1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

86 549 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÝ THỊ HÀNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC

VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4,5

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

LÝ THỊ HÀNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC

VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4,5

CHUYÊN NGHÀNH: PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS Khổng Cát Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo - Thạc sĩ Khổng Cát Sơn, giảng viên khoa Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Tây Bắc người đã hướng dẫn và giúp đỡ em tận tình trong suốt quá trình thực hiện khoá luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới phòng NCKH và QHQT, phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Tiểu học - Mầm non, các bạn sinh viên lớp K53 ĐHGD Tiểu học A đã động viên khuyến khích và tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận

Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các em học sinh ở một số trường Tiểu học và gia đình đã quan tâm, động viên giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2016

Người thực hiện

Lý Thị Hành

Trang 4

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách Giáo viên NXB : Nhà xuất bản

VD : Ví dụ TLV : Tậplàm văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Giả thiết khoa học 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

8 Cấu trúc của đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 6

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4, 5 với việc dạy học văn miêu tả 10

1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Văn miêu tả trong trường tiểu học 11

1.2.2 Thực trạng về việc làm văn miêu tả của giáo viên, học sinh ở một số trường tiểu học 13

1.3 Cấu trúc chương trình TLV lớp 4, 5 19

TIỂU KẾT 22

CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 23

2.1 Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh 23

2.2 Rèn kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý 26

2.2.1 Tìm hiểu đề 26

2.2.2 Kỹ năng lập dàn ý 29

2.3 Tăng cường củng cố tri thức giúp HS tích luỹ vốn từ, câu, đoạn 33

Trang 6

2.3.1 tăng cường củng cố tri thức lí thuyết về từ 33

2.3.2 Mở rộng vốn từ cho học sinh 35

2.3.3 Rèn cho học sinh biết cách sử dụng vốn từ trong văn miêu tả 37

2.3.4 Tăng cường củng cố lý thuyết về câu trong văn miêu tả 38

2.3.5 Rèn cho học sinh biết cách sử dụng vốn câu trong văn miêu tả 40

2.3.6 Tăng cường củng cố tri thức lý thuyết về đoạn trong văn miêu tả 42

2.3.7 Rèn cho HS biết cách viết đoạn văn trong văn miêu tả 44

2.4 Rèn cho HS biết cách sử dụng các phương tiện diễn cảm và biện pháp tu từ 45

2.4.1 So sánh 45

2.4.2 Điệp từ, điệp ngữ 48

2.4.3 Ẩn dụ (còn gọi là ví ngầm) 49

2.4.4 Hoán dụ 50

2.5 Rèn kĩ năng phát hiện và sửa lỗi 51

TIỂU KẾT 52

CHƯƠNG 3 : THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM 53

3.1 Mục đích thể nghiệm 53

3.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thực nghiệm 53

3.3 Phương pháp thực nghiệm 53

3.4 Nội dung thực nghiệm và tiêu chí đánh giá 54

3.4.1 Nội dung thực nghiệm 54

3.4.2 Tiêu chí đánh giá 55

3.5 Kết quả thực nghiệm 55

TIỂU KẾT 60

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa, con người đã biết dùng miêu tả trong thể hiện những sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày Sự miêu tả đó thường thấy ở những hình vẽ, những bản trường ca, tiểu thuyết, áng văn… Đây là những tác phẩm được đúc kết từ kinh nghiệm sống của các hoạ sĩ, nhà văn, nhà thơ,… những người có cảm nhận sâu sắc

về cuộc sống Bằng nhiều biện pháp, cách thức, họ đã truyền tải đến người đọc, người nghe những bức tranh sinh động đầy mầu sắc của sự vật hiện tượng

Trẻ em chưa thể vẽ được những bức vẽ hoàn thiện Các em chỉ biết dùng lời nói, câu văn để viết lại những điều mà các em đã quan sát, nhận xét sự vật dưới cái nhìn của trẻ con Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính Việc dạy văn miêu tả cho trẻ Tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng mối quan

hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ của trẻ… Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô

Viết đã cho rằng: “Việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu

tả cảnh vật nhìn thấy,nghe thấy… là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục các em phát triển ngôn ngữ ” Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện đẻ

tạo nên sự thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân cách của một con người có ích cho xã hội

Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong chương trình TLV Tiểu học lớp 4,5 Nó góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS Tiểu học Học văn miêu tả, HS được rèn kỹ năng viết văn miêu tả găn liền với quá trình tạo lập văn bản như: tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt thành bài văn miêu tả Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lý lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận… góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh.Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá…Vì vậy chương trình TLV lớp 4, lớp 5 dành hơn 50% thời lượng để dạy văn miêu tả Trong

Trang 8

chương trình, HS được rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả gắn liền với quá trình tạo lập như tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt thành đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh Trong đó kỹ năng viết đoạn là quan trọng nhất Kỹ năng viết của HS được rèn luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh Thông qua kỹ năng viết đoạn, học sinh biết cách xây dựng một bài văn hoàn chỉnh chặt chẽ về ý cũng như cấu trúc ngữ pháp

Thế nhưng trên thực tế việc dạy và học viết văn miêu tả còn nhiều hạn chế Nguyên nhân chủ yếu là do việc rèn kỹ năng viết bài văn miêu tả chưa đầy

đủ, còn nhiều khiếm khuyết GV chưa hướng dẫn HS xây dựng bài đi theo một quy trình cụ thể, đảm bảo tính khoa học.Việc hướng dẫn học sinh rèn kỹ năng viết văn miêu tả phần lớn đều dựa vào kinh nghiệm giảng dạy của mỗi giáo viên Đồng thời bản thân HS còn gặp nhiều khó khăn về kiến thức lẫn kỹ năng viết một bài văn miêu tả Vì vậy bài văn của học sinh còn mang tính chất liệt kê, lời văn lủng củng thiếu ý hay sắp xếp ý một cách lộn xộn, chưa có sự liên kết giữa các ý và các câu, chưa có bố cục rõ ràng… Làm thế nào để viết được bài văn vừa phù hợp về nội dung vừa đảm bảo về mặt hình thức? Cách viết một bài văn miêu tả theo kết câí như thế nào? Cách viết phần mở bài, thân bài, kết bài? Cách chuyển dàn ý thành một bài văn miêu tả hoàn chỉnh… Đây chính là những nguyên nhân chủ yếu làm cho bài văn miêu tả trở nên lạc ý, thiếu ý, lặp ý, bị đứt mạch do lỗi sử dụng các phương tiện liên kết Làm cho những tiết TLV rèn kỹ năng làm văn miêu tả trở nên căng thẳng, khô khan, thiếu cảm xúc đã làm mất

đi sự hứng thú trong học tập, sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú của các

em học sinh

Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Phân môn TLV được chia thành nhiều kiểu bài khác nhau, mỗi kiểu bài có

vị trí và vai trò nhất định trong việc cung cấp kiến thức cho học sinh Đối với phân môn TLV ở tiểu học, văn miêu tả có vị trí đặc biệt quan trọng Thực tế

Trang 9

kỹ năng làm văn, trong đó có văn miêu tả, để nâng cao chất lượng bài văn cho học sinh

Trong các tài liệu Bồi dưỡng giáo viên (NXB GD - 2004, 2005, 2006), đã

đề cập đén một số yêu cầu cơ bản về kiến thức, kỹ năng mà HS cần phải nắm được trong phân môn TLV Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học TLV theo nội dung khá đa dạng và phong phú cho GV tiểu học

Cuốn Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt (giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học

hệ cao đẳng sư phạm và sư phạm 12/12) của Tác giả Đào Ngọc - Nguyễn Quang Ninh đã đưa ra cách cảm thụ văn bản cho HS

Cuốn Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học(tài liệu đào tạo giáo viên

- 2007 của Bộ GD và ĐT), dự án phát triển GV tiểu học đã tổ chức biên soạn các môđun đào tạo giáo dục trong đó có nêu ra các phương pháp dạy học cũng như quy trình dạy học phân môn TLV theo chương trình SGK ở tiểu học

Cuốn Dạy văn cho học sinh tiểu học (NXB GD - 1997), tác giả Hoàng

Bình đã có những đề xuất giúp GV tiểu học hướng dẫn học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học

Cuốn Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học(NXB GD

- 1996), tác giả Nguyễn Trí đã đề cập đến cách dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học

Cuốn Dạy văn cho học sinh tiểu học (NXB GD - 1997) tác giả Hoàng Hoà Bình Cuốn Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả (NXB GD - 1998) tác giả Tô Hoài

Trong các tài liệu trên đây, các tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy học phân môn TLV trên phương diện vị trí, nhiệm vụ, nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung và văn miêu tả nói riêng nhưng chưa đi sâu nghiên cứu việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả ở một khối lớp cụ thể

