1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm có qui mô vừa và nhỏ từ nội thành ra ngoại thành tại tp hcm trường hợp quận 11, quận tân bình đề tài nghiên cứu khoa học cấp trườn

50 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 7,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

12 Chương 3: Chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm tại TPHCM đối với CSSX vừa và nhỏ, kết quả thực hiện, các thuận lợi và khó khăn, tác động kinh tế-xã hội điển cứu tại Quận Tân Bình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

SƠN THANH TÙNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VIỆC DI DỜI CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT GÂY Ô NHIỄM CÓ QUI MÔ VỪA VÀ NHỎ TỪ NỘI THÀNH RA

NGOẠI THÀNH TẠI TP HCM (TRƯỜNG HỢP QUẬN 11, QUẬN TÂN BÌNH)

Thành phố Hồ Chí Minh, 2009

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1: Đặt vấn đề 3

I Lý do chọn đề tài 3

II Mục tiêu của đề tài 4

III Phương pháp nghiên cứu 4

IV Nội dung đề tài 4

V Giới hạn nghiên cứu 4

VI Định nghĩa cơ sở sản xuất qui mô vừa và nhỏ: 5

VII Các chữ viết tắt: 5

VIII Sơ đồ nghiên cứu 6

Chương 2: Hoạt động sản xuất công nghiệp, các tác động môi trường và các chương trình cải thiện môi trường đối với hoạt động công nghiệp tại TPHCM 7

I Hoạt động sản xuất công nghiệp 7

II Các tác động môi trường: 8

iII Các chương trình khắc phục ô nhiễm công nghiệp tại TPHCM 11

1 Các chương trình 11

2 Kết quả của các chương trình khắc phục ô nhiễm 12

Nguyên Nhân 12

Chương 3: Chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm tại TPHCM đối với CSSX vừa và nhỏ, kết quả thực hiện, các thuận lợi và khó khăn, tác động kinh tế-xã hội (điển cứu tại Quận Tân Bình và Quận 11) 14

I Chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm tại TPHCM: 14

1 Mục tiêu chương trình 14

2 Yêu cầu 15

3 Thời hạn thực hiện di dời: 15

4 Đối tượng thực hiện: 16

5 Địa điểm di dời: 18

II Kết quả thực hiện (điển cứu tại Quận Tân Bình và Quận 11) 18

1 Giới thiệu về hiện trạng sản xuất công nghiệp tại khu vực nghiên cứu 18

III Các vấn đề bất cập cần cải thiện khi thực hiện chương trình di dời 30

1 Về địa điểm di dời 30

2 Khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ từ ngân hàng 33

3 Tái ô nhiễm 35

4 Sự không đồng bộ giữa các địa phương về thời hạn thực hiện: 36

5 Sự không đồng bộ giữa cơ sở nhà nước và tư nhân: 37

6 Thiếu sự hỗ trợ về kỹ thuật và thông tin 38

7 Chính sách chế tài không rõ ràng: 38

8 Chi phí di dời vào KCN vượt quá khả năng của một CSSX vừa và nhỏ: 38

9 Quỹ hỗ trợ hạn chế: 39

10 Vấn đề lao động, việc làm: 40

IV Các kết quả tích cực 41

1 Lợi ích về môi trường và qui hoạch đô thị 41

2 Nâng cao hơn nhận thức của doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường 42

V Các Tác Động Kinh Tế-Xã Hội Đối Với Các Cơ CSSX vừa và nhỏ 43

1 Tác động đối với đời sống kinh tế của CSSX: 43

2 Tác động về văn hóa 43

Trang 3

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45

I KẾT LUẬN 45

II KIẾN NGHỊ 46

1 Qui hoạch không gian di dời 46

2 Xây dựng chính sách hỗ trợ tài chính hiệu quả hơn: 46

3 Thực hiện chương trình đồng bộ giữa các địa phương 47

4 Xây dựng Khu/Làng tiểu thủ công nghiệp 48

5 Hỗ trợ thông tin và kỹ thuật mới trong sản xuất sạch và xử lý ô nhiễm 48

6 Cần Lưu Ý Đến Sự Tham Gia Của Cộng Đồng 48

Trang 4

Chương 1: Đặt vấn đề

I Lý do chọn đề tài

Đối kháng giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế luôn diển ra Bảo vệ môi trường bền vững không chỉ là nghiêm cấm người dân, doanh nghiệp không gây ô nhiễm môi trường, mà còn phải giúp họ có cơ hội làm việc, phát triển kinh tế và có điều kiện sống chất lượng hơn, từ đó sẽ không xâm hại đến tài nguyên và làm suy thoái môi trường Đã có nhiều dự án, chương trình nghiên cứu để giải quyết xung đột quyền lợi giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường trong sản xuất công nghiệp và nông nghịêp

Tại thành phố Hồ Chí Minh, để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong thành phố, chính quyền thành phố đã tiến hành chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư Tuy nhiên, chương trình này gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện vì không thể đơn giản di dời CSSX khi còn nhiều vấn đề chưa giải quyết về qui hoạch, tài chính, xử lý ô nhiễm cũng như các tác động xã hội và kinh tế đi kèm Với giới hạn cho phép về thời gian và kinh phí, nhóm nghiên cứu chỉ nghiên cứu việc thực hiện chương trình di dời đối với các CSSX qui mô vừa và nhỏ Các CSSX này có những khó khăn đặc thù khi phải thực hiện chương trình di dời này Đây là nhóm đối tượng “dễ chịu tổn thương” trong các chính sách cải thiện môi trường của Nhà nước khi họ là những cơ sở nhỏ

có vốn liếng ít ỏi, do đó sẽ khó thực hiện nghiêm ngặt những qui định của Nhà nước mà không chịu nhiều tổn thất về kinh tế và xã hội Hiện vẫn chưa có những nghiên cứu chính thức nào tại Việt nam về những khó khăn, trở ngại khi thực hiện chương trình di dời cũng như những tác động kinh tế xã hội đối với nhóm đối tượng này Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của chương trình di dời, các trở ngại và tác động KT-XH đối với các CSSX vừa và nhỏ trong thời gian qua

