1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng pháp luật về xử lý cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường

80 632 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Pháp Luật Về Xử Lý Cơ Sở Sản Xuất Gây Ô Nhiễm Môi Trường
Tác giả Hứa Văn Hiệp
Người hướng dẫn Ths. Kim Oanh Na
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật Môi Trường
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 Ý thức chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường: Thực tế cho thấy thì tình hình môi trường ở nước ta hiện nay rất đáng lo ngại và nhà nước mặt dù có nhiều biện

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn:

Ths KIM OANH NA Sinh viên thực hiện: HỨA VĂN HIỆP

MSSV: 5043967 Lớp: LUẬT THƯƠNG MẠI - K30

Năm 2008

Trang 2

Lời Nói Đầu

Tình thế cấp thiết: Như chúng ta đã biết thì tình môi trường ở nước ta hiện nay

đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và đáng báo động chẳn những ô nhiễm ở đô thị mà còn ở cả nông thôn, ô nhiễm môi trường làm cho con người phải gánh chịu nhiều hậu quả như dịch bệnh, lao phổi, sốt suất huyết, ung thư, điếc, bệnh tai, mũi, họng,…làm cho sức khoẻ của con người yếu ớt và dễ bị bệnh hơn Nạn ô nhiễm môi trường đã làm cho nguồn nước sạch bị cạn kiệt, ô nhiễm không khí trầm trọng, tiếng ồn và độ rung cũng vượt tiêu chuẩn cho phép, khí hậu ngày càng nóng lên,…sở dĩ có những hậu quả như thế là là do rất nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chủ yếu là do các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, chính vì thế bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách và khẩn trương hơn bao giờ hết Bảo vệ môi trường là một vấn đề không phải của riêng ai, mà của mọi người dân chúng

ta cần phải làm, và đặc biệt là vai trò quản lý của nhà nước về lĩnh vực môi trường Thật vậy trong hiến pháp 1992 của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tại điều 29 có ghi rõ là “ cơ quan nhà nước đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của nhà nước về

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” Chính sách môi trường nói chung cũng như chính sách ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp nói riêng, thống nhất các quan điểm cơ bản thể hiện trong chỉ thị số 36/CT/TW của Bộ Chính Trị ngày 25/6/1998 về tăng cường công tác bảo vệ môi trường, trong thời

kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước “ bảo vệ môi trường là sự nghiệp

của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, là nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tất cả các cấp các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bần vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên chủ đạo, kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên, kết hợp phát triển huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” và quyết định

số 64/2003/QĐ-Ttg của thủ tướng chính phủ về kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chỉ thị 37 của ban Bí Thư Trung Ương, Nghị quyết 41 ngày 15 tháng 11 năm 2004,… nhằm đề ra những phướng hướng, chính sách giúp bảo vệ môi truờng ngày càng hoàn thiện và trong lành hơn

Phạm vi nghiên cứu: Vì mục tiêu bảo vệ cho môi trường chúng ta ngày càng

sạch hơn và làm giảm đến mức thấp nhất nạn ô nhiễm môi trường, nhằm làm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo ra những sản phẩm, và những tác động của họ đối với môi trường ngày càng than thiện hơn, chính vì thế phạm vi nghiên cứu của Tôi là nghiên cứu về pháp luật để xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường về xử phạt vi phạm hành chính, hình sự, bồi thường thiệt hại và cả về biện pháp khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường, và xem nhưng tồn tại của pháp luật Việt Nam về xử lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ như thế nào và tìm ra những đề xuất cơ bản để góp phần xử

lý triệt để hơn đối với các cơ sở gây ô nhiễm

Mục tiêu nghiên cứu: Trong quá trình ban hành pháp luật cũng như trong quá

trình thực hiện ở mỗi địa phương có khác nhau từ đó không tránh khỏi những thiếu sót, vì thế mục tiêu nghiên cứu của tôi là tìm ra những tồn tại và vướng mắt

và đề ra những phương hướng giải quyết được hoàn thiện và tốt hơn

Trang 3

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp của tôi đi từ chi tiết đến tổng quát và

kết hợp áp dụng nhiều phương pháp như phương pháp phân tích câu chữ, phương pháp luật viết, phương pháp so sánh, phương pháp duy vật,…

Cơ cấu của luận văn: Cơ cấu của luận văn gồm hai chương:

Chương 1: Tình hình môi trường và cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường

Chương II: Thực trạng pháp luật về xử lý cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường:

Trang 4

Chương 1: Khái quá về tình hình môi trường và cơ

sở pháp lý về bảo vệ môi trường

1 Một số khái niệm:

1.1 Khái niệm về môi trường:

Mỗi cơ thể sống dù là cá nhân con người hay bất kỳ một sinh vật nào tồn tại trên trái đất ở trong mọi trạng thái điều bị bao quanh và bị chi phối bởi môi trường Thuật ngữ môi trường có nguồn gốc từ tiếng pháp “environner” có nghĩa

là bao quanh hay chu trình khép kín, thuật ngữ này cũng được các quốc gia sử dụng khá phổ biến trong những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX cụ thể như:

“umwell” (German - Đức); “Mileu” (Dutch - Hà Lan); “Medio ambiente” (Spanish - Tây Ban Nha) Môi trường là một phạm trù rất rộng, có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, cụ thể như sau:

“Môi trường” là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên và xã hội,

trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ con người hay sinh vật ấy1

“Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi

“Môi trường” được hiểu là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống

do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả

trường ở phạm vi rộng hơn như: môi trường sinh vật, môi trường sinh học, môi truờng gia đình, môi trường xã hội, môi trường sống, môi truờng lao động Nói chung các quốc gia có xây dựng khái niệm pháp lý về môi trường trên cơ sở những yếu tố, hoàn cảnh và tự nhiên bao quanh con người

Ở Việt Nam khái niệm pháp lý về môi trường được ấn định trong đạo luật

về môi trường, và tính đến thời điểm này thì có đến hai khí niệm được quy định trong luật bảo vệ môi trường 1993 và 2005 như sau:

Tại đoạn 1 điều 1 luật bảo vệ môi trường 1993 “môi trường bao gồm các

yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên”.

Còn khái niệm môi trường được quy định trong luật bảo vệ môi trường 2005

thì ở khoản 1 điều 3 đã định nghĩa như sau “môi trường bao gồm các yếu tố tự

nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.

1.2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường:

Ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh học khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đó nhữnh chỉ số hoá học, lý học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dưới góc độ kinh tế học ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hoá học, sinh học, mà qua đó có thể gây tác

1 từ điển tiếng việt nhà xuất bản Đà Nẵng trang 618

2 trong quyển môi trường và tài nguyên Việt Nam NXB Khoa hoc và kinh tế Hà Nội,1994

3 tuyên ngôn 1981 của Unesco

Trang 5

hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ con người, các loài động thực vật và cá

điều kiện đời sống khác Dưới góc độ pháp lý “ ô nhiễm môi trường là sự thay

đổi các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây

nghĩa nêu trên về môi trường điều có đề cập đến sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu gây bất lợi cho con người và sinh vật Sự biến đổi của các thành phần môi trường có thể bắc nguồn từ nhiều nguyên nhân chủ yếu là các chất gây ô nhiễm Các chất gây ô nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm thông thường các chất gây ô nhiễm là các chất thải tuy nhiên chúng còn có thể xuất hiện dưới dạng nguyên liệu, thành phẩm, phế phẩm, chế phẩm và được phân thành các loại sau đây: Chất gây ô nhiễm tích luỹ chất dẻo, chất phóng xạ và chất ô nhiễm không tích luỹ (tiếng ồn) Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi vùng (mưa axít) và trên phạm vi toàn cầu là (chất CEC) Chất gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định ( chất thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn ( hoá chất dùng trong nông nghiệp) Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục ( chát thải từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh) và chất thải do phát thải không liên tục ( tràn dầu do sự cố tràn dầu) Môi trường có thể bị ô nhiễm với nhiều mức độ khác nhau như ô nhiễm, ô nhiễm nghiêm trọng, và ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng Mức đô ô nhiễm đối với các thành phần cụ thể thường được xác định dựa vào mức vượt tiêu chuẩn chất lượng môi trường của các chất gây ô nhiễm có trong thành phần môi trường Theo pháp luật hiện hành thì tại điều 92 Luật Bảo Vệ

Môi Trường 2005 quy định rằng: “ Môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp hàm

lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên Môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên”

1.3 Khái niệm bảo vệ môi trường: Bảo vệ môi trường tại sao chúng ta lại phải

bảo vệ môi trường? Vậy môi trường là gì? Như chúng ta đã biết môi trường là như thế nào được nêu phần khái niệm phía trên thì môi trường cực kỳ quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta, chúng ta sống phụ thuộc vào môi trường, môi trường trong sạch thì con người chúng ta thoải mái dễ chiu…và ngược lại môi trường bị ô nhiễm thì hậu quả của nó cực kỳ tệ hại khói, bụi, nước thải của các cơ

sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ là những vũ khí giết người thầm lặng, nó có thể làm cho con người mất nhiều thứ bệnh như ung thư, lao phổi, phế quản,…vì vậy đòi hỏi mọi cá nhân, mỗi gia đình, và toàn xã hội và đặc biệt là vai trò của nhà nước phải tăng cường hơn nữa trong quá trình bảo vệ môi trường sống của chúng

ta ngày càng tốt hơn, bảo vệ môi trường không phải là của riêng ai mà là của tất

cả mọi người, của gia đình, của xã hội và của quốc gia cũng như của toàn thế giới chính vì thế mới có ngày môi trường thế giới là ngày 5 tháng 6 hàng năm còn ở

4 khoản 6 điều 3 luật bảo vệ môi trường 2005

Trang 6

Việt Nam chúng ta thì có rất nhiều những ngày bảo vệ môi trường như tuần lễ xanh- sạch- đẹp, tuần lễ vệ sinh môi trường và nhiều chương trình bảo vệ môi trường khác như chương trình nước sạch nông thôn và đặc biệt là nghị quyết 64

về xử lý các cơ sơ sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và chỉ thị số 36/CT – TW ngày 25 tháng 6 năm

1998 của Bộ Chính Trị cũng nhấn mạnh bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, cả nhân loại là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hòa bình

và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới, những vấn đề những biện pháp trong việc bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội, bảo vệ môi trường không phải một ngày một bửa mà phải thường xuyên, liên tục có như thế thì môi trường chúng ta mới ổn định và muốn phát triển bền vững thì phải bảo vệ môi trường Vậy bảo vệ môi trường phải làm như thế nào nó đã

được nêu trong luật bảo vệ môi trường 2005 tại khoản 3 điều 3 như sau: “ Bảo vệ

môi trường là hoạt động bảo vệ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa hạn chế, tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi cải thiện môi trường, khai thác sử dụng hợp lý

và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.

1.4 Khái niệm cơ sở sản xuất:

Cơ sở sản xuất là gì thì chưa có một ai định nghĩa được, cơ sở sản xuất có thể được hiểu là nơi sản xuất ra hàng hoá để bán, và phải trãi qua nhiều giai đoạn,

và nó có một chu trình khép kín như cơ sở sản xuất nước mắm, cơ sở sản xuất nước tương, cơ sở sản xuất thức ăn gia súc…Và các cơ sở sản xuất này chủ yếu

sản xuất ra sản phẩm để bán Ngoài ra còn có thể hiểu là “sản xuất là để tạo ra

của cải vật chất, nói chung sản xuất lương thực, sản xuất vật phẩm tiêu dùng, hoạt động sản xuất tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động

sản xuất là một phạm trù rất rộng, đối với cá nhân qui mô nhỏ như sản xuất bánh tráng, bánh in, bánh phòng, sản xuất nem Còn qui mô lớn như sản xuất thuốc trừ sâu, sản xuất tôm giống, sản xuất nước đá…Còn đối với tổ chức như các khu công nghiệp, khu chế xuất có hoạt động sản xuất như sản xuất nhôm, sản xuất rượu bia, sản xuất thuốc trừ sâu…nói chung thì cơ sở sản xuất rất rộng tuy nhiên tôi chỉ đề cập đến các cơ sở sản xuất thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược và đối tượng phải lập báo cáo đánh gía tác động môi trường được qui định trong luật bảo vệ môi trường 2005 Cụ thể như tại danh mục I các dự án phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường ban hành kèm theo Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ

như: Dự án nhà máy sản xuất chất dẻo công suất thiết kế từ 1.000 tấn sản

phẩm/năm trở lên, dự án nhà máy sản suất phân hoá học công suất thiết kế từ 10.000 tấn sản phẩm/năm trở lên và dự án nhà máy sản xuất sơn cơ bản, hoá chấtcông suất thiết kế từ 1.000 tấn sản phẩm/năm trở lên,… và tại mục II là danh mục các dự án liên ngàng, lên tỉnh thuộc trách nhiệm thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Ban hành kèm theo Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ như: Dự án nhà máy thủy điện, công trình thủy lợi có dung tích hồ chứa từ

