1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4

14 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 158,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Với mục đích góp phần tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp các em sử dụng phương tiện ngôn ngữ Tiếng việt trong giao tiếp ngày càng tốt hơn nên tôi đã tìm hiểu về ki

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng Mỗi môn học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu

về nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những tri thức cần thiết Đặc biệt là môn Tiếng việt, trong đó phân môn Tập làm văn chiếm vị trí rất quan trọng Hơn nữa trong bất kỳ nhà trường nào lượng kiến thức cung cấp cho học sinh có hạn mà mong muốn hiểu biết của con người vào xã hội là vô hạn Do đó ngay từ khi ở trường các thầy cô phải dạy cho học sinh thói quen tự học và lòng ham học Nhiều giáo viên Tiểu học đã không tiếc công sức, tìm tòi, sáng tạo ra nhiều trò chơi, nhiều phương pháp giúp học sinh nắm được cách viết, cách nói các bài theo phong cách khác nhau Rèn cho học sinh các kỹ năng phân tích đề, tìm ý lập dàn

ý, viết câu, viết đoạn, kỹ năng liên kết câu, ngoài kỹ năng chung còn có các kỹ năng đặc thù để nó gắn với từng kiểu bài Môn Tập làm văn rèn luyện tư duy hình tượng và tư duy lô gic, rèn luyện óc quan sát, khả năng xây dựng hình tượng, thông qua các kiểu bài Tập làm văn giúp cho học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, con người để hình thành nhân cách cho học sinh

Qua Tập làm văn, học sinh sản sinh ra văn bản của riêng mình, luyện tập cách nói trước đám đông, thông qua việc trình bày văn bản của riêng mình qua đó rèn luyện cho học sinh thái độ tự tin, bình tĩnh Nhưng trong thực tế chất lượng giờ Tập làm văn nói của học sinh còn nhiều hạn chế do vốn sống, vốn hiểu biết còn ít

và có hạn, vốn từ ngữ nghèo nàn Mặt khác nhiều trường học chưa chú trọng đẩy mạnh các hoạt động thực tiễn, các hoạt động ngoại khóa hổ trợ cho việc học Tập làm văn Học sinh bị bó hẹp trong bốn bức tường của lớp học và gia đình Do vậy

cả giáo viên và học sinh đều không có hứng thú khi dạy và học Tập làm văn Để học sinh học tốt thì giáo viên phải dạy tốt, trên cơ sở nắm vững nội dung chương trình, người giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động học để nắm vững tri thức Như vậy mỗi giáo viên phải tự biến quá trình dạy học của mình thành quá trình tự học của học sinh Dạy cho học sinh biết học và tự học Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có trình độ sư phạm lành nghề, luôn luôn tìm tòi sáng tạo, có phát kiến mới trong dạy học, nắm vững nội dung, kiến thức lớp mình dạy, trang bị cho bản thân kiến thức và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính năng động và

tự chủ của học sinh, tạo cho học sinh khả năng làm việc độc lập và tự giải quyết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống Nhờ năng lực này các em được sử dụng Tiếng việt là công cụ tư duy, giao tiếp và học tập Tập làm văn góp phần mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ hình thành nhân cách cho học sinh

1.2 Mục đích nghiên cứu

Với mục đích góp phần tìm ra những giải pháp hữu hiệu giúp các em sử dụng phương tiện ngôn ngữ Tiếng việt trong giao tiếp ngày càng tốt hơn nên tôi

đã tìm hiểu về kinh nghiệm “Dạy Tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4”,

Trang 2

nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy Tập làm văn nói riêng và chất lượng Giáo dục nói chung

1.3 Đối tượng nghiên cứu

-Học sinh lớp 4A-Trường tiểu học Hoằng Đại nơi tôi đang công tác hiện nay.

-Chương trình phân môn Tập làm văn lớp 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu

-Thu thập tài liệu, đọc sách và các tài liệu tham khảo

-Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

-Phương pháp dạy học theo hướng trải nghiệm khám phá

-Sử dụng các phương pháp khác: Phân tích ngôn ngữ, so sánh đối chiếu, thống

kê và xử lí các số liệu thu được

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến

Dạy Tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 là một trong những nội dung có

tầm quan trọng đặc biệt ở tiểu học vì nó là tổng hợp các phân môn tập đọc , chính

tả , luyện từ và câu , kể chuyện trong môn Tiếng Việt Nó trang bị cho học sinh vốn kiến thức về kĩ năng nói, viết Giúp cho học sinh biết dùng từ ngữ, hình ảnh hay trong khi làm bài, làm cho bài văn sinh động và giàu tình cảm của người viết, nói vói người nghe, đọc Qua quá trình giảng dạy tôi đã đúc rút ra kinh nghiệm về dạy Tập làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 Nó có thể giúp cho các em rung động trước cái hay, cái đẹp của hình tượng văn học, của ngôn ngữ văn chương

