Với Dreamweaver, ta có thể dễ dàng phát triển một trang webhoặc một website rất lớn Dreamweaver là một công cụ trực quan mà trong đó

ta có thể bổ sung javascript, biểu mẫu, bảng biểu và nhiều loại đối tượng khác

mà không cần phải viết một đoạn mã nào

Dreamweaver sử dụng các công nghệ web, các chuẩn HTML và cungcấp khả năng tương thích với các trình duyệt web Dreamweaver được thiết

kế cho các nhà phát triển web chuyên nghiệp (những người thiết kế và nhữngngười viết mã) Dreamweaver cung cấp các môi trường thuận tiện như chế độDesign trực quan cho nhà thiết kế, chế độ Code cho nhà viết mã và chế độDesign và Code cho những ai muốn làm việc trong cả hai môi trường này

Trang 25

HTML cơ bản

Để một trình duyệt web biết một tập tin có chứa HTML thì trong tàiliệu ta phải khai báo với một thẻ mở <html> và một thẻ đóng </html> Bêncạnh đó, tài liệu HTML cũng chứa các thẻ <head>, <body>, <title>

Cấu trúc chung của một trang web như sau:

- Thẻ <title> là nơi đặt tiêu đề trang web

- Thẻ <body>: chứa nội dung trang web sẽ được thể hiện trongtrình duyệt

Trang 26

Trong đó: trangchinh.html là trang đích liên kết đến khi người dùngnhấp vào dòng chữ Trang chính.

- Thẻ hình ảnh <img> có dạng như sau:

<img src= “Hoahong.jpg” width= “300” height= “150” alt= “Hoahồng”>

Trong đó src là chỉ địa chỉ của tập tin hình ảnh, width, height chỉ địnhchiều rộng và chiều cao của hình, alt là đặt văn bản thay thế hình khi trìnhduyệt không hiển thị hình ảnh

- Thẻ div dùng để thiết kế bố cục của trang web, kết hợp với mộtlớp (class) định dạng cho vùng đó Định dạng được viết riêng thành tập tincss

<div class= “Header> </div>

Trong đó: tạo ra một vùng có tên là Header, được định dạng theo lớpHeader trong tập tin css

- Các thẻ dùng để tạo bảng là: <table> </table>, <td> </td>, <tr>

</tr>

1.4.3.2 Giới thiệu chương trình Corel VideoStudio Pro X3

UleadStudio Pro X3 là phần mềm biên tập phim chuyên nghiệp, thíchhợp cho người dùng với nhu cầu cơ bản và cả những người dùng cao cấpnhanh chóng tạo ra các bộ phim hoàn chỉnh với tiêu đề bắt mắt, các bộ lọcphim, hiệu ứng chuyển, lồng tiếng Chương trình cho phép xuất bản phim lênDVD, CD, băng, mạng hay các thiết bị di động để chia sẻ với bạn bè Chươngtrình cung cấp giao diện trực quan và khoa học để mang lại sự tiện dụng khilàm việc

 Các tính năng chính :

- Dễ sử dụng

- Thu phim từ bất kì đâu

Trang 27

- Sửa các lỗi video phổ biến dễ dàng

- Các trình thuật sĩ phim cải tiến

- Tiêu đề và phụ đề chuyên nghiệp

- Nhiều hiệu ứng và bộ lọc thông minh

- Âm thanh tuyệt hảo cho các bộ phim tuyệt hảo

- Biên tập menu cải tiến

 Biên tập đoạn phim nâng cao :

- Khởi động chương trình, chọn Advanced Edit

- Giao diện biên tập phim nâng cao như sau:

Trong đó: ta chú ý

Trang 28

- Khung timeline: theo dõi, quản lý, sắp xếp tiến trình của đoạn phim, âm thanh, văn bản, hiệu ứng chèn vào đoạn phim.

- Chèn phim vào Timeline

Phần quản lý thư viện phim.

Phần quản lý thư viện hiệu ứng chèn vào giữa các đoạn phim Phần quản lý thư viện văn bản chèn vào phim

Phần quản lý thư viện hình ảnh.

