Nhà văn dứt khoát bênh vực người phụ nữ - Từ cuộc đời của mình, giống như nhà văn nga Gorki, NH đã viết nhiều và cảm động về những trẻ em nghèo,về những nỗi khổ nhiều mặt trong cảnh sống[r]
Trang 1Ngày soạn: 2/07/2011
Ngày dạy: /07/2011
TUẦN 1
ÔN TẬP THEO CHỦ ĐỀ
A VĂN THUYẾT MINH
I Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh
1.Thuyết minh là gì?
- Thuyết minh nghĩa là nói rõ, giải thích, giới thiệu
- Thuyết minh còn có nghĩa là hướng dẫn cách dùng
2 Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức về các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, trong xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích
VD: -Giới thiệu về một nhân vật lịch sử
- Giới thiệu một miền quê, một vùng địa lý
- Giới thiệu một đặc sản, một món ăn
- Giới thiệu một vị thuốc
- Giới thiệu một loài hoa, loài chim, loài thú…
3 Văn bản thuyết minh có tính chất khách quan, thực dụng, là loại văn bản có khả năng cung cấp tri thức xác thực, hữu ích cho con người
4 Một văn bản thuyết minh hay, có giá trị là một văn bản trình bày rõ ràng hấp dẫn những đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh
5 Văn bản thuyết minh sử dụng ngôn ngữ chính xác, cô đọng, chặt chẽ, sinh động
Bài tập 1: Hai văn bản sau có phải là văn bản thuyết minh không? Hãy đặt tên cho
các văn bản ấy?
Văn bản 1: Ở nước ta, tiền giấy được phát hành lần đầu tiên dưới thời nhà Hò (1400
– 1407) nhưng chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn Sau khi Pháp xâm chiếm Việt Nam, ngân hàng Đông Dương ra đời năm 1875 và tiền giấy bắt đầu được phát hành ở Nam Kì và Hải Phòng vào khoảng những năm 1891 – 1892 Sau khi nước VNDCH ra đời, ngày 311
-1946, Chính Phủ đã kí nghị định phát hành tiền giấy VN và đến ngày 30- 11 – 1946 tờ giấy bạc đầu tiên của nước VNDCH ra đời Ngày 5-6-1951, Ngân hàng quốc gia VN được thành lập và phát hành loại tiền giấy mới Từ đó đến nay, nước ta đã trải qua hai lần đổi tiền (1959 và 1985) và một lần thống nhất tiền tệ hai miền Nam Bắc theo loại tiền mới (1978)
Văn bản 2: Cá đuối thường sống ở vùng biển nhiệt đới Thân hình chúng nom dẹt và
mỏng, do hai vây ngực rộng và phẳng ở hai bên, gắn liền với thân Khi cá bơi, các vây ngực mềm này chuyển động lên xuống trong nước trông rất đẹp Cá đuối màu xanh sẫm, nhưng cũng có loài đuối lưng có những đốm màu trắng nom rất nổi bật Chiếc đuôi dài giúp cá đuối giữ thăng bằng dưới nước Tuy nhiên, đuôi cá đuối có nọc độc, có thể châm đốt gây nguy hiểm cho người và các động vật khác Cá đuối thích sống thành từng đàn Người ta có khi nhìn thấy bầy cá đuối ba đến bốn con bơi cạnh nhau Chúng cũng rất thích nhảy múa nữa Lúc “cao hứng”, cá đuối còn nhảy vọt lên trên mặt nước, cao đến vài mét Song, cá đuối cũng biết giấu mình dưới cát để tránh kẻ thù
Gợi ý: Cả hai văn bản trên đều là văn bản thuyết minh
Văn bản 1: Về tiền giấy Việt Nam
Văn bản 2: Loài cá đuối ở vùng biển nhiệt đới
II Tính chất của văn thuyết minh
- Một văn bản thuyết minh hay có giá trị là một văn bản trình bầy rõ ràng, hấp dẫn những đặc điểm cơ bản của đối tượng thuyết minh
Trang 2- Ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản thuyết minh phải chính xác, chặt chẽ, cô đọng và sinh động Cách viết màu mè, dài dòng sẽ gây cho người nghi ngờ, khó chịu, cần hết sức tránh
VD: (xem trang 95,96,97 sách cảm thụ ngữ văn THCS 8 – Tạ Đức Hiền)
III Yêu cầu và phương pháp thuyết minh
1 Yêu cầu:
- Trước hết phải hiểu rõ yêu cầu của bài làm là cung cấp tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh
- Phải quan sát, tìm hiểu kĩ lưỡng, chính xác đối tượng cần thuyết minh, nhất là phải nắm bắt được bản chất, đặc trưng của chúng, để tránh sa vào trình bầy các biểu hiện không phải tiêu biểu, không quan trọng
- Phải sử dụng ngôn ngữ chính xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc
- Cần chú ý thời gian được thuyết minh, đối tượng đọc, nghe bài thuyết minh của mình
2 Phương pháp
Để bài văn thuyết minh có sức thuyết phục, dễ hiểu, sáng rõ, người ta có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh như : nêu định nghĩa, mô tả sự vật, sự việc, nêu
ví dụ, liệt kê, so sánh, đối chiếu phân tích, phân loại, dùng số liệu, nói vừa phải, tránh đại ngôn…
Tham khảo ví dụ trong sách trên (như mục III)
Bài tập:
Bài 1 Đọc các đoạn văn thuyết minh sau Cho biết người viết đã phải huy động kiến thức gì và sử dụng những phương pháp thuyết minh nào?