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Qua thống kê lại chất lượng bài làm văn các đợt kiểm tra định kì của các năm học trước, tôi thấy kết quả bài tập làm văn của các em học sinh khối 4 rất thấp, chỉ có khoảng 60% số học sinh viết được bài văn đạt yêu cầu, trong đó tỉ lệ

HS hoàn thành tốt là rất hạn hữu Ở các lớp 1; 2;3 các em chỉ mới viết một đoạn văn ngắn Trong khi đó yêu cầu: Tập làm văn ở lớp 4 dạy cho học sinh biết quan sát tìm ý, biết lập dàn bài, thực hành làm văn nói và làm văn viết, rèn kỹ năng diễn đạt thông qua bài tập dùng từ đặt câu, dựng đoạn, hình thành văn bản hoàn chỉnh khi viết Mặc dù vậy, đa số các em lớp tôi giảng dạy đều có thể viết được bài văn với đầy đủ 3 phần (mở bài, thân bài, kết bài ), nhưng trong bài viết cụ thể của từng em thì dường như hầu hết các bài đều có ít nhiều lỗi về sử dụng từ ngữ

và khả năng sử dụng các biện pháp nghệ thuật còn nhiều hạn chế Các em sử dụng

từ ngữ đơn giản, khô khan, ít giá trị biểu cảm Khi viết văn, các em mới chỉ dừng

ở mức độ cụ thể, thực tế chứ chưa biết sử dụng biện pháp nghệ thuật để cho lời văn có hình ảnh và giàu cảm xúc, làm cho người đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét, cụ thể, sinh động về sự vật

Các yêu cầu về trình bày, về chính tả, về chữ viết được chú trọng thường xuyên Mỗi tiết dạy đều có yêu cầu cụ thể ( thường gắn với một đề bài cụ thể) nhưng đồng thời lại đòi hỏi phải có yêu cầu khái quát hoá cho những kiểu bài và từng bước vận dụng phương pháp chung ở các kiểu bài Tập làm văn

Trang 3

Để kiểm nghiệm các giải pháp của mình tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về môn tập làm văn của lớp 4A năm học 2017-2018 kết quả cụ thể như sau:

Sĩ số học sinh Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành

Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %

-Từ kết quả khảo sát trên cho thấy số học sinh chưa hoàn thành chiếm tỉ lệ

cao Do vậy tôi cần phải tìm ra phương pháp đổi mới trong hướng dẫn giảng dạy

để kết quả dạy học được nâng lên,thu hút sự chú ý của học sinh vào hoạt động học

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Tập làm văn là một phân môn tổng hợp các kiến thức và kĩ năng về chính

tả, tập đọc, luyện từ và câu Nhưng trong quá trình viết văn miêu tả, các em gặp khá nhiều khó khăn Giúp học sinh lớp 4 khi viết văn miêu tả biết sử dụng từ ngữ giàu biểu cảm, biết sử dụng biện pháp nghệ thuật (nhân hóa, so sánh) để bài văn thêm sinh động, tôi giúp học sinh làm tốt các yêu cầu sau đây:

- Xác định yêu cầu về thể loại, nội dung và trọng tâm của bài, có thể củng cố thêm lý thuyết làm bài theo thể loại

- Vận dụng mối quan hệ giữa các phân mô trong môn Tiếng việt để hỗ trợ nhau trong quá trình học tập

- Hướng dẫn học sinh sử dụng phối hợp nhiều giác quan trong quá trình quan sát

sự vật để có kết quả quan sát đầy đủ, chi tiết từ đó có thể lập dàn bài một cách tốt nhất

- Hướng dẫn học sinh lập dàn bài; vận dụng vốn sống; khai thác và sử dụng lớp ngôn từ nghệ thuật có giá trị biểu cảm và giá trị hình tượng và hoàn thiện bài đó chuẩn bị để tập nói

- Biết khai thác và sử dụng biện pháp nghệ thuật (nhân hóa, so sánh) trong học Tập làm văn miêu tả để hoàn thành bài viết