Trang 5

II Mục tiêu của đề tài

 Tìm hiểu các hoạt động cải thiện môi trường trong sản xuất công nghiệp

và kết quả của chương trình di dời đối với các CSSX quy mô vừa và nhỏ tại TPHCM

 Tìm hiểu các vấn đề thuận lợi và khó khăn và các tác động kinh tế xã hội của chương trình

 Góp ý các giải pháp dựa trên kết quả nghiên cứu

III Phương pháp nghiên cứu

 Thu thập tài liệu, số liệu, thông tin về chương trình di dời tại TPHCM

 Điều tra, phỏng vấn trực tiếp các CSSX và các chuyên gia, cán bộ Nhà nước tham gia vào chương trình này

 Tìm hiểu các kết quả thực hiện các chương trình di dời tại các quốc gia khác trong khu vực châu Á để so sánh và đề xuất các ý tưởng cho chương trình tại TPHCM

IV Nội dung đề tài

 Chương 1: Đặt vấn đề

 Chương 2: Hoạt động sản xuất công nghiệp, các tác động môi trường và các chương trình cải thiện môi trường đối với hoạt động công nghiệp tại TPHCM

 Chương 3: Chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm tại TPHCM, kết quả thực hiện, các thuận lợi và khó khăn, tác động kinh tế-xã hội đối với CSSX vừa và nhỏ (điển cứu tại Quận Tân Bình và Quận 11)

 Chương 4: Kiến nghị giải pháp cho tính hiệu quả của chương trình

V Giới hạn nghiên cứu

 Về không gian: trong giới hạn cho phép về kinh phí và thời gian, nhóm

nghiên cứu chỉ tìm hiểu kết quả của chương trình này tại 2 quận Tân Bình

và quận 11 Đây là địa bàn tập trung nhiều cơ sở sản xuất qui mô vừa và nhỏ tại TPHCM

Trang 6

 Trở ngại trong quá trình nghiên cứu:

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã gặp trở ngại khi tiếp cận với địa bàn quận 11 Nhóm đã không được sự hỗ trợ của phòng Tài nguyên môi trường quận để thực hiện điều tra các CSSX tại địa bàn này Nhóm chỉ nhận được báo cáo của Phòng về việc thực hiện Chương trình di dời và phỏng vấn một chuyên viên của Phòng, người thực hiện chương trình này Do đó, nhóm đã không

có được kết quả điều tra các CSSX tại quận 11, mà các kết quả nghiên cứu có được chỉ dựa trên báo cáo và kết quả phỏng vấn sâu

Từ các hạn chế nêu trên, kết quả nghiên cứu chỉ mang tính tham khảo chứ không thể đưa ra các kết luận cuối cùng về kết quả hay các vấn đề liên quan đến việc thực hiện chương trình này tại TPHCM

VI Định nghĩa cơ sở sản xuất qui mô vừa và nhỏ :

Doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao

động trung bình hàng năm không quá 300 người

Trong chương trình này, căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, Chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên (Theo Điều 3 nghị định của Chính Phủ số 90/2001/NĐ-CP ngày 23

tháng 11 năm 2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Trang 7

VIII Sơ đồ nghiên cứu

của chương trình

Trang 8

Chương 2: Hoạt động sản xuất công nghiệp, các tác động môi trường và các chương trình cải thiện môi trường đối với hoạt

động công nghiệp tại TPHCM

I Hoạt động sản xuất công nghiệp

Trên địa bàn TPHCM, có rất nhiều hoạt động của các CSSX vừa và nhỏ ngày và đêm đang làm suy thoái chất lượng môi trường trong thành phố Nhóm nghiên cứu

đã tìm hiểu hoạt động sản xuất công nghiệp tập trung tại một số địa bàn trọng điểm sau đây:

 Quận Tân Bình

Đây là quận tập trung nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp phân bố trên hầu hết các phường Các kênh rạch trên địa bàn đều bị ô nhiễm nghiêm trọng như kênh Tham Lương, Nhiêu Lộc, Tân Hóa Tại khu vực nhóm thực hiện nghiên cứu, hoạt động sản xuất công nghiệp có hiện trạng như sau:

- Phường 9: có tới 33 cơ sở sản xuất, chủ yếu là các cơ sở thuộc da, sản

xuất thuỷ tinh, xị mạ, cửa sắt, cơ khí, sản xuất bia…

- Phường 15: có 27 cơ sở sản xuất, ngành nghề chủ yếu là nấu nhôm, xị mạ,

nhuộm, giặt tẩy, đúc gang, sản xuất dầu ăn, hoá chất…

Ngoài ra còn có một số cụm cơ sở tiểu thủ công nghiệp khác như nấu chì và tái chế nilon ở phường 16, sản xuất inox phường 4, sơn tĩnh điện, nhuộm vải tại phường 12 và chế biến nông sản, cao su, gia công cơ khí tại phường 14