5 trong từ điển tiếng việt trang 815 nhà xuất bản Đà Nẵng 1998

Trang 7

100.000.000 m3 nước trở lên hoặc làm ảnh hướng đến nguồn cung cấp nước mặt

và nước ngầm của từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên,…

2 Khái quát tình hình môi trường nước ta qua các thời kỳ:

Ở Việt Nam đã có một quá trình biến đổi lâu dài theo thời gian, một điều khẳng định là môi trường nước ta lúc mới hình thành tốt đẹp hơn hiện nay rất nhiều lần, nguồn nước, bầu không khí, …rất trong sạch, các loài động thực vật phong phú và đa dạng theo tài liệu lịch sử ban đầu ở nước ta rừng phủ kín đất tự nhiên loài rỗ quý, nguồn đất trồng khi đó cũng rất giàu dinh dưỡng thuận lợi cho phát triển của nhiều loài thực vật Ngay từ những ngày đầu của lịch sử tổ tiên người Việt đã có gắn bó với môi trường dựa vào môi trường tự nhiên để sinh sống Từ hang động ra tổ tiên đã biết làm nhà để ở trồng lúa, rau đậu chăn nuôi, kết hợp thu nhặc săn bắn, hái lượm trong rừng để bổ sung cho các bữa ăn hang ngày tất cả mọi hành động để duy trì sự sinh tồn và phát triển con người điều phải tác động vào môi trường tự nhiên và thai thác tự nhiên làm cho môi trường

tự nhiên có sự thai đổi

Trong suốt thời kỳ Hùng Vương dựng nước và hơn một nghìn năm bắc thụôc tổ tiên người Việt sinh sống hoà đồng với môi trường, trong quá trình sản xuất con người đã khai thác vật liệu của tự nhiên để làm ra những sản phẩm cần thiết cho mình và môi trường tự nhiên cũng có những thay đổi do sự tác động của con người tuy nhiên ở thời kỳ đầu mới hình thành cộng đồng người Việt còn rất

ít người các yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên lại rất phong phú, hơn nữa các yếu tố cấu thành của môi trường tự nhiên lại rất lớn vì vậy không có vấn đề ô nhiễm môi trường

Dưới thời các triều vua nhà Nguyễn và chính sách đô hộ của thực dân pháp (1884-1945), với chính sách khai thác thuộc địa của thực dân pháp để phục vụ cho các tập đoàn tư bản, nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm của nước ta đã bị khai thác bừa bãi, các nhà tư bản pháp đã khai thác triệt để lợi dụng những điều kiện thuận lợi của Việt Nam về thời tiết khí hậu, đất đai để trồng các cây nông sản nhiệt đới, cây công nghiệp như chè, cao su, cà phê…nhằm mục đích thu lợi nhuận cao, trong quá trình này một mặc chúng bóc lột sức lao động rẽ mạc ở nước ta, mặc khác chúng quan tâm tới lợi nhuận nên vấn đề môi trường không được chú trọng, đất đai bị vắc kiệt chất dinh dưỡng, nhiều chất độc hại ô nhiễm không qua xử lý được thải luôn vào môi trường làm cho môi trường không còn trong sạch như trước nữa

Trong hai cuộc kháng chiến môi trường nước ta bị tổn thương và ô nhiễm nặng, do chiến tranh nhiều khu rừng đã bị phá trịu, nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt bị ô nhiiễm điều đặc biệt nguy hại đối với chúng ta là Mỹ đã rãi chất độc hoá học ở nhiều vùng trên đất nước ta nhằm huỷ duyệt sự sống làm cho môi trường bị tàn phá rất nặng, nhiều sinh vật đã bị huỷ diệt, nguồn nước, bầu không khí, cũng bị ô nhiễm nặng mà hậu quả của nó còn để lại sau chiến tranh đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sản xuất và đời sống

Môi trường nước ta trong điều kiện cơ chế hoá tập trung: Qua tổng kết đánh giá thì thực trạng ô nhiễm môi trường trong thời kỳ thực hiện cơ chế hoá tập trung ít nghiêm trọng hơn thời kỳ sau này, mặc khác vấn đề môi trường lại ít được quan tâm, tại sao vậy? phải chăng phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung sẽ bảo vệ được môi trường hơn là theo hướng kinh tế thị trường? Có những biểu hiện như nhận xét trên là do trong điều kiện kinh tế kế hoạch hoá tập trung, kinh tế quốc doanh là thành phần kinh tế nắm

Trang 8

vững mọi lĩnh vực hoạt động khai thác sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị trường cũng bởi vì thế bên cạnh việc khai thác một cách lén lút tài nguyên phục

vụ nhu cầu nhỏ trước mắc của nhân dân thì mọi sự khai thác đều lên kế hoạch và đặc dưới sự quản lý của nhà nước chỉ có thành phần kinh tế quốc doanh mới được khai thác, sơ chế và tiêu thụ tài nguyên Không có thành phần kinh tế khác, không có sự tự do trong sản xuất như trong kinh tế thị trường nên việc khai thác

rỗ, đánh, bắt động vật quý hiếm không xảy ra bừa bãi và thường xuyên như hiện nay Thời kỳ phát triển kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, dân số nước ta còn ít so với bây giờ, đời sống còn hết sức khó khăn, các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa nhiều và sản xuất chưa thật sự phát triển, sản xuất nông nghiệp còn mang nặng phương pháp truyền trống Bởi vậy giai đoạn này rác thải phần lớn là các chất hữu cơ dễ phân huỷ nên rất ít ô nhiễm môi trường, vì thế thực trạng ô nhiễm môi trường nước ta thấp hơn hiện nay rất nhiều, thậm chí không đáng kể.Chính sách phát triển kinh tế công nghiệp nặng, sử dụng nhiều vốn và năng lượng coi nhẹ công nghiệp nhẹ và dịch vụ đã dẫn đến hậu quả

là mỗi đơn vị sản phẩm quốc dân sử dụng nhiều tài nguyên hơn và gây ô nhiễm ở mức cao hơn, kinh tế kém phát triển đời sống khó khăn trong khi các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ lại của nhà nước nên nhân dân chỉ còn một cách duy nhất là khai thác tự nhiên không có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của mình, vì thế tài nguyên thiên nhiên bị cả nhà nước và nhâ dân thực hiện không có kế hoạch và ồ ạt Thời kỳ này nhà nước đầu tư quá ít cho cơ sở hạ tầng cũng như cho việc phục hồi tài nguyên, bảo vệ môi trường Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung không có thông tin tuyên truyền đầy đủ, không có tranh luận công khai về môi trường và không tiếng hành giáo dục đào tạo về môi trường và bảo vệ môi trường, thái độ của nhà nước về môi trường còn coi nhẹ, không có hệ thống pháp luật và văn bản pháp luật quy định việc bảo vệ môi trường được xây dựng cụ thể, không có xác định rõ, ổn định về quyền sở hữu, nhất là đối với đất đai, tư liệu sản xuất, bảo tồn tự nhiên và bảo vệ môi trường, có rất nhiều hạn chế trong xây dựng và phát triển đất nước không quan tâm đến bảo vệ môi trường một trong những hạn chế đó mà hậu quả của nó đã để laị không chỉ là sự tàn phá môi trường lúc đó mà còn là sự coi nhẹ việc bỏ vệ môi trường trong ý thức người dân cho đến tận ngày hôm nay

2.1 Tình hình môi trường nước ta hiện nay:

Mặc dù có sự quản lý chặt trẽ của nhà nước và được các cơ sở sản xuất, kinh, dịch vụ cũng như được nhân dân ủng hộ nhiệt tình nhưng tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay bị ô nhiễm trầm trọng và vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay đang được các cấp các ngành khẩn trương thực hiện và tuyên truyền cũng như ban hành các văn bản dưới luật và luật bảo vệ môi trường 2005 thay thế cho luật bảo vệ môi tường 1993 nhằm để phòng ngừa, răng đe, trừng trị…những cơ sở, kinh doanh, dịch vụ song tình hình ô nhiễm môi trường ở nước

ta vẫn không giảm mà có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng Ô nhiễm môi trường cả thành thị vẫn nông thôn đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tất

cả các cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, và cả đồng bằng sông Cửu Long…Và đặc biệt vừa qua tập đoàn tư vấn nguồn nhân lực Mercer đặc trụ

sở tại NewYork của Mỹ đã công bố những Thành Phố có chất lượng và Việt Nam là 148 và 155 bảng xếp hạng dựa trên 39 tiêu chí trong đó có vấn đề môi trường xã hội và chính trị, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa…điều đó cho thấy tình hình môi trường ở nước ta đã bị ô nhiễm nghiêm trọng và ngày càng

Trang 9

tăng lên rõ rệt Ngoài ra tình hình ô nhiễm môi trường ở Đồng Bằng Sông Cửu Long cũng không kém, Đồng Bằng Sông Cửu Long tình hình ô nhiễm môi trường cũng đang báo động, Cả Đồng Bằng Sông Cửu Long có 68 khu công nghiệp tập trung và 75 ngàn cơ sở công nghiệp tiểu thủ công nghiệp chất thải rắn, lỏng, khói, bụi, tiếng ồn, độ rung…làm cho ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Bên cạnh đó thì các bệnh viện có chất thải y tế không qua xử lý đều cho thải ra môi trường, theo cơ sở y tế Tỉnh Vĩnh Long thì cả Tỉnh có 107 trạm y tế xã, phường trước đều có đốt rác thải y tế loại nhỏ hoặc lò thủ công nhưng nay đã xuống cấp chưa có kinh phí nên đốt lộ thiên làm cho môi trường xung quanh bệnh viện bị ô nhiễm nghiêm trọng Ngoài ra ở Cần Thơ có khu công nghiệp Trà Nóc có nước thải trực tiếp ra bênh ngoài vượt tiêu chuẩn cho phép đến 92 lần Các kết quả quan trắc trên địa bàn thành phố Cần Thơ cho thấy bên cạnh nước bị

ô nhiễm, bầu không khí trong lành của vùng miệt vườn sông nước này cũng đang mất dần do khói bụi, tiếng ồn từ nhà máy sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Theo thống kê của phòng cảnh Sát Môi Trường Thành Phố Cần thơ, hiện nay trên địa phận Cần Thơ có 3050 doanh nghiệp gây ô nhiễm môi trường nước, mùi hoi; 417 doanh nghiệp gây ô nhiễm khói bụi; 126 doanh nghiệp gây tiếng ồn, độ rung;

1301 doanh nghiệp có nguy cơ tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường, Hiện nay thì tình hình môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh thì còn rất tệ hại hơn mỗi ngày có

108 bệnh viện, trung tâm y tế trên địa bàn thải ra khoảng 17000m khối nước thải

y tế phần lớn không qua xử lý hoặc xử lý không đạt tiêu chuẩn hàm lượng sinh vật vượt tiêu chuẩn cho phép ít nhất 100 lần thậm chí đến 1000 lần Đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh có 1200 doanh nghiệp gây ô nhiễm phải đưa di dời từ nội thành đến các khu công nghiệp và các nông trường Phạm Văn Coi, Lê Minh Xuân trong giai đoạn 2002- 2004 Hiện nay nồng độ các chất trong không khí đã tăng từ 1,4 đến 2,4 lần so với 2005, lượng chất thải rắn là 6800 tấn/ngày, mỗi ngày thành phố Hồ Chí Minh có 600000m khối nước thải ra sông rạch trong đó 5000m khối chất thải từ các nhà máy công nghiệp chưa được xử lý đã thải xuống sông Sài Gòn, thành phố di dời 1261 cơ sở sản xuất chiếm gần 90% các nhà máy,

xí nghiệp gây ô nhiễm trọng khu dân cư ra ngoại thành nhưng tình hình ô nhiễm vẫn diễn biến xấu Ngoài ra ô nhiễm môi trường ở làng sản xuất giấy Phong Khê( Yên Phong – Bắc Ninh) mảnh đất chết có 1675 hộ dâ kêu cứu; 30% dân số mắc bệnh về da liễu, dường ruột, hô hấp; một cánh đồng 3 mẫu đất phải bỏ hoang; lượng bụi khổng lồ vượt tiêu chuẩn cho phép toàn xã có hơn 90 hộ sản xuất các loại giấy với khoảng 100 dây chuyền mỗi ngày công suất 400 tấn/năm trung bình một ngày đốt hết 40000 tấn than làm cho môi trường không khí xung quanh ô nhiễm trầm trọng mà những người dân ở đây phải gánh chịu hậu quả này Còn ở

Hà Nội thì ngày 5/11/2007 phòng Cảnh Sát môi trường phối hợp với thanh tra sở Tài nguyên Môi Trường Đống Đa Hà Nội kiểm tra phát hiện cơ sở mạ điện ở 83 ngõ xã đàn 2 quận Đóng Đa sử dụng hóa chất axít Sunfuric và Natriclorua dung dịch kiềm, xả thải khí axít độc hại, nước thải nguy hại ra môi trường xung quanh ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Theo thống kê của Bộ Khoa Học Công Nghệ

và Môi Trường thì nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh nhà máy, xí nghiệp vượt tiêu chuẩn từ 1.5 đến 5 lần nồng độ bụi ở các khu vực thành phố, thị xã thông thường cao hơn tiêu chuẩn khoảng 1.2 đến 2 lần Nồng độ khí độc ở một số

đô thị cũng đạt đến mức báo động đặc biệt 2004 tại Hà Nội đã xuất hiện những đám xương mù độc do khói xăng của các phương tiện giao thông Những nghiên cứu bước đầu gần đây cho thấy những bệnh viện liên quan đến ô nhiễm không