1 Dơi là động vật ngủ đông Vì thế ta thường bắt gặp chúng vào mùa hè “Nhà” của dơi là những nơi tối ẩm như vách đá, hang động, đặc biệt là trong những thân cây lớn đã chết Ở nơi có dân cư, dơi thường trú trên mái nhà, vách tường ẩm và không có ánh sáng…”
(Theo Thanh Huyền- Báo hoạ mi) 2.Hiện nay, cứ 8 người Mĩ, có một người ở độ tuổi 65 hoặc cao hơn Tới năm 2005, con số đó là 4 người Nhóm người ở độ tuổi 75 trở lên ngày càng đông Điều đó, chứng tỏ: người Mĩ ngày càng sống lâu hơn, có tuổi thọ cao hơn
(Theo 365 lời khuyên về sức khoẻ) Bao bì ni lông bị vứt xuống cống làm tắc các đường dẫn nước thải, làm tăng khả năng ngập lụt của các đô thị về mùa mưa Sự tắc nghẽn hệ thống cống rãnh làm cho muỗi phát sinh, lây truyền dịch bệnh Bao bì ni lông trôi ra biển làm chết các sinh vật khi nuốt phải Đặc biệt bao bì ni lông mầu đựng thực phẩm làm ô nhiễm thực phẩm… gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi
(Theo thông tin về ngày trái đất năm 2005) Gợi ý:
a Kiến thức sinh học
2 Kiến thức về sức khoẻ đời sống
3 Kiến thức về môi trường
Bài 2: Cho văn bản sau:
“ Cách đây hai năm, chàng thanh niên Ra-pha-en-đơ Rốt-sin, người được thừa hưởng một trong những gia tài kếch sù nhất thế giới, đã gục chết trên một vỉa hè ỏ Niu-oóc vì
“chơi bạch phiến” quá liều, năm đó chàng mới 23 tuổi
Cái chết của chàng tỉ phú trẻ này đã làm không ít các bậc cha mẹ tỉ phú khác lo lắng: làm sao để con cái họ đừng hư vì số tài sản khổng lồ không do chính chúng tạo dựng
a Văn bản trên có phải là văn bản thuyết minh không? Vì sao?
Trang 3b Văn bản trên có ích gì cho bạn đọc?
Gợi ý:
Văn bản trên là văn bản thuyết minh (có yếu tố tự sự) => một bản tin của báo
Văn bản trên nhắc nhở việc giáo dục thế hệ trẻ- trách nhiệm của gia đình và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ
Bài 3: Hãy sưu tầm các kiến thức cần thiết để chuẩn bị cho đề bài : “thuyết minh
về chiếc nón lá Việt Nam”.
(Tham khảo sách “Cảm thụ ngữ văn 8 của Tạ Đức Hiền (tr 109) và sách “Các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8 (tr 168)
Bài 4: đọc đoạn văn sau:
Cha ông ta ngày xưa- những người đã thiết kế nên chiếc áo dài- mặc dù thời tiết của nước ta rất nóng, vẫn tạo ra dáng vẻ áo dài sao cho thanh tao, trang nhã, hợp với người thiếu nữ Chính vì điều đó mà các cụ đã thiết kế ra kiểu áo có cổ cao một phân, hợp với kiểu tóc búi tó của phụ nữ thời xưa, biểu lộ sự kín đáo cảu người con gái… Từ thời xưa, các vua chúa đã để ý đến cách ăn mặc của nhân dân và có lẽ chính vì điều ấy mà chiếc áo dài đã ra đời… Đầu thế kỉ XVII, ở Bắc Ninh, chiếc áo dài mớ ba mớ bảy đã được ra đời để phù hợp với cách vấn khăn, bộc lộ rõ những nét đẹp của người Việt Nam Mãi đến tận thế
kỉ XX, chiếc áo dài mớ ba mớ bảy được cải tiến thành chiếc áo năm thân
a Đây có phải là đoạn văn thuyết minh không ? Vì sao?
b Muốn viết được đoạn văn trên, người viết đã phải lấy kiến thức từ đâu?