 Quận 11

Đây là quận tập trung nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp thuộc nhiều ngành nghề như: tẩy nhuộm, xeo giấy, chế biến thực phẩm, xi mạ, thuộc da, thủy tinh, gia công cơ khí Đặc biệt phường 5 tập trung hơn 80 cơ sở tẩy nhuộm với đa số trang bị máy móc thiết bị cũ, lạc hậu nằm xen kẽ trong khu dân cư đông đúc Phường 14 tập trung các cơ sở thuộc da, thủy tinh Phường 15 và 16 tập trung các

cơ sở nhựa tái sinh

 Quận 5

Trang 9

Tập trung các cơ sở dịch vụ buôn bán gỗ có trang bị các máy cưa xẻ gỗ tại phường 5, 7, 9, 14, 15 và dệt vải thủ công tại Phường 15

Tập trung nhiều cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp phân bố đều trên địa bàn 14 phường (hơn 40% là gia công cơ khí); ngoài ra còn có một số ngành gây ô nhiễm nước thải như: giấy tái sinh, xi mạ, tẩy nhuộm tập trung tại các Phường 4,

6, 8 và một số đơn vị lớn như sản xuất thuộc da (Phường 9), chế biến thực phẩm (Phường 6, 7)

Các kênh rạch trên địa bàn quận bị ô nhiễm như kênh Tàu Hủ, kênh Đôi Tổng số 23 kênh rạch lớn nhỏ chia cắt Quận 8 đều bị ô nhiễm Đặc biệt tại các Phường 1, 2, 3 tập trung các cơ sở nấu, cán nhôm; Phường 6, 7 tập trung các

cơ sở dệt bao

Các địa bàn khác tập trung các đơn vị sản xuất công nghiệp qui mô vừa và nhỏ ít hơn mà chủ yếu là các khu công nghiệp như các quận Thủ Đức, quận 12, quận Hóc Môn… và các quận có ít các CSSX như quận 9, quận 7, Nhà Bè…

II Các tác động môi trường :

Nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu các báo cáo về tác động môi trường của các CSSX này như trình bày dưới đây:

+ Đối với môi trường không khí: Trung bình mỗi ngày một cơ sở nhuộm, tái chế giấy trong khu vực phải đốt 7-10 tấn than đá, hoặc 10-12 tấn củi,

do đó lượng khí thải ra môi trường không phải là ít Chỉ tính riêng các lò hơi và lò nung hàng năm thải vào không khí 578 tấn bụi, 78 tấn SO2, 84 tấn CO, 2.016 tấn

NO2, 52 tấn hydrocacbon, 25 tấn aldehyde… Theo kết quả quan trắc môi trường, tại một số cơ sở sản xuất, nồng độ bụi trong không khí vượt quá tiêu chuẩn cho phép (0,4-0,5mg/m3 so với tiêu chuẩn cho phép là 0,3mg/m3) Ngoài ra, tiếng ồn

và ô nhiễm mùi hôi khá cao

Trang 10

+ Đối với môi trường nước mặt và nước ngầm: Để nhuộm được 1 tấn

vải thành phẩm phải sử dụng từ 4 đến 5kg hóa chất độc hại, rất khó phân hủy trong môi trường tự nhiên như hydro sunfit (HSO3), chất tẩy trắng (NaClo) Trong khi

đó, mỗi một cơ sở sản xuất nhuộm vừa và nhỏ mỗi ngày sản xuất 10 - 20 tấn vải, trung bình phải sử dụng hết gần 100kg hóa chất, phẩm màu Chính vì thế dòng kênh Tham Lương, Tân Hoá Lò Gốm… nhuộm một màu đỏ quạch, sặc mùi hăng hắc của hóa chất Hầu hết các kênh rạch đều bi nhiễm bẫn hữu cơ qua các trị số DO=0, giá trị BOD5 dao động trong khoảng 10-275mg/l (TCVN<25mg/l), BOD5

max được ghi nhận tại trạm Ông Buông (kênh Tân Hóa-Q.11) vào mùa khô là 207mg/l (nước lớn) và 275mg/l (nước ròng) Ảnh hưởng của nước thải từ các hoạt động sản xuất đến chất lượng kinh rạch còn thể hiện qua giá trị cao của chỉ số COD, dao động trong khoảng 1.2mg/l (An Lộc) – 665mg/l (Hòa Bình) vào mùa khô và 48mg/l (Phú Định)- 292mg/l (Tham Lương) vào mùa mưa (TCVN<35mg/l) Ô nhiễm vi sinh tại các kênh rạch trong thành phố rất cao Hàm lượng coliform vượt TCCP = 10.000MPN/100ml đến 11.000 lần (tại Hòa Bình, Ông Buông và Rạch Ngựa)

Kết quả phân tích tại 11 giếng quan trắc cho thấy 10/11 vị trí quan trắc nước ngầm không đạt tiêu chuẩn nước uống TCVN5501-1991 vì ô nhiễm vi sinh

và NH4, NO3 va TDS (tổng chất rắn hòa tan) Hiện tượng ô nhiễm kim loại nặng đối với tầng nước ngầm của thành phố đã xuất hiện Hàm lượng Niken đều vượt tiêu chuẩn VN về chất lượng nước ngầm TCVN 5944-1995

Tình hình ô nhiễm cũng thể hiện qua số lượng đơn thư khiếu nại về ô nhiễm môi trường Không có được số liệu mới nhất, nhưng thống kê trong năm