Trang 10

khí ở các thành phố lớn của Việt Nam đang có xu hướng tăng nhanh như hen, phế quản, dị ứng, Thật là đáng sợ khi tình hình ô nhiễm môi trường ở nước ta ngày càng tăng thêm làm cho sức khỏe của người dân bị đe dọa Nhìn chung thì tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên cả nước điều có gây ô nhiễm môi trường, hiện nay thì ô nhiễm môi trường trên các con sông cũng đáng báo động như sông Sài Gòn, sông Gấm, sông Trâu Bạc (Hải Phòng) sông Quan Lộ, sông Tắc Thủ (Cà Mau) Đặc biệt Việt Nam được quốc tế xếp vào lọai các quốc gia có tài nguyên suy thoái Đáng báo động hiện nay là tình hình ô nhiễm trong sản xuất giấy, hiện nay nhiều nhà máy sản xuất giấy, bột giấy trên thế giới phải đóng cửu hoặc di dời địa điểm sang các nước khác do ngành này gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong khi đó sản xuất giấy ở nước ta và đầu tư từ nước ngoài vào lại tăng mạnh vì nó mang lại lợi ích rất lớn cho nhiều nhà đầu tư so với

2001 giá bột tăng 70% đồng thời tập chung được nguồn nguyên liệu rất rẽ của nông nghiệp như rơm, rạ, bã mía, võ đay, cây dâm bụt, các loại cỏ… công nghiệp giấy tăng trưởng nhanh chóng đóng góp vào tiến trình phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên ngành này là một trong những ngành rây ô nhiễm trọng nhất theo thống kê cả nước có gần 500 danh nghiệp sản xuất giấy, trong đó có khoảng 10% đạt tiêu chuẩn cho phép Sau đây là một số hình ảnh cụ thể về tình hình ô nhiễm

ở các khu công nghiệp và sông ở đồng bằng sông Cửu Long

2.2 Tác hại của việc gây ô nhiễm môi trường: Chúng ta đã biết thì các cơ

sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và ổn định nhưng rất là kinh khủng trong những năm gần đây đã rây ra những hậu quả nặng nề cho đời sống và sản xuất Các chất thải của y tế và nước thải của các cơ

Trang 11

sở sản xuất đã trực tiếp thải ra ngoài sông, rạch làm cho nguồn nước ô nhiễm dẫn đến nhiều loài cá chết, người dân sống gần sông họ có thói quen sử dụng nước dưới sông nên vô tình họ bị bệnh do sử dụng nguồn nước không sạch, đặc biệt chất thải y tế rất nguy hiểm vì mang mầm móng của các vi khuẩn đọc hại của bệnh nhân còn khối, bụi, độ rung cũng vậy họ cho thải trực tiếp ra ngoài người dân sống gần đó trực tiếp bị ảnh hưởng và càng ngày sức khoẻ của họ bị giảm súc rõ rệt Theo thống kê của Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường thì nồng

độ ở các khu dân cư sống bên cạnh nhà máy xí nghiệp vượt tiêu chuẩn từ 1,5 đến

3 lần nồng độ bụi ở khu vực thành phố, thị xã thông thường cao hơn tiêu chuẩn

từ 1,2 đến 2 lần những nghiên cứu bước đầu cho thấy những ô nhiễm liên quan đến ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn có xu hướng tăng nhanh là các bệnh

về đường hô hấp như hen, phế quản, lao phổi, dị ứng người dân sống gần các khu công nghiệp hít thở khí ô nhiễm nhiều hơn Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ở Hà Nội, Hải Phòng chứng minh tỷ lệ người mắc bệnh đường hô hấp, bệnh tinh thần, bệnh tim mạch ở các khu đô thị gần khu công nghiệp bị ô nhiễm không khí lớn gấp 2 đến 5 lần so với đô thị không bị ô nhiễm không khí Ô nhiễm nguồn nước

đã làm cho các loài cá bị giảm đi rõ rệt làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế

Ô nhiễm cũng làm cho môi trường làm việc của công nhân cũng ảnh hưởng nghiêm trọng, qua điều tra hơn 200 ngàn người lao động cho thấy 66.93% người lao động thấy mệt và rất mệt sau một ca làm việc, 27,5 % bình thường và 5,57% thoải mái Mặc khác tác hại của ô nhiễm còn làm cho người dân và công nhân mắc nhiều loại bệnh hơn chúng ta biết như tai, mũi, họng, mắt…quả thật là đáng buồn khi mà tác hại của ô nhiễm môi trường chủ yếu là do con người gây ra, các sông rạch bị hôi thối, nước đen thui, còn làm tăng thêm nguy cơ dịch bệnh mỗi khi trời nắng mưa thất thường, tạo điều kiện cho muỗi phát triển làm cho tỷ lệ người bị bệnh sốt xuất huyết, sốt rét cũng nhiều hơn mà nạn nhân chủ yếu là những đứa bé còn ngây thơ nhỏ dạy Ô nhiễm không khí, nguồn nước đã làm cho

xã Thạch Sơn xuất hiện làng ung thư Còn ô nhiễm do tiếng ồn làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người gây tổn hại hệ thần kinh, trí tuệ và năng lực làm việc của con người Kết quả khảo sát ở 11 cơ sở công nghiệp có tiếng ồn lớn hơn tiêu chuẩn cho phép cho thấy tỷ lệ người bị điếc nghề nghiệp lên tới 11% Bên cạnh đó sự ô nhiễm ở các khu du lịch thì sẽ làm cho du khách một đi không trở lại, làm thất thu nghiêm trọng cho ngành du lịch, tác hại của ô nhiễm môi truờng

do các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ra rất lớn, ô nhiễm làm cho sức khoẻ của con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng làm hạnh phúc của con người bị giảm xuống do đau ốm và chết yểu, do suy thoái của chất lượng không khí, nước

và những nguy hiểm khác về môi trường Các chất ô nhiễm có thể làm nảy sinh các vấn đề y tế, trực tiếp hoặc gián tiếp do sự thay đổi môi trường vật lý tác động của nó trải rộng từ bức xạ mặc trời tăng lên tới việc giảm dinh dưỡng Sức khoẻ con người yếu thì làm giảm năng xuất lao động và sư suy thoái môi trường làm giảm hiệu năng của nhiều nguồn tài nguyên mà còn sử dụng trực tiếp Ở biển ô nhiễm nước biển ven đảo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến môi trường sinh thái ven đảo, trong đó có hệ sinh thái san hô, mặc dù vùng bãi biển và vùng biển ven đảo

có nguồn lợi sinh vật phong phú và có giá trị kinh tế lớn như bào ngư, trai ngọc,

ốc nón, tôm hùm, hải sâm, rùa…trước đây phân bố rộng rãi ven các đảo cô tô, thanh lam, bạch long vĩ, hòn mê, cồn cỏ …đến nay dường như đã cạn kiệt nguồn năng xuất đánh bắt và giá trị hàng hoá của cá, mực ngày càng giảm xuống Theo khảo sát về cuộc sống tốt nhất trên thế giới năm 2007 Mercer thu thập thông tin

Trang 12

từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2006 của 215 thành phố trên thế giới thì Việt Nam

có Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội xếp hạng vị trí 150 và 157 tụt 2 bậc so với bảng xếp hạng

Tóm lại tác động do ô nhiễm môi trường là rất lớn và không thể lường trước được nó ảnh hưởng đến sức khoẻ, tới mọi mặc đời sống kinh tế của con người

Vì vậy việc đẩy mạnh phát triển kinh tế ở nước ta cần phải đi đôi với việc bảo vệ

và giữ gìn sự trong sạch của môi trường Có như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài, ổn định trong tương lai người dân mới có sức khoẻ tốt và ổn định trong sản xuất có như thế thì cuộc sống của người dân mới được ấm no hạnh phúc và đất nước mới ổn định và phát triển bền vững được

3 Ý thức chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường:

Thực tế cho thấy thì tình hình môi trường ở nước ta hiện nay rất đáng lo ngại và nhà nước mặt dù có nhiều biện pháp như ban hành các văn bản dưới luật

và đặc biệt là luật bảo vệ môi trường 2005 thay thế luật bảo vệ môi trường 1993

để quản lý tình hình ô nhiễm môi trường, đặc biệt là các chế tài mạnh đối với các

cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhưng ý thức chấp hành pháp luật của các cơ

sơ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa cao, họ rất chủ quan và coi thường pháp luật, đến thời điểm này thì tất cả các cơ sơ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong cả nước có hệ thống xử lý nước thải, khói bụi,…rất ít hoặc có nhưng vượt tiêu chuẩn cho phép, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ họ có hệ thống xử lý nước thải nhằm để đối phó, họ chấp nhận chịu phạt chứ không chịu xử lý nước thải vì chi phí cho việc xử lý nước thải còn cao hơn mức xử phạt Mặc dù trước khi thành lập họ điều có lập báo cáo môi trường chiến lược và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, nhưng khi đi vào hoạt động thì họ vi phạm, ý thức chấp hành pháp luật của các cán bộ và công nhân chưa cao, mặc khác do pháp luật của chúng ta chưa đủ nghiêm khắc nên họ cứ để mặc cho hậu quả xảy ra là ngày càng

ô nhiểm nghiêm trọng và người chịu thiệt hại nhiều nhất chính là những người dân sống gần đó Hầu như tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên cả nước điều có vi phạm ít hay nhiều điều có Họ để mặc cho nước thải hoi thối, thải trực tiếp ra ngoài sông, kênh rạch,…mặc cho người dân phản ánh, báo chí cũng làm giữ dội, các cơ quan có thẩm quyền cũng xử phạt nhưng cuối cùng thì cũng qua và họ lại tiếp tục làm cho môi trường sông, nước, đất,…ô nhiễm tiếp, nhiều địa phương cũng bó tay luôn vì phạt rồi, lại cứ phạt, rồi thì cũng rồi Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ họ rất ỷ lại vì họ chỉ coi trọng lợi nhuận trước mắt

mà không biết hậu quả về sau, mặc khác họ lợi dụng pháp luật nước ta chưa nghiêm khắc để họ vi phạm Thật vậy ý thức chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ chưa cao nên mới xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay và có dấu hiệu suy thoái nghiêm trọng Cụ thể như 100% các mẫu nước thải của các làng nghề vượt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm ở làng nghề xảy ra dưới hai dạng là ô nhiễm nguồn nước và không khí Ở làng nghề sản xuất giấy phong khê ( Yên Phong- Bắc Ninh) mảnh đất chết có 1675 hộ dân kêu cứu; 30% dân số mắc bệnh về da liễu, đường ruột, hô hấp; một cánh đồng 3 mẫu đất phải bỏ hoang, bụi khổng lồ vượt tiêu chuẩn cho phép dù đã được UBND thành phố yêu cầu di dời ra khỏi dân cư nhưng các cơ sở rây ô nhiễm hàng ngày vẫn thải ra môi trường khu dân cư nhiều chất thải độc hại địa phương tự nhận bất lực dân đe dọa sẽ thay thế chính quyền chặn xe vào nhà máy Còn ở công ty bia sài gòn miền tây nhà máy có công suất 25 triệu tấn trên năm hoạt động từ 2001 đến nay vẫn không có hệ thống xử lý nước thải mà vẫn ngang nhiên hoạt động

Trang 13

coi thường pháp luật Đặc biệt có gần đến 70% cơ sở sản xuất trong tổng số 26

cơ sở sản xuất ở thành phố Cần Thơ được thu mẫu kiểm nghiệm về môi trường trong quý I 2007 vi phạm nghiêm trọng về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, tuy nhiên việc xử lý vẫn tiếp tục bỏ ngõ Nhiều cơ sở sản suất, kinh doanh, dịch vụ yêu cầu họ di dời thì họ cho rằng không có vốn, không có địa điểm nhằm kéo dài thời gian hoạt động của cơ sở Ví dụ cụ thể về ý thức không chấp hành pháp luật của công ty trách nhiệm Hữu Hạn Sông Xanh Thành Phố Vũng Tàu được báo Thanh Niên ngày 04/04/2008 phản ánh như sau: Chôn "lụi" rác thải thay vì xử lý! Nhiều năm qua, Công ty TNHH Sông Xanh (TP Vũng Tàu) liên tục chôn rác thải nguy hại không qua xử lý, có nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường rất cao Sự cố chìm tàu chở dầu Đức Trí đã làm một lượng lớn dầu tràn vào bờ biển trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Sau khi khối lượng dầu tràn được thu gom có lẫn cát, UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã giao cho Công ty TNHH Sông Xanh xử lý Toàn bộ lượng cát lẫn dầu được đưa về nhà máy xử lý chất thải công nghiệp của công ty này ở xã Phước Hòa, huyện Tân Thành phân loại xử lý Thế nhưng, nhà máy này không xử lý mà cho công nhân chôn "lụi" Cụ thể, ngày 2.4, Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã phát hiện khoảng 50m3 cát nhiễm dầu chưa qua xử lý được chôn dưới đất, phía trên lót gạch rất tỉ mỉ trong khuôn viên của nhà máy Ngoài ra, cơ quan chức năng còn phát hiện: rác thải công nghiệp chủ yếu là bùn được lấy từ quá trình khoan thăm dò và xử lý dầu khí cũng được chôn lấp trên diện tích gần 1.000m2; gần 130m3 rác thải nguy hại, rác thải công nghiệp có màu nâu vàng lẫn ni-lon, giày bảo hộ, giẻ lau công nghiệp cũng được chôn lấp mà không qua xử lý Theo điều tra ban đầu của Phòng Cảnh sát môi trường, quản đốc Lê Văn Phước và đội trưởng sản xuất Phan Văn Tân đã thừa nhận chỉ đạo công nhân cho chôn rác thải nguy hại (cát nhiễm dầu do sự cố tràn dầu) để làm nền lót gạch và một diện tích khác khoảng 500m2 trong nhà máy ở phía dưới cũng chôn lấp rác thải nguy hại chưa qua xử lý.Trước