Phần quản lý thư viện hiệu ứng cho phim Phần quản lý thư viện nhạc, âm thanh chèn vào phim

Theo dõi kênh phim

Theo dõi kênh phim overlay Theo dõi kênh văn bản Theo dõi kênh tiếng nói Theo dõi kênh nhạc

Trang 29

o Chọn thư viện phim

o Chọn nút Add để thêm phim vào thư viện

o Kéo rê phim trong thư viện vào kênh phim trong khung timeline

- Chèn hiệu ứng chuyển cảnh giữa 2 đoạn phim

- Chèn văn bản vào đoạn phim

Thêm phim vào thư viện Thư viện phim

Nhấp đôi vào

chữ để soạn thảo

Trang 30

- Chèn nhạc vào phim

- Chèn tiếng nói vào phim

- Xuất bản phim

o Chọn nút Share

o Chọn lệnh Create Video File

Chọn Record voice over để ghi âm tiếng nói

Chèn file âm thanh vào thư viện Chèn file nhạc vào kênh nhạc

Trang 31

o Chọn loại phim sẽ được xuất bản (MPEG4, FLV, DVD…)

1.4.3.3 Giới thiệu chương trình Adobe Flash Professional CS5

Flash là một phần mềm cho phép người thiết kế và người phát triển ứngdụng dùng để tạo ra các bài trình bày (presentation), ứng dụng trên máy tínhhoặc những ứng dụng khác có tính tương tác Các dự án Flash bao gồm hoạthình, video, các trình diễn phức tạp, các ứng dụng … Chúng ta có thể tạo ứngdụng Flash với nhiều phương tiện như hình ảnh, âm thanh, video và các hiệuứng đặc biệt

Flash là công cụ tuyệt vời để tạo ra các sản phẩm được phân phối trêninternet bởi vì dung lượng của nó rất nhẹ Flash sử dụng đồ họa vectơ, chiếm

ít bộ nhớ và không gian lưu trữ hơn đồ họa bitmap Đồ họa vectơ được hìnhthành dựa trên các công thức toán học thay vì các tập tin dữ liệu lớn

Với các đặc điểm của Flash, chúng ta có thể tạo ra các ứng dụng đadạng như :

 Hoạt hình (Animation): bao gồm các baner quảng cáo động, thiệp

Trang 32

mừng, hoạt hình… hoạt hình là thành phần có trong hầu hết các ứng dụng củaFlash.

 Trò chơi (game): có khá nhiều trò chơi được tạo dựng với Flash Cáctrò chơi thường kết hợp khả năng hoạt hình của Flash và với khả năng lậptrình của ActionScript

 Giao diện người dùng : Flash thường dùng để thiết kế giao diệntrang web sinh động, đẹp mắt

Với công cụ soạn thảo mã kịch bản cải tiến (giao diện đồ họa), giaodiện thư viện được chỉnh sửa, đặc điểm Undo mới, các hiệu ứng hình ảnh kèmtheo, khả năng đồ họa chuyển động có tính đột phá… Macromedia Flash 8.0thực sự hấp dẫn và thu hút các nhà thiết kế web và các nhà làm chương trìnhứng dụng

Flash gồm có 4 yếu tố cơ bản :

 Stage : vùng hiển thị, nơi mà bạn đặt hình ảnh, video, hoặc những gì

mà bạn muốn hiển thị suốt quá trình chạy ứng dụng

 Timeline : Khung thời gian, chỉ định khi nào thì hình ảnh và cácthành phần được xuất hiện Bạn có thể dùng Timeline để sắp xếp thứ bậc củacác đối tượng, đối tượng nào ở layer trên cùng sẽ nằm trên

 Library : Nơi hiển thị các đối tượng có trong dự án

 Actionscript : Cho phép bạn tăng thêm tính tương tác cho các thànhphần trong dự án, ví dụ bạn có thể quy định hình ảnh sẽ hiển thị khi bạn clickvào 1 nút bấm

a Cửa sổ làm việc của Flash

Trang 33

b Cửa sổ viết code (mã) :

Ngôn ngữ lập trình trong Flash là ActionScript (AS), với các lệnh saikhiến Flash movie làm việc theo đúng những gì chúng ta viết Phần nhiều ASchỉ làm việc trong môi trường của Flash, tuy nhiên AS cũng có thể gởi lệnhcho trình duyệt web, hệ điều hành v.v Script có thể ngắn gọn vài chữ nhưngcũng có thể dài vài trăm trang Script có thể được viết gộp lại một chỗ haycũng có thể viết rải rác khắp nơi trong movie