Những công trình nghiên cứu là những tiền lí luận quan trọng để tôi lựa

chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5” làm vấn đề nghiên cứu

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Phân môn TLV là phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học, song chất lượng dạy - học văn chưa cao, biểu hiện cụ thể đó là tình trạng viết văn khô khan, kém hấp dẫn

Từ việc tìm hiểu cơ sở lí luận và thực trạng của việc rèn luyện kỹ năng viết bài văn miêu tả ở tiểu học, khoá luận của tôi mong đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,5

Nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài hướng tới là:

- Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy- học văn miêu tả lớp 4,5

- Thực trạng dạy- học văn miêu tả ở lớp 4,5

- Một số biện pháp dạy học văn miêu tả lớp 4,5

4 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp

- Các biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4,

5 nằm trong chương trình Tiểu học

- 94 học sinh khối lớp 4, 5 thuộc trường Tiểu học Kiên Lao – Lục Ngạn –

Bắc Giang

- 15 giáo viên thuộc trường Tiểu học Kiên Lao – Lục Ngạn – Bắc Giang

- Các dạng văn miêu tả ở lớp 4: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật

- Các dạng văn miêu tả ở lớp 5: tả cảnh và tả người

6 Giả thiết khoa học

Tìm hiểu biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 là một vấn đề còn nhiều khó khăn được GV tiểu học quan tâm Nếu các biện pháp

Trang 11

làm văn miêu tả cho HS lớp 4,5 nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt nói chung Đề tài mong muốn sẽ là tài liệu cho sinh viên khoa Tiểu học- Mầm non trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp

vụ sư phạm

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Về việc nghiên nội dung viết văn miêu tả ở một số tài liệu có liên quan

7.2 Phương pháp điều tra

- Được tiến hành dưới các hình thức:

+ Dùng phiếu điều tra

+ Trao đổi trực tiếp với GV và HS

+ Dự giờ tiết dạy văn ở trường tiểu học để tìm các hình thức và phương pháp dạy học của GV

7.3 Phương pháp phân tích thống kê

Tổng hợp các số liệu điều tra từ thực tế để phân tích, làm cơ sở thực tiễn cho việu đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho HS lớp 4,5

7.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Từ các biện pháp đã đề xuất tiến hành thực nghiệm ở một số trường tiểu học

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

Chương 3: Thể nghiệm sư phạm

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Văn miêu tả

Theo Đào Duy Anh trong hán việt từ điển thì miêu tả là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện chân tướng sự vật” Trong hội hoạ, các hoạ sĩ thường dùng đến những đường nét, mầu sắc để miêu tả sự vật, hiện tượng khiến các bức tranh trông y thật Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng mầu sắc, đường nét,hội hoạ Dùng ngôn ngữ văn chương có thể miêu tả sự vật trong một quá trình vận động ; có thể tả được những thứ vô hình như âm thanh, tiếng động, hương vị… hay tư tưởng thầm kín của con người Vì vậy, trong văn miêu tả, người ta không đưa ra một lời nhận xét chung chung hay những đánh giá trừu tượng về một sự vật đại loại như cái xe này xấu, cái bánh kia ngon… Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Nhờ có văn miêu tả, con người có thể lạc vào thế giới của những cảm xúc, những âm thanh, tiếng động,hương vị của những cánh đồng, khu rừng, làng quê…, thấy rõ tư tưởng, tình cảm của mỗi con người, mỗi sự vật Đó là sự kết tinh các nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm được khi quan sát cuộc sống

Dưới cánh bay của chú chuồn chuồn nước xinh xắn, chúng ta hãy cùng ngắm nhìn vẻ đẹp thanh bình của đất nước qua ngòi bút của nhà văn Nguyễn Thế Hội : “Rồi đột nhiên, chú chuồn chuồn nước tung cánh bay vọt lên Cái bóng chú nhỏ xíu lướt nhanh trên mặt hồ Mặt hồ trải rộng mênh mông và lặng sóng Chú bay lên cao hơn và xa hơn Dưới tầm cánh chú bây giờ là luỹ tre xanh

rì rào trong gió, là bờ ao với những khóm khoai nước rung rinh Rồi những cảnh tuyệt đẹp của đất nước hiện ra : cánh đồng với những đàn trâu thung thăng gặm cỏ; dòng sông với những đoàn thuyền ngược xuôi Còn trên tầm cao kia là đàn

cò đang bay, là trời xanh và cao vút…”

Trang 13

Với cách miêu tả linh hoạt, tránh sự đơn điệu, tác giả đã lấy cái tĩnh tại của hồ nước mênh mông và lặng sóng, của luỹ tre xanh rì rào, của bờ ao, khóm khoai nước, dòng sông, đàn trâu… để tả cái đang chuyển động là chú chuồn chuồn nước đang bay Do đó dù không tả cách vỗ cánh, không tả động tác thân, mình, đầu của chú khi bay, tác giả vẫn gợi cho người đọc tưởng tượng ra hình ảnh thanh thản, nhẹ nhàng trong dáng bay của chú chuồn chuồn nước ; gợi cho người đọc thấy được vẻ đẹp của cuộc sống thanh bình, hoà hợp giữa chú chuồn chuồn nước và cảnh vật xung quanh

Tóm lại “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra hay vẽ ra trước mắt người đọc hoặc người nghe bức tranh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, loài vật…)đã làm cho ta chú ý và cảm xúc sâu sắc”

1.1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả

a Văn miêu tả là một bài văn mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết

Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu

tả trong văn miêu tả, sự vất và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu “chụp ảnh” hay sao chép một cách mấy móc, khô cứng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú Nó thể hiện cái nhìn, cái quan sát, cách cảm nhận mới mẻ của người viết với đối tượng miêu tả Cái mới, cái riêng bắt đầu có thể chỉ là những quan sát và kết quả của sự quan sát, sau đó tiến lên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư tưởng, tình cảm đối với đối tượng miêu tả Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có cái nhìn, cách cảm nhận, ý nghĩa, cảm xúc khác nhau Vì vậy văn miêu tả bao giờ cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết Đây chính là điểm khác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học - thường mang tính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn

Trong đời sống, chúng ta bắt gặp rất nhiều đối tượng là sự vật, sự việc, hiện tượng, con người… khác nhau Nhưng đều có thể trở thành đối tượng trong văn miêu tả Chẳng hạn như cây bàng trong sân trường, con đường hàng ngày dẫn ta đến lớp hay người bạn thân thiết đang cùng ta đêm ngày học tập… Mỗi đối

Trang 14

tượng này đều có những nét khác nhau nhất định trong văn miêu tả Nhưng không có nghĩa bất kỳ sự vật nào trong thực tế cũng trở thành đối tượng của văn miêu tả Văn miêu tả phải là loại văn giàu cảm xúc, giàu những rung động mạnh

mẽ của tâm hồn người viết

b Văn miêu tả mang tính chân thực, sinh động, tạo hình

Đây là đặc điểm quan trọng của văn miêu tả Một bài văn miêu tả được coi

là sinh động, tạo hình khi các sự vật, hiện tượng, con người hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống hiện thực, người ta có thể cầm, nắm, nhìn, ngắm, hoặc “sờ mó” được chúng M.Gorki có lần đã nói lên sự khâm phục của mình trước những trang miêu tả thần diệu của Ban - dắc trong tác phẩm Miếng

da lừa : “Tôi thực sự kinh ngạc khi đọc những trang tả bữa tiệc ở nhà ông chủ nhà băng trong tiểu thuyết Miếng da lừa của Bandắc Ở đó có đến vài chục người cùng nói, tạo nên cảnh ồn ào hỗn độn và tôi tưởng như nghe thấy những

âm thanh phức tạp ấy Nhưng cái chính là tôi không cchỉ nghe thấy mà còn trông thấy ai nói như thế nào Tôi thấy con mắt, nụ cười điệu bộ của họ mặc dù Bandắc không tả hình dáng các vị khách của ông chủ nhà băng.”

Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản cái mới mẻ của người viết Nhưng như vậy không có nghĩa văn miêu tả cho phép người viết bịa một cách tuỳ tiện, muốn nói sao thì nói, viết sao thì viết

Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chân thực Thấy đúng như thế nào thì tả như vậy Không thể thấy con mèo rất nhỏ mà lại tả to như con

hổ mẹ được

Văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Bởi vì trong văn miêu tả, người ta không đưa ra những nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật mà phải làm cho người ta thấy rõ đối tượng như đang xem tận mắt, bắt tận tay

Văn miêu tả có tính sinh động và tạo hình Nét sinh động và tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng nhưng khi tước bỏ chúng đi bài văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị Đọc lại bài văn “tưởng như bắt gặp nụ cười nhợt

Trang 15

Trong miêu tả người ta thường hay so sánh Có lúc người ta so sánh người

với người: “Cô giáo có dáng người mềm mại, thanh thoát như một diễn viên múa” hay “bạn ấy hát chẳng khác nào một ca sĩ chuyên nghiệp”… hoặc người

ta có thể so sánh người với vật: “Trông anh ta như một con gấu, dáng vẻ ngơ ngác như một con nai”…

Ngoài ra trong văn miêu tả người ta còn sử dụng biện pháp nhân hoá, có khi

vừa nhân hoá kết hợp so sánh cho bài văn sinh đông: “Như để khoe hết vẻ đẹpcủa mình những bông hoa từ từ hé nở để lộ nhuỵ hoa vàng toả hương thơm ngát khiến ong bướm về đây hội tụ…”

Có thể nói miêu tả giỏi là khi đọc những gì chúng ta viết, người đọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, một con vật, một dòng sông Người đọc còn nghe thấy được tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí con ngửi thấy mùi mồ hôi, mùi sữa, mùi hương, hay mùi rêu, mùi ẩm mốc,… nhưng đó chỉ là sự miêu tả bên ngoài Còn có sự miêu tả bên trong nữa, nghĩa là miêu tả về tâm trạng, vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật, cỏ cây…

Do đó, khi viết một bài văn miêu tả, người viết phải huy động, chọn lọc kiến thức về ngôn ngữ của mình để “tô diểm” cho người và sự vật làm cho chúng hiện lên qua từng trang miêu tả sống động như trong đời sống thực

c Ngôn ngữ văn miêu tả giàu hình ảnh, cảm xúc

Trong văn miêu tả, ngôn ngữ miêu tả là giai điệu chủ đạo Đặc điểm quan trọng của ngôn ngữ văn miêu tả là giàu cảm xúc và hình ảnh Ngôn ngữ văn miêu tả giàu các tính từ, danh từ, sử dụng phép nhân hoá, so sánh, ẩn dụ Sự phối hợp giữa các yếu tố trên làm cho ngôn ngữ miêu tả luôn toả sáng trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng, hình ảnh

về sự vật, đối tượng được miêu tả

Ngôn ngữ trong văn miêu tả là sự phong phú đa dạngcủa các tính từ Có thể thấy đủ loại tính từ : màu sắc, tính chất, đánh giá…đan xen nhau tạo thành

“những chùm sáng ngôn ngữ” trong văn miêu tả Và người viết còn đan xen giai điệuphụ trợ như: tường thuật, kể chuyện… làm cho việc trình bày nội dung sinh động hơn giúp người đọc hứng thú trong việc tiếp nhận văn bản

Trang 16

1.1.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 4, 5 với việc dạy học văn miêu tả

Học sinh lớp 4, 5 đã bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kích thước và tổ chức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi và đời sống của các em đang có những thay đổi rõ rệt Lưa tuổi này được gọi là lứa tuổi chuyển giao giữa trẻ con và người lớn Các em rất dễ xúc động Chính việc dâng cao cảm xúc đã làm các em thay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích, từ vẽ sang hình thức sáng tạo bằng lời nói So với vẽ và đặc biệt là những bức vẽ hoàn thiện thì lời nói cho phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những sự vận động logic, sự phức tạp của sự kiện

Lớp 4, 5 là giai đoạn mà các em chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lý tính, có mục đích Đối với HS lớp 4, 5 tư duy trực quan đã được hình thành và bắt đầu chuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát Tư duy các em

đã thay đổi về chất, biết tổng hợp các sự vật, hiện tượng, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm hơn so với các lớp đầu bậc học Các em đã có khả năng phân tích, khái quát, biết phê phán và kiến thức lĩnh hội không chỉ một chiều Ở lứa tuổi này, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cụ thể, trẻ tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo, phong phú tương đối phát triển, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ…Đặc biệt trí tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các cảm xúc, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng để gắn liền với các rung động tình cảm Các em có lòng say mê văn học, hứng thú với việc dùng câu văn của mình

để bộc lộ một sự vật, một hiện tượng nào đó, có tình cảm và sự gắn bó với những đồ vật, những loài vật và cây cối xung quanh Từ đó các em có nhu cầu bộc lộ cảm xúc trước những sự vật, sự việc mà bản thân mình tiếp xúc hàng ngày Hoạt động sáng tạo yêu thích của các em được thể hiện rõ trong làm văn Nếu được học theo một chương trình đúng, một phương pháp phù hợp thì các

em tuổi này rất thích học văn Loại bài viết đam mê của các em thuộc về chủ đề

tự do Có thể viết những xúc động từ trong lòng, được thả mình vào tưởng tượng, không ít học sinh đã là được những bài văn khá hoàn chỉnh và hấp dẫn

Trang 17

1.1.3 Ý nghĩa của việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

Trẻ em chưa thể vẽ được những bức tranh hoàn thiện Các em chỉ biết dùng lời nói, câu văn để viết lại một điều mình quan sát, nhận xét sự vật dưới cái nhìn của trẻ con Sự quan sát, nhận xét của các em còn thiên về cảm tính Việc dạy văn miêu tả cho trẻ tiểu học sẽ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và tạo nên sự quan tâm của trẻ với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là đối với thiên nhiên Góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ của trẻ Học văn miêu tả, học sinh có thêm điều kiện để tạo nên

sự thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội Lúc ấy trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân cách của một con người có ích cho xã hội

Miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng trong chương trình TLV tiểu học lớp 4, 5 Nó góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS tiểu học Học văn miêu tả, HS được rèn kỹ năng viết văn miêu tả gắn liền với quá trình tạo lập văn bản như: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, diễn đạt thành bài văn miêu tả Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận… góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, ẩn dụ…

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Văn miêu tả trong trường tiểu học

Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 4, 5

Trong chương trình TLV lớp 4, 5 học sinh được trang bị kiến thức cần thiết về văn miêu tả, về kỹ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Các kiến thức này được cung cấp qua các nội dung: cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả con người Ngoài ra nội dung chương trìnhTLV miêu tả lớp 4, 5 còn có thêm cả những kiến thức lý thuyết sơ

Trang 18

giản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phương pháp làm bài của từng kiểu văn miêu tả Chương trình nhấn mạnh yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn.Hs được học các viết đoạn văn với nhiều nội dung và các kiểu khác nhau ở một số dạng bài văn miêu tảnhững dối tượng quen thuộc,gần gũi với học sinh.Một số kĩ năng xây dựng đoạn văn thành thạo, học sinh sẽ chủ động, tự tin hơn khi xây dựng được một bài văn hoàn chỉnh

Văn miêu tả chiếm vị trí quan trọng trong chương trình tập làm văn lớp 4,

5 Ở lớp 4 số tiết học văn miêu tả là 30/62 tiết tập làm văn chiếm 48,38% (chưa

kể số tiết ôn tập và kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ) Ở lớp 5 số tiết học văn miêu tả là

45 tiết trong tổng số 62 tiết tập làm văn của cả năm học Ở hai lớp học này, HS được học là 5 kiểu bài: tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật, tả cảnh và tả người

Như vậy, mỗi bài kiểm tra đều được dành khá nhiều số tiết, nhằm giúp học sinh luyện tập và làm bài tốt hơn Nghĩa là, HS có đầy đủ kiến thức và kỹ năng làm được một bài văn miêu tả hay, sinh động, sáng tạo, giàu hình ảnh và cảm xúc Tất cả các tiết học đều có kỹ năng làm văn, có nghĩa là chương trình tập làm văn nói chung và văn miêu tả nói riêng đã chú trọng đến vấn đề rèn kỹ năng thực hành cho HS

So với chương trình trước đây, chương trình hiện hành có số tiết dành cho tập làm văn miêu tả nhiều hơn mà kiểu bài thì ít hơn Chính vì vậy, hiện nay, HS

có điều kiện để làm quen và thực hành nhiều hơn

Rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản là nội dung chủ yếu của các tiết học văn miêu tả (có các loại kỹ năng: kỹ năng tìm ý, lập dàn ý, lựa chọn từ ngữ, kỹ năng dựng đoạn và bài, kỹ năng đánh giá và chữa văn bản.)