3 Nếu đúng là văn thuyết minh thì đoạn văn đã sử dụng các phương pháp thuyết minh nào?
a Đoạn văn trên đúng là đoạn văn thuyết minh
b Tìm kiến thức mà các nhà khoa học, nghiên cứu đã khẳng định ở trong sách, báo chí, các tài liệu tin cậy…
c Các phương pháp thuyết minh mà đoạn văn sử dụng: hs tự làm
IV Cách làm bài văn thuyết minh
1 Phải tìm hiểu đề bài, nhằm xác định đối tượng sẽ thuyết minh
2 Tiếp theo, người làm bài phải tìm các tri thức khách quan, khoa học về đối tượng thuyết minh (có thể đến tận nơi quan sát, tìm hiểu kĩ lưỡng, chính xác, ghi chép lại) hoặc tìm đọc ở sách báo các kiến thức tin cậy về đối tượng thuyết minh
3 Tiếp theo nữa, sau khi có kiến thức rồi, cần tìm một hướng trình bày theo một trình
tự thích hợp với đối tượng cần thuyết minh, sao cho người đọc dễ hiểu
VD: Nếu thuyết minh về chiếc xe đạp có thể đi từ bộ phận quan trọng, đến không quan trọng, đến tác dụng của xe đạp với người sử dụng…
Nếu thuyết minh về chiếc nón lá Việt Nam cần đi theo trình tự từ nguồn gốc, cách làm nón, các kiểu dáng nón, tác dụng khi con người sử dụng…
4 Khi làm văn thuyết minh, chú ý sử dụng ngôn ngữ chính xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc Chú ý “chất văn” phù hợp với văn thuyết minh
Bài tập 1: Hãy giới thiệu một món ăn của các bé ở lứa tuổi nhi đồng
Sau khi tìm hiểu đề, cần thực hiện tiếp những bước nào để hoàn thành bài thuyết minh trên?
- Đối tượng thuyết minh: cách làm một món ăn
- Học sinh có thể đọc sách báo, tài liệu hoặc học hỏi những người lớn hiểu biết
- Làm theo trình tự hợp lí:
+ Nguyên liệu
+ Cách làm
+ Chất lượng sản phẩm
Trang 4Bài tập 2: Hãy thuyết minh về một danh lam thắng cảnh, một di tích lịch sử của địa phương em.
Bài tập 3: Hãy thuyết minh về các loài hoa ngày tết cổ truyền Việt Nam
Bài tập 4: Thuyết minh về bánh dẻo, bánh nướng trong dịp tết trung thu.
=> 3 BT trên tham khảo trong phần “Phụ lục” của sách “các dạng bài tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 8”
V.Luyện nói văn bản thuyết minh
- Rèn tác phong nói nhanh nhẹn, tự nhiên, quen nói trước đông người
- Rèn kĩ năng nói to, rõ, nhất là văn bản thuyết minh đòi hỏi phải rõ ràng, chính xác, đầy đủ các kiến thức về đối tượng cần thuyết minh
- Tìm hiểu kĩ đề, lập dàn ý nói theo trình tự phù hợp với đối tượng thuyết minh Dựa vào dàn ý để nói
A Dạng bài tập luyện số 1.
Bài tập luyện:
Bài 1: Lập dàn ý cho đề văn : Hãy giới thiệu trường của em
Cách làm:
1 Dựa vào phòng truyền thống của trường, nắm được những thành tích nổi bật của trường em
2 Lưu ý ngắm khung cảnh của trường ở từng khu vực, từng lớp học
3.Biết rõ những hoạt động của trường từng tuần, từng ngày
4 Tìm các số liệu, các công việc cụ thể
5 Nêu tên các thầy cô giáo tiêu biểu (các học sinh tiêu biểu, các lớp tiêu biểu)
* Dàn ý nói:
- Giới thiệu trường THCS Chu Văn An, quận Tây Hồ, Hà Nội
- Trường thành lập năm 1990, nhân dân yêu mến gọi là trường Bưởi
- Sau CMT8 năm 1945, trường được đổi tên là Chu Văn An- tên người thầy giáo lỗi lạc của dân tộc ta
- Ngôi trường đó đã đào tạo bao thế hệ học sinh ưu tú, xuất sắc, hiện đang giữ những cương vị quan trọng của Đảng và Nhà nước
- Toàn trường được sự lãnh đạo của thầy hiệu trưởng- Nhà giáo ưu tú Đinh Văn Bình, học sinh được sự tận tâm dạy dỗ của các các thầy cô giáo giỏi
- Trường đạt danh hiệu tiên tiến xuất sắc cấp thành phố; có nhiều giải học sinh giỏi : tốt nghiệp năm học 2001 – 2002 là 99,85% Năm 1999, trường đón nhận Huân chương lao động hạng nhì của Nhà nước
- Trường em còn mở rộng quan hệ, giao lưu với bạn bè trong và ngoài nước
- Xuân Quý Mùi 2003, trường được tham gia lễ dâng hương “Nam Quốc nho tôn biểu vạn thế sự Chu Văn An” tại Văn Miếu- Quốc Tử Giám
* Dàn ý nói: Giới thiệu trường THCS GV - Quận Ba Đình, Hà Nội
- Trường em đã tròn 15 tuổi toạ lạc trên một ngôi đất rộng, trước mặt là hồ Giảng Võ
- Nhiều năm đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc về học tập và thể dục thể thao Trường được đón nhận huân chương lao động hạng nhì và hạng 3 của nhà nước
- Trường còn mở rộng quan hệ giao lưu với bạn bè trong và ngoài nước
- Trường có đội ngũ các thầy cô giáo quản lí giỏi, dạy giỏi, học sinh khá, giỏi đạt 70%; có nhiều giải học sinh giỏi cấp quận, cấp thành phố và cấp toàn quốc Tỉ lệ tốt nghiệp nhiều năm đỗ 100%
B Dạng bài tập số 2: Thuyết minh về một loài động vật có ích đối với con người.