đó, cuối năm 2006, Đoàn thanh tra Sở Tài nguyên-Môi trường tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã tiến hành thanh tra tại nhà máy này và phát hiện khá nhiều sai phạm Nhà máy này đã cố ý chôn lấp các loại chất thải nhiễm dầu tại nhà xưởng trên diệntích khoảng 900m2, gây ô nhiễm môi trường đất, nước ngầm và nước mặt khu vực xung quanh; rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt không có kho chứa che chắn, cùng hàng chục tấn dung dịch mùn khoan nhiễm dầu chưa được xử lý đểbên ngoài nhà máy gây ô nhiễm môi trường Công ty TNHH Sông Xanh là đơn

vị được Bộ Tài nguyên-Môi trường giao cho xử lý cát nhiễm dầu, cặn dầu thu gom từ các vụ tràn dầu trên vùng biển phía Nam Thế nhưng, công ty này liên tục

có những sai phạm nghiêm trọng gây nguy hại cho môi trường Ngày 3.4, Công

an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có công văn đề nghị Sở Tài nguyên-Môi trường phối hợp để làm rõ và xử lý vi phạm của Công ty TNHH Sông Xanh theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường: Đề nghị đình chỉ hoạt động nhà máy xử lý chất thải của công ty để khắc phục hậu quả; kiểm tra để xác định toàn bộ khối lượng và thành phần rác thải đã chôn lấp trong khuôn viên nhà máy; đánh giá tính chất ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực nhà máy; thu thập, thống kê khối lượng chất thải nguy hại do chủ nguồn thải đã ký tiêu hủy với nhà máy trong thời gian qua

Trang 14

Đây là Khuôn viên Công ty TNHH Sông Xanh - Ảnh NL

Tóm lại vấn đề chấp hành pháp luật của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn rất kém vì đâu mà họ lại như vậy đây là một vấn đề cần phải được

mổ xẻ, vì vậy đòi hỏi các nhà làm luật và cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nhanh chống kịp thời tìm ra giải pháp làm sao cho họ có ý thức và tự nguyện chấp hành bảo vệ môi trường được tốt hơn để Việt Nam chúng ta vừa phát triển kinh tế vừa bảo vệ được môi trường trong sạch, lành mạnh có như thế thì mới phát triển toàn diện được, cuộc sống của người dân mới không bị đe dọa!

4 Chính sách của nhà nước về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ rây ô nhiễm môi trường:

Trước tình hình ô nhiễm môi trường như nước ta hiện nay thì đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp thỏa đáng để giải quyết, thật vậy trước tình hình ô nhiễm như hiện nay thì nhà nước đã từng bước hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường như ban hành luật bảo vệ môi trường 2005 thay thế luật bảo

vệ môi trường 1993 và nghị định 81 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế nghị định 121 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường 2004 và nghị định 80 về hướng dẫn thực hiện luật bảo vệ môi trường 2005 và Nghị Định số 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung môt số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường, và đặc biệt là nghị quyết về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 15/11/2004, nghị quyết 64/2003/NQ-Ttg của thủ tướng chính phủ về kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, Chỉ thị số 36/Ct-TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính Trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Chỉ thị 37 của ban Bí Thư Trung Ương, Nghị quyết 41 ngày 15 tháng

11 năm 2004 cũng chỉ đạo và đề ra đường lối chính sách cho vấn đề bảo vệ môi trường được hoàn thiện hơn, Cùng với việc bổ sung nhiều thông tư và nghị định khác, cụ thể như nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để mọi cá nhân tổ chức, cộng

Trang 15

đồng dân cư, hộ gia đình, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường, như nhà nước bỏ tiền ra để mua giống cây đước, cây mắm… trồng trên đất của người dân ven biển để cho người dân giữ và chia, hộ nào chăm sóc tốt sẽ được chọn đi

du lịch Nhà nước hỗ trợ cho các cơ sở để chuyển đổi thay thế những công cụ lạc hậu rây ô nhiễm môi trường, mua sắm các trang thiết bị xử lý nước thải…Ngoài

ra nhà nước còn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động như phát động tuần

lễ vệ sinh môi trường, hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn 2007 với chủ đề “khí hậu của chúng ta – hành động của chúng ta – tương lai của chúng ta” được đông đảo quần chúng, học sinh, sinh viên tham gia, đồng thời kết hợp với các biện pháp hành chính, kinh tế, và các biện pháp khác để xử phạt, răng đe, phòng ngừa, trừng trị những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nhằm tạo ý thức tự giác, kỷ cương trong hoạt động bảo vệ môi trường tốt hơn, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản, rừng, động vật… cũng được chú ý và tạo ý thức chấp hành theo pháp luật, ngoài ra còn phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đẩy mạnh tái chế những thứ còn sử dụng được nhằm tái

sử dụng để nhằm làm giảm thiểu chất thải Đặc biệt nhà nước ưu tiên giải quyết các vấn đề về môi trường Bức xúc như vấn đề chất nhiễm chất thải của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không đáng giá tác động và không cam kết bảo vệ môi trường hoặc có cam kết có đánh giá tác động môi trường nhưng thực hiện không đúng, thải ra những chất thải vượt tiêu chuẩn cho phép, đồng thời tập chung xử lý các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, phục hồi môi trường ở các khu vượt bị ô nhiễm suy thoái như chính phủ ban hành quết định số 64/2003/QĐ-Ttg của Thủ Tướng chính phủ về kế hoạch xử lý triệt để các

cơ sở gây ô nhiễm môi trường như: Mục tiêu trước mắt đến năm 2007 tập trung

xử lý triệt để 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong tổng số 4.295 cơ sở gây ô nhiễm được rà soát, thống kê đến năm 2002, gồm: 284 cơ sở sản xuất kinh doanh; 52 bãi rác, 84 bệnh viện, 15 kho thuốc bảo vệ thực vật, 03 khu tồn lưu chất độc hóa học và 01 kho bom do chiến tranh để lại, nhằm giải quyết ngay những điểm nóng, bức xúc nhất về ô nhiễm môi trường ở những khu

đô thị, đông dân và những vùng bị ô nhiễm nặng nề, góp phần bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng; đẩy mạnh công tác phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, từng bước kiểm soát và hạn chế tốc độ gia tăng các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong phạm vi cả nước Ngoài ra nhà nước chú rọng bảo vệ môi trường đô thị, khu dân cư, xử lý triệt để các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ gây ô nhiễm môi trường hoặc buộc họ phải di dời các cơ sở xa khu dân cư phù hợp với sức chịu tải của môi trường hoặc có thể đình chỉ hoặc cấm hoạt động và

có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cơ sở cố tình vi phạm không chấp hành gây hậu quả nghiêm trọng ở các khu dân cư và đô thị, đồng thời tăng cường công tác môi trường đô thị, phát triển ngành công tác môi trường như: xe chở rác,

xe ép rác, xe chuyên dụng chở chất thải nguy hại dạng lỏng, xe quét đường, xe hút bụi, xe hút gầm cầu, xe hút bùn,…tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, khuyết khích nghiên cứu áp dụng và chuyển giao các thành tựu khoa học và công nghệ

về bảo vệ môi trường Ngoài ra 2007 là năm có nhiều đổi mới và tiếng bộ về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ về đào tạo, trong nước đã tổ chức 22 lớp với hơn 1000 người tham dự, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; 300 lượt cán

bộ công chức học nghị quyết, chính sách pháp luật, một lớp bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên với 60 người tham dự; một khóa bồi dưỡng kinh tế

kỹ thuật cho 60 kỹ sư; nghiên cứu viên các đơn vị thuộc bộ công chức và 2 lớp

Trang 16

tiếng anh chuyên ngành cho 55 cán bộ thuộc các chuyên ngành địa chất và môi trường, 3 lớp tin học nâng cao cho 80 cán bộ công chức, 1 lớp tin học địa chất cho 25 cán bộ; 15 cán bộ lãnh đạo đi đào tạo cao cấp lý luận chính trị tại học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; 10 đồng chí lãnh đạo cấp vụ tham dự khóa bồi dưỡng quản lý nhà nước chương trình chuyên viên cao cấp,…một số đồng chí lãnh đạo cấp vụ đi đào tạo tiếng anh giao tiếp dành cho lãnh đạo tại Newzealand…Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư phát triển đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ môi truờng và bố trí khoảng chi riêng trong sự nghiệp môi trường trong ngâ sách nhà nước hàng năm, hàng năm nhà nước đầu

tư cho vấn đề phát triển và bảo vệ môi trường hàng trăm tỷ đồng cụ thể như chi cho việc đào tạo cán bộ môi trường, đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ

và môi trường…Ngoài ra nhà nước còn có nhiều chính sách như ưu đãi về đất đai, thuế hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường và ưu đãi về thuế đất đai cho các cơ sở nhằm tạo ra các sản phẩm thân thiện với môi trường Nhà nước còn có nhiều chính sách như mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế…Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm khai thác các nguồn lực của các tổ chức

và cá nhân nước ngoài để thực hiện kế hoạch

Tóm lại chính sách bảo vệ môi trường của nhà nước trong tình hình hiện nay

là rất khẩn trương và đáng khen ngợi như chính sách ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệp, chính sách ngăn ngừa ô nhiễm nông nghiệp, chính sách hỗ trợ đa dạng sinh học, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, chính sách quản lý chát thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp và cùng với chính sách sử dụng hiệu quả năng lượng về tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt hiện nay Bộ Khoa Học Công Nghệ Và Môi Trường đang xây dựng “ chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến 2010 trong 1999 chính phủ

đã phê duyệt chiến lược quản lý chât thải rắn ở các khu đô thị và khu công nghiệp đến 2020, đặc biệt 1998 Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra chỉ thị 36/CT-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, chỉ thị 37 của ban Bí thư Trung Ương và đáng chú trọng hơn là Bộ Chính Trị đã triển khai thực hiện nghị quyết số 41- NQ/TW của Bộ Chính Trị và chương trình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết 41- NQ/TW chúng ta có thể huy vọng rằng với chính sách của nhà nước trong thời buổi hiện nay sẽ đem lại những thành tựu vượt trội, để góp phần vào quá trình phát triển kinh tế đi đôi với việc bảo vệ môi trường được hoàn thiện hơn nhằm thu hút nhiều nhà đầu tư hơn nữa trong quá trình hội nhập

Trang 17

Chương II: Thực trạng pháp luật về xử lý cơ sở sản

xuất gây ô nhiễm môi trường:

Pháp luật về xử lý cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định rất cụ thể ở từng thời kỳ với các hình thức Hiến Pháp, Luật và các văn bản dưới luật sau đây tôi sẽ đi từng

cơ sở gây ô nhiễm môi trường và có các hình thức xử lý như sau:

1: Đối với cơ sở sản xuất:

Cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại cho tổ chức cá nhân khác thì còn phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật bảo vệ môi trường

2005 và các quy định khác của các pháp luật có liên quan

1.1: Cơ sở pháp lý điều chỉnh cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường:

Trong quá trình đô thị hóa đã dẫn đến xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất và những cơ sở này đã góp phần vào quá trình phát triển kinh tế của đất nước, xong

nó đã gây ra những hậu quả nặng nề là ô nhiễm môi trường đáng báo động vì thế đòi hỏi nhà nước phải có những biện pháp hữu hiệu như tại điều 29 của hiến pháp 1992 cũng có quy định như “ Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của nhà nước

về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường” và ban hành luật bảo vệ Môi Trường 2005 thay thế luật bảo vệ Môi Trường 1993 và luật tài Nguyên Nước 1998; luật Thủy Sản 2003; luật Bảo Vệ và Phát Triển Rừng 2004; luật Hình Sự 1999; luật bảo vệ sức khỏe Nhân Dân 1989; bộ luật Hàng Hải 1990; luật Đất Đai 2003; Bộ Luật Dân Sự 2005,…cùng với các văn bản dưới luuật như: nghị định 182/2004/NĐ- CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai; NĐ 81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; NĐ

34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; NĐ159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh quản lý rừng,bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; NĐ158/2005NĐ-CP ngày 11/10/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; NĐ154/2006/NĐ-CP ngày 25/11/2006 sửa đổi bổ sung điều 17 nghị định 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; nghị định 80/2006/NĐ-CP 09/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ môi trường; Tiêu chuẩn về đất 9541-1995; Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt của Việt Nam TCVN 5942-1995; Tiêu chuẩn nước mặt ven bờ của Việt Nam TCVN 5943-1995; Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm của Việt Nam TCVN 5944-1995; Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của Việt Nam TCVN 5945-1995; thông tư 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường …cùng với cac văn bản trên nhà nước

ta đã tham gia cac điều ước quốc tế như Ramsar 1971 về các vùng đất ngập nước

có tầm quan trọng đặc biệt; công ước Marpol 1973 về chống ô nhiễm do tàu biển

và nghị định thư 1978; công ước 1982 về luật biển quốc tế; hiệp định 1995 về hợp tác phát triển bền vững lưu vực Sông MêKông …nhìn chung các văn bản luật và các văn bản dưới luật đã góp phần tích cực trong lĩnh vực bảo vệ môi