- Hướng dẫn học sinh bộc lộ cảm xúc cho bài làm văn, phân tích các bài văn mẫu

để học thêm về cách dùng từ, đặt câu, liên kết đoạn

* Giải pháp thực hiện:

2.3.1 Vận dụng các mối quan hệ giữa các phân môn Tiếng việt

Chương trình Tiếng việt bao gồm các phân môn như sau: Tập đọc, Luyện

từ và câu, Tập làm văn, Chính tả, Kể chuyện Người giáo viên Tiểu học cần phải hiểu rõ được mối quan hệ giữa các phân môn này Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải có ý thức thể hiện mối quan hệ đó và tạo thành cơ sở giúp các em học tốt môn Tập làm văn

Ví dụ: Khi dạy cho các em bài Tập đọc “Con chuồn chuồn nước” giáo viên

cần cho học sinh thấy đây là một bài văn miêu tả, thấy được sự quan sát tinh tế của nhà văn về chú chuồn chuồn, kết hợp tả với cảnh vật, không gian xung quanh đối tượng chính cần tả là chú chuồn chuồn Ngoài ra còn cho học sinh học tập

Trang 4

cách sử dụng các biện pháp tu từ nghệ thuật khi tả hình dáng và hoạt động của con chuồn chuồn :

+ Biện pháp so sánh : Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng; hai con mắt long lanh như thuỷ tinh

+ Biện pháp nhân hoá : Bốn cánh khẽ rung rung như còn đang phân vân

Hoặc khi dạy bài “Bè xuôi sông La” mặc dù là bài thơ nhưng phân tích để học sinh cảm nhận được sự quan sát và dùng từ ngữ, hình ảnh miêu tả rất hay của tác giả về bè gỗ, về cảnh vật hai bên bờ sông Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ nghệ thuật so sánh nước sông trong với ánh mắt; bè gỗ với đàn trâu, sóng nước với vẩy cá, Hay biện pháp nhân hoá về bờ tre xanh mang dáng vẻ của một thiếu

nữ,

Ở một số bài tập đọc thuộc thể loại miêu tả khác cần cho học sinh thấy được

bố cục của bài văn gồm ba phần Tập đọc, kể chuyện có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kỹ năng đọc và hiểu, nghe và hiểu các ngôn bản của bài tập đọc, câu chuyện

kể Bên cạnh đó các phân môn nàycũng góp phần rèn luyện kỹ năng sản sinh văn bản qua việc lập dàn bài và tập kể lại các câu chuyện Ngoài ra các môn này còn cung cấp cho học sinh vốn từ ngữ phong phú, đa dạng, các ví dụ điển hình về nghệ thuật dùng từ, đặt câu, viết đoạn, viết bài văn, các em được học cách dùng từ hay, các bài kể chuyện sinh động, gợi cảm…để phục vụ cho Tập làm văn Phân môn Luyện từ và câu cũng góp phần to lớn trong dạy Tập làm văn Nó cung cấp vốn từ cho học sinh , giúp các em có thêm công cụ tư duy để viết bài văn Học tốt môn này giúp các em viết câu rõ ràng

Tóm lại : Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc

học Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện Bài Tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tiếng Việt Chính vì mối quan hệ này, tôi cho rằng muốn nâng cao được chất lượng môn Tiếng Việt ta phải nâng cao chất lượng môn Tập làm văn cho các em

2.3.2 Xây dựng trường từ vựng qua việc nói miệng

Tập làm văn miệng còn rèn luyện cho học sinh kỹ năng diễn đạt bằng lời nói thông qua khẩu ngữ và những yếu tố phi ngôn ngữ ( cử chỉ, điệu bộ ,ánh mắt, nụ cười) sao cho phù hợp với yêu cầu diễn đạt Muốn làm tốt bước này giáo viên cần

có sự sáng tạo để tổ chức giờ dạy sao cho tự nhiên, gây hứng thú, tạo cho học sinh nhu cầu nói, nhu cầu giao tiếp chứ không phải đơn thuần là trả lời các câu hỏi trong phiếu bài tập một cách gượng gạo, thiếu tự nhiên Để đạt được điều này giáo viên cần chú ý:

- Giáo viên chuẩn bị cho mình lời mở đầu sao cho có sự thu hút người nghe hoặc tạo không khí lớp học sôi nổi, nên gọi một số em nói tốt để mở đầu

- Cần tạo không khí sôi nổi nhưng hết sức tôn trọng học sinh để kích thích các

em nói Cần quan tâm, hướng dẫn các em nói sao cho đúng phong cách và giữ gìn

sự trong sáng của Tiếng Việt Với đề xuất này tôi chỉ giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hành vi trong quá trình tìm ra tri thức mới, tổ chức cho cá nhân tự tìm tòi, trao đổi ở nhóm và các hoạt động chung ở lớp học Các em giữ vai trò tích

Trang 5

cực, chủ động, biến yêu cầu của thầy thành yêu cầu nhận thức của học sinh Các nhóm báo cáo được kết quả của mình, em đại diện nhóm nói được ý tưởng của nhóm mình

Ví dụ : Học sinh đọc bài tập 2 ( trang 61) Sách Tiếng việt 4 tập 2.