Bài tập 2: Lập dàn ý nói cho đề bài sau:
“Thuyết minh về một con vật nuôi mà em yêu thích (chó, mèo, thỏ, gà )
Dàn ý nói thuyết minh về mèo:
Trang 51 Mèo là động vật bốn chân thuộc lớp thú, mình nó khoác một bộ lông dày mượt mà
Bộ lông ấy có thể màu đen trắng (mèo khoang), có thể màu tro (mèo mướp) và cũng
có khi là ba màu khác nhua (mèo tam thể)
2 Mèo nhà em có bộ ria mép dài, trắng như cước, nói chính là trợ thủ giúp mèo bắt chuột trong đêm
3 Khi mọi người đi ngủ, màn đêm buông xuống là lúc mèo bắt đầu hoạt động
4 Ngoài bộ ria nhạy bén, tai và mũi mèo cũng góp phần quan trọng, đặc biệt là tai mèo nghe được mọi cử động của chuột
5 Mèo chuyển động nhẹ nhàng; sinh con, nuôi con rất khéo Nó thể hiện rõ nét về tình mẫu tử
6 Em thích con mèo nhà em Tên nó chính là “Miu”
* Dàn ý thuyết minh về chó :
1 Chó là loài động vật rất có ích cho đời sống con người, còn gọi là « linh cẩu »
2 Chó là loài động vật rất trung thành, dễ gần và là bạn của con người
3 Chó có nhiều loại, nhiều giống khác nhau
4 Đặc điểm chung của chúng :
- Là loại động vật có bốn chân, mỗi bàn chân đều có móng vuốt sắc, nhưng khi hoạt động (đi lại) thì cụp vào
- Não chó rất phát triển, tai và mắt rất tinh vào ban đêm, có khả năng đánh hơi rất tài
- Chúng thường nặng từ 15- 20 kg, tuổi thọ trung bình từ 16- 18 năm
- Hiện nay chó làm được rất nhiều việc giúp con người như trinh thám, cứu hộ…
5 Em rất yêu con chó mà nhà em đang nuôi, em gọi nó là Lu
* Thuyết minh về con trâu
Con trâu là vật nuôi đứng đầu hàng lục súc Hầu như em bé VN nào cũng thuộc bài ca dao :
« Trâu ơi, ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta »
Con trâu là biểu tượng cho những đức tính như hiền lành, cần cù, chịu khó… Nó là cánh tay phải, là tài sản vô giá của người nông dân VN : « con trâu là đầu cơ nghiệp » Mỗi con trâu có thể nặng trên dưới ba tạ Da trâu đen bóng, lông lưa thưa Chiếc đuôi dài khoảng một mét, có chùm lông dài và mượt, lúc nào cũng đập qua đập lại để đuổi muỗi, đuổi ruồi Bốn chân trâu to và dài, bàn chân có móng gân guốc to, dày và nhọn Hai chiếc sừng nhọn hoắt, uốn cong rất đẹp Ở Đồ Sơn, Hải Phòng có lễ chọi trâu :
« Dù ai buôn đâu bán đâu
Mồng mười tháng tám, chọi trâu thì về »
Mắt trâu lồi to rất ưa nhìn Bụng trâu khá to ; có phải vì thế mà trâu bước đi chậm chạp ? Trâu là loài nhai lại, nó chỉ có một hàm răng (hàm dưới) Trâu rất dễ nuôi Thức ăn chính là cỏ tươi Trâu cũng biết ăn rơm, ăn cám Phân trâu màu đen, dùng để bón cây, bón lúa rất tốt
Trâu chịu rét kém, nhưng chịu nắng giỏi Về mùa hè, nó có thể kéo cày, kéo bừa từ
mờ sáng đến non trưa Trâu tơ, trâu đực, trâu mờm kéo cày rất khoẻ Trâu cái độ 2, 3 năm đẻ một lứa, mỗi lứa một con nghé Câu tục ngữ : « ruộng sâu, trâu nái » nói lên chuyện làm giàu ở nhà quê ngày xưa
Thịt trâu tuy không ngon bằng thịt bò, nhưng là nguồn thực phẩm rất dồi dào và có giá trị Sữa trâu rất bổ Da trâu thuộc để xuất khẩu, để làm giầy dép
Màu xanh mênh mông của những đồng lúa, cánh cò trắng rập rờn điểm tô, và con trâu hiền lành gặm cỏ ven đê… là hình ảnh thân thuộc đáng yêu của quê hương Câu hát :
« ai bảo chăn trâu là khổ… » của chú bé vắt vẻo ngồi trên lưng trâu, và tiếng sáo mục đồng mãi mãi là hồn quê non nước
Trang 6C Dạng bài tập luyện số 3 : Thuyết minh đặc điểm một văn bản, một thể thơ hoặc thể loại.