Trang 18

trường, trong hoạt động sản xuất góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở

nước ta Tuy nhiên trong trường hợp có hậu quả do hành vi không tốt cho môi

trường thì chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm pháp lý nhất định

1.2: Dấu hiệu cơ bản về trách nhiệm pháp lý của cơ sở sản xuất có hành vi, vi

phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hệ trống pháp luật Việt Nam:

Trách nhiệm pháp lý của cơ sở sản xuất có những hành vi, vi phạm về bảo

vệ môi trường được hiểu là chế tài mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp

dụng đối với cơ sở sản xuất có hành vi, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

Hay nói cách khác, việc áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với hành vi, vi phạm

pháp luật về môi trường chính là những biện pháp bảo đảm tính cưỡng chế của

pháp luật đối với cơ sở sản xuất có hành vi, vi phạm Để truy cứu trách nhiệm

pháp lý đối với cơ sở sản xuất có hành vi, vi phạm pháp luật về môi trường, phải

xác định được cấu thành vi phạm pháp luật bao gồm mặc khách quan, chủ quan,

khách thể, chủ thể

Về mặc khách quan: Phải xác định được chủ thể đã có hành vi trái pháp luật về

bảo vệ môi trường, hành vi đó đã gây thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần mà xã

hội đã gánh chịu và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt haị

do hành vi đó gây ra

Về Mặc chủ quan: Phải xác định được lỗi, hình thức, tính chất lỗi hay nói cách

khác phải xác định được được biểu hiện nhận thức, ý chí trạng thái tâm lý của

chủ thể của hành vi vi phạm

Về chủ thể: Là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý.

Về mặc khách thể: Là môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên, tính chất

của khách thể phản ánh mức độ nguy hiểm cuủa hành vi vi phạm pháp luật

Những yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật nói trên được làm rõo khi nghiên cứu

trách nhiệm pháp lý cụ thể Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đối

với mỗi loại vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường có loại trách nhiệm pháp lý

tương ứng, đó là trách nhiệm pháp lý hình sự, trách nhiệm pháp lý hành chính,

trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khắc phục hậu quả và phục hồi

môi trường

1.3: Trách nhiệm pháp lý đối với cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường:

Trách nhiệm chính là quyền và nghĩa vụ để cơ sở sản xuất sử dụng, theo

nghĩa rộng có thể mang được lợi ích từ việc sản xuất đồng thời phải gánh chịu

những hậu quả nhất định trong quá trình thải ra những chất thải, bụi, tiếng ồn, độ

rung…vượt tiêu chuẩn cho phép Các hình thức xử lý đối với tổ chức, cá nhân

hoạt động sản xuất gây ô nhiễm môi trường

- Phạt tiền và buộc thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu

chuẩn môi truờng

- Tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi

trường cần thiết

- Xử lý bằng các hình thức khác theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm

hành chính

- Trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của con người, tài sản và lợi ích

hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường thì

còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại mục 2 Chương XIV của Luật bảo

vệ môi trường 2005 hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

- Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thì

Trang 19

ngoài việc bị xử lý các trường hợp vừa nói trên thì còn phải buộc khắc phục hậu

quả ô nhiễm, phục hồi môi trường như: Buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân

cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường, cấm hoạt động Sau đây tôi sẽ đi

từng trường hợp cụ thể như sau :

1.3.1: Xử lý vi phạm hành chính:

Các điều khoản pháp lý quan trọng liên quan đến việc xác định trách

nhiệm hành chính được ấn định tại điều 49 luật bảo vệ môi trường 2005;

NĐ81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 về xử phạt vi phạm hành chinhá trong lĩnh

vực bảo vệ môi trường; và pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính 2002 và nghị

định số 134/2003/N Đ-Cp ng ày 14 th áng 11 n ăm 2003 của chính phủ quy định

chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2003,

nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, nghị định 34/2005/NĐ-CP ngày

17/3/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, nghị

định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, nghị định 128/2005NĐ-CP

ngày 11/10/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản, nghị

định 154/2006/NĐ-CP ngày 25/11/2006 sửa đổi bổ sung điều 17 nghị định

128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành

chính trong lĩnh vực thuỷ sản, nghị định 80/2006/NĐ-CP 09/8/2006 về việc quy

định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn về

đất chất lượng 9541-1995, tiêu chuẩn chất lượng nước mặt của Việt Nam TCVN

5942-1995, tiêu chuẩn nước mặt ven bờ của Việt Nam TCVN 5943-1995, tiêu

chuẩn chất lượng nước ngầm của Việt Nam TCVN 5944-1995, tiêu chuẩn nước

thải công nghiệp của Việt Nam TCVN 5945-1995,…

Đây là những văn bản pháp luật quan trọng quy định những vấn đề có tính

chất chung nhất trong xử lý vi phạm hành chính, cũng như những vấn đề liên

quan đến nguyên tắc, hình thức, biện pháp, thủ tục, thẩm quyền …về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Về nguyên tắc, trách nhiệm pháp lý

hành chính hay nói cách khác là hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu

quả, được quy định tại điều 7 nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 như

sau:

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi

trường, cá nhân, tổ chức vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính

sau đây: Cảnh cáo, phạt tiền, mức quy định phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi

phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là 70.000.000 đồng Tùy theo tính chất,

mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình

thức xử phạt bổ sung sau đây: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không thời

hạn đối với Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại giấy phép có

nội dung liên quan về bảo vệ môi trường (sau đây gọi chung là Giấy phép môi

trường) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

trong lĩnh vực môi trường Ngoài các hình thức xử phạt quy định vừa nêu ở trên

thì cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có

thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc trong

thời hạn nhất định phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định

của pháp luật về bảo vệ môi trường Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình

trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra Buộc đưa ra khỏi lãnh

Trang 20

thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường Các biện pháp khắc phục hậu quả khác được quy định cụ thể ở chương II nghị định 81 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và các văn bản khác Tại điều 8 nghị định là vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành

vi thực hiện không đúng một trong các nội dung đã ghi trong Bản cam kết bảo vệ môi trường Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đối với trường hợp phải đăng ký cam kết bảo vệ môi trường Còn tại điều

9 nghị định thì nếu như vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường và đánh giá môi trường chiến lược thì phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi thực hiện không đúng một trong các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt và các yêu cầu khác trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Phạt tiền từ 11.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt và các yêu cầu khác trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã tiến hành xây dựng hoặc đưa công trình vào hoạt động đối với trường hợp phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Phạt tiền

từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đối với trường hợp phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Còn tại điều 10 nếu cơ sở sản xuất nào mà vi phạm các quy định về xả nước thải thì tùy theo tính chất mức độ vi phạm có thể bị phạt tiền như sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày (24 giờ) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 9.000.000 đồng đến 11.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép

từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 17.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 21.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 24.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải

Trang 21

vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền

từ 31.000.000 đồng đến 33.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50

m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 34.000.000 đồng đến 36.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 19.000.000 đồng đến 21.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 22.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải

có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới ba lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới ba lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 31.000.000 đồng đến 33.000.000 đồng đối với hành

vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới 3 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 34.000.000 đồng đến 36.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 37.000.000 đồng đến 39.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 42.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 43.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Phạt tiền từ 46.000.000 đồng đến 49.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 55.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường quá mức cho phép Còn nếu như cơ sở sản xuất vi phạm các quy định về thải khí, bụi thì có thể phạt theo các mức sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: Thải khí, bụi vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép vào môi trường dưới hai lần; Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn

Trang 22

chế ô nhiễm môi trường Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép

từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000

m3/giờ Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi

vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 11.000.000 đồng đến 13.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000 m3/giờ Phạt tiền từ 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền từ 17.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền

từ 21.000.000 đồng đến 23.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000 m3/giờ Phạt tiền từ 24.000.000 đồng đến 26.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền từ 27.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều này vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 17.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000

m3/giờ Phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền

từ 21.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới ba lần trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000 m3/giờ Phạt tiền từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới

ba lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000

m3/giờ Phạt tiền từ 31.000.000 đồng đến 34.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần đến dưới ba lần trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 35.000.000 đồng đến 37.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000 m3/giờ Phạt tiền từ 38.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải

Trang 23

từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền từ 41.000.000 đồng đến 44.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp lưu lượng khí thải

từ 20.000 m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 45.000.000 đồng đến 47.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải nhỏ hơn 5.000 m3/giờ Phạt tiền từ 48.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 5.000 m3/giờ đến dưới 20.000 m3/giờ Phạt tiền từ 51.000.000 đồng đến 54.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp lưu lượng khí thải từ 20.000

m3/giờ trở lên Phạt tiền từ 55.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi thải khí, bụi có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường quá mức cho phép Còn nếu như cơ sở nào vi phạm các quy định về tiếng ồn thì có thể phạt theo mức phạt sau: Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép dưới 1,5 lần trong thời gian từ 6 giờ đến 22 giờ Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép từ 1,5 lần trở lên trong thời gian từ 6 giờ đến 22 giờ Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép dưới 1,5 lần trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến trước 6 giờ ngày hôm sau Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi gây tiếng ồn vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép từ 1,5 lần trở lên trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến trước 6 giờ ngày hôm sau Còn cơ sở sản xuất vi phạm các quy định về độ rung thì tùy theo tính chất mà có thể phạt các mức như sau: Vi phạm các quy định về độ rung trong hoạt động xây dựng: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi gây độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép trong thời gian từ 7 giờ đến 19 giờ đối với khu vực cần có môi trường đặc biệt yên tĩnh, khu dân cư, khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan hành chính; từ 6 giờ đến 22 giờ đối với khu dân cư xen kẽ trong khu thương mại, dịch vụ và sản xuất Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi gây độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép trong thời gian từ 19 giờ hôm trước đến 7 giờ hôm sau đối với khu vực cần

có môi trường đặc biệt yên tĩnh, khu dân cư, khách sạn, nhà nghỉ; từ 22 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau đối với khu dân cư xen kẽ trong khu thương mại, dịch

vụ và sản xuất Vi phạm các quy định về độ rung trong hoạt động sản xuất công nghiệp: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi gây độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép trong thời gian từ 6 giờ đến 18 giờ đối với khu vực cần có môi trường đặc biệt yên tĩnh, khu dân cư, khách sạn, nhà nghỉ, cơ quan hành chính, khu dân cư xen kẽ trong khu thương mại, dịch vụ và sản xuất Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi gây độ rung vượt tiêu chuẩn môi trường cho phép trong thời gian từ 18 giờ hôm trước đến 6 giờ hôm sau đối với khu vực cần có môi trường đặc biệt yên tĩnh, khu dân

cư, khách sạn, nhà nghỉ, khu dân cư xen kẽ trong khu thương mại, dịch vụ và sản xuất Ngoài ra cơ sở sản xuất nào mà vi phạm quy định về ô nhiễm đất thì có thể phạt theo các mức sau: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi chôn vùi hoặc thải vào đất các chất gây ô nhiễm không đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều

Trang 24

này gây ô nhiễm đất Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép,…

Ngoài ra các cơ sở sản xuất còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong nghị định 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 về quy định xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước như sau: Tại điều 7 là hình thức xử phạt vi phạm hành chính là tại khoản 1 là đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước, cá nhân, tổ chức mà sản xuất vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: Cảnh cáo v à phạt tiền, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước là 100.000.000 đồng Mức phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước là mức trung bình của khung phạt tiền được quy định đối với hành vi đó; mức trung bình của khung phạt tiền thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều

24 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP Nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt tiền có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền đối với hành vi vi phạm đó Nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức phạt tiền có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung phạt tiền đối với hành vi vi phạm đó Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc hai hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Tước quyền sử dụng giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; giấy phép hành nghề khoan nước dưới đất; Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính Cụ thể tại điều 8 nếu cơ sở sản xuất nào mà vi phạm trong việc thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không cógiấy phép theo quy định của pháp luật thì phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm dò nước dưới đất với công trình gồm 1 giếng khoan, chiều sâu dưới 50 mét; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy dưới 50 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng dưới 0,2 m3/giây; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng dưới 3.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng dưới 200 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm dò nước dưới đất với công trình gồm 1 giếng khoan, chiều sâu từ 50 mét trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 50 kW đến dưới 300 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng từ 0,2 m3/giây đến dưới 0,5 m3/giây; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm đến dưới 20.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 200 m3/ngày đêm đến dưới 400 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành

vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây:Khoan thăm dò nước dưới đất với công trình gồm 2 giếng khoan, tổng chiều