Yêu cầu của bài tập là: Viết thêm vào chỗ trống trong từng đoạn đã nêu để đoạn văn được hoàn chỉnh

+ Đoạn 1: Là đoạn mở bài cụ thể thêm vào phần mở đầu như sau: ( Khu vườn

nhà em trồng nhiều loại cây ăn quả, nào mít, nào nhãn, nào vải thiều và nhiều hơn là chuối) Em thích nhất một cây chuối tiêu sai quả trong bụi chuối ở góc vườn

(Hoặc là : Vườn nhà em trồng nhiều loại cây: cây chuối ,chuối cau, chuối hột, chuối ngự, chuối nào cũng đem lại lợi ích cho gia đình em Tất cả loại chuối trong vườn em, em thích nhất một cây chuối tiêu sai quả trong bụi chuối ở góc vườn.)

+ Đoạn 2: Là đoạn thân bài, tả bao quát cây chuối rồi tả thân cây chuối có thể

thêm vào như sau:

Nhìn từ xa cây chuối như một chiếc ô xanh mát rượi Thân cây cao hơn đầu người, mọc thẳng, không cành, xung quanh là mấy cây con đứng sát lại thành bụi ( trông như người mẹ dắt đàn con đi dạo mát trong những ngày hè oi bức Sờ vào thân cây chuối có buồng, tay em không còn cảm giác mát rượi vì cái vỏ nhẵn bóng đã hơi khô)

+ Đoạn 3: Cũng là đoạn thân bài, tả những tàu lá chuối và ngọn của cây chuối,

có thể thêm vào phần tiếp theo của đoạn này như sau:

Cây chuối có nhiều tàu lá, có tàu đã già khô, bị gió đánh rách ngang và rũ xuống gốc Các tàu lá còn xanh thì liền tấm, to như cái máng nước úp sấp Những tàu lá ở dưới màu xanh thẩm, những tàu lá ở trên màu xanh mát, nhạt dần (Những tàu lá như muốn che chở, ôm ấp cho buồng chuối Buồng chuối dài lê thê như muốn kéo thân chuối ngã về một phía Những nải chuối úp sát nhau, trái nhỏ dần phía dưới Mỗi nải chen chúc những quả chuối to bằng cổ tay em bé, dáng cong cong phía dưới có cọng nhỏ héo đen)

+ Đoạn 4: Là đoạn kết bài , có thể vào thêm vào trước câu cuối như sau :

(Cây chuối cống hiến trọn vẹn cho con người Củ chuối, thân chuối người ăn được nhưng chủ yếu để nuôi heo, nuôi gà Lá chuối gói giò, gói bánh và hoa chuối làm nộm hoặc ăn sống.Quả chuối chín vừa ngọt, thơm và bổ) Chuối có ích như thế nên mẹ em thường xuyên chăm bón cho cây chuối tốt tươi

* Tóm lại : Những phần trong ngoặc các nhóm có thể tùy ý lựa chọn từ ngữ

để đưa vào các đoạn sao cho phù hợp với yêu cầu của từng đoạn mà không gò ép các em phải theo câu văn mà giáo viên làm mẫu Mỗi nhóm trình bày theo một ý tưởng riêng mình Như vậy qua phần trình bày của nhóm trưởng giáo viên đã cung cấp và xây dựng trường từ vựng cho học sinh Từ đó bài văn của học sinh sẽ chất lượng hơn

Trang 6

2.3.3 Hướng dẫn dùng tất cả các giác quan để quan sát sự vật cần tả để có thể miêu tả chi tiết cụ thể

Giáo viên chia nhóm học sinh thảo luận, mỗi nhóm từ bốn đến sáu em Cử một

nhóm trưởng, một thư ký, em thư ký cókhả năng ghi chép, em nhóm trưởng cókhả năng bao quát, tính tổ chức cao