Bài tập 1 : (tham khảo sách « cảm thụ ngữ văn 8 – trang 125- 126)
a.Chép chính xác bài thơ « Qua Đèo Ngang » của Bà Huyện Thanh Quan (đã học ở Ngữ văn 7)
b.Quan sát kĩ và mô tả đặc điểm của thể thơ mà bài thơ trên thể hiện Tên gọi của thể thơ ấy là gì ?
c Ghi lại các đặc điểm kiến thức của thể thơ lập thành dàn ý, sau đó viết thành văn bản thuyết minh hoàn chỉnh
Bài tập 2 : (tham khảo sách cảm thụ ngữ văn 8 trang 126- 127)
Trên cơ sở các truyện ngắn đã học như : « Tôi đi học », « Lão Hạc », « Chiếc lá cuối cùng », hãy thuyết minh đặc điểm chính của thể loại truyện ngắn Hãy chỉ ra các bước chuẩn bị từ đầu cho đến tận khâu cuối để viết văn bản
D Dạng bài tập luyện số 5 : Thuyết minh đặc điểm các đồ dùng trong c/s
Bài tập : Thuyết minh về một thứ đồ dùng trong gia đình (chiếc bàn là điện kiểu thông dụng, phích nước điện…)
E Dạng bài tập luyện số 6: Thuyết minh một phương pháp, một thí nghiệm G.Dạng bài tập luyện số 7 : Thuyết minh một danh lam thắng cảnh.
VI Luyện viết đoạn văn trong văn bản thuyết minh
- Khi làm văn thuyết minh, cần xác định các ý lớn, mỗi ý viết thành một đoạn văn
- Khi viết đoạn văn, tránh lẫn ý của đoạn văn khác vào
- Viết đoạn văn, nên tuân theo thứ tự, cấu tạo của sự vật, theo thứ tự nhận thức (từ tổng đến bộ phận, từ ngoài vào trong, từ xa đến gần…) theo thứ tự diễn biến sự việc trong thời gian trước, sau hay thứ tự chính phụ : cái chính nói trước, cái phụ nói sau
VII Ôn tập về văn bản thuyết minh.
1 Các khái niệm cần nhớ :
- VBTM là loại văn bản thông dụng, có phạm vi sử dụng rộng rãi trong đời sống Văn bản thuyết minh là văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng, cùng lí do phát sinh, quy luật phát triển, biến hoá của sự vật cần thiết nhằm cung cấp hiểu biết cho con người Ngành nghề nào cũng cần đến loại văn bản này
Thuyết minh đã bao hàm cả ý giải thích, trình bày, giới thiệu
- Văn bản thuyết minh khác với các văn bảnnghị luận, tự sự, miêu tả, biểu cảm, hành chính, công vụ ở chỗ chủ yếu nó trình bày tri thức một cách khách quan, giúp con người sử dụng tri thức ấy nhằm phục vụ thiết thực cho cuộc sống ; nó gắn liền với tư duy khoa học ; nó đòi hỏi chính xác, rạch ròi
- Có 6 phương pháp thuyết minh cần được chú ý : định nghĩa, so sánh, phân tích và phân loại, dùng số liệu, dùng ví dụ cụ thể, liệt kê…
- Các cách làm các kiểu bài thuyết minh với các đối tượng khác nhau :
+ Đối tượng thuyết minh là các thể loại : thơ, truyện ngắn…
+ Đối tượng thuyết minh là các loại đồ dùng gia đình và dụng cụ học tập…
+ Đối tượng thuyết minh là về một cách làm, một phương pháp, một thí nghiệm…
+ Đối tượng thuyết minh là một di tích lịch sử, một danh lam thắng cảnh…
+ Đối tượng thuyết minh về phần tình bày một hiệu sách tự chọn, một ngôi trường của em + Đối tượng thuyết minh có thể là lời giới thiệu một tập sách, một tập thơ, một tác giả thơ, văn…
- Quan trọng nhất vẫn là rèn các kĩ năng để làm bài thuyết minh
+Tìm hiểu đề, xác định đối tượng thuyết minh
Trang 7+ Đi tìm kiến thức để viết văn bản sao cho sát đối tượng cần thuyết minh Muốn vậy phải : quan sát, mô tả khi đến tham quan, học hỏi mọi người xung quanh, đọc sách báo có kiến thức về đối tượng, ghi chép lại
+ Sắp xếp các kiến thức theo một trình tự hợp lí so với đối tượng cần thuyết minh theo một dàn ý
+Sau đó dựa vào dàn ý viết thành bài thuyết minh hoàn chỉnh
PHẦN THỨ HAI MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC HAY
LỚP 8
Bài 1 : TRONG LÒNG MẸ
Nguyên Hồng
I - Giới thiệu
Quãng đời ấu thơ là quãng đời ngọt ngào và nhiều kỷ niệm nhất của con người Đó là những năm tháng tràn đầy hạnh phúc trong tình thương của cha mẹ và những người thân Song không phải ai cũng có một thời thơ với những kỷ niệm ngọt ngào như vậy Nhà văn Nguyên Hồng của chúng ta đã phải nếm trải một tuổi thơ đầy cay đắng, uất hận và buồn tủi, đói khổ, lam lũ … Quãng đời thơ ấu ấy được nhà văn ghi lại đầy cảm động qua những trang tự truyện đầm đìa nước mắt và sự căm giận trong “Những ngày thơ ấu” Cuốn tiểu thuyết này được nhà văn viết năm 20 tuổi gồm 9 chương thấm đẫm tinh thần nhân đạo sâu sắc đã làm rung động bao tâm hồn bạn đọc vì “Nó là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” Chương 4 của cuốn hồi ký này là đoạn trích “trong lòng mẹ”
II – Vài nét về tác giả, tác phẩm
1) Tác giả: Nguyên Hồng (1918 – 1982) ở Nam định