AS rất giống ngôn ngữ C++, Java, Javascrip v.v và được dựa trên tiêuchuẩn do ECMA (European Computer Manufactures Association) lập ra gọi

là ECMAScript Nhiều người hiểu nhầm rằng AS dựa trên Javascript, nhưngthực chất cả 2 đều dựa trên ECMAScript

Mục đích chính của AS là thay đổi thứ tự trong cách chơi của Flash

AS có thể dừng ở bất cứ frame nào, hay trở lại frame trước, hay nhảy vài trăm

Trang 34

frame rồi chơi tiếp Nhưng đó không chỉ là những gì mà AS có thể làm được.

AS có thể biến phim của Flash thành một chương trình ứng dụng có sự tươngtác cho người dùng Dưới đây là những điều cơ bản mà AS có thể làm :

 Hoạt hình : AS có thể tạo các hoạt hình phức tạp Nếu không có ASchúng ta phải dùng đến cả hàng ngàn frame để thực hiện nhưng với AS chỉcần một frame là đủ

 Navigation : thay vì movie chỉ chơi ở từng frame theo thứ tự thì bạn

có thể dừng movie ở bất cứ frame nào và cho phép người dùng có thể chơi ởbất cứ frame nào v.v

 Thu thập thông tin từ người dùng (user input) bạn có thể dùng AS đểhỏi người dùng một câu hỏi rồi dùng thông tin đó trong movie hay có thể gởicho server và lấy thông tin từ server hay textfile

 Tính toán : AS có thể làm bất cứ phép tính nào mà toán học chophép

 Thay đổi hình ảnh trong movie : AS có thể thay đổi kích thước, màusắc, vị trí của bất kì movie clip nào trong movie flash của bạn

 Phân tích môi trường của máy tính : Với AS bạn có thể lấy giờ từ hệđiều hành hay địa chỉ đang chơi movie flash đó

 Điều khiển âm thanh trong flash movie : AS là cách tốt nhất để điềukhiển âm thanh trong Flash AS có thể chơi nhanh, chơi chậm, chơi nhanh,ngừng, quay vòng v.v bất kì âm thanh nào trong flash

 Điều quan trọng nhất mà AS có thể làm cho chúng ta là những điều

mà chưa ai nghĩ tới Với AS, trí tưởng tượng và sự sáng tạo của chúng ta thìkhông có gì là không có thể xảy ra

Trang 35

1.5 Kết luận Chương 1

Văn miêu tả là một thể loại được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trongphân môn TLV ở Tiểu học Đây là một phân môn có tính chất thực hành toàndiện, tổng hợp và sáng tạo Thông qua việc luyện viết VMT, HS rèn luyệnnhiều kĩ năng như: phân tích đề, kĩ năng quan sát thực hành tìm ý, lựa chọn ý,

kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn,… qua đógóp phần rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ, trí tưởng tượng, sự liên tưởngcho các em Bên cạnh đó, VMT giúp HS hình thành nhân cách, cảm nhậnđược vẻ đẹp của cuộc sống xung quanh

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học TLV nói chung vàphân môn VMT nói riêng là một trong những xu hướng đổi mới phương phápdạy học hiện nay Thông qua những bài giảng điện tử trong các tiết học VMT,

HS được tăng cường kĩ năng quan sát, cảm nhận những hình ảnh, âm thanhsống động của các đối tượng miêu tả Tuy nhiên, do những nguyên nhânkhách quan và chủ quan, GV còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và

xử lý tư liệu về các đối tượng miêu tả Vì vậy, việc thiết kế một thư viện điện

tử chứa đầy đủ các tư liệu hình ảnh, âm thanh, đoạn phim, những trò chơiđiện tử mở rộng vốn từ cho HS cùng với các trích đoạn trong các tác phẩmvăn học dành cho thiếu nhi bám sát nội dung bài học trong chương trìnhVMT lớp 4, 5 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học VMT là điều cần thiết