2001 khi thành phố chuẩn bị thực hiện chương trình di dời cho thấy cấp thành phố tiếp nhận 220 đơn thư khiếu nại, trong đó có 51 đơn khiếu nại do sản xuất công nghiệp, 113 đơn về sản xuất tiểu thủ công nghiệp Cấp quận huyện tiếp nhận 749 đơn

Trang 11

Đã hàng chục năm nay, những hộ dân trên địa bàn các Phường 3, 4, 11… Q11 Thành phố Hồ Chí Minh phải sống chung với nạn ô nhiễm khói bụi, tiếng ồn do các lò sản xuất thủy tinh gây ra Người dân nhiều lần kêu cứu đến các cơ quan chức năng nhưng tình trạng này vẫn chưa được xử lý

Người dân ở hẻm 156 đường Bình Thới, Phường 14 Quận 11 nhiều lần làm đơn tố cáo lò sản xuất thủy tinh Hưng Phát của ông chủ Sì Biếu (tên thường gọi) Lò sản xuất thủy tinh Hưng Phát có diện tích khoảng 400m2, nằm lọt thỏm giữa khu phố đông đúc dân

cư Chính vì vậy, khói, bụi, hơi nóng từ lò sản xuất thủy tinh cứ phả thẳng vào nhà dân Cái nóng hầm hập và những đám khói đen kịt mang theo vô số tạp chất tuôn qua ống khói hoặc xả thẳng từ khoảng trống phía trên mái nhà xưởng bay sang bám đầy các vật dụng, nhà cửa người dân

Tình trạng này kéo dài đã hơn 30 năm Đóng bít cửa lại thì nóng, mà hé ra một chút là khói bụi ùa vào đầy nhà “Do lò sản xuất thủy tinh sát vách nhà nên dù đã cho xây hai vách tường ngăn dày hơn 40cm để cách nhiệt nhưng vẫn không chịu nổi sức nóng Chưa hết, xe cộ vào ra chở hàng hóa ầm ầm suốt ngày đêm làm chúng tôi không phút nào được yên", một hộ dân ở hẻm 156, bức xúc nói Theo các hộ dân, do phải sống trong ô nhiễm lâu ngày nên hầu hết người dân nơi đây đều bị mắc các loại bệnh về tai, mũi, họng Một số hộ dời đi nơi khác nhưng người đến sau lại tiếp tục chịu đựng ô nhiễm Ngay cả gia đình ông chủ lò thuỷ tinh cũng dời đi nơi khác từ lâu, chỉ còn lại cơ sở sản xuất!

Ông Dương Công Thành, người trực tiếp quản lý cơ sở Hưng Phát thừa nhận, tình trạng ô nhiễm là do lò sản xuất thủy tinh gây ra Cơ sở đã khắc phục bằng cách dùng hơi nước để giảm độ nóng và hạn chế bụi Tuy nhiên, trên thực tế giải pháp này không mang lại hiệu quả mà còn làm nước tràn ra hẻm Hiện nay, Quận 11 còn 12 lò thủy tinh chưa di dời ra các Khu công nghiệp và khu vực phụ cận

Trang 12

III Các chương trình khắc phục ô nhiễm

công nghiệp tại TPHCM

1 Các chương trình

Từ năm 1992, Thành phố đã thiết lập các hệ thống quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn, tổ chức triển khai Luật bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành luật Riêng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đã có một số chương trình nghiên cứu hỗ trợ doanh nghiệp khắc phục tình trạng ô nhiễm, cụ thể là:

1- Chương trình điều tra khảo sát tình trạng ô nhiễm công nghiệp được thực hiện từ 1993 – 1996 Chương trình đã khảo sát, đo đạc chi tiết và lượng hóa mức độ ô nhiễm trên 265 doanh nghiệp Có 87 doanh nghiệp bị nêu tên trong

“sách đen” vì có mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép

2- Chương trình Sản xuất sạch hơn do tổ chức phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc - UNIDO thực hiện với sự tài trợ của tổ chức SIDA - Thụy Điển, bắt đầu triển khai từ 1996, nhằm mục đích hỗ trợ các doanh nghiệp hoàn thiện quy trình quản lý Tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm thiếu tối đa chất thải, giảm gánh nặng đầu tư xử lý cuối nguồn thải để đạt hiệu quả cao nhất trong sản xuất kinh doanh và đảm bảo đạt được tiêu chuẩn quy định về bảo vệ môi trường

3- Chương trình Giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000: chương trình ra đời nhằm phổ biến áp

dụng rộng rãi kết quả của phương pháp: “giảm thiểu chất thải, sản xuất sạch hơn”

theo quyết định số 5289/QĐ-UB ngày 14/9/1999 của Ủy ban nhân dân Thành phố; kèm theo quyết định này là sự ra đời của:

- Quỹ hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từ nguồn vốn tương đương 1 triệu USD của Thành phố, theo quyết định số 5289/QĐ/UB-KT ngày 14/9/1999 của Ủy ban nhân dân Thành phố

- Quỹ xoay vòng giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp với nguồn vốn vay 2,5 triệu USD từ ngân hàng phát triển Châu Á – ADB

Trang 13

- Chương trình phối hợp giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp tại Thành phố

Hồ Chí Minh, do Bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố ký ngày 25/5/1999

- Chương trình giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của các quận, huyện

4- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hiện đại hóa với chi phí thấp, tạo