- Mồ côi bố vì bố bị ho lao nên mất sớm, nghà nghèo, người mẹ trẻ nghèo khổ bị khinh
rẻ phải tha phương cầu thực NH phải thôi học khi vừa đậu xong tiểu học và bắt đầu cuộc đời đói khổ, lam lũ, lang thang đầu đường xó chợ, chung đụng với đủ các hạng trẻ em nghèo đói, du đãng … trong xã hội cũ
- Lớn lên lại bị đày đoạ, tù tội, lại thêm cảnh đói khổ do thất nghiệp kéo dài, NH tưởng như là sẽ chết đau đớn ở cái tuổi 16 Nhưng anh nghĩ, dù có chết đi cũng phải để lại cho cõi đời mà anh yêu mến một cái gì vừa tinh khiết, trong sáng, vừa tha thiết yêu thương nhất của tâm hồn Và anh bắt đầu viết – viết suốt ngày suốt đêm, viết một cách đau khổ say mê, bất
Trang 8chấp “cái đói ê ẩm thấm thía vô cùng trong đêm mưa lạnh hoang vắng (Với anh, viết văn
là một lẽ sống)
- Ngay từ những trang viết đầu tay, ông đã hướng ngòi bút của mình vào những người nghèo khổ, bất hạnh Và ông thuỷ chung với con đường văn học đó trong suốt cuộc đời cầm bút của mình Với trái tim nhân đạo dào dạt thắm thiết, NH đã nói lên thật cảm động
số phận đầy đau khổ ở các thành phố lớn như Hà nội, Hải Phòng, Nam định … Truyện ngắn của ông chứa chan tinh thần nhân đạo sâu sắc
- Trong số những người cùng khổ đó, ông quan tâm và thể hiện thành công những nhân vật phụ nữ và nhi đồng
- Đó là những người phụ nữ lao động nghèo khổ, cần cù tần tảo mà cả cuộc đời chỉ là vất vả, lo nuôi chồng con Họ còn bị những lề thói khắc nghiệt của XH cũ vùi dập, đầy đoạ Nhưng đó cũng là những người phụ nữ có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý như yêu thương chồng con tha thiết, sống ân tình, thuỷ chung, đồng thời có trái tim khao khát hạnh phúc và biết yêu một cách sôi nổi Trong đời sống văn học đương thời thì NH là một trong ít nhà văn có quan điểm tiến bộ về vấn đề phụ nữ trong lĩnh vực tình yêu hôn nhân Nhà văn dứt khoát bênh vực người phụ nữ
- Từ cuộc đời của mình, giống như nhà văn nga Gorki, NH đã viết nhiều và cảm động
về những trẻ em nghèo,về những nỗi khổ nhiều mặt trong cảnh sống lầm than của chúng,
và nhất là về những nỗi đau trong trái tim nhạy cảm dễ tổn thương của tuổi thơ Đồng thời nhà văn hầu như bao giờ cũng phát hiện và miêu tả những nét đẹp trong sáng, cảm động trong những tâm hồn non trẻ đó
2) Tác phẩm:
- Tác phẩm viết năm 1938 và đến năm 1940 thì được in trọn vẹn thành sách Đó là một tập hồi ký gồm 9 chương ghi lại một cách trung thực những năm tháng tuổi thơ cay đắng của tác giả Đó là một tuổi thơ có quá ít những kỷ niệm êm đềm, ngọt ngào, mà chủ yếu là những kỷ niệm đau buồn, tủi cực của một “đứa bé côi cút, cùng khổ” sinh ra trong một gia đình sa sút, bất hoà, sớm phải sống lêu lổng, bơ vơ giữa sự ghẻ lạnh cay nghiệt của họ hàng
và thái độ dửng dưng một cách tàn nhẫn của xã hội
- “Trong lòng mẹ” là chương 4 của tập hồi ký
3.Tóm tắt:
- Gần đến ngày giỗ đầu bố, mẹ của bé Hồng ở Thanh Hoá vẫn chưa về Một hôm người
cô gọi bé Hồng đến bên cười hỏi là bé Hồng có muốn vào Thanh Hoá chơi với mẹ không Biết những rắp tâm tanh bẩn của người cô, bé Hồng đã từ chối và nói cuối năm thế nào mẹ cũng về Cô lại cười nói Cô hứa cho tiền tàu vào thăm mẹ và thăm em bé Nước mắt bé Hồng ròng ròng rớt xuống, thương me vô cùng Người cô nói với em các chuyệ về người
mẹ ở Thanh Hoá : mặt mày xanh bủng, người gầy rạc ngồi cho con bú bên rổ bóng đèn, thấy người quen thì vội quay đi, lấy nón che Bé Hồng vừa khóc vừa căm tức những cổ tục muốn vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi Cô nghiêm nghị đổi giọng bảo bé Hồng đánh giấy cho mẹ về để rằm tháng Tám « giỗ đầu cậu mày, mợ mày
về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày »
- Bé Hồng chẳng phải viết thư cho mẹ đến ngày giỗ đầu của bố, mẹ về một mình, mua cho bé Hồng và em Quế bao nhiêu là quà Chiều tan học ở trường ra, thoáng thấy một người đàn bà ngồi trên xe kéo giống mẹ, bé chạy theo và gọi : « Mợ ơi ! Mợ ơi ! Xe chạy chậm lại, mẹ cầm nón vẫy lại Con nức nở, mẹ sụt sùi khóc Em thấy mẹ vẫn tươi sáng, nước da mịn, gò má màu hồng Miệng xinh xắn nhai trầu thơm tho Bé Hồng ngả đầu vào cánh tay mẹ Mẹ xoa đầu con và dỗ : « Con nín đi ! Mợ đã về với các con rồi mà »
Trang 9Chương hồi ký này là nỗi đắng cay, uất nghẹn về tình yêu thương vô bờ bến của Bé Hồng đối với người mẹ nhân từ, tần tảo mà cuộc đời đầy bất hạnh Có hai sự kiện đã trở thành kỷ niệm không thể phai mờ được nhà văn ghi lại trong chương này Đó là những sự kiện gì ?