Giáo viên cần phát câu hỏi cho nhóm trưởng, phát giấy cho thư ký Em nhóm trưởng đọc to từng câu hỏi cho cả nhóm nghe, cả nhóm thảo luận, thư ký ghi lại những ý kiến của nhóm Trong khi chờ đợi thư ký ghi nhóm trưởng chỉ định cho các bạn trong nhóm thảo luận Như vậy mỗi câu hỏi được đưa ra được các thành viên trong nhóm trả lời từ một đến hai lần Sau khi thảo luận xong, nhiều em đó thuộc bài ngay tại lớp Nhóm trưởng cho bạn khác trả lời, bạn yếu nhắc lại Thảo luận xong thư ký đọc lại toàn bài theo đề đã yêu cầu cho cả lớp nghe

Ví dụ: Đề bài: Quan sát một đồ chơi em thích và ghi lại những điều đã quan sát

được (Búp bê, gấu bông, )

Giáo viên phát câu hỏi cho từng nhóm, nội dung các câu hỏi như sau:

1/ Mở bài cần nêu ý gì?

2/ Quan sát, dùng mắt để xem hình dáng, kích thước, màu sắc của đồ vật như thế nào?

3/ Dùng tay để biết đồ vật mềm hay rắn, nhẳn nhụi hay thô ráp, nặng hay nhẹ? 4/ Dùng tai để nghe đồ vật khi được sử dụng có phát ra tiếng động không, tiếng động ấy như thế nào?

Sau khi thảo luận (khoảng 10 phút) giáo viên gọi nhóm trưởng lên trình bày

ý kiến tổng hợp của nhóm để có một dàn bài hoàn chỉnh nhất trước lớp

Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên giúp học sinh chỉnh sửa và hoàn chỉnh dàn ý, đưa ra một dàn bài cho học sinh tham khảo

Ví dụ: Tả chú gấu bông

Mở bài: Trong những đồ chơi mà em thích, em rất thích gấu bông.

Thân bài:

- Đây là một chú gấu ngồi, em ôm rất vừa tay, được làm bằng loại len pha bông mềm và mịn

- Gấu khoác một cái áo và đội một chiếc mũ vàng chanh, đầu, tay, chân màu nâu xám

- Lột mũ ra, cái đầu tròn vo, hai tai vểnh lên, mắt đen tròn như hai hạt nhãn, miệng u lên và cái mũi đen

- Thân mình và tay chân mập ú, tay chân dang ra trông rất tự nhiên

- Em thắt cho gấu một cái nơ và đính cho gấu một trái banh bằng vải trông rất ngộ

- Ôm mịn mát, ngủ cùng gấu rất thích

Kết bài: Em rất thích gấu bông vì đây là quà mẹ tăng em nhân ngày sinh nhật.

Chú ý: Tùy theo từng bài dạy mà giáo viên có thể sử dụng các giải pháp cho phù

hợp, ngoài giải pháp thảo luận nhóm theo từng câu hỏi cụ thể, còn dùng phiếu bài tập để tiến hành khai thác nội dung bài học

Trang 7

2 3.4 Cung cấp cho học sinh vốn từ có giá trị nghệ thuật

Khi dạy bất kì dạng bài tập làm văn miêu tả nào cho học sinh lớp 4, tôi xác định

rõ mục tiêu và cung cấp cho các em vốn từ ngữ phù hợp (nếu vốn từ ngữ trong sách giáo khoa còn hạn chế thì tôi cung cấp thêm từ ngữ trong vốn từ ngữ dân gian), giải nghĩa những từ học sinh khó hình dung

Chẳng hạn khi dạy dạng bài miêu tả đồ vật, tôi cung cấp và giúp học sinh hiểu nghĩa của những từ có liên quan đến đặc điểm của các đồ vật

Nếu miêu tả đồ dùng , tôi lưu ý học sinh những đặc điểm chung của vật Như

“thước thì mình vuông, mặt phẳng lì, cái bàn cái ghế thì có các chân thon thả, mặt phẳng, nhẵn bóng, nổi vân…Cái mũ, cái áo thì mềm mại, thùng thình, hơi dài hay vừa vặn…

Nếu miêu tả đồ chơi tôi lưu ý học sinh những đặc điểm của đồ chơi Như con gấu bông, con búp bê thì mình tròn, mập mạp hay thanh mảnh…bộ lông mềm mại, hồng hồng, đỏ tía hay vàng cam…