Trang 36

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Để nắm được thực trạng của việc dạy học văn miêu tả cho HS lớp 4,5chúng tôi đã tiến hành khảo sát 159 GV lớp 4, 5 (80 GV lớp 4, 79 GV lớp 5)

và 561 HS tại 17 trường tiểu học trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh thông qua cáchình thức dự giờ, điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp

+ Trường tiểu học Trần Hưng Đạo

+ Trường tiểu học An Phú

+ Trường tiểu học Phan Văn Hân

+ Trường tiểu học Đoàn Thị Điểm

+Trường tiểu học Chính Nghĩa

+ Trường tiểu học Phú Định

+ Trường tiểu học Nam Sài Gòn

+ Trường tiểu học Trần Nguyên Hãn

+Trường tiểu học Nguyễn Minh Quang

+ Trường tiểu học Thiên Hộ Dương

+ Trường tiểu học Nguyễn Khuyến

+ Trường tiểu học Saigon Pearl

+ Trường tiểu học Thiên Hộ Dương

Trang 37

+ Trường tiểu học Cách Mạng Tháng 8

+ Trường tiểu học Canada

+ Trường tiểu học Tân Tiến

+ Trường tiểu học Xuân Thới Thượng

2.1.3 Nội dung nghiên cứu thực trạng

Thực trạng học VMT của HS tiểu học ở TPHCM

Thực trạng dạy VMT của GV tiểu học ở TPHCM

2.1.4 Các phương pháp nghiên cứu thực trạng

Điều tra bằng phiếu điều tra anket : thăm dò ý kiến, thu thập thông tin

về thực trạng dạy học văn miêu tả và thực trạng về các biện pháp đã sử dụng

để nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho học sinh tiểu học ở TPHCM.(Mẫu phiếu điều tra có ở phần phụ lục)

Phỏng vấn: được tiến hành đối với giáo viên tiểu học đang trực tiếpgiảng dạy thuộc địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Thống kê toán học: Dùng để xử lí kết quả điều tra, nghiên cứu từ cácphương pháp trên

Trang 38

Mức tốt : HS biết cách quan sát và ghi chép lại những gì đã quan sátđược Những chi tiết các em quan sát thể hiện được đặc điểm nổi bật của đốitượng miêu tả

b/ Vốn từ HS sử dụng để viết một bài văn miêu tả

Mức rất ít : HS không có vốn từ để miêu tả, chỉ sử dụng ngôn ngữ nóikhi làm bài

Mức bình thường : HS có vốn từ để miêu tả Tuy nhiên, vốn từ chưađặc sắc, rất ít những từ gợi âm thanh, gợi hình ảnh

Mức phong phú : Vốn từ ngữ miêu tả đa dạng, nhiều từ gợi âm thanh,gợi hình ảnh

c/ Khả năng diễn đạt của HS

Mức rất yếu : HS diễn đạt lủng củng, các ý rời rạc

Mức bình thường : HS diễn đạt thường mang tính liệt kê, chưa đi sâuvào đối tượng miêu tả, còn đôi chỗ diễn đạt không hợp logic

Mức tốt : HS diễn đạt lưu loát, các ý phong phú, câu văn có hình ảnh,cảm xúc

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng

2.2.1 Nội dung dạy học Văn miêu tả ở lớp 4, 5

Trong chương trình TLV ở lớp 4-5, VMT được chia thành nhiều kiểubài căn cứ vào đối tượng miêu tả như miêu tả đồ vật, miêu tả người, miêu tảcon vật, miêu tả cây cối Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉnghiên cứu thể loại văn miêu tả cây cối và văn tả cảnh

So với lớp 2 và 3, chương trình VMT ở lớp 4 và 5 có nội dung rộnghơn và nâng cao hơn Từ những kỹ năng đã đạt được thông qua những dạngbài tập cơ bản bước đầu rèn luyện kĩ năng viết VMT ở các lớp 2 và 3, HSđược rèn luyện sâu hơn, biết phối hợp, vận dụng thành thục các kĩ năng đó để

Trang 39

viết được một bài VMT hoàn chỉnh Tuỳ vào đối tượng miêu tả, mỗi kiểu bàiđược phân bố với số tiết tương ứng :