+ Sự kiện 1: Cuộc trò chuyện giữa bé Hồng và bà cô
+ Sự kiện 2: Mẹ bé Hồng trở về – cuộc gặp gỡ đầy nước mắt của niềm vui và hạnh phúc
III – Phân tích chương “trong lòng mẹ”
1)Sự kiện 1: Tình cảnh đáng thương và nỗi đau của bé Hồng
Qua đoạn 1 và qua lời tự thuật của nhân vật “tôi”, ta thấy chú bé Hồng có tình cảnh đáng thương như thế nào ?
* Tình cảnh đáng thương của Hồng
- Hồng mồ côi cha gần 1năm
- Mẹ Hồng do bị mọi người hắt hủi, khinh ghé, xa lánh nên phải đi vào Thanh hoá tha phương kiếm sống Người mẹ khốn khổ ấy một phần vì túng bấn, một phần khác vì chưa hết tang chồng mà lại có con, nên không thể sống nổi với cái xã hội đầy những thành kiến,
hủ tục độc ác, đã phải bỏ nhà đi xa
=> Chú bé đã mất bố, lại xa mẹ, sống cuộc sống côi cút, bơ vơ đói rách giữa sự ghẻ lạnh của những người họ hàng giầu có mà ích kỉ, cay nghiệt Em thiếu một mái ấm gia đình, một chỗ dựa cho tuổi ấu thơ, thiếu một tình thương yêu đích thực
Song nỗi đau khổ sâu xa không chỉ dừng lại ở sự thiếu tình thương mà Hồng còn phải chịu những nỗi đau khác nữa do người khác xúc xiểm một cách độc ác về mẹ chú Nỗi đau
ấy được thể hiện rõ nhất trong cuộc đối thoại giữa bé Hồng và bà cô của bé
Em hãy lược thuật lại cuộc đối thoại giữa bà cô với bé Hồng? Qua đoạn đối thoại,
em thấy chú bé Hồng phải chịu thêm những nỗi đau như thế nào ? Hãy phân tích tâm trạng đau đớn ấy của Hồng ?
- Cuộc trò chuyện với bà cô là kỷ niệm không thể quên về một nỗi đau uất nghẹn mà tuổi thơ NH đã phải trải qua Đã xa mẹ, nhớ mẹ, bé Hồng lại luôn luôn phải nghe những lời nói xấu cay nghiệt về mẹ Những lời nói cay nghiệt của bà cô chính là những nhát dao cứa sâu vào trái tim thơ trẻ của chú bé
Qua đoạn đối thoại, ta thấy bà cô bé Hồng là người như thế nào ?
* Bà cô:
- Bên ngoài: đóng vai người cô tốt
+ Nói cười ngọt ngào, làm ra vẻ quan tâm
+ Có lúc bà ta tỏ sự ngậm ngùi thương xót Hồng và người cha bất hạnh của em Lúc nào bà ta cũng nhân danh vì quyền lợi của Hồng “sao lại không vào ? mợ mày phát tài lắm
…vào đi, tao chạy tiền tầu cho)
- Thâm tâm: Bà ta cố ý, tìm mọi cách nói xấu mẹ Hồng, rắp tâm tanh bẩn là gieo rắc vào đầu óc chú bé những hoài nghi để chú bé khinh miệt và ruồng rẫy người mẹ
Đặc điểm nổi bật của người đàn bà này là sự tàn nhẫn và độc ác Là người trong gia đình, chắc chắn bà ta không lạ gì nỗi khổ xa mẹ, tình cảm của đứa cháu mồ côi cha đối với
mẹ, và chắc chắn bà ta thừa thấu hiểu Hồng là một chú bé dễ xúc cảm và rất mau nước mắt
Và bà ta cũng biết rõ về tình cảnh khốn khổ của chị dâu mình Đáng lẽ trong hoàn cảnh ấy,
bà ta sẽ phải chăm sóc, an ủi đứa cháu, giúp nó dịu bớt nỗi đau mất cha và nhất là nỗi đau
xa mẹ Nhưng bà ta hoàn toàn khác, bà ta tìm mọi cách hành hạ, giễu cợt nỗi đau xa mẹ của Hồng, rắp tâm chia lìa tình cảm mẹ con, huỷ diệt niềm yêu thương kính trọng của chú bé Hồng đối với người mẹ khốn khổ đồng thời bà ta cũng lấy làm hả hê thích thú trước tình cảnh khốn khổ của chị dâu
2)Sự kiện hai: Cuộc gặp gỡ đầy nước mắt của niềm vui và hạnh phúc
Trang 10Phần cuối của chương hồi ký thuật lại cảnh bé Hồng bất ngờ được gặp mẹ Niềm vui, niềm hạnh phúc tuyệt vời được trở về “trong lòng mẹ” của đứa trẻ “thiếu thốn một tình thương ấp ủ “là kỷ niệm sâu sắc nhất, ngọt ngào nhất của cuộc gặp gỡ ấy
Niềm vui sướng cao độ của Hồng khi gặp mẹ được diễn tả bằng những chi tiết nào ? Hãy tìm và phân tích ?