Chương trình SGK tập làm văn lớp 4,5 đã tạo ra cơ chế và pương pháp dạy học văn miêu tả, chống lối dạy “sáo”, coi việc rèn luyện bộ óc, phương pháp suy nghĩ, phương pháp tìm tòi, vận dụng kiến thức cho HS là điều cơ bản nhất Với

cơ chế này, nội dung dạy học văn miêu tả đã đề cao tính chân thực khi miêu tả cũng như diễn tả tình cảm, cảm xúc… Về phương pháp làm bài thì không có tiêt

Trang 19

thực hành và nội dung phải được ghi nhớ ở cuối mỗi bài học Mỗi tiết học trong chương trình đều có nhiệm vụ và nội dung xác định, dạy mỗi loại tiết phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nội dung và hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó

1.2.2 Thực trạng về việc làm văn miêu tả của giáo viên, học sinh ở một số trường tiểu học

- Thực trạng về việc nắm vững các yêu cầu giảng dạy Tập làm văn miêu tả

Rèn kỹ năng viết văn miêu tả là một trong những vấn đề trọng tâm và cần thiết trong việc dạy phân môn Tập làm văn cho HS lớp 4,5

Nhận thức được tầm quan trọng của sự phát triển tư duy, tình cảm, ngôn ngữ của văn miêu tả với HS: tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng viết văn miêu

tả, nhiều năm qua Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã có nhiều biện pháp giúp nâng cao hiệu quả của việc dạy văn miêu tả trong trường tiểu học Thông qua các chu

kỳ bồi dưỡng thường xuyên, các buổi tập huấn về chương trình SGK năm 2000,

GV được bồi dưỡng về mặt kiến thức lẫn phương pháp cần thiết cho việc giảng dạycác tiết học về văn miêu tả Tuy nhiên, trong thực tế dạy học văn miêu tả, hoạt động dạy và học còn diễn ra khá sơ sài, qua loa Tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng về nắm vững các yêu cầu về giảng dạy các tiết Tập làm văn miêu tả của 15 giáo viên thuộc địa bàn Xã Kiên Lao, Huyện Lục Ngạn, Tỉnh Bắc Giang và kết quả điều tra thu được kết quả sau:

Bảng: Thực trạng về việc nắm được các yêu cầu giảng dạy TLV miêu tả

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

SỐ LƯỢNG TỈ LỆ %

3 Nắm được nôi dung, yêu cầu, đặc điểm của

Trang 20

5 Nắm được trình tự quan sát 9 47,06

6 Nắm được cách lập dàn bài cho bài văn 12 55,88

9 Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng trong

văn miêu tả

Qua bảng điều tra chúng tôi thấy:

- Số GV nắm được đầy đủ khái niệm và đặc điểm của văn miêu tả là rất ít (chỉ có 44,12% GV nắm được tốt khái niệm và 22,53% GV nắm được toàn bộ đặc điểm của văn miêu tả) Số GV còn lại nắm được khái niệm và đặc điểm văn miêu tả dưới mức độ chưa sâu, chưa hiểu hết bản chất của các khái niệm và các đặc điểm Điều này khiến cho việc đánh giá một bài văn miêu tả của HS không chính xác Thường khi chấm một bài văn miêu tả, các GV chỉ chú trọng đến ý,

độ dài của bài văn, tình cảm của học sinh thể hiện trong bài Có nhiều đoạn văn miêu tả được viết thiên về kể chuyện, câu đoạn rời rạc, chứa đựng nhiều câu sáo rỗng, tình cảm giả tạo vẫn được thầy cô cho điểm cao

- Giáo viên nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm của các kiểu bài văn miêu tả trong chương trình là 50%, đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt đồng

bộ, mất đi tính kế thừa trong giảng dạy văn miêu tả ở hai khối lớp

- Việc nắm trình tự quan sát chiếm 47,06% và lập dàn ý cho bài văn là 55,88% thì việc hướng dẫn học sinh làm bài văn còn rất sơ sài

- Số GV nắm được các biện pháp tu từ là rất ít, chỉ có 26,47%, vì vậy việc hướng dẫn họ sinh viết các câu văn sinh động, có hình ảnh, gợi cảm là rất khó khăn

Vì thế bài văn của học sinh thường khô khan, không thu hút được người đọc

- Để đối phó với việc học sinh làm bài kém, để đảm bảo chất lượng khi kiểm tra, thi cử nhiều GV cho HS học thuộc bài văn mẫu Vì vậy dẫn tới tình trạng thầy, trò nhiều khi bị lệ thuộc vào văn mẫu, không thoát ra được

Trang 21

tả, tình trạng trên là do các nguyên nhân sau: trình độ giáo viên không đồng đều, đào tạo dưới mhiều hình thức khác nhau(chính quy, tại chức,…), thiếu tài liệu tham khảo, ít thời gian cho việc bổ sung khiến thức hoặc chưa thường xuyên tự trau đồi kiến thức phục vụ cho việc giảng dạy văn miêu tả… Vì vậy các kiến thức GV vận dụng vào những tiết dạy văn tả thường sơ sài, qua loa Ngoài ra,

GV chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng viết văn miêm

tả, đặc điểm tâm lý của HS cũng khiến cho giờ dạy và học TLV miêu tả trở nên nhàm chán, ít gây được hứng thú cho HS

- Thực trạng về việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5

Việc dạy học văn miêu tả ở Tiểu học, bên cạnh có nhiều điểm tốt, mang lại một số hiệu quả nhất định, còn có khá nhiều nhược điểm Khuyết điểm, lớn nhất,

dễ thấy nhất là bệnh công thức, khuân sáo máy móc thiếu tính chân thực trong

cả cách dạy và học văn miêu tả

Mỗi bài văn là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, là sản phẩm của sự tiếp thu và vận dụng nhứng kiến thức đã học Đọc xong một bài văn của HS có thể thấy ngay kết quả dạy học của GV Thực tế cho thấy GV lớp 4,5 sợ dạy văn miêu tả, HS cũng sợ viết văn miêu tả Tại sao lại mhư vậy? Bên cạnh GV nắm kiến thức chưa sâu, chưa chắc chắn còn có các nguyên nhân về tổ chức thực hiện các kỹ năng viết văn miêu tả

Do quan sát, tìm ý là một hoạt động không thể thiếu trong việc dạy và học viết văn miêu tả nên chương trình dành hẳn một tiết quan sát, tìm ý ở mỗi kiểu bài văn miêu tả Tuy nhiên, các tiết quan sát, tìm ý thường diễn ra sơ sài, chưa đúng với một tiết dạy quan sát, tìm ý Vì vậy, kiến thức, kỹ năng mà GV cung cấp trong các tiết dạy quan sát, tìm ý chưa giúp HS phản ánh dầy đủ và chính xác đối tượng miêu tả

Việc giúp các em có được vốn từ để miêu tả cũng rất thấp Việc cung cấp,

mở rộng vốn từ đã được thực hiện ở các tiết Luyện từ và câu Chương trình SGK tuy có sự liên kết giữa các phân môn với nhau nhưng các ngữ liệu của các phân môn như Tập đọc, Luyện từ và câu, chính tả chưa đồng bộ trong việc cung cấp các vốn từ phục vụ cho việc miêu tả ở HS Các vốn từ cung cấp trong các ngữ

Trang 22

liệu cũng chưa thực sự gần gũi với HS từng vùng, miền GV cảm thấy khó khăn khi cùng một lúc vừa cung cấp kiến thức, vừa cung cấp vốn từ miêu tả cho HS trong khi thời gian một tiết học lại có giới hạn Vì vậy học sinh nghèo vốn từ, không có ý để miêu tả là phổ biến

Giáo viên không quan tâm đến việc hướng dẫn HS sử dụng các phép liên kết trong câu Nhiều đoạn văn HS viết ra thường không chặt chẽ về ý, các câu rời rạc, lộn xộn có khi mâu thuẫn nhau

Như vậy, thực trạng về việc rèn kỹ năng viết văn miêu tả của GV còn khá nhiều khó khăn GV chưa phát huy được chất lượng và hiệu quả của vệc dạy học viết văn miêu tả

- Thực trạng về viết văn miêu tả của học sinh

Chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát thực trạng về viết văn miêu tả của

94 HS và thu được kết quả sau:

Bảng: Thực trạng về viết văn miêu tả của học sinh

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

SỐ LƯỢNG TỈ LỆ %

4 Nắm được nội dung, yêu cầu, đặc điểm

của các dạng bài văn miêu tả

9 Nắm được các biện pháp tu từ sử dụng

trong văn miêu tả

Trang 23

Qua điều tra chúng ta thấy:

- Số HS thích thú với việc làm văn là rất thấp chỉ chiếm 33,33%

- Hiểu khái niệm về văn miêu tả chiếm 37,04%

- Năm được đặc điểm văn miêu tả chiếm 31,48%

- Nắm được nguyên tắc, phương pháp qua sát chiếm 40,74%

- Nắm được yêu cầu, nội dung, đặc điểm của các dạng văn miêu tả chiếm 29,63%

- Nắm được cách tìm ý, lập dàn bài chiếm 27,78%

- Nhận biết được các loại đoạn văn chiếm 33, 33%

- Nắm được các phép liên kết câu chiếm 38,89%

- Nắm được các biện pháp tu từ chiếm 46,30%

Qua việc xem bài làm của HS và khảo sát tình hình học tập của các em HS lớp 4, 5 tôi thấy rằng hầu hết các em nắm được kiến thức cơ bản của các phân môn nhưng các em chưa biết vận dụng kiến thức của các phân môn đó để làm bài tập làm văn Các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, các ý xếp còn lộn xộn, chua theo một trình tự… Về mặt cấu tạo câu các em cũng còn mắc rất hiều lỗi về thành phần câu, về nghĩa của câu,… được thống kê như sau:

Lỗi về nghĩa:

- Câu sai nghĩa:

+ Con trâu gúp nhà em gặt lúa

+ Chiếc cặp là phương tiện giúp em tới trường

- Câu không rõ nghĩa:

+ Sáng nay tôi dạy muộn, tôi thấy cánh của hé mở, tôi không hiểu có chuyện gì, tôi đi gọi cún con

- Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu: + Quyển sách em tặng Nam đã lâu lắm rồi chưa về thăm nó

Trang 24

+ Trên luỹ tre xanh đầu làng

- Câu thừa thành phần:

+ Cây bông hoa cúc, nó đã nhiều lần nở hoa cúc

+ Mây trắng đang đùa giỡn nhau trên tầng mây

Lỗi dấu câu:

- Lỗi không dùng dấu câu trong từng câu hoặc trong cả bài không có dấu chấm dấu phẩy:

+ Em rất yêu quý cây cam nó cho quả để ăn

+ Nắng đã lên me hem ra đồng

- Lỗi về sử dụng dấu câu sai:

+ Cây phượng vĩ Rợp bóng cho sân trường của em

Lỗi ngoài câu:

- Lỗi câu lạc chủ đề: Con sông nằm uốn mình dưới bờ tre xanh rì rào, cây tre nhiều đốt màu xanh

- Lỗi câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong văn bản:

+ Giặc minh xâm chiếm nước ta Chúng làm nhiều điều bạo ngượckhiến dân ta vô cùng căm hận Chúng hòng cướp nước ta

Học sinh nắm được kiến thức cơ bản của phân môn Luyện từ và câu nhưng khi áp dụng vào viết văn thì các em thường không chú ý diễn đạt nên đã mắc phải một số lỗi như ở trên Từ chỗ mắc lỗi về câu cộng với việc chưa biết cách

sử dụng các biện pháp nghệ thuật, vốn từ lại nghèo nàn nên bài văn miêu tả của các em thường khô khan, lủng củng nghèo cảm xúc, bài văn trở thành một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả

Học sinh chưa nắm được các bước quan sát, tìm ý, cungc như cách ghi ý trong quá trình quan sát Các em quan sát còn lộn xộn, không đi theo một trình

tự nhất định Cách quan sát cũng chưa có logic và hệ thống, cộng với vốn từ quá

ít ỏi đã gây không ít khó khăn cho việc chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả

Trong quá trình viết đoạn văn, việc phát triển các ý thành câu và liên kết các câu trong đoạn văn chiếm tỉ lệ thấp

Trang 25

Bên cạnh đó các em chua biết lồng cảm xúc vào trong bài viết của mình Phần lớn bài văn miêu tả của các em rất khô khan, thiếu sự gợi cảm cần có của văn miêu tả

Tóm lại, tất cả những tồn tại trên đã trực tiếp làm cho chất lượng dạy học TLV miêu tả đang ở mức độ thấp Sâu xa hơn, nó còn ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm và sự phát triển nhân cách của HS Với cách dạy học TLV như thực trạng bên trên, phân môn TLV chỉ mới tác động về mặt tri thức mà chưa thực sự tác động đến mặt tư tưởng, tình cảm của HS Các em chưa thể hiện được tình cảm của mình với con người và cuộc sống Bên cạnh đó, nó còn tạo cho các em thói quen lười suy nghĩ, ỷ lại, không chịu tìm tòi sáng tạo

1.3 Cấu trúc chương trình TLV lớp 4, 5

Lớp 4

Loại văn bản

Số tiết dạy Học kỳ I Học kỳ II Cả năm

Trang 26

Như vậy, ta thấy số tiết học về văn miêu tả ở lớp 4 là 30 tiết trong tổng số

62 tiết TLV, lớp 5 là 45 tiết trong tổng số 62 tiết TLV của cả năm học, rõ ràng là văn miêu tả chiếm gần nửa số tiết học cả năm lớp 4 và hơn một nửa ở lớp 5 (không kể những tiết ôn tập) Trong đó văn miêu tả kiến thức được trang bị cho học sinh bao gồm:

- Thế nào là miêu tả?

- Quan sát để miêu tả cho sinh động

- Trình tự miêu tả (cảnh, đồ vật, con vật, cây cối, người)

- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả (cảnh, đồ vật, con người, cây cối, người)

Trang 27

Các kiến thức trên được cụ thể hoá qua hai loại bài: loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành

Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần:

Nhận xét : Bao gồm một số câu hỏi, bài tập gợi ý học sinh khảo sát văn bản

để tự rút ra một số nhận xét và đặc điểm loài văn, kiến thức cần ghi nhớ

Ghi nhớ: Gồm những kiến thức cơ bản rút ra từ phần nhận xét

Luyện tập: Gồm từ 1 đến 3 bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học sinh củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học

Loại bài luyện tập thực hành chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng tập làm văn, do vậy nôi dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc 1 đề bài tập làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo hai hình thức: nói và viết

Trang 28

TIỂU KẾT Văn miêu tả rất quan trọng trong chương trình tiểu học Nó chiếm lượng

lớn thời gian trong phân môn TLV Tuy nhiên qua khảo sát tôi thấy, việc nắm vững kiến thức về phân môn của HS và GV còn rất nhiều lỗ hổng HS làm một bài văn sai về hình thức, lộn xộn về mặt nội dung Các em viết câu mắc rất nhiều lỗi về ngữ pháp, lặp từ nhiều Về nội dung bài viết thì các ý sắp xếp không logic, không có tính khoa học, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia Bài viết lủng củng, khô khan, thiếu cảm xúc, hình ảnh Những điều trên là do kiến thức giảng dạy phân môn TLV của GV còn sơ sài, qua loa đại khái Chỉ dạy trên phương tiện đối phó, làm sao để HS có một sản phẩm văn là được, không quan trọng về cách thức và quá trình HS có được bài viết đó như thế nào GV chưa đi sâu vào giảng giải các quá trình, các khâu để có thể làm được một bài văn hay, giàu hình ảnh Chủ yếu HS có được một sản phẩm chỉ nhờ vào văn mẫu là chính, vì thế mà kiến thức, vốn sống, vốn tư duy, sáng tạo của các em đang ngày một bị bào mòn Bên cạnh đó GV chưa nắm rõ đặc điểm tâm sinh lý của HS Chính những điều trên mà mỗi GV cần biết tự trau dồi bản thân mình, học hỏi nhiều hơn và có trách nhiệm với nghề hơn đế có thể ươm nên những hạt giống có ích cho đất nước Và chính mỗi HS cũng cần phải tự rèn luyện bản thân, ham học hỏi để vững bước xa hơn

Trang 29

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC

SINH LỚP 4, 5

Trong phân môn Tập làm văn, kĩ năng có thế chia thành các nhóm sau đây: Nhóm kĩ năng giúp HS tiếp cận, chuẩn bị cho việc sản sinh ra ngôn bản gồm có: kĩ năng quan sát, phân tích đề bài, tìm ý và lựa chọn ý, xây dựng dàn ý Nhóm kĩ năng viết văn bản: Dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn văn thành bài văn

Nhóm kĩ năng kiểm tra đánh giá (được dùng trong giai đoạn kiểm tra kết quả bài làm của học sinh), gồm các kĩ năng: phát hiện lỗi, cách dùng từ, chính

tả, đặt câu, viết văn bản, lỗi về nội dung, cảm xúc,… được thể hiện rõ nét trong bài làm của học sinh

Như vậy, bài tập làm văn của học sinh lớp 4, 5 là sản phẩm của sự vận dụng tổng hợp các kiến thức và các kĩ năng tiếp nhận được trong quá trình học tập các môn nói chung Do vậy, từ việc nắm ý tới việc diễn đạt hành văn, từ văn nói đến văn viết có một khoảng cách khá xa Vì thế bên cạch việc bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn văn, tư tưởng, vốn sống cho HS qua các bài học ở các phân môn Tiếng Việt, mỗi GV phải chú trọng rèn luyện kĩ năng viết văn cho học sinh Việc rèn

kĩ năng viết văn cho HS phải chú ý theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và tư duy của trẻ

2.1 Rèn kĩ năng quan sát cho học sinh

Quan sát là nhìn, xem xét, nhận biết một vật, một cảnh…nào đó để phát

hiện ra những nét khác biệt của đối tượng, nét đặc trưng riêng chỉ đối tượng mới

có Việc quan sát không chỉ bằng mắt, mà còn bằng tai, bằng mũi, bằng lưỡi, bằng tất cả cảm nhận tinh tế khác của người viết

Với những đối tượng miêu tả khác nhau, việc quan sát cũng có những sự khác nhau Vì thế khi quan sát cần chú ý:

- Lực chọn thời điểm quan sát sao cho thích hợp với từng đối tượng miêu tả

- Lựa chọn góc độ không gian để sao cho có thể quan sát được đối tượng một cách đầy đủ nhất, chính xác nhất mọi mắt của đối tượng

Trang 30

- Lựa chọn những chi tiết quan sát sao cho phù hợp với đặc trưng bản chất cũng như những nét riêng của đối tượng miêu tả

Quan sát, mắt cho ta cảm giác về màu sắc (xanh, đỏ, vàng…), hình dạng (cây cao, thấp, cái bàn hình vuông, hình tròn…), hoạt động (con ngan bước đi chậm chạp, lạch bạch…), dùng tay sờ vào cỏ bưởi thấy thế nào? Dạy học sinh quan sát chính là dạy cách sử dụng các giác quan để tìm ra các đặc điểm của sự vật

Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm riêng của từng đồ vật, con vật, cây cối và bỏ qua những đặc điểm chung Dạy quan sát cái bút chì của em, giáo viên hướng dẫn học sinh không chỉ nhận xét về màu sắc của vỏ bút chì, cần nhận ra những dòng chữ in trên vỏ, các đặc điểm khác của vỏ bút chì của em mới có

- Nguyên tắc quan sát:

+ Trình tự không gian : Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận hoặc ngược lại, quan sát từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, hay từ ngoài vào trong hoặc ngược lại…

+ Trình tự thời gian: Quan sát theo diễn biến ủa thời gian từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, từ mùa này sang mùa khác, tháng này sang tháng khác, tuần này sang tuần khác, ngày này sang ngày khác…

+ Trình tự tâm lý: Thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc mạnh cho bản thân (hứng thú hay khó chịu, yêu hay ghét ) thì quan sát trước, các bộ phận khác thì quan sát sau…

+ Vị giác và xúc giác, quan sát cảm nhận

Khi hướng dẫn HS quan sát một cánh đồng lúa chin Ngoài mắt ra cần huy

Trang 31

tai (để nghe, thu nhận những âm thanh như tiếng chim hót, tiếng gió rì rào, ) rồi cũng có thể sử dụng giác quan xúc giác để sờ, để nắm… Quan sát một chú lợn hay cảnh tấp nập của đường phố, ở thôn xóm, một trận thi đấu thể thao ở địa phương…ngoài mắt ra cần huy động cả mũi, tai, tay… để ngửi, để nghe, để sờ…

- Quan sát tỉ mỉ nhiều lần:

Muốn tìm ra ý của đoạn văn, HS phải quan sát kỹ, quan sát nhiều lần cảnh

đó Tránh quan sát qua loa, nhìn lướt qua nó sẽ không tìm ra ý hay cho bài văn + Thu nhận các nhận xét mà quan sát mang lại:

Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng dẫn các em trả lời bằng nhiều chi tiết cụ thể, ngôn ngữ chính xác gợi hình ảnh

Đối với HS còn nhiều bỡ ngỡ trong công việc này cần có sự hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ một vài lần Đối với các em nên tách một số giác quan quan trọng, cần thiết cho việc quan sát cảnh, vật, người mà đầu bài yêu cầu và hướng dẫn các em tập vận dụng các giác quan đó Trình tự tiến hành là: nêu lên giác quan cần vận dụng (em hãy dùng mắt để quan sát chiếc cặp Em hãy lắng tai nghe những tiếng động trên đường phố và nêu lên nhận xét…) Em hãy xoa tay lên mặt cặp, sờ vào các bộ phận khác của cặp và nêu nhận xét Gợi ý từ ngữ cần dùng để ghi các nhận xét (ví dụ: nên dùng từ gì để ghi màu sắc cây cối hai bên đường? )

Ở mức độ cao hơn GV hướng dẫn HS đi vào trọng tâm cảnh vật, con người, và rèn luyện sự tinh tế khi quan sát, đó là những đặc điểm ít người nhận thấy

VD: Nằm trong nhà, nghe tiếng lá rụng ngoài thềm, Trần Đăng Khoa lên mười tuổi phát hiện “tiếng rơi rất khẽ như là rơi nghiêng”

Với những yêu cầu của đề bài thì bài văn phải viết những cái gì? Cần hướng dẫn cho HS hiểu các từ ngữ trong khi tìm hiểu về cách viết văn trong mỗi tiết học:

 Lưu ý:

Cần có câu hỏi theo trình tự để hướng dẫn học sinh quan sát

HS tập quan sát thực tế đối tượng

Yêu cầu của câu hỏi gợi mở:

Câu hỏi cần theo trình tự dàn bài chung

Trang 32

Câu hỏi càng tinh tế, chọn lọc, tỉ mỉ thì càng phát huy khả năng quan sát của các em Từ đó rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo quan sát tỉ mỉ, tinh tế

Phải cho HS quan sát trực tiếp cảnh, vật và người

Học sinh phải được tự làm việc, tự quan sát, tự ghi chép là chính

Quan sát gắn liền với tưởng tượng, so sánh

Có nhiều học sinh sau khi quan sát lại không đưa ra những nhận xét cụ thể, chính xác mà chỉ là những nhận xét chung chung, mơ hồ…GV cần hướng dẫn HS đưa ra nhận xét bằng nguồn tự quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả, kết hợp với kinh nghiêm sống và trí tưởng tượng của các em

2.2 Rèn kĩ năng tìm hiểu đề, lập dàn ý

2.2.1 Tìm hiểu đề

Tìm hiểu đề là xác định yêu cầu của bài văn miêu tả Đây là kĩ năng cần thiết trước tiên Có tìm hiểu đề chúng ta mới biết đề yêu cầu ta làm gì? Từ đó hình thành các ý và định hướng cho việc lập dàn ý

Tìm hiểu đề tức là phải xác định yêu cầu về nội dung và hình thức:

+ Xác định yêu cầu về nội dung: Đó là việc xác định các yêu cầu về đối tượng miêu tả, trọng tâm miêu tả, đối tượng tiếp nhận bài văn miêu tả

+ Xác định yêu cầu về hình thức: Chủ yếu là việc xác định về thể loại và kiểu miêu tả cần viết

- Tả cảnh

Ví dụ: Đề bài “Em hãy tả cảnh dòng sông quê em”

Chúng ta phải tìm hiểu đề yêu cầu tả cảnh gì?

- Cảnh phải tả: dòng sông quê em

- Tả vào thời gian nào (sớm, chiều, ) người viết tự chọn

- Tả cảnh dòng sông ở đâu

Trong thao tác tìm hiểu đề chúng ta trước hết phải đọc kĩ đề, tìm ra những

từ quan trọng trong đề và tìm hiểu xem để yêu cầu những gì để xác định thể loại, cách làm đúng

- Tả cảnh sinh hoạt

Trang 33

một thời điểm: VD như cảnh nhộn nhịp của sân trường lúc ra chơi, cảnh chào

cờ đầu tuần,… Khi miêu tả chúng ta cần làm nổi bật yêu cầu chung của cảnh, không nên miêu tả một cách riêng lẻ, rời rạc các hoạt động

Khi tìm hiểu đề bài văn miêu tả cảnh sinh hoạt, cần xác định rõ đối tượng miêu tả ở đây là hoạt động của nhiều người trong một thời gian ngắn vào một thời điểm cụ thể

Từ việc xác định được đối tượng và thời điểm cần miêu tả sẽ quan sát, lựa chọn các hoạt động tiêu biểu đế làm nổi bật cảnh

VD: Em hãy tả lại quang cảnh nhộn nhịp trong giờ ra chơi của trường em Đối tượng miêu tả: Hoạt động của học sinh và quang cảnh trên sân trường Thời điểm miêu tả: trong giờ ra chơi

cử chỉ khác hẳn với phụ nữ làm công nhân lao động Đồng thời làm rõ yêu cầu

đề còn giúp chúng ta biết lựa chọn chi tiết miêu tả, biết nhấn mạnh hoặc lướt qua chi tiết nào Nếu tả người nói chung phải làm nổi bật đặc điểm ngoại hình và tính cách Nếu tả người đang hoạt động thì phải tập chung vào cử chỉ động tác

- Tả đồ vật

Như chúng ta đã biết những đồ vật có nhiều bộ phận, nhiều đặc điểm Vì vậy khi viết bài văn miêu tả đồ vật người viết không thể miêu tả tỉ mỉ các chi tiết, các bộ phận, các đặc điểm, công dụng Bởi vậy người viết cần phải gạt bỏ các chi tiết không cần thiết chỉ giữ lại những chi tiết chủ yếu, đó là chi tiết giúp người đọc nhận ra đồ vật được miêu tả

Khi miêu tả đồ vật cần miêu tả theo một trình tự hợp lí: bên ngoài trước, bên trong sau, bên trên trước, bên dưới sau…

Trang 34

Sau khi đọc kĩ đề, tìm hiểu đề yêu cầu gì ? Đối tượng miêu tả là gì? Nội dung cần miêu tả là gì? Chúng ta sẽ định hướng được các ý cần khai thác của một bài văn miêu tả