Còn khi dạy dạng bài miêu tả cây cối, tôi lưu ý học sinh những đặc điểm chung về cây Như là thân cây thì to tướng, hơi to, cổ thụ hay sừng sững…lá cây thì xanh đậm, xanh non, xanh biếc hay xanh um…vỏ cây thì xanh xám, nâu xỉn, bạc phếch, xù xì hay nhẵn nhụi …tán cây thì tròn, sum sê hay toả rộng…,rễ cây ngoằn ngoèo …

Khi dạy dạng bài miêu tả con vật- đây là dạng bài miêu tả sự vật sống động nên cũng phải chân thực sinh động hơn, các con vật với các đặc điểm và các hoạt động sống động cho nên việc sử dụng từ ngữ độ chính xác phải cao Khi miêu tả con chó, con mèo, con gà…thì màu lông của chúng màu trắng ( trắng bạch, trắng tinh hay trắng xen lẫn đốm vàng ), màu vàng (vàng sậm, vàng óng hay vàng như nắng…), đôi mắt của chúng cú thể tròn, trong, nâu, xanh hay long lanh…,chân của chúng có thể cao cao, thon thon, nhanh nhẹn hay chắc chắn…, săn mồi( chồm, vồ ), thể hiện thái độ thân thiết, quấn quýt (với chủ)…

* Hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng lớp ngôn từ có giá trị nghệ thuật kết hợp tả với kể

Trong thực tế, khi dạy bất kì một tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả nào,

tôi đều yêu cầu các em nêu đoạn văn miêu tả đặc điểm từng bộ phận của sự vật

đó, gợi cho các em hình dung, tưởng tượng sự vật đó một cách cụ thể, sinh động

Ví dụ 1: Khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn ngắn tả hình dáng bên ngoài chiếc cặp của em.

Học sinh có thể nêu miệng cách tả hình dáng bên ngoài cái cặp như sau:

Chiếc cặp của em đen, hình chữ nhật nằm ngang, to và dày Cặp còn thơm mùi

da Mặt ngoài cặp mềm, sờ vào êm Nắp cặp hình chữ nhật, hơi vát ở hai bên, cũng bằng da mềm và có màu da đen Xung quanh mép được viền bằng một loại chỉ to màu vàng trang trí cho nổi Hai khoá chốt bằng kim loại nằm cân xứng hai bên, đẩy ra, đẩy vào nhẹ và kêu rất thích.

Tôi hướng dẫn em sửa lại cách dùng từ như sau:

- Chiếc cặp của em màu đen như thế nào? (đen sẫm đen nhánh hay đen )

Trang 8

- Cặp của em hơi to hay rất to? so với những vật đựng bên trong nó thì thế nào?

- Mặt ngoài cặp mềm mềm, mềm mại hay mềm như nhung?

- Sờ vào êm như thế nào?

- Đẩy nhè nhẹ hay nhẹ nhàng?

- Em nghe âm thanh khoá cặp ra sao? (lách cách hay tanh tách)

Học sinh sửa lại đoạn văn :

Chiếc cặp của em màu đen nhánh, hình chữ nhật nằm ngan, to hơn quyển

sách Tiếng Việt của em một chút Cặp còn mới, được làm bằng da thuộc Mặt

ngoài cặp mềm mại, sờ vào êm êm Nắp cặp hình chữ nhật, hơi vát ở hai bên, cũng bằng da mềm và có màu vàng cam Xung quanh mép được viền bằng một

loại chỉ to màu vàng trang trí cho nổi Hai khoá chốt bằng kim loại nằm cân

xứng hai bên, đẩy ra, đẩy vào nhẹ nhàng và kêu tanh tách rất vui tai Đằng sau

có hai quai đeo làm bằng chỉ to bản vừa chắc lại vừa êm vai.

Vídụ 2: Khi yêu cầu học sinh viết đoạn văn tả cây mà em yêu thích.

Học sinh đã nêu miệng đoạn viết như sau:

Cây hoa cúc trắng cũng giống như cây hoa cúc vàng, cánh hoa nhỏ, mùi hương thơm ngát, cây mọc thành từng khóm, thân cây chi chít chen nhau như muốn tựa vào nhau, lá mọc thành từng chùm, xẻ cong và mềm Lá cúc xanh quanh năm còn bông thì nở từng tháng mỗi đợt vì thế quanh năm lúc nào cũng thấy có hoa, và không kém gì về hương sắc

Đoạn văn này học sinh đã miêu tả được đặc điểm nổi bật của cây cúc trắng, nhưng giá trị biểu cảm còn hạn chế Tôi yêu cầu học sinh tìm lại trong đoạn văn

có những tính từ nào em đã sử dụng, gợi cho em thấy rằng các tính từ đó chưa thật sự gây ấn tượng cho người đọc, người nghe

Em hãy chuyển thành các từ có sức biểu cảm cao hơn như :

Cúc trắng này giông giống hay giống hệt cúc vàng? Nó có điểm nào đẹp hơn không?