Tác giả đặc biệt miêu tả những cảm xúc bên trong của Hồng, đó là những cảm xúc
gì ?
- Không những thương mẹ, Hồng còn hiểu nỗi lòng mẹ, do đó bé tin thế nào mẹ bé cũng trở về Có lẽ chính vì tình thương và niềm tin mãnh liệt ấy nên bé Hồng có sự linh cảm hết sức nhạy bén chính xác
- Hồng đã gặp lại mẹ một cách bất ngờ sau buổi học Chỉ cần thoáng qua
- Nỗi sung sướng đến cuống quýt của bé Hồng được thể hiện ở những hành động: “Thở hồng hộc”, “Trán đẫm mồ hôi”, “ríu cả chân lại”, “oà lên khóc, khóc nức nở khi mẹ kéo tay, xoa đầu em” Biết bao hồi hộp sung sướng, đau khổ toát lên từ những cử chỉ cuống quýt ấy.Dường như bao nhiêu sầu khổ dồn nén không được giải toả trong chú bé suốt thời gian xa mẹ dài đằng đẵng, lúc này bỗng vỡ oà Đó còn là tiếng khóc sung sướng, vỡ oà Ai biết được trong cuộc đời mình, NH đã khóc bao nhiêu lần ? Nhưng tiếng khóc của bé Hồng chẳng lần nào giống nhau cả Lần này là tiéng khóc của niềm vui và hạnh phúc tràn ngập
Có thể nói mỗi dòng mỗi chữ ông viết ra là một dòng nước mắt nóng bỏng tình xót thương,
ép thẳng ra từ trái tim vô cùng nhạy cảm của mình
- Cảm giác khi nằm trong lòng mẹ được hình dung rất tỉ mỉ, cụ thể: “tôi ngồi trên đệm
xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi Cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường” Có thể nói, tác giả đã mổ xẻ, tách bạch từng cảm giác sung sướng đến mê li, rạo rực cả người khi được hít thở trong bầu không khí của tình mẹ con tuyệt vời
=> Tóm lại, khi gặp mẹ, Hồng đã tỏ rõ những cảm xúc mãnh liệt của mình Có lẽ chưa nhà văn nào diễn tả tình mẹ con một cách chân thật và sâu sắc, thấm thía như dưới ngòi bút của Nguyên Hồng Ông đã viết những dòng miêu tả tâm lí trẻ thơ rất hay, xúc động có thể xếp vào những trang miêu tả tâm lí đặc sắc nhất của văn chương Việt Nam Đằng sau những dòng chữ, những câu văn trên đã là “những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” (Thạch Lam)
IV – TỔNG KẾT
1) Nội dung:
- Là chương cảm động về tình cảm mẹ con, tình cảm của Hồng khi xa mẹ và niềm hạnh phúc lớn lao của Hồng khi được ngồi trong lòng mẹ Qua đó NH thể hiện thái độ cảm thông, tôn trọng đối với Phụ nữ và trẻ em, và luôn khẳng định những phẩm chất tốt đẹp, cao quý của họ ngay cả khi trong những tình huống khắc nghiệt của cuộc sống
2) Nghệ thuật
- Nhà văn đã thành công trong việc miêu tả tâm lý nhân vật, tâm trạng nhân vật trong nhiều tình huống Diễn biến tâm trạng đau đớn, căm giận ngày càng tăng của chú bé Hồng
- Bút pháp giầu chất trữ tình Cả chương truyện đều tràn đầy cảm xúc Đặc biệt là đoạn sau – cảnh chú bé gặp mẹ và nhào vào lòng mẹ, cảm xúc dâng trào như thác lũ….NH
đã lắng nghe được những âm vang sâu lắng của tâm hồn, ghi nhận được những cảm giác tinh tế ở bên trong
- Nguyên Hồng gần gũi với Thạch Lam ở lối phân tích tâm lý tinh tế, lối viết đi sâu vào cảm giác, có khả năng làm thức dậy mọi giác quan ở người đọc (Cảm giác của cậu bé
cô đơn, tủi cực sau bao ngày đằng đẵng xa mẹ bỗng được lăn vào lòng mẹ: “tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp vào đùi mẹ tôi …….vô cùng”