ưu thế cạnh tranh và đẩy mạnh xuất khẩu, theo chỉ thị 04/2000/CT-UB-KT ngày 23/2/2000 của Ủy ban nhân dân Thành phố (quỹ kích cầu hỗ trợ doanh nghiệp đầu

tư hiện đại hóa sản xuất, di dời và xử lý ô nhiễm)

2 Kết quả của các chương trình khắc phục ô nhiễm

Mặc dù có nhiều nỗ lực từ phía các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và các nhà khoa học, nhưng kết quả khắc phục ô nhiễm từ các doanh nghiệp còn rất hạn chế, với tiến độ chậm chạp, cộng với số doanh nghiệp hình thành tự phát, không theo quy hoạch, không tuân thủ các yêu cầu bảo vệ môi trường đã làm phá vỡ chương trình quy hoạch một số quận huyện ngoại thành, gây ô nhiễm từ các cụm sản xuất thủ công được di chuyển từ nơi này đến nơi khác

Nguyên Nhân

a) Đa số doanh nghiệp chưa quan tâm đến yêu cầu bảo vệ môi trường; thiếu thông tin kỹ thuật; ngại đổi mới sợ bị thất bại; chưa có sự cạnh tranh giữa các sản phẩm về bảo vệ môi trường nên không có động cơ thúc đẩy phải đổi mới; sản xuất thủ công và quy mô nhỏ nên khó khăn về vốn và lao động khi thay đổi công nghệ; thiếu cơ chế khuyến khích hấp dẫn

b) Hiệu lực pháp luật về bảo vệ môi trường không nghiêm, các chính sách khuyến khích và chế tài không rõ ràng Hệ thống tổ chức và năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không đồng bộ, không bao quát nhiệm vụ

c) Thiếu sự phối hợp đồng bộ từ các ngành, các cấp trong việc thực hiện các quy chế quản lý nhà nước và yêu cầu bảo vệ môi trường Việc lồng ghép các hoạt động kinh tế - xã hội theo quy hoạch tổng thể của Thành phố đến 2010 thiếu chặt chẽ Nội dung quy hoạch có những chương, mục phản ánh đầy đủ hiện trạng,

Trang 14

mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp bảo vệ môi trường nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững, tuy nhiên từ kế hoạch tổng thể đến kế hoạch chi tiết, kế hoạch hành động cụ thể vẫn còn khoảng cách rất xa Thiếu chính sách đầu tư đồng bộ cho yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Trang 15

Chương 3: Chương trình di dời các CSSX gây ô nhiễm tại TPHCM đối với CSSX vừa và nhỏ, kết quả thực hiện, các thuận lợi và khó khăn, tác động kinh tế-xã hội (điển cứu tại

Quận Tân Bình và Quận 11)

Như đã đề cập ở chương 2, từ năm 1992, thành phố đã hỗ trợ tích cực cho các cơ

sở gây ô nhiễm để thực hiện các biện pháp xử lý chất thải và đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng sản xuất sạch hơn, nhưng kết quả thực hiện của các cơ sở sản xuất còn rất hạn chế Điều này đã gây nên tình hình ô nhiễm rất trầm trọng Do vậy, việc thực hiện chương trình di dời, đình chỉ sản xuất, yêu cầu phục hồi lại môi trường là hết sức cần thiết để thành phố có thể phát triển với một môi trường trong lành hơn

Chương trình di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm không những chỉ giải quyết vấn đề môi trường, đổi mới công nghệ sản xuất mà còn kết hợp qui hoạch lại dân cư, chuyển đổi cơ cấu sản xuất lao động ngoại thành, đồng thời góp phần chỉnh trang đô thị Chính quyền TPHCM nhận định rằng chương trình có ích lợi trên nhiều mặt của đời sống kinh tế – xã hội của thành phố, đòi hỏi tinh thần vượt khó, chịu tốn kém, cần thiết phải chấp nhận tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại trong một giai đoạn nhất định để sau đó, sản xuất đạt được hiệu quả cao hơn Các ngành, các cấp và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cần quán triệt sâu sắc mục đích, ý nghĩa nêu trên để chủ động khắc phục trở ngại, thực hiện công tác di dời với tinh thần năng động, quyết liệt tạo chuyển biến thực sự trong vòng 2 năm, rút ngắn tiến độ thực hiện trong năm 2004

Trang 16

- Kết hợp di dời các cơ sở sản xuất nhỏ, thủ công để hình thành các cơ sở lớn hoạt động ổn định, có khả năng cạnh tranh cao trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới;

- Phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố phù hợp với yêu cầu quy hoạch Thông qua chương trình, kết hợp, tổ chức sắp xếp lại hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa phương, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng thương mại – dịch vụ

2 Yêu cầu

- Cải thiện và khăc phục tình trạng ô nhiễm về không khí, nước thải, tiếng

ồn, rung, chất thải rắn trong khu vực dân cư;

- Thực hiện kết hợp bố trí lại dân cư, hợp lý hoá nhu cầu đi lại, chuyển nhanh cơ cấu công – nông nghiệp ngoại thành và chỉnh trang đô thị;

- Xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư hợp lý, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ, thay đổi ngành hàng sản xuất, nâng chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu mở rộng thị trường trong xu thế hội nhập

3 Thời hạn thực hiện di dời:

Đến hết 2004, chương trình dự kiến di dời toàn bộ các CSSX gây ô nhiễm nghiêm trọng không có khả năng khắc phục tại chỗ vào khu công nghiệp và vùng phụ cận Thành phố