Cây hoa đẹp thì đẹp như thế nào ? Bông hoa trăng trắng hay trắng tinh? Cây toả hương thì ra sao : thơm ngát hay ngan ngát?

Lá mềm mềm hay mềm mại?

Cánh hoa nho nhỏ hay nhỏ li ti?

Học sinh đó sửa lại đoạn văn trên là:

Cũng giống hệt như cúc vàng, vẻ đẹp của cúc trắng chẳng kém phần lộng lẫy còn thêm vẻ trinh trắng kiêu sa hơn cúc vàng một bậc Cũng những cánh hoa nhỏ li ti, hương thơm ngan ngát dịu dàng Cúc mọc thành từng khóm thân chen chúc lẫn nhau như muốn đứng tựa vào nhau Lá mọc thành từng chùm xoè ra như ngón tay Hình lá xẻ cong mềm mại, màu xanh dìu dịu Hoa lúc nào cũng tròn xoe, trắng muốt, xếp đặc cánh hoa bao quanh nhuỵ Dù nắng hạ mưa đông cúc vẫn không quên nở hoa và cũng không vì thế mà kém cả hương sắc Lúc nào cúc cũng được ong bướm bầu bạn đông vui nhất.

Như vậy, khi học sinh biết khai thác và sử dụng cá từ láy, các tính từ tuyệt đối để miêu tả, thì bài văn của các em mang lại hiệu quả cao hơn Bởi vì, các từ láy và

Trang 9

các tính từ tuyệt đối sẽ mang lại những giá trị biểu cảm về hình tượng, về âm thanh, thế giới màu sắc, hình ảnh sẽ làm cho bài văn của các em cụ thể, sinh động, chân thực và giàu cảm xúc

2.3.5 Khai thác và sử dụng biện pháp nghệ thuật (nhân hoá, so sánh) trong làm văn miêu tả

Như chúng ta đã biết, sử dụng biện pháp nhân hoá, so sánh trong viết văn thể hiện sự nhận thức chính xác, sâu sắc của người sử dụng và tăng cường sự nhận thức cho người đọc, người nghe về sự vật Khi sử dụng hai biện pháp này giúp người đọc, người nghe hình dung ra sự tương đồng giữa các đối tượng So sánh làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt, khiến sự vật được so sánh trở nên đẹp đẽ, sinh động, hấp dẫn, cụ thể và lôi cuốn người đọc, người nghe Nhân hoá làm cho sự vật được miêu tả sinh động, hấp dẫn, lí thú, làm các đối tượng không phải con người lại mang dấu hiệu, thuộc tính của con người, các sự vật được thổi một luồng sinh khí mới vào cuộc sống của chúng, đó là sức sống của con người Với hai biện pháp này, người miêu tả có thể thể hiện được màu sắc, hình khối, âm thanh và thể hiện kín đáo sâu sắc tình cảm, cảm xúc, thái độ,

sự đánh giá đối với sự vật đó Chính vì vậy, tôi giúp học sinh khai thác, sử dụng hai biện pháp này vào viết văn miêu tả

Trong thực tế giảng dạy, tôi đã rèn kĩ năng sử dụng và khai thác các biện pháp nghệ thuật như sau:

a Yêu cầu học sinh thực hiện bài tập về sử dụng biện pháp nghệ thuật.

Trong những tiết học thực hành Tập làm văn trên lớp cùng với việc hướng dẫn làm văn, tôi kết hợp hướng dẫn làm một số dạng bài tập cụ thể là:

*Em hãy điền từ hoặc cụm từ phù hợp vào mỗi câu sau để có hình ảnh so sánh cho bài văn miêu tả :

- Thân chú to …

- Mắt tròn và đen láy như …

- Bộ lông mềm mượt …

- Tán lá bàng xoè ra giống như …

(nàng tiểu thư đài các, bắp đùi em, nhung, cái ô xanh khổng lồ, long lanh như thuỷ tinh )

*Em hãy chọn từ (trong ngoặc đơn dưới đây) điền vào chỗ chấm để có hình ảnh nhân hoá:

Kìa trên nụ hồng còn ướt đẫm sương mai, một … bướm vàng đang rung rung đôi cánh Hình như đã ngửi thấy mùi hương thơm của bông hoa mới nở ở cành trên Chị vẫy nhẹ đôi cánh đậu nhẹ nhàng Thế rồi cái lưỡi dài đã cuộn thành ống hút Chị duỗi ống lưỡi ra, đưa đầu lưỡi nhúng vào mật ngọt hút say sưa Chắc chị đang … “Chà! Sao mà ngọt thế!” Rồi chị vẫy nhẹ đôi cánh, chập chờn bay đi Cái râu rung rung như muốn … “Cảm ơn bạn hoa nhé, mật của bạn thật tuyệt!”