Kiểu bài tả cây cối gồm 11 tiết ở lớp 4 và 3 tiết ở lớp 5

Kiểu bài tả cảnh gồm 18 tiết ở lớp 5

Mỗi kiểu bài VMT ở lớp 4, 5 được cụ thể hóa chủ yếu qua hai loại bàihọc: loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành Loại bàihình thành kiến thức được dạy trong một tiết, với cấu trúc theo ba phần: nhậnxét, ghi nhớ, luyện tập, nhằm trang bị cho HS một số hiểu biết ban đầu vềnhững đặc điểm chính của VMT như: Thế nào là miêu tả, QS trong VMT, cấutạo bài VMT (mở bài, thân bài, kết bài), đoạn văn trong bài VMT… Loại bàiluyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện cho HS các kĩ nănglàm VMT: kĩ năng QS, lập dàn ý, viết đoạn văn, bài văn theo dàn ý đã lập Nội dung luyện tập thường gồm 2 đến 4 bài tập nhỏ hoặc một đề bài TLVkèm theo gợi ý thực hành luyện tập

Chúng tôi xin được tóm tắt các kiểu bài Văn miêu tả nêu trên cũng nhưnội dung các bài học tương ứng và mức độ yêu cầu của từng dạng bài thôngqua bảng sau:

Tuần 21 Cấu tạo bài văn

miêu tả cây cối

Nằm được cấu tạo 3 phần ( mở bài, thânbài, kết bài) của một bài văn tả cây cốiBiết lập dàn ý miêu tả một cây ăn quả quenthuộc theo 1 trong 2 cách đã học ( tả lầnlượt từng bộ phận của cây, tả lần lượt từngthời kì phát triển của cây)

Trang 40

TUẦN TÊN BÀI MỤC TIÊU

Tuần 22

Luyện tập quansát cây cối

Biết quan sát cây cối, trình tự quan sát, kếthợp các giác quan khi quan sát Nhận ra sựgiống nhau và khác nhau giữa miêu tả mộtloài cây với miêu tả một cái cây

Từ những hiểu biết trên, tập quan sát, ghilại kết quả quan sát một cái cây cụ thể

Luyện tập miêu

tả các bộ phậncủa cây cối

Thấy được những đặc điểm đặc sắc trongcách quan sát và miêu tả các bộ phận củacây cối (lá, thân, gốc cây) ở một số đoạnvăn mẫu

Viết được một đoạn văn miêu tả lá (hoặcthân, ốc) của cây

Tuần 23

Luyện tập miêu

tả các bộ phậncủa cây cối

Thấy được những điểm đặc sắc trong cáchquan sát và miêu tả các bộ phận của cây cối(hoa, quả) trong những đoạn văn mẫu.Viết được một đoạn văn miêu tả hoa hoặcquả