Ngay từ đầu năm 2002, thành phố đã tổ chức triển khai thí điểm di dời 10 doanh nghiệp điểm để kịp thời rút kinh nghiệm, hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ chương trình di dời cho các doanh nghiệp;

+ Trong giai đoạn 2003 – 2004 thành phố tập trung

- Bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến khích di dời;

- Phổ biến quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu vực làng nghề, tiểu thủ công nghiệp;

- Công bố danh sách các doanh nghiệp phải di dời, thời hạn di dời để cộng đồng dân cư cùng tham gia, kiểm tra giám sát

Trang 17

Chương trình đã phải gia hạn đến năm 2006, tuy nhiên, đến năm 2008, vẫn còn khoảng 143 doanh nghiệp chưa chịu di dời mặc dù Ban chỉ đạo chương trình

1 Ngành hoá chất: sản xuất hoá chất cơ bản, sản xuất pin, ắc quy, thuốc bảo vệ thực vật, hoá chất làm lạnh, phèn, chất tẩy rửa, thuốc nhuộm, sơn, sản xuất phân bón;

2 Ngành tái chế, mua bán chất phế thải: Giấy, nhựa, kim loại, dầu nhớt cặn;

3 Ngành tẩy nhuộm, hồ, in trên các sản phẩm vải sợi, dệt, may, đan;

4 Ngành luyện cán cao su;

10 Ngành sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất gốm sứ, thuỷ tinh;

11 Ngành sản xuất gỗ (trừ điêu khắc gỗ và mộc gia dụng)

12 Ngành chế biến thực phẩm tươi sống

13 Ngành sản xuất cồn, bia, rượu, nước giải khát (trừ nước uống tinh khiết);

Trang 18

14 Ngành sản xuất thuốc lá;

15 Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy trình công nghiệp

16 Ngành giết mổ gia súc;

17 Ngành chế biến than;

(Nguồn: theo Quyết định số 200/2004/QĐ-UB của UBND Tp HCM về việc công

bố danh sách các ngành nghề sản xuất kinh doanh không cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, không cấp mới hoặc điều chỉnh giấy phép đầu tư trong khu dân cư tập trung)

Các doanh nghiệp thuộc danh mục ngành nghề sản xuất, kinh doanh nêu trên đang hoạt động trong khu dân cư tập trung phải thực hiện kế hoạch di dời của UBND Thành phố Trong thời gian chưa di dời, các doanh nghiệp, các cơ sở đang hoạt động phải chấp hành các tiêu chuẩn quy định về bảo vệ môi trường

b Về vị trí

Các doanh nghiệp không phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế

xã hội của Thành phố, Quận Huyện và quy hoạch môi trường của Thành phố

Các doanh nghiệp có loại hình sản xuất có phạm vi gây ô nhiễm rộng, có chất thải nguy hại, khó có khả năng khắc phục ô nhiễm theo quy định ở những khu vực nhạy cảm như bệnh viện, trường học, hoặc khi có sự cố sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người

c Về công nghệ

CSSX có công nghệ lạc hậu hoặc không đồng bộ (mới thay thế một phần) CSSX không có hệ thống xử lý ô nhiễm hoặc đã xây dựng nhưng chưa hoàn chỉnh, không đạt tiêu chuẩn môi trường, sản xuất kinh doanh không đạt hiệu quả

d Về hiệu quả kinh tế xã hội

CSSX hoạt động không có hiệu quả kinh tế: sản xuất không có lãi hoặc lãi không đủ đầu tư chi phí tái sản xuất và cải tạo môi trường và khả năng đáp ứng việc làm cho cán bộ công nhân viên kém hoặc bế tắc

Trang 19

Căn cứ vào kết quả khảo sát và các ý kiến của các quận huyện (tính đến 27/5/2002), chương trình sẽ tập trung giải quyết 260 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sau đây:

1- 130 đơn vị có ô nhiễm về khói bụi, ồn rung, mùi

2- 35 đơn vị có ô nhiễm về nước thải

3- 89 đơn vị có ô nhiễm cả về nước thải và khí thải

4- 6 đơn vị thường xuyên gây ách tắc giao thông

5 Địa điểm di dời:

Ngoài chức năng tiếp nhận đầu tư mới, các KCN của Thành phố còn dành một diện tích đất và nhà xưởng để tiếp nhận các doanh nghiệp sản xuất gây ô nhiễm Đến nay, các KCN đã đón nhận 123 doanh nghiệp sản xuất có ô nhiễm khói bụi, nước thải, tiếng ồn vào các KCN Lê Minh Xuân, Hiệp Phước, Tân Tạo và 30 doanh nghiệp vào cụm tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân

II Kết quả thực hiện (điển cứu tại Quận Tân Bình và Quận 11)

1 Giới thiệu về hiện trạng sản xuất công nghiệp tại khu vực nghiên cứu

♣ Quận Tân Bình

Trước khi chia tách thành Quận Tân Bình mới và Quận Tân Phú theo nghị định 130/2003/NĐ-CP ngày 15/11/2003 của Chính phủ, Quận Tân Bình là một quận ven thành phố, có tốc độ phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công

Trang 20

nghiệp được xếp loại là lớn nhất thành phố (khoảng 20%) Sau khi chia tách, quận còn lại khoảng 4.213 CSSX công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp Có nhiều nhà máy lớn do Trung ương và thành phố quản lý như: nhà máy hóa chất Tân Bình, nhà máy dầu Tường an, nhà máy giấy Mai lan, Viễn đông Nhiều nhà máy, CSSX nằm xen kẻ trong khu dân cư