Trang 25

sâu dưới 80 mét; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy

từ 300 kW đến dưới 700 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng từ 0,5 m3/giây đến dưới 1 m3/giây; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 20.000 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 400 m3/ngày đêm đến dưới 800 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm dò nước dưới đất vớicông trình gồm 2 giếng khoan, tổng chiều sâu từ 80 mét trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 700 kW đến dưới 1.800 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng từ 1 m3/giây đến dưới 2 m3/giây; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 50.000 m3/ngày đêm đến dưới 100.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 800 m3/ngày đêm đến dưới 1.500 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm dò nước dưới đất với công trình gồm 3 giếng khoan, tổng chiều sâu dưới 100 mét; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 1.800 kW đến dưới 3.500 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho sản xuất nông nghiệp với lưu lượng từ 2 m3/giây trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 100.000 m3/ngày đêm đến dưới 200.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 1.500 m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm dò nước dưới đất với công trình gồm 3 giếng khoan, tổng chiều sâu từ 100 mét trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 3.500 kW đến dưới 5.000 kW; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 200.000 m3/ngày đêm đến dưới 300.000 m3/ngày đêm; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 3.000 m3/ngày đêm đến dưới 4.000 m3/ngày đêm Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi thăm

dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước không có giấy phép sau đây: Khoan thăm

dò nước dưới đất với công trình gồm từ 4 giếng khoan trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt để phát điện với công suất lắp máy từ 5.000 kW trở lên; Khai thác, sử dụng nước mặt cho các mục đích khác với lưu lượng từ 300.000 m3/ngày đêm trở lên; Khai thác, sử dụng nước dưới đất với lưu lượng từ 4.000 m3/ngày đêm trở lên Hành vi xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép theo quy định của pháp luật: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi

xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 10 m3/ngày đêm đến dưới 50 m3/ngày đêm; Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 50 m3/ngày đêm đến dưới 100 m3/ngày đêm; Phạt tiền từ 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 100 m3/ngày đêm đến dưới 500 m3/ngày đêm Phạt tiền

từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 500 m3/ngày đêm đến dưới 1.000 m3/ngày đêm; Phạt tiền từ18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 1.000 m3/ngày đêm đến dưới 2.000 m3/ngày đêm; Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng

Trang 26

nước thải từ 2.000 m3/ngày đêm đến dưới 5.000 m3/ngày đêm; Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xả vào nguồn nước lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày đêm trở lên

Các cơ sở sản xuất còn phải bị xử phạt vi phạm hành chính trong các nghị định như: Nghị Định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai Trong nghị định này thì có các hành vi vi phạm hành chính như: Các hành vi vi phạm hành chính trong sử

dụng đất bao gồm:Sử dụng đất không đúng mục đích; Lấn, chiếm đất;Huỷ hoại

đất; Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà không thực hiện đúng thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật về đất đai;Tự chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho đối với đất không đủ điều kiện chuyển quyền sử dụng đất; Cố ý đăng ký không đúng loại đất, không đăng ký khi chuyển mục đích sử dụng đất; Chậm thực hiện bồi thường; Chậm nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất cho phép; Cố ý gây cản trở cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất; Không thực hiện đúng thời hạn trả lại đất theo quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Tự tiện di chuyển, làm sai lệch mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất; mốc chỉ giới hành lang an toàn của công trình; Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc

sử dụng đất Các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động dịch vụ về đất đai bao gồm: Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn về giá đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép; Hành vi vi phạm trong hành nghề tư vấn

về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà không đủ điều kiện đăng ký hoạt động hành nghề; Hành vi vi phạm trong hành nghề dịch vụ về thông tin đất đai, dịch vụ đo đạc và bản đồ địa chính Tại điều 8 xác định mức độ hậu quả của hành

vi vi phạm hành chính Mức độ hậu quả của hành vi vi phạm hành chính được xác định theo nguyên tắc quy đổi giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm thành tiền theo giá đất do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất đó quy định và chia thành 4 mức sau đây: Mức một (1): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm quy đổi thành tiền dưới hai triệu (2.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, dưới mười triệu (10.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp; Mức hai (2): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm quy đổi thành tiền từ hai triệu (2.000.000) đồng đến dưới năm triệu (5.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp,

từ mười triệu (10.000.000) đồng đến dưới hai mươi lăm triệu (25.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp; Mức ba (3): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm quy đổi thành tiền từ năm triệu (5.000.000) đồng đến dưới mươi triệu (10.000.000) đồng đối với đất nông nghiệp, từ hai mươi lăm triệu (25.000.000) đồng đến dưới năm mươi triệu (50.000.000) đồng đối với đất phi nông nghiệp; Mức bốn (4): Trường hợp giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất bị vi phạm quy đổi thành tiền từ mười triệu (10.000.000) đồng trở lên đối với đất nông nghiệp, từ năm mươi triệu (50.000.000) đồng trở lên đối với đất phi nông nghiệp Đối với diện tích đất bị vi phạm là đất chưa sử dụng thì áp dụng giá đất nông nghiệp thấp nhất của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại thời điểm

xử phạt.Cơ sở sản xuất còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh

Trang 27

quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ngày 30/10/2007 Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 159/2007/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.Theo đó, mức phạt cao nhất là 30 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm về quản lý, bảo vệ động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIB Ngoài ra, người có hành vi vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng như đưa súc vật kéo, mang dụng cụ thủ công vào rừng để săn bắt chim thú, khai thác lâm sản trái phép; mang vào rừng các chất dễ cháy, nổ; tổ chức đưa người vào nghiên cứu khoa học trái phép sẽ bị phạt tiền từ 100.000 - 1.000.000 đồng.Vi phạm quy định về thiết kế khai thác gỗ, quy định về khai thác gỗ bị xử phạt từ 1 triệu đến

10 triệu đồng Người có hành vi phá rừng trái phép làm nương rẫy sẽ bị phạt tiền

từ 1.000 đồng/m2 - 5.000 đồng/m2 tùy theo từng loại rừng bị phá Phá rừng trái phép sẽ bị phạt tiền với mức tối đa 10.000 đ/m2 và buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng Khai thác rừng trái phép đối với gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm từ nhóm I đến nhóm III sẽ bị phạt tiền tối đa đến 3,5 triệu đồng/m3 nếu khai thác trái phép đến 3m3 (Mức phạt này cũng áp dụng đối với nhóm gỗ IIA khi khai thác trái phép từ 6 - 10 m3) Nếu là rừng phòng hộ, mức phạt tăng lên 4,5 triệu đồng/m3 Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100.000 đồng Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 2 triệu; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 10 triệu Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 30 triệu đồn Nhân viên Kiểm lâm được phép: Khám người, giữ người theo thủ tục hành chính; khám phương tiện vận tải, đồ đạc và được phép tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Đồng thơì cơ sở nào vi phạm còn có thể phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản như tại Nghị Định 128/2005NĐ-CP ngày 11/10/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản - Theo Nghị định số 128/2005/NĐ-CP ban hành ngày 11/10/2005, Chính phủ quy định: mức phạt cao nhất là 30 triệu đồng đối với hành vi: khai thác thuỷ sản tại khu vực cấm khai thác hoặc trong thời gian cấm khai thác với khối lượng trên 500 kg, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển giống thuỷ sản hoặc thả ra môi trường tự nhiên các loài thuỷ sản không có tên trong danh mục giống thuỷ sản được phép sản xuất, kinh doanh Không thực hiện kiểm dịch giống thuỷ sản trước khi đưa ra khỏi cơ sở sản xuất, Vận chuyển giống thuỷ sản không có giấy kiểm dịch có thể bị phạt từ 2 đến 4 triệu đồng Hành vi khai thác thuỷ sản bằng tầu cá có trọng tải từ 0,5 tấn trở lên mà không có Giấy phép khai thác thuỷ sản, sử dụng Giấy phép khai thác thuỷ sản đã quá hạn có thể bị phạt từ 500.000 đến 10.000.000 đồng Phạt tiền từ 3 đến 5 triệu đồng đối với hành vi sử dụng các loại thức ăn, thuốc thú y, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hoá chất dùng trong sản xuất, kinh doanh giống thuỷ sản thuộc danh mục cấm sủ dụng, cấm lưu hành tại Việt Nam Nếu thuộc danh mục hạn chế sử dụng thì phạt tiền từ 2 đến 4 triệu đồng trong quá trình xử phạt thường dựa vào các tiêu chuẩn sau: Tiêu chuẩn về chất lượng đất 9541-1995; Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt của Việt Nam TCVN 5942-1995; Tiêu chuẩn nước mặt ven bờ của Việt Nam TCVN 5943-1995; Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm của Việt Nam TCVN 5944-1995; Tiêu chuẩn nước thải công nghiệp của Việt Nam TCVN 5945-1995

1.3.2:Bồi thường thiệt hại

Trang 28

Hành vi gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất còn phải bồi thường được quy định rất rộng nhưng chủ yếu dựa vào trong luật bảo vệ môi trường

2005 chương XIV mục và trong Bộ Luật Dân Sự 2005 và trong Nghị Quyết của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao số 01/2004/NQ – HĐBT ngày

28 tháng 4 năm 2004 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ Luật Dân Sự Bồi Thường Ngoài Hợp Đồng và các văn bản có liên quan khác

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý mà xâm hại đến sức khỏe, tín mạng, tài sản và lợi ít hợp pháp khác của

cá nhân xâm phạm uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó Đây là điểm quan trọng mà trong Bộ Luật Dân Sự 2005 đã thay đổi kể cả trường hợp không có lỗi cũng phải bồi thường, tức là trong trường hợp cơ sở sản xuất gây thiệt hại có lỗi và có hậu quả xảy ra, và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thì phải bồi thường, tuy nhiên trong trường hợp mà có hậu quả xảy ra mà không có lỗi thì cũng phải bồi thường, tại điều 625 Bộ Luật Dân Sự 2005 quy định rằng “ cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường mà rây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật kể cả trong trường hợp người rây ô nhiễm môi trường không có lỗi”

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại: Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Người rây thiệt hại có thể giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình, khi mức bồi thường không còn phù hợp với mức thực tế htì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường Các bên có thể tự do thỏa thuận mức bồi thường, phương thức, hình thức mức bồi thường Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại

là 2 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm

Nghĩa vụ chứng minh của các đương sự: Người bị gây thiệt hại yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và phải có chứng từ và giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí hợp lý về thu nhập của người bị thiệt hại, cơ sở sản xuất gây thiệt hại yêu cầu giảm mức bồi thường phải có tài liệu, chứng cứ về khả năng tài chính trước mắt

và lâu dài của mình không đủ để bồi thường toàn bộ hoặc phần lớn thiệt hại đã xảy ra, cá nhân tổ chức bị thiệt hại hoặc cơ sở sản xuất gây yhiệt hại yêu cầu thay đổi mức bồi thường phái có đơn xin thay đổi mức bồi thường thiệt hại xảy ra Việc chứng minh không có lỗi thuộc nghĩa vụ của bên cơ sở sản xuất có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường: Suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, suy giảm chức năng rất rộng tuy nhiên chúng ta có thể hiểu chức năng của môi trrường bị giảm do cơ sở sản xuất gây ra như thải chất thải nguy hại làm ô nhiễm môi trường đất , nước và không khí …lúc đó làm cho tính lợi ích của môi trường không còn như lúc trước nữa như khi nguồn nước bị ô nhiễm thì có thể làm cho người dân sử dụng nước bẩn đó bị bệnh chẳng hạn, thiệt hại về sức khỏe tín mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do hậu quả của việc suy giảm chức năng , tính hữu ích của môi trường, thực tế cho thấy các công nhân làm việc trong các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường họ thường bị ảnh hưởng sức khỏe rất lớn như điếc, lao, ung

Trang 29

thư… thì tính mạng của họ cũng khó mà bảo đảm, bên cạnh đó một số cơ sở sản xuất họ không có hệ thống xử lý nước thải hoặc xử lý nước thải không đạt tiêu chuẩn gây ô nhiễm nguồn nước và nguồn nước này làm cho người dân nuôi tôm,

cá bị nhiễm chết cũng gây thiệt hại rất lớn Xác định thiệt hại do ô nhiễm suy thoái môi trường: Suy giảm chức năng tính hữu ích của môi trường gồm các mức

độ sau: Có suy giảm, suy giảm nghiêm trọng và suy giảm đặc biệt nghiêm trọng

và việc xác dịnh như thế nào là suy giảm, suy giảm nghiêm trọng và suy giảm đặc biệt nghiêm trọng thì cũng chưa có một văn bản nào hướng dẫn cụ thể tuy nhiên chúng ta có thể hiểu rằng, môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên và môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên Việc xác định phạm vi giới hạn môi trường bị suy giảm chức năng tính hữu ích gồm có xác dịnh giới hạn, diện tích, của khu vực là bao nhiêu và vùng lỗi nào bị suy giảm nghiêm trọng và vùng nào đặc biệt nghiêm trọng, ngoài ra còn phải xác định giới hạn diện tích nào trực tiếp bị suy giảm và cuối cùng là xác định giới hạn, diện tích các vùng nào bị ảnh hưởng từ vùng lõi và vùng điệm Việc xác định các thành phần môi trường bị suy giảm gồm xác định thành phần môi trương như môi trường nước, không khí, đất,…nào

bị suy giảm và loại hình sinh thái nào, giống loài nào bị thiệt hại Xác định mức

độ thiệt hại của từng thành phần môi trường hệ sinh thái, giống loài bị thiệt hại như thế nào nhiều hay ít để có cách xử lý cụ thể hơn Tính toán chi phí thiệt hại

về môi trường được quy định như sau: Tính toán chi phí thiệt hại trước mắt là bao nhiêu và lâu dài do sự suy giảm tính hữu ít của các thành phần môi trường, tính toán chi phí xử lý,cải tạo, phục hồi môi trường bị suy giảm, tính toán chi phí giảm thiểu hoặc triệt tiêu nguồn gây thiệt hại, thăm dò ý kiến của các đối tượng liên quan Tuy nhiên tùy điều kiện cụ thể mà chúng ta có thể áp dụng một trong những biện pháp trên để tính chi phí thiệt hại về môi trường làm căn cứ để bồi thường và giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường Việc xác định thiệt hại

về sức khỏe, tính mạng, của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cá nhân,

tổ chức do gây ô nhiễm, suy thoái môi trường được thực hiên theo quy định của pháp luật chủ yếu là dựa vào Bộ Luật Dân Sự 2005 và cách xác định thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định trong nghị quyết của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa

Án Nhân Dân Tối Cao số 01/2004/NQ – HĐTP ngày 28/4/2004 hướng dẫn một

số quy định của Bộ Luật Dân Sự cụ thể như thiệt hại do tài sản bị xâm hại thì bồi thường bao gồm tài sản bị mất, tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại Còn xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại thì bao gồm chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm súc của người bị thiệt hại bao gồm tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế, tiền thuốc, tiền mua thiết bị y tế, thu nhập thực tế bị mất hoặc

bị giảm súc của người bị thiệt hại, nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định thì và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung

Trang 30

bình của lao động cùng loại, chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tê của người chăm sóc, ngưòi bị thiệt hại trong thời gian điều trị, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm

cả chi phí hợp lý cho cả chăm sóc người bị thiệt hại, ngoìa ra còn phải bồi thường cho người bị hại về tổn thất tinh thần và do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định Nếu thiệt hại do tính mạng bị xâm hại thì phải bồi thường bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, chi phí hợp lý cho viiệc mai tang như hòm, khăn tang, hương nến, thuê xe tang và các dụng cụ khác, Tiền cấp dưỡng cho người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng như cha, mẹ già yếu không có khả năng nuôi sống bản thân mình, Ngoài ra còn phải bồi thường thiệt hại về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại nếu không có những người này thì người

mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền, mức bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa là không quá 60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định Chính phủ hướng dẫn việc xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường Giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, giám định thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc cơ quan giải quyết việc bồi thường thiệt hại về môi trường, căn cứ giám định thiệt hại là hồ sơ đòi bồi thường thiệt hại, các thông tin, số liệu, chứng

cứ và các căn cứ khác liên quan đến bồi thường thiệt hại và đối tượng gây thiệt hại.Việc lựa chọn cơ quan giám định thiệt hại phải được sự đồng thuận của bên đòi bồi thường và bên phải bồi thường; trường hợp các bên không thống nhất thì việc chọn tổ chức giám định thiệt hại do cơ quan được giao trách nhiệm giải quyết việc bồi thường thiệt hại quyết định Giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường, việc giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường được quy định như sau: Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, phương thức bồi thường, hình thức bồi thường nếu thỏa thuận không trái pháp luật, đạo đức xã hội Ngoài ra các bên còn có thể yêu cầu trọng tài để giải quyết việc bồi thường hoặc yêu cầu Tòa Án có thẩm quyền giải quyết Nhìn chung thì quá trình giải quyết bồi thường

về môi trường luật quy định rất rộng cho các bên giải quyết, trên thực tế thì các bên thích thỏa thuận hơn vì nó rất tiện và không mất nhiều thời gian, vì các cơ sở sản xuất họ không thích kiện tụng vì nó mất nhiều thời gian và thời gian của họ

là vàng là bạc, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp cũng cần đến sự can thiệp của Trọng Tài và Tòa Án Bảo hiểm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thực hiện hoạt động bảo hiểm đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường Tổ chức, cá nhân có hoạt động tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường thì phải mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường

1.3.3: Cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ngoài việc xử lý vi phạm hành chih, truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại thì còn phải khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường:

Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường, theo quy định tại điều 93 luật bảo vệ môi trường 2005 Khắc phục ô nhiễm và phục

Trang 31

hồi môi trường: Việc điều tra xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm bao gồm các nội dung như: điều tra xác định phạm vi, giới hạn khu vực môi trường bị ô nhiễm ở đâu mức độ ô nhiễm như thế nào như môi trường bị ô nhiễm trong trường hợp hàm lượng một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường và môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn môi trường về chất lượng môi trường từ 3 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu chuẩn về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên

và cuối cùng là môi trường bị ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng trong khi hàm lượng của một hoặc nhiều hoá chất, kim loại nặng vượt quá tiêu chuẩn môi trường về chất lượng môi trường từ 5 lần trở lên hoặc hàm lượng của một hay nhiều chất gây ô nhiễm khác vượt quá tiêu cuẩn về chất lượng môi trường từ 10 lần trở lên Nguyên nhân là gây ra ô nhiễm môi trường là do không làm đúng nội dung cam kết môi trường hay chưa lập bản cam kết bảo vệ môi trường hay có cam kết mà vi phạm như cho thải ra môi trường những chất thải, khói, bụi, trong quá trình sản xuất làm ô nhiễm môi trường Các công việc cần thực hiện để khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường như xây dựng hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn hay phải tạm ngưng hoạt động Các thiệt hại đối với môi trường thực

tế như thế nào phải đánh giá kiểm tra cụ thể nhằm làm căn cứ để yêu cầu bên gây

ô nhiễm, suy thoái phải bồi thường

Trách nhiệm điều tra xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm được quy định như: Uỷ Ban Nhân Dân cấp Tỉnh tổ chức phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền lien quan, điều tra, xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm trên địa bàn Tỉnh của mình Bô Tài Nguyên và Môi Trường chỉ đạo việc phối hợp của UBND cấp Tỉnh tổ chức điều tra xác định khu vực môi trường bị ô nhiễm nằm trên địa bàn từ 2 Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương trở lên Kết hợp điều tra về nguyên nhân gây ô nhiễm, mức độ phạm vi ô nhiễm và thiệt hại về môi trường phải được công khai để nhân dân được biết bắng các phương tiện thong tin đại chúng như đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí…Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường có trách nhiệm sau đây như thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường như đã nói ở trên trong quá trình, điều tra, xác định, phạm vi, giới hạn, mức độ, nguyên nhân biện pháp khắc phục ô nhiễm và phục hồi môi trường, tiếng hành ngay các biện pháp để ngăn chặn hạn chế nguồn gây ô nhiễm môi trường và hạn chế sự lan rộng, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của nhân dân trong vùng bị ô nhiễm Thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm phục hồi môi trường theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường như vi phạm các quy định về xả nước thải thì ngoài các biện pháp là xử phạt hành chính còn phạt bổ sung và khắc phục hậu quả như: Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không thời hạn đối với Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường và các loại giấy phép có nội dung liên quan về bảo vệ môi trường (sau đây gọi chung là Giấy phép môi trường) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường Ngoài các hình thức xử phạt quy định vừa nêu ở trên thì cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc trong thời hạn nhất định phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình

Trang 32

trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường đã đưa vào trong nước Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây ô nhiễm môi trường Các biện pháp khắc phục hậu quả khác được quy định cụ thể ở chương II nghị định 81 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và các văn bản khác Cụ thể như tước giấy phép môi trường từ 90 ngày làm việc đến 180 ngày làm việc đối với các vi phạm quy định nếu như hành vi xả nước thải vực tiêu chuẩn cho phép dưới 2 lần trong trường hợp thải lượng nươc thải nhỏ hơn 50m3/ngày ( 24 giờ ) và xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới 2 lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3 /ngày đến dưới 5.000 m3/ngày và hành

vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Đồng tước Giấy phép môi trường không thời hạn đối với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày và hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần đến dưới mười lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên, cùng với hành vi xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ mười lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày Tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết đối với các vi phạm như: đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải nhỏ hơn 50 m3/ngày, và hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải

từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày, cùng với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ ba lần đến dưới năm lần trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên Ngoài ra còn cấm hoạt động hoặc buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường, đối với các vi phạm như: đối với hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày, và hành vi xả nước thải có chứa chất nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ năm lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 5.000 m3/ngày trở lên, cùng với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường quá mức cho phép và các cơ sở này còn bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính quy định gây ra, ngoài ra nếu vi phạm các vi định

về chất thải rắn thì ngoài xử phạt vi phạm hành chính còn phải buộc khắc phục hậu quả như: Tước Giấy phép môi trường từ chín mươi ngày làm việc đến một trăm tám mươi ngày làm việc đối với các vi phạm quy định như là phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi thải chất thải rắn không đúng quy định về bảo vệ môi trường mà gây ô nhiễm môi trường đồng thời tước Giấy phép môi trường không thời hạn đối với các vi phạm như phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định thải chất thải rắn không đúng quy định về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường trong trường hợp chất thải rắn có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép và chất thải rắn có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường quá mức cho phép ảnh hưởng đến con người và sinh vật Ngoài ra buộc cơ sở sản xuất thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi

Trang 33

phạm hành chính quy định gây ra Ngoài ra tại điều 21 nghị định 81 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường quy định vi phạm quy định về ô nhiễm đất khoản 1 là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi chôn vùi hoặc thải vào đất các chất gây ô nhiễm không đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường còn khoản 2 là phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản

1 điều này gây ô nhiễm đất, khoản 3 là phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất thải nguy hại vượt tiêu chuẩn cho phép, khoản 4 là phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành

vi vi phạm quy định tại khoản 2 điều này trong trường hợp chất gây ô nhiễm có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và khoản 4 điều này gây ra Ngoài ra các cơ sở sản xuất nếu gây

ra ô nhiễm còn phải buộc khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường tại các văn bản sau: Nghị Định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai; Nghị Định 34/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước; Nghị Định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị Định 158/2005NĐ-CP ngày 11/10/2005 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; Nghị Định 154/2006/NĐ-CP ngày 25/11/2006 sửa đổi bổ sung điều 17 nghị định 128/2005/NĐ-CP ngày 11/10/2005 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; Nghị Định 80/2006/NĐ-CP 09/8/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của luật bảo vệ môi trường; Nghị Định của chính phủ số 128/2005/NĐ-Cp ngày 11/10/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản,

Nhìn chung thì các biện pháp khắc phục ô nhiễm môi trường và phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật thì thường buộc các cơ sở sản xuất phải làm theo cam kết đánh giá tác động môi trường và dựa vào tiêu chuẩn cho phép

và gây thiệt hại như thế nào thì phục hồi như thế đó, đồng thời buộc phải bồi thường thiệt hại, biện pháp nặng hơn là cấm hoạt động hoặc buộc di dời cơ sở sản xuất đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với sức chịu tải của môi trường

1.3.4: Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường theo pháp luật hình sự đối với cơ

sở sản xuất có hành vi vi phạm: Các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đối với cơ sở sản xuất theo pháp luật hình sự chính là các tội phạm về môi trường

Đó là những hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao được quy định trong bộ luật hình sự và người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự đó là hình phạt Theo quy định của Bộ Luật Hình Sự 1999 các tội phạm về môi trường được quy định tại chương XVI gồm 10 điều luật với các tội danh cụ thể từ điều 182 đến điều 191 nhưng ở đây chỉ đề cập đến những tội phạm hình sự trong lĩnh vực các

cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường Cụ thể như tội gây ô nhiễm không khí điều 182, tội gây ô nhiễm nguồn nước điều 183, tội gây ô nhiễm đất 184 những hành vi được quy định trong những điều này là những hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm hại đến một khách thể cần được bảo vệ đặc biệt là môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Hậu quả của các hành vi phạm tội này là rất lớn, có thể là hậu quả rây ra cho bản thân môi trường như ô nhiễm, suy thoái

Trang 34

hoặc sự cố môi truường, có thể là hậu quả gây ra cho sức khỏe, tín mạng con người hoặc hậu quả gây thiệ hại về tài sản, kể cả chi phí khắc phục hậu quả và hành vi phạm tội đối với môi trường.