Ngày đăng: 15/12/2015, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển GV tiểu học (2005), Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển GV tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo(2006), SGK Tiếng Việt 4, tập 2, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 4, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), SGK Tiếng Việt 5, tập 1, NXB Giáo dục,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 5, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Tô Hoài (1997), Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả, NXB Giáo dục,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
5. Bùi Văn Huệ (1997), Giáo trình tâm lý học tiểu học, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
6. Vũ Tú Nam – Phạm Hổ - Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng (1999), Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và kể chuyện
Tác giả: Vũ Tú Nam – Phạm Hổ - Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
7. GS.TS. Lê Phương Nga – GS.TS. Nguyễn Trí (2006), Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, NXB Đại học sư phạm, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2
Tác giả: GS.TS. Lê Phương Nga – GS.TS. Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006
8. Bùi Loan Thuỳ (2001), Thư viện học đại cương, NXB Đại học quốc gia, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện học đại cương
Tác giả: Bùi Loan Thuỳ
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2001
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên 2005), Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 4, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 4
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên 2006), Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 5
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Trí (1998), Văn miêu tả và phương pháp dạy Văn miêu tả ở tiểu học, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn miêu tả và phương pháp dạy Văn miêu tả ở tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
12. Nguyễn Trí (2003), Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy Tập làm văn ở trường Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
13. Vũ Khắc Tuân (2000), Luyện viết văn miêu tả ở Tiểu học, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện viết văn miêu tả ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Khắc Tuân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
1. Lê Minh Hoàng (chủ biên 2006), Thiết kế trò chơi với Flash (Tin học đời sống), NXB Phương Đông, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế trò chơi với Flash
Nhà XB: NXB Phương Đông
2. Nguyễn Tấn Minh (2004), Những thủ thuật xử lý ảnh Adobe Photoshop CS Version 8.0, NXB Thanh niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thủ thuật xử lý ảnh Adobe Photoshop CS Version 8.0
Tác giả: Nguyễn Tấn Minh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2004
3. Nguyễn Trường Sinh (chủ biên 2006), Macromedia Flash 8, tập 1 và 2, NXB Thống kê, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macromedia Flash 8, tập 1 và 2
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Nguyễn Trường Sinh – Hoàng Đức Hải – Lê Minh Hoàng (2006), Lập trình Action Script cho Flash, NXB Lao Động – Xã Hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập trình Action Script cho Flash
Tác giả: Nguyễn Trường Sinh – Hoàng Đức Hải – Lê Minh Hoàng
Nhà XB: NXB Lao Động – Xã Hội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kỹ năng  quan sát – tìm ý trong bài VMT là một trong những - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.1 Kỹ năng quan sát – tìm ý trong bài VMT là một trong những (Trang 48)
Bảng 2.2: Thực trạng về vốn sống, vốn kiến thức của HS lớp 4,5  ở   TPHCM khi làm văn miêu tả - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.2 Thực trạng về vốn sống, vốn kiến thức của HS lớp 4,5 ở TPHCM khi làm văn miêu tả (Trang 50)
Bảng 2.2: cho thấy hầu hết HS (64,78%) cho rằng các đối tượng miêu - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.2 cho thấy hầu hết HS (64,78%) cho rằng các đối tượng miêu (Trang 51)
Bảng 2. 3: Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của VMT và sử dụng   công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy VMT ở tiểu học - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2. 3: Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của VMT và sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong dạy VMT ở tiểu học (Trang 54)
Bảng 2.3 cho thấy hầu hết các GV đều nắm được khái niệm về VMT  (chiếm tỉ lệ 65,95%). Tuy nhiên, vẫn còn một số ít các GV vẫn chưa nắm  được - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.3 cho thấy hầu hết các GV đều nắm được khái niệm về VMT (chiếm tỉ lệ 65,95%). Tuy nhiên, vẫn còn một số ít các GV vẫn chưa nắm được (Trang 55)
Bảng 2.4: Thực trạng dạy VMT ở lớp 4,5 - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.4 Thực trạng dạy VMT ở lớp 4,5 (Trang 57)
Bảng 2.5 cho thấy: tỉ lệ GV thỉnh thoảng sử dụng CNTT vào các tiết  dạy VMT là 65%, ở mức độ thường xuyên là 35%, một tỉ lệ tương đối thấp - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 2.5 cho thấy: tỉ lệ GV thỉnh thoảng sử dụng CNTT vào các tiết dạy VMT là 65%, ở mức độ thường xuyên là 35%, một tỉ lệ tương đối thấp (Trang 60)
Hình ảnh Đoạn phim - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
nh ảnh Đoạn phim (Trang 78)
Bảng 3.3 : Mức độ hứng thú học tập của HS đối với bài học - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 3.3 Mức độ hứng thú học tập của HS đối với bài học (Trang 98)
Bảng 3.4 : Mức độ chú ý của HS trong tiết học - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 3.4 Mức độ chú ý của HS trong tiết học (Trang 99)
Bảng 3.5 : Mức độ hoạt động học tập của HS trong tiết học - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 3.5 Mức độ hoạt động học tập của HS trong tiết học (Trang 100)
Bảng 3.6 cũng cho thấy 100% GV đánh giá trang web Thư viện điện tử - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
Bảng 3.6 cũng cho thấy 100% GV đánh giá trang web Thư viện điện tử (Trang 103)
Hình ảnh so sánh (quả lớn, quả bé vui mắt như đàn - Thiết kế thư viện điện tử hỗ trợ việc dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5
nh ảnh so sánh (quả lớn, quả bé vui mắt như đàn (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w