VD: Em hãy tả lại cái bàn học của em

Đối tượng miêu tả: bàn học của em

Nội dung: cái bàn học chứ không phải bàn giáo viên, bàn ăn hay bàn tiếp khách…Từ việc xác định được yêu cầu của đề chúng ta sẽ tìm được những đặc điểm tiêu biểu của cái bàn học như về kích thước, hình dáng, công dụng… khác với những bàn khác

- Tả loài vật

Nếu như miêu tả loài vật trong sinh học thì cần chính xác, khách quan thì miêu tả loài vật trong văn chương mang tính chủ quan và chứa nhiều cảm xúc Khi miêu tả ngoại hình cần chú ý miêu tả mau sắc, đường nét, dáng vẻ tuỳ theo đối tượng được tả hìh dáng bên ngoài cần phải được nhấn mạnh qua vài khía cạnh tiêu biểu Chúng ta cần đọc kĩ đề để xác định đối tượng và nội dung miêu

tả, tìm hiểu đề chúng ta cần tìm ra những từ quan trọng Qua đó cần xác định nội dung chính cần miêu tả, cần nhấn mạnh chi tiết nào và bỏ ưua chi tiết nào

VD: Em hãy tả con gà trống nhà em

Đối tượng miêu tả: con gà trống nhà em

Nội dung miêu tả: hình dáng, hoạt động

- Tả cây cối

Khi miêu tả cây cối cần chú ý đến những đặc điểm về hình dáng, màu sắc, tác dụng khi miêu tả Như chúng ta đã biết cây cối có rất nhiều loại: cây cho bóng mát, cây ăn quả, cây lương thực… Vì vậy khi tìm hiểu đề bài chúng ta cần xác định rõ cây gì? Để từ đó đưa ra những lời miêu tả phù hợp mang tính đặc trưng của loài cây đó

VD: Tả cây hoa hồng đang lúc ra hoa

Đối tượng : cây hoa hồng

Thời điểm: lúc ra hoa

Trang 35

Ngoài ra cần chú ý đây là loài cây cho hoa vì vậy khi miêu tả chúng ta cần chú ý đến màu sắc, mùi vị và các bộ phận của cây hoa

2.2.2 Kỹ năng lập dàn ý

Dàn ý còn gọi là dàn bài hay đề cương Dàn ý là sự sắp xếp những điều cốt yếu trong một bài văn Nói cách khác đó là một hệ thống những ý chính trong một bài viết hay bài nói Dàn ý thực chất là bản kế hoạch, là sơ đồ, là phác thảo về đối tượng mà ta sẽ viết

Dàn bài là những ý chính của bài văn được ghi ra nháp, được nhận biết

dễ ràng nhờ cách đánh số thứ tự bằng chữ, bằng số hay bằng những gạch đầu dòng Trên tờ giấy trắng, khi dàn bài đã được diễn đạt thành văn, những dấu hiệu bên ngoài ấy không còn nhìn thấy nữa

- Vai trò của lập dàn ý cho bài văn:

+ Kĩ năng lập dàn ý cần cho tất cả những ai muốn truyền đạt (viết hoặc nói) một vấn đề nào đó cho mọi người biết Trong phạm vi nhà trường phổ thông kĩ năng này rất quan trọng đối với HS để làm bất cứ một bài văn nào Nắm được kĩ năng này các em sẽ làm được một bài văn có tính hệ thống và logic cao, đúng và đủ ý, đảm bảo cho chúng ta loại trừ các ý không cần thiết, cũng như không bỏ sót các ý quan trọng, tránh được hiện tượng lạc đề hay bài văn lủng củng

+ Với một dàn ý tốt chúng ta có thể viết nhanh hơn, dễ dàng hơn Chúng

ta sẽ không phải quá lo lắng những gì sắp trình bày, bởi vì các vấn đề đã được lựa chọn và sắp xếp khi chúng ta tiến hành lập dàn ý

- Các bước lập dàn ý có thể được cụ thể hoá như sau:

+ Xác lập các ý lớn: Thực chất là xác lập các chủ đề bộ phận trong tương quan với chủ đề chung của văn bản

VD: Chủ đề chung là tả một con vật mà em thích, thì các chủ đề bộ phận có thể là:

a Tả ngoại hình, hình dáng con vật

b Tả hoạt động của con vật đó

c Nêu lợi ích của con vật

Trang 36

+ Xác lập các ý nhỏ: Các ý lớn cần được cụ thể hoá, khai triển thành các ý nhỏ hơn Các ý nhỏ này cũng có thể được cụ thể hoá, khai triển thành ý nhỏ hơn nữa

VD: Khi tả ngoại hình, hình dáng con vật, có thể là các chi tiết sau:

- Tả hình dáng bao quát (to, nhỏ, thấp, gầy, béo,…)

- Tả chi tiết: Mắt, mũi, miệng, chân,…

Khi tả chân có thể tiếp tục tả các bộ phận nhỏ hơn nằm trong đó như cổ chân, bàn chân, móng vuốt…

+ Sắp xếp các ý: Việc sắp xếp các ý có ảnh hưởng quan trọng đến việc tiếp thu của người đọc Có nhiều cách tổ chức, sắp xếp các ý nhưng nguyên tắc chung là làm sao để người đọc dễ tiếp thu nhất, khi đó việc trình bày được tiết kiệm nhất, không bị trùng lặp

Viết đúng theo dàn ý thế nào và phải viết ra sao?

Trước hết là phải viết đúng các ý đã vạch ra Ta phải tuân theo nguyên tắc sau:

- Thứ nhất: viết bài văn miêu tả phải theo trình tự hợp lý

VD: Nếu là bài văn tả người nên đi theo một trình tự miêu tả và phải có tính nhất quán theo một trình tự thời gian và không gian nhất định

- Thứ hai: Khi viết bài văn phải phân bố thời gian hợp lý để tránh tình trạng “đầu voi đuôi chuột” không được tuỳ tiện bỏ ý, thay ý Nếu trong quá trình làm bài phát hiện ra những ý mới thì có thể đưa vào nhưng phải hợp lý, đúng nơi, đúng chỗ

- Tả cảnh

Sau khi tìm hiểu đề chúng ta piết yêu cầu tả cảnh gì? Ở đâu? Vào lúc nào? Đồng thời xác định được phạm vi giới hạn của đề bài yêu cầu giải quyết mấy ý

Từ đó chúng ta phác thảo dàn ý đại cương và dàn ý chi tiết

Đối với văn tả cảnh, dàn ý là một phác thảo về toàn cảnh, phân cảnh, cảnh trung tâm, những đường nét, mầu sắc,… và ý nghĩa của bản thân đối với cảnh được thể hiện Đối với một bài văn tả cảnh chúng ta thường có một bố cục chung như sau:

I Mở bài: Giới thiệu cảnh được tả (ở đâu, lúc nào)

Trang 37

1 Tả bao quát : Ta bao quát toàn cảnh, có thể là sự thay đổi của cảnh theo thời gian

2 Tả chi tiết cảnh: Tả các cảnh chi tiết

3 Tả cảnh vật của con người và cảnh vật xung quanh

III Kết luận: Nêu cảm nghĩ, nhận xét của người tả

Chúng ta hãy xét một VD cụ thể:

Đề: Em hãy tả lại cánh đồng lúa chin quê em vào một buổi sáng đẹp trời

Bước 1: Lập dàn ý đại cương:

1 Mở bài : Giới thiệu cánh đồng lúa chín vào buổi sáng đẹp trời

2 Thân bài: Tả bao quát cánh đồng, tả chi tiết một vài thửa ruộng, tả cảnh làm việc của các bác nông dân…

3 Kết bài: Nêu ấn tượng và cảm nghĩ của bản thân trước cảnh cánh đồng Bước 2: Lập dàn ý chi tiết:

1 Mở bài:

- Nêu lí do ra thăm cách đồng (chủ nhật về quê đi thăm đồng…)

- Thấy cánh đồng lúa chín dưới ánh nắng ban mai thật đẹp

2 Thân bài:

- Tả bao quát: Dưới ánh nắng ban mai, cánh đồng như một tấm thảm vàng trải rộng

- Tả chi tiết:

+ Những thửa ruộng lúa chín vàng rực

+ Những thửa lúa đã chín, bông lúa nhiều hạt làm thân lúa uốn cong xuống giống cái cần câu

+ Từng cơn gió thổi làm cho từng khoảng lúa lay động khác nhau

+ Mùi vị : mùi thơm của lúa của rơm rạ

- Hoạt động của con người và cảnh xung quanh:

+ Một số người đang gặt lúa, tay liềm, tay cầm những bông lúa… một vài chú bé đi chăn trâu thổi sáo vang…

+ Bầu trời cao rộng, ánh nắng toả xuống cánh đồng, từng đám mây nhẹ nhàng trôi theo gió