Về vị trí địa lý, quận Tân Bình tiếp giáp cửa ngõ phía tây của Thành phố, là nơi tiếp nối với các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long

+ Diện tích 22,38 km2 , trong đó sân bay Tân Sơn Nhất là 8,44 km2

Phía đông giáp Quận Phú Nhuận, Quận 3, Quận 10

Phía bắc giáp Quận 12, Quận Gò Vấp

Phía tây giáp Quận Tân Phú

Phía nam giáp Quận 11

+ Dân số quận còn trên 430.559 ngàn người,

+ Có 15 phường trực thuộc Ủy ban Nhân dân Quận, mang số từ phường 1 đến phường 15 (riêng phường 14 và 15 phải điều chỉnh địa giới hành chính ở 2 quận) Cơ cấu giá trị sản xuất của các ngành kinh tế trên địa bàn quận đến năm

2010 là công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, sau năm 2010 sẽ chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp

Mô tả địa bàn nghiên cứu: Phường 9

Trước ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, Phường 9 có dân số khoảng hơn 5000 người, trong đó người Hoa chiếm 25% dân số, ngành nghề truyền thống

là thuộc da và thủy tinh do người Hoa làm chủ, hình thành trên 60 năm Cho đến nay, các cơ sở sản xuất trên địa bàn Phường 9 chiếm phần lớn là của người Hoa

Về kinh tế, thế mạnh của phường là sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mỗi năm đã giải quyết hàng trăm lao động có việc làm ổn định tại chỗ, nhiều đơn vị kinh tế tư nhân cá thể làm ăn phát đạt, nhiều gương mặt doanh nghiệp trẻ tiêu biểu đã xuất hiện với những bước đi vững vàng trong sản xuất kinh doanh như anh Nguyễn Minh Tuấn, Giám Đốc Công Ty sản xuất Kềm Nghĩa, anh

Trang 21

Trần Quang Khải, Giám Đốc Công Ty sản xuất Tole Đồng Tiến, anh Đặng Quốc Cường, anh Huỳnh Quốc Phong, chủ cơ sở sản xuất da thuộc xuất khẩu

Lĩnh vực hoạt động của cơ sở sản xuất ở Phường 9 chủ yếu là ngành thuộc

da và ngành thuỷ tinh Trong số 29 cơ sở sản xuất, thì cơ sở sản xuất thuộc da chiếm tới 48,3%, sau đó là ngành sản xuất thuỷ tinh, chiếm tới 34,5% tổng số các ngành nghề sản xuất ở Phường 9

Bảng 3.2 Các ngành nghề sản xuất

Các ngành nghề

sản xuất

Số phiếu điều tra

Phần trăm (%)

Nguồn: Nhóm nghiên cứu bảng hỏi ngày 20/09/2008

Những cơ sở hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thuỷ tinh thường có số lượng công nhân lớn (khoảng 50 - 100 công nhân) và diện tích nhà xưởng khoảng

từ 100 - 500m2 Còn những cơ sở sản xuất thuộc da có số công nhân khoảng 10 -

30 công nhân và diện tích nhà xưởng nhỏ hơn, khoảng từ 100 - 300m2

Trong các cơ sở sản xuất tại Phường 9, số lượng công nhân không lớn, chủ yếu mỗi cơ sở có từ 10 – 50 công nhân Nguyên nhân là do tại Phường 9, các cơ sở sản xuất chủ yếu là sản xuất thuộc da, số lượng công nhân cũng như diện tích nhà xưởng không lớn

Bảng 3.3 Số lượng công nhân

Số lượng công nhân

(CN)

Số phiếu điều tra

Phần trăm (%) Dưới 10 CN 7 24.1

Trang 22

Phần trăm (%)

100 m2 2 6.9

100 – 500m2 17 58.6

Trên 500m2 10 34.5

Tổng số 29 100.0

Nguồn: Nhóm nghiên cứu bảng hỏi ngày 20/09/2008

Thời gian hoạt động của các cơ sở chủ yếu là từ trước năm 1994, chiếm 93.1%, còn những cơ sở hoạt động từ năm 1994 – 2002 chỉ chiếm khoảng 6.9%

Bảng 3.5 Thời gian bắt đầu hoạt động

Thời gian bắt

đầu hoạt động

Số phiếu điều tra

Phần trăm (%) Trước 1994 27 93.1

1994 – 2002 2 6.9

Tổng số 29 100.0

Nguồn: Nhóm nghiên cứu bảng hỏi ngày 20/09/2008

Như vậy, những cơ sở này đều nằm trong diện được hỗ trợ của chương trình di dời vì theo quy định về chính sách ưu đãi, các CSSX được thành lập trước khi Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành vào ngày 10 tháng 01 năm 1994

sẽ được hưởng chế độ hỗ trợ của chương trình Các cơ sở sản xuất được thành lập sau khi Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành được hưởng mức hỗ trợ bằng

Trang 23

50% mức hỗ trợ (đối với các hỗ trợ bằng tiền) cho các cơ sở sản xuất thành lập trước khi Luật bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành

♣ Quận 11

Quận 11 có tổng diện tích 513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố Giáp Quận Tân Bình ở phía Bắc và Tây Bắc, phía Đông giáp Quận 5, Quận 10, phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6 Tính đến cuối năm 2004, Quận 11 có dân số

là 229.837 người Trong đó, người Hoa có 103.189 người (tỷ lệ 44,89%), mật độ dân số trung bình là 44.722 người/km2