Trách nhiệm pháp lý (hình phạt): Đối với các cơ sở sản xuất có hành vi vi phạm

pháp luật về bảo vệ môi trường: Trách nhiệm pháp luật được áp dụng đối với các

cơ sở sản xuất được áp dụng đối với ba hình phạt chính là phạt tiền, cải tạo không giam giữ, và phạt tù Ngoài ra còn có hai hình phạt bổ sung là phạt tiền và cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề và cấm làm các các công việc nhất định

Về Phạt Tù: Hầu hết đối với các tội danh đối với các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm

môi tường điều quy định mức phạt tù 6 tháng đến 10 năm Riêng tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người thì phạt tù từ 1 năm đến 12 năm và mức phạt tù tối đa đối với tội hủy hoại rừng có thể lên tới 15 năm

Về Hình Phạt Tiền: Vơí tư cách là hình phạt chính, mức phạt tiền được quy định

tại đa số các điều trong nhóm tội phạm này từ 5 triệu đến 100 triệu đây cũng là mức phạt vừa phải và có tính khả thi trong thực tế ở điều kiện nước ta hiện nay

Về Hình Phạt Cải Tạo Không Giam Giữ: Ngoài hình phạt tiền các điều luật

điều có quy định hình phạt cải tạo không giam giữ từ 1 năm đến 5 năm

Về Hình Phạt Tiền Với Tư Cách Là Hình Phạt Bổ Sung: Trong trường hợp xét

thấy phạt tù vẫn chưa thỏa đáng để mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội thì các điều luật cho phép áp dụng thêm hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ sung với mức phạt từ 2 triệu đồng đến 100 triệu đ ồng tùy theo tính chất phạm tội

Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định: Các hình

phạt trong các tội danh điều có quy định hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc công việc nhất định từ 1 đến 5 năm để áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp xét thấy nếu tiếp tục giữ chức vụ, hành nghề hoặc làm các công việc liên quan thì có nguy cơ là họ sẽ tiếp tục gây nguy hại cho môi trường Cụ thể như:

Tội gây ô nhiễm không khí đối với cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường được quy định tại điều 182 Bộ luật Hình Sự 1999 như sau: Tội gây ô nhiễm không khí là người nào thải vào không khí các loại khói, bụi, chất độc hoặc các yếu tố độc hại khác; phát bức xạ, phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì

bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền

từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm Từ đó ta có thể định nghĩa rằng tội gây ô nhiễm không khí là hành vi thải vào không khí, khói, bụi, chất độc hoặc các yếu tố độc hại khác, phát bức xạ, phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép Dấu hiệu pháp lý của tội phạm:

Khách thể thì tội phạm này xâm phạm bình thường của không khí làm cho

không khí không còn trong sạch, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ nhân loại Ngoài ra tội phạm này còn xâm phạm đến các mối liên hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường

Trang 35

Khách quan thì người phạm tội có một hoặc một số hành vi sau: Thải vào không

khí các loại khói, bụi, chất độc hoặc các yếu tố độc hại khác ( SO2, NO2,CO2,chì ) quá tiêu chuẩn cho phép vào không khí, phát bức xạ, phóng xạ ( bức xạ điện từ, bức xạ ion hoá ) quá tiểu chuẩn cho phép vào không khí Xem xét các hành vi này của con người có hành vi pháp luật hay không cần đối chiếu với các bản pháp luật do nhà nước ban hành trong từng lĩnh vực cụ thể để quản lý chất độc, chất phóng xạ, danh mục cácloại khói, bụi nào là chất độc hại Quá tiêu chuẩn cho phép dựa vào các tiêu chuẩn như: TCVN 5937 - 1955 ( tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh ), TCVN 5939 - 1995 ( tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với các bụi và chất vô cơ ) hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi đả bị

xử ý vi phạm hành chính mà còn tình không thực hiện khắc phục hậu quả theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng Hậu quả nghiêm trọng ở đây có thể là gây chất người, thiệt hại tài sản, ảnh hưởng đến

an ninh, trật tự an toàn xã hội

Về chủ quan thì lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) thường người phạm tội thực

hiện hành vi với lỗi cố ý gián tiếp, bởi vì hậu quả của hành vi phạm tội, người phạm tội thường không mong muốn nhưng vì mục đích kinh tế hay vì mục đích khác mà người phạm tội để mặc cho hậu quả xảy ra

Về mặc chủ thể thì bất kỳ ai có năng lục trách nhiệm hình sự theo luật định

Riêng khoản 1 và khoản 2 quy định tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên chỉ

có người từ đủ 16 tuổi trở lên thì mới là chủ thể của tội phạm quy định

Về khung hình phạt của điều này thì ta có thể chia thành 3 khung: khung 1 nếu

gây ô nhiễm không khí không có tình tiết định khung tăng nặng, người phạm tội

có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm Khung 2 là nếu gây ô nhiễm không khí gây hậu quả rất nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm Khung 3 là gây ô nhiễm không khí gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng người phạm tội có thể bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm

Về tội gây ô nhiễm nguồn nước là người nào thải vào nguồn nước dầu

mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại và gây dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại khác, đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm Từ đó ta có thể phân tích rằng tội gây ô nhiễm nguồn nước là hành vi thải các chất dầu, mở, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép,các chất thải, cácxác thực vật, động vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn, ký sinh trùng độc hại và gây dịch bệnh hoặc các yếu tố độc hại vào môi trường nuớc Về dấu hiệu pháp lý:

Trang 36

Khách thể của tội phạm này là xâm phạm tình trạng bình thường của nước, làm

nước bị ô nhiễm làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ nhân loại, Ngoài ra, tội phạm này còn xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường

Khách quan thì là người phạm tội có một trong các hành vi sau như thải vào

nước các chất như dầu, mở, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá tiêu chuẩn cho phép, các chất thải, xác động vật, thực vật Thải vào nguồn nước các vi khuển, siêu vi khuển, ký sinh trùng độc hại và gây bệnh và thải vào nguồn nước các chất độc hại khác.Để xác định các chất “độc hại” này cần dựa vào các văn bản hướng dẫn chuyên môn của các cơ quan nhà nước có thểm quyền đặc biệt là của cơ quan y tế Thài chất độc hại như thế nào bị xem là “ quá tiêu chuẩn”, có thể dựa vào các tiêu chuẩn như sau:TCVN5942 - 1995 ( tiêu chuẩn chất lượng nước mặt), TCVN 5943 - 1995 (tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm), TCVN 9545 - 1995 ( tiêu chuẩn nước thải công nghiệp) Hành vi tội phạm hoàn thành khi đã bị xử lý

vi phạm hành chính mà cón cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng

Về mặc chủ quan thì là do lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp Thường người phạm

tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý gián tiếp, bời vì hậu quả của hành vi phạm tội, người phạm tội thường không mong muốn nhưng vì mục đích kinh tế hay mục đích nào khác mà người phạm tội để mặt cho hậu quả xảy ra

Chủ thể thì bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định riêng khoản

1 và khoản 2 thì quy định tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng nên chỉ có những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của các tội phạm quy định ở các khoản đó

Khung hình phạt của điều này thì ta có thể chia thành 3 khung: khung 1 nếu gây

ô nhiễm n ư ớc không có tình tiết định khung tăng nặng, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.Khung 2 là nếu gây ô nhiễm n ư ớc gây hậu quả rất nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.Khung 3 là gây ô nhiễm không khí gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng người phạm tội có thể bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm

Tóm lại các tội danh về hình sự trong tội phạm môi trường điều có thể áp dụng khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng và tùy theo trường hợp mà có cách xử lý cụ thể hơn Tuy nhiên trong thực tế thì trong quá trình xử lý không được thực thi lắm đòi hỏi các nhà làm luật và các cơ quan có thẩm quyền phải có biện pháp để thực hiện có hiệu quả hơn trong vấn đề xử lý đối với tội phạm về môi trường, đây cũng là vấn đề bức xúc và gây trở ngại đối với các cơ quan có thẩm quyền thi hành luật bảo vệ môi trường

Một số ví dụ về quyết định xử phạt vi phạm hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả về bảo vệ môi trường của một số Sở Tài Nguyên Và Môi Trường:

Ví Dụ 1: Quyết định xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

Trang 37

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- THANH TRA SỞ Tp Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 8

-năm 2007

Số: 114 /QĐ-XPHC

QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH

VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

- Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 07 năm 2002;

- Căn cứ Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Căn cứ biên bản vi phạm hành chính do ông Thái Hoàng Vũ lập hồi 10 giờ 00 ngày 09 tháng 8 năm 2007 tại Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường;

- Tôi, Nguyễn Thị Dụ - Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Xử phạt vi phạm hành chính đối với: Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú.

Lĩnh vực hoạt động: kinh doanh nhà hàng

Địa chỉ: số 96 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, quận 3

Với các hình thức sau:

+ Hình thức phạt chính: Phạt tiền

- Mức phạt: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)

Lý do: Đã có hành vi vi phạm hành chính: “Xử lý chất thải không đúng

quy định về bảo vệ môi trường” quy định tại Khoản 1 Điều 15 của Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú phải thực hiện nghiêm túc việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho Khách sạn Nhà hàng Minh Phú, đảm bảo toàn bộ nước thải được

xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép trước khi thải ra ngoài Thời hạn thực hiện hoàn thành trước ngày 01 tháng 10 năm 2007

Trang 38

Điều 2: Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú phải nghiêm chỉnh

thực hiện Quyết định xử phạt trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt

Quá thời hạn này, Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú cố tình không chấp hành Quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành Giao Ủy ban nhân dân Quận 3 chủ trì tổ chức thực hiện việc cưỡng chế

Số tiền phạt quy định tại Điều 1 phải nộp vào Kho bạc Nhà nước Quận 3, Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú phải nộp biên lai cho Thanh tra

Sở Tài nguyên và Môi trường tại số 63 Lý Tự Trọng, Quận 1

Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính này theo quy định của pháp luật

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Trong thời hạn ba ngày, Quyết định này được gửi cho:

+ Công ty TNHH Thương mại Nhà hàng Vinh Phú để chấp hành;

+ Kho bạc Nhà nước Quận 3 để thu tiền phạt

Ví Dụ 2:Quyết định xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

phúc

- THANH TRA SỞ Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8

Trang 39

- Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 07 năm 2002;

- Căn cứ Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Căn cứ biên bản vi phạm hành chính do bà Nguyễn Thị Ngọc Dung lập hồi

08 giờ 25 ngày 02 tháng 8 năm 2007 tại Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường;

- Tôi, Nguyễn Thị Dụ - Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Xử phạt vi phạm hành chính đối với: Công ty Liên doanh Đại Dương – Khách sạn Sheraton.

Lĩnh vực hoạt động: kinh doanh nhà hàng, khách sạn

Địa chỉ: số 80 đường Đông Du, phường Bến Nghé, Quận 1

Với các hình thức sau:

Hình thức phạt chính: Phạt tiền

Mức phạt: 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)

Lý do: Đã có hành vi vi phạm hành chính: “Xử lý chất thải không đúng

quy định về bảo vệ môi trường” quy định tại Khoản 01 Điều 15 của Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Công ty Liên doanh Đại Dương phải thực hiện nghiêm túc việc cải tạo hệ thống xử lý nước thải cho Khách sạn Sheraton, đảm bảo toàn bộ nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép trước khi thải ra ngoài Thời hạn thực hiện hoàn thành trước ngày 01 tháng 9 năm 2007

Điều 2: Công ty Liên doanh Đại Dương phải nghiêm chỉnh thực hiện Quyết

định xử phạt trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được Quyết định xử phạt.Quá thời hạn này, Công ty Liên doanh Đại Dương cố tình không chấp hành Quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành Giao Ủy ban nhân dân Quận 1 chủ trì tổ chức thực hiện việc cưỡng chế

Số tiền phạt quy định tại Điều 1 phải nộp vào Kho bạc Nhà nước Quận 1, Công ty Liên doanh Đại Dương phải nộp biên lai cho Thanh tra Sở Tài nguyên

và Môi trường tại số 63 Lý Tự Trọng, Quận 1

Công ty Liên doanh Đại Dương có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính này theo quy định của pháp luật

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Trang 40

Trong thời hạn ba ngày, Quyết định này được gửi cho:

Công ty Liên doanh Đại Dương để chấp hành;

Kho bạc Nhà nước quận 1 để thu tiền phạt

Ví Dụ 3: Quyết định xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường

SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VIỆT NAM

phúc

- THANH TRA SỞ Tp Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 8

-năm 2007

Số: 113 /QĐ-XPHC

QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

- Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 07 năm 2002;

- Căn cứ Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;

- Căn cứ biên bản vi phạm hành chính do bà Trần Thị Thu Hồng lập hồi

09 giờ 50 ngày 09 tháng 8 năm 2007 tại Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường;

- Tôi, Nguyễn Thị Dụ - Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường

Ngày đăng: 30/05/2014, 15:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
26. Ths. Kim Oanh Na và CN.Võ Hoàng Yến - Giáo trình Luật môi trường Khoa Luật Trường đại học Cần Thơ biên soạn – 2006;27. www.tuoitre.com.vn;28. www.google.com.vn;29. www.thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật môi trường
Tác giả: Ths. Kim Oanh Na, CN.Võ Hoàng Yến
Nhà XB: Khoa Luật Trường đại học Cần Thơ
Năm: 2006
34. Tạp chí Tài Nguyên và Môi Trường số 11(49) tháng 11 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài Nguyên và Môi Trường
Năm: 2007
35. Tạp Chí Tài Nguyên và Môi Trường số 12(50) tháng 12 năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Tài Nguyên và Môi Trường
Năm: 2007
36. Tạp Chí Tài Nguyên và Môi Trường số 1(51) tháng 01 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp Chí Tài Nguyên và Môi Trường
Năm: 2008
23. Nghị Định số 04/2007/NĐ - CP ngày 08/01/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số 67/2003/NĐ - CP ngày 13/6/2003 của chinh phủ về phí bảo vệ môi trường đối nước thải Khác
24. Nghị định 149/2007/NĐ-Cp ngày 19/10/2007 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch Khác
25. Ths. Phạm văn Beo - Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) - Khoa Luật Trường Đại Học Cần Thơ biên soạn – 2003 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w