Trang 38

+ Chim chao mình bay lượn, thỉnh thoảng cất tiếng hót líu lo

+ Hàng phi lao reo vui trong gió

3 Kết luận: Nêu cảm nghĩ và ấn tượng:

- Vui vì thấy dấu hiệu một mùa bội thu, đi xa rồi mà âm thanh và mùi vị của cánh đồng lúa chín còn đọng mãi

- Tả cảnh sinh hoạt

VD: Em hãy tả cảnh làng em vào ngày giáp tết

Bước 1: Lập dàn ý đại cương:

1 Mở bài: Giới thiệu cảnh làng em vào một ngày giáp tết

+ Cảnh những người xa quê về ăn tết

- Tả cảnh thiên nhiên trong những ngày giáp tết: hoa đào nở, trời xe lạnh như có mưa phùn

3 Kết bài: Cảm nhận của người viết

Bước 2: Lập dàn ý chi tiết:

+ Mọi người tấp nập mua sắm đồ tết

+ Cờ tổ quốc bay phấp phới trước cửa mọi nhà

- Tả chi tiết:

+ Người người tấp nập, đôg như chảy hội

Trang 39

+ Người mua hoa, người mua thịt…

+ Các em đang tổng vệ sinh thôn xóm

+ Cảnh những người xa quê về ăn tết, họ mang theo những cành đào, quà bánh…

- Tả cảnh thiên nhiên:

+Hoa đua nhau nở, cây cối đâm chồi nảy lộc

+vài con chim én lượn trên mặt hồ, ao

3 Kết luận

- Cảm thấy vui khi tết đến

- Cảm nhận được hương xuân

Như vậy khi lập dàn ý cho bài văn tả cảnh sinh hoạt cần chú ý tả cảnh sinh hoạt của con người, xen kẽ cảnh vật xung quanh và lồng cảm xúc vào bài viết để bài viết trở nên có hồn

Tương tự như vậy lập dàn ý đối với tả người, tả đồ vật, tả cây cối… Sau

khi tìm hiểu đề, chúng ta xác định đối tượng miêu tả và nội dung miêu tả Sau đó chúng ta viết ra những nét chính nổi bật theo những mức độ khác nhau tuỳ theo mục đích đề ra

2.3 Tăng cường củng cố tri thức giúp HS tích luỹ vốn từ, câu, đoạn

2.3.1 tăng cường củng cố tri thức lí thuyết về từ

Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh,

có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu [ 20 Tr 29 ]

Tăng cường củng cố tri thức lý thuyết về từ nhằm cung cấp vốn từ và giúp

HS biết cách dùng từ, biết cách làm giàu vốn từ

Nội dung các vấn đề lý thuyết về từ không vượt ra ngoài các bài lý thuyết

về từ ở lớp 5: Từ đơn, từ ghép, từ láy, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ nhiều nghĩa, từ trái nghĩa…

Về mặt lý thuyết, để phân loại, nhận diện từ theo cấu tạo, phải nắm chắc các kiến thức sau: xét về cấu tạo, dựa vào số lượng tiếng, người ta chia từ thành

từ có một tiếng (từ đơn) và nhóm từ có hai tiêng trở lên (từ đa âm) Để tiếp tục

Trang 40

phân loại nhóm từ đa âm, phải dựa vào mối quan hệ giữa các tiếng ở trong từ: nếu các tiếng ở trong từ có quan hệ về nghĩa thì đó là từ ghép, nếu các tiếng trong từ chỉ có quan hệ về âm (có một bộ phận âm đầu, vần hay cả khuôn, cả tiếng giống nhau) thì đó là từ láy

+ Từ láy là từ gồm hai tiếng trở lên được ghép lại với nhau theo một mối quan hệ ngữ âm nhất định [ 20 Tr.31] các âm tiết có quan hệ với nhau về ngữ

âm, giống nhau ở phụ âm đầu (chắc chắn, làm lụng, bàn bạc…) hoặc giống nhau

ở vần (bối rối, lì xì, lừ đừ, ) hoặc có những âm tiết giống nhau hoàn toàn (chuồn chuồn, xanh xanh, ) Các âm tiết trong từ láy thường thường có những thanh điệu tương xứng với nhau

Về mặt ý nghĩa, từ láy có giá trị gợi cảm, có tính cụ thể, sinh động, khi vận dụng làm văn, bài văn sẽ tăng sức biểu cảm hơn

+ Từ ghép gồm hai tiếng trở lên được cấu tạo bằng cách ghép các tiếng lại với nhau theo một quan hệ ngữ nghĩa nhất định [20 Tr 30] Từu ghép là một khối vững chắc về ngữ âm và ngữ nghĩa Số lượng các tiếng thường không thể thêm bớt Khi đọc các tiếng phải liền mạch

Từ ghép có thể chia làm hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ

Từ ghép đẳng lập là những từ cấu tạo bằng hai thành tố có vai trò ngang hàng với nhau [21 Tr 11] (đẹp tươi, ăn ở, nhà cửa…) Từ ghép chính phụ là những từ cấu tạo bằng hai thành tố không có vai trò ngang nhau, một thành tố giữ vai trò chính, một thành tố đóng vai trò phụ, bổ sung ý nghĩa cho thành tố chính [22 Tr 11] (áo dài, nhà máy, cà chua….)

Văn miêu tả đòi hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài Làm giàu vốn từ cho HS có nghĩa là ung cấp cho các em một số vốn từ nhất định, trong đó bao gồm những từ phổ thông, từ địa phương, từ đồng nghĩa, từ nhiều nghĩa, từ tượng hình, từ giàu màu sắc biểu cảm…

Ví dụ:

Từ phổ thông: cha mẹ, sân, bát,…

Từ địa phương: ba, bọ, mạ, đọi,…

Ngày đăng: 09/09/2016, 16:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Thành Thị Yên Mỹ - Lê Phương Nga - Cao Đức Tiến (1996), Phương pháp dạy học tiếng Việt - Giáo trình chính thức đào tạo giáo viên tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A - Thành Thị Yên Mỹ - Lê Phương Nga - Cao Đức Tiến
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
2. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB ĐH QG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB ĐH QG Hà Nội
Năm: 1999
3. Hoàng Hòa Bình (1997), Dạy văn cho học sinh tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho học sinh tiểu học
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1997
4. Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh (1996), Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kỹ năng sử dụng tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Đào Ngọc – Nguyễn Quang Ninh
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
5. Lê Phương Nga - Nguyễn Trí (2002), Phương pháp dạy học tiếng việt, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng việt
Tác giả: Lê Phương Nga - Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
6. Lê Phương Nga (chủ biên) - Nguyễn Thị Thanh Hằng - Đỗ Thị Tuyết Nhung (2005), Luyện tập làm văn 4, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luyện tập làm văn 4
Tác giả: Lê Phương Nga (chủ biên) - Nguyễn Thị Thanh Hằng - Đỗ Thị Tuyết Nhung
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2005
7. Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học – dự án phát triển giáo viên tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
8. Nguyễn Trí (2002), Dạy tập làm văn ở trường tiểu học, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy tập làm văn ở trường tiểu học
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
9. Nguyễn Trí (2003), Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2003
10. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), SGK Tiếng Việt lớp 2 (tập 1 và tập 2), NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2007), "SGK Tiếng Việt lớp 2" (tập "1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
11. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2008), SGK tiếng Việt lớp 3 (tập 1 và tập 2), NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK tiếng Việt lớp 3 (tập 1 và tập 2)
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
12. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2006), SGK Tiếng Việt lớp 5 - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt lớp 5
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
13. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên) (2005), SGK Tiếng Việt lớp 4 - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt lớp 4
Tác giả: Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2005
14. Bùi Minh Toán - Đỗ Việt Hùng (2002), Tiếng Việt thực hành - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt thực hành
Tác giả: Bùi Minh Toán - Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2002
15. Trương Đức Thành (chủ biên) (1996), Bài tập về phép viết câu, viết đoạn, làm bài - NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Đức Thành (chủ biên) (1996)
Tác giả: Trương Đức Thành (chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1:  Bảng  đánh giá chất lượng khối 4. (Bài  Luyện  tập xây  dựng  kết - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
ng 1: Bảng đánh giá chất lượng khối 4. (Bài Luyện tập xây dựng kết (Trang 62)
Bảng  2:  Bảng  đánh  giá  chất  lượng  của  khối  4.  (Bài  Luyện  tập  quan  sát - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
ng 2: Bảng đánh giá chất lượng của khối 4. (Bài Luyện tập quan sát (Trang 62)
Bảng 4: Bảng đánh giá chất lượng khối 5. (Bài Ôn tập về tả đồ vật / TV5. Tập 2) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5
Bảng 4 Bảng đánh giá chất lượng khối 5. (Bài Ôn tập về tả đồ vật / TV5. Tập 2) (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w