Khó khăn khi thực hiện nghiên cứu tại quận 11: như đã trình bày trong phần giới hạn nghiên cứu, nhóm đã không được sự cộng tác của phòng tài nguyên môi trường quận 11, đơn vị thực hiện chương trình di dời Do đó, chúng tôi không được phép xuống địa bàn để thực hiện điều tra Điều này ảnh hưởng phần nào đến kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu Theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân chính quyền địa phương không hợp tác thực hiện điều tra vì họ đã không thực hiện chương trình hiệu quả và nghiêm túc Việc không hợp tác với nhóm nghiên cứu là để nhóm không phát hiện ra hiệu quả của chương trình di dời thực hiện trên địa bàn này Giả thuyết này cũng đã được chúng tôi kiểm tra qua việc tìm hiểu (phỏng vấn) các cán bộ chương trình tại

Trang 24

5.2 Kết quả thực hiện chương trình di dời tại Quận Tân Bình và Quận 11

Hiện TPHCM cũng vẫn còn 141 cơ sở sản xuất ô nhiễm xen kẽ trong khu dân cư nội thành thuộc diện phải di dời nhưng vẫn chưa chịu di dời Sở TNMT cũng đang kiểm tra những đơn vị này để có cơ sở kiến nghị với UBND TP biện pháp xử lý cụ thể, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng doanh nghiệp Đối với những cơ sở bị phát hiện có hành vi vi phạm, ngoài việc bị xử phạt hành chính

ở mức cao nhất, cơ sở đó có thể còn bị buộc tạm ngưng công đoạn sản xuất phát sinh ô nhiễm

5.2.1 Quận Tân Bình

Ngày 14/1/2003, UBND thành phố đã ban hành quyết dịnh số 214/QĐ-UB

về việc phê duyệt danh sách các đơn vị sản xuất gây ô nhiễm phải di dời trên địa bàn quận Theo đó, có 410 đơn vị sản xuất cần phải di dời theo lộ trình như sau:

Công tác tổ chức:

- UBND Quận Tân Bình đã thành lập Ban chỉ đạo chương trình di dời các

cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường để kiểm tra, rà soát các cơ sở sản xuất gây

ô nhiễm cần phải thực hiện di dời trên địa bàn Quận Ban chỉ đạo đã yêu cầu UBND các phường có liên quan phối hợp các ngành tuyên truyền chính sách và các chế độ hỗ trợ và thời hạn di dời, tạo điều kiện cho các CSSX chủ động tìm kiếm đất đai và nguồn vốn để thực hiện di dời và tái đầu tư sản xuất Ngoài ra, các phường cũng rà soát, lập danh sách công khai các cơ sở gây ô nhiễm đã tiến hành

Trang 25

khỏi danh sách phải thực hiện di dời theo quyết định định 214/QĐ-UB ngày 14/1/2003của UBND Thành phố

- UBND quận đã chủ động liên hệ với BQL các KCN như: KCN Nhơn trạch, Hiệp phước, Lê Minh Xuân, Tân bình, Tân tạo, Củ chi, Trảng bàng…Tổ chức đưa các CSSX đi tham quan và hướng dẫn trình tự, thủ tục thuê đất, xây dựng nhà xưởng, thời hạn giao nhận đất…

- UBND cũng giao Chi cục thuế đôn đốc nhắc nhở các CSSX chấp hành nghĩa vụ thuế và ban hành quyết định 13/QĐ-UB ngày 15/3/2005 về việc thành lập tổ kiểm tra, xử lý các CSSX chậm thực hiện di dời gồm đại diện các đơn vị: phòng kinh tế, phòng TN_MT, chi cục thuế, công an quận, và phòng LĐ-TB-XH

Xác định các CSSX được phép khắc phục tại chổ: sau khi tiến hành rà soát, Ban

chỉ đạo quận đã đề suất UBND Thành phố và Ban chỉ đạo di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm Thành phố xóa tên, cho khắc phục tại chổ các cơ sở sau đây:

Cơ sở Thành Công: Sản Xuất Guốc Mộc

Cơ sở Hòa Bình: Sản Xuất Nước Đá

Cơ sở Khải Hiệp: Sản Xuất Nước Đá

Cơ sở Tuyết Lan: Sản Xuất Nước Đá

Cơ sở Tiến Thịnh: Sản Xuất Nước Đá

Cty TNHH Tấn Phong: Sản Xuất Nước Tinh Khiết

DNTN Đồng Tiến: Sản Xuất Tôn Tráng Kẽm

Ngoài ra, UBND Quận Tân Bình đã chủ động đề xuất với UBND Thành phố cho phép các cơ sở thuộc da không đủ điều kiện để di dời vào khu công nghiệp được thực hiện chuyển đổi quy trình công nghệ sản xuất tại chổ: bắt đầu từ

da phèn, đã qua sơ chế, không còn thuộc da từ muối Việc chuyển đổi này đã được

Sở Tài Nguyên Môi trường nghiệm thu chấp thuận cho 5 cơ sở, tạo điều kiện quận Tân Bình giữ được ngành nghề truyền thống ở Phường 9

Hỗ trợ tài chính: UBND thành phố ban hành quyết định số 99/2005/QĐ-UB ngày

13/6/2005 quy định một số chính sách tài chính cho việc di dời các CSSX gây ô nhiễm vào các KCN tập trung và vùng phụ cận từ đó, UBND quận đã tổ chức

Ngày đăng: 30/03/2021, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w