(chị, nói, nghĩ)

*Em hãy viết các câu sau thành các câu có hình ảnh so sánh, nhân hoá:

- Buổi sáng những cánh buồm nâu trên biển đẹp quá

Trang 10

- Đôi cánh gà mẹ xoè ra che chở cho bầy con.

- Ánh nắng mai chiếu trên mái nhà và trên khoảng sân rộng

- Trên tán lá bàng, bầy chim đang hót

Ở bài tập này học sinh có thể viết được các câu như:

- Buổi sáng, những cánh buồm nâu trên biển giống như những cánh bướm dập dờn.

- Đôi cánh gà mẹ xoè ra như hai mái nhà che chở cho bầy con.

- Ánh nắng mai đùa vui trên mái nhà và trên khoảng sân rộng.

- Trên tán lá bàng, bầy chim đang ríu rít chuyện trò.

b) Hướng dẫn học sinh thực hành sử dụng biện pháp nghệ thuật.

Trong thực tế , khi dạy bất kì một tiết luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả nào, nếu các em nêu miệng đoạn văn miêu tả đặc điểm từng bộ phận của sự vật đó, tôi gợi cho các em hình dung, tưởng tượng sự vật đó một cách cụ thể, sống động bằng cách thêm vào những hình ảnh so sánh, nhân hoá

Ví dụ : Khi yêu cầu viết đoạn văn ngắn miêu tả đồ chơi mà em yêu thích.

Một học sinh chọn tả gấu bông và nêu miệng cách tả như sau:

Chú gấu bông này mới đẹp làm sao? Chú có bộ lông màu vàng sẫm và mịn màng Cái đầu tròn và to Hai mắt chú đen sì Trên cổ chú có thắt một chiếc nơ màu xanh da trời Mỗi buổi tối, sau khi học bài xong, em lại mang chú ra chơi.

Học sinh đó miêu tả được các bộ phận của chú gấu bông và thể hiện tình cảm của mình đối với đồ vật Nhưng đồ vật chưa thật sự sinh động

Tôi hướng dẫn học sinh sửa đoạn văn trên bằng các câu hỏi :

- Bộ lông chú mịn màng như cái gì? (như nhung)

- Đầu chú tròn và to bằng vật gì? (quả bóng nhựa )

- Hai mắt đen sì giống như thứ gì em biết ? (hạt nhãn)

- Chú gấu bông đối với em như thế nào ? Có thân thiết không ? (Như người bạn thân)

Học sinh đó sửa đoạn văn trên thành:

Chú gấu bông này mới đẹp làm sao? Chú có bộ lông màu vàng sẫm và

mịn mượt như nhung Cái đầu tròn và to như quả bóng nhựa mẹ mua cho em Hai mắt chú đen sì giống như hai hạt nhãn Trên cổ chú có thắt một chiếc nơ

màu xanh da trời Mỗi buổi tối, sau khi học bài xong, em lại bế anh chàng ra

chơi Giống như một người bạn thân,em và gấu bông lại tâm sự chuyện buồn vui trong ngày.

2.3.6 Hướng dẫn cho học sinh bộc lộ cảm xúc cho bài văn

Bài văn hay không thể thiếu được cảm xúc của người nói, người viết, cảm xúc không chỉ bộc lộ ở phần kết luận mà còn thể hiện trong từng câu, từng đoạn của bài văn, Giáo viên cần tạo cho các em có thói quen bộc lội cảm xúc khi đang tả hoặc đang kể một sự việc gì, tránh tình trạng khi đến cuối bài văn mới phát biểu suy nghĩ như một công thức

Ví dụ: Khi tả chiếc cặp sách của em, ở phần kết luận có em viết “Em rất yêu

quý chiếc cặp,em sẽ giữ gìn cặp thật cẩn thận” Gặp những bài văn có kết luận

Ngày đăng: 21/03/2019, 08:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w