1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề giới trong tiểu thuyết của thùy dương

103 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ GIỚI TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA THÙY DƯƠNG .... Có thể nói, Thùy Dương là một trong số ít các cây bút nữ mà cả ba tiểu thuyết của chị đều đoạt đ

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG THỊ THUẬN

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA THÙY DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRƯƠNG THỊ THUẬN

VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA THÙY DƯƠNG

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2013

Tác giả luận văn

Trương Thị Thuận

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tôt nghiệp này, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, Ban chủ nhiệm, Quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và Quý thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tác giả xin chân thành cảm ơn nhà văn Thùy Dương đã cung cấp tư liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn

khoa học PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu, cô đã nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ

tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Hòa Phú, Sở GD&ĐT Tuyên Quang cùng những người thân yêu đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2013

Tác giả

Trương Thị Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 11

7 Cấu trúc của luận văn 11

NỘI DUNG 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ GIỚI TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA THÙY DƯƠNG 12

1.1 Những vấn đề chung về giới 12

1.1.1 Khái niệm giới 12

1.1.2 Quá trình nghiên cứu, sáng tác về giới trên thế giới 15

1.1.3 Nghiên cứu về giới trong văn học nữ Việt Nam 17

1.2 Hành trình sáng tác của Thùy Dương 20

1.2.1 Nhà văn Thùy Dương 20

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác: 20

Chương 2 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 24

2.1 Vấn đề giới được thể hiện qua bi kịch của người phụ nữ 24

2.1.1 Bi kịch chiến tranh 24

Trang 6

2.1.2 Bi kịch đời thường 29

2.1.2.1 Bi kịch trong cuộc sống 29

2.1.2.2 Bi kịch trong tình yêu, hôn nhân 34

2.2 Vấn đề giới qua vẻ đẹp của người phụ nữ 41

2.2.1 Vẻ đẹp hình thức 41

2.2.2 Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất 45

2.3 Vấn đề giới với khát vọng của người phụ nữ 49

2.3.1 Khát vọng hạnh phúc 49

2.3.2 Khát vọng bình đẳng giới 51

Chương 3 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 63

3.1 Nghệ thuật xây dựng, khắc họa nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương 63

3.1.1 Khái niệm nhân vật 63

3.1.2 Các kiểu nhân vật và phương thức biểu hiện nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương 64

3.1.2.1 Nhân vật cô đơn 64

3.1.2.2 Nhân vật tự ý thức 68

3.1.2.3 Nhân vật tâm linh 71

3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Thùy Dương 76

3.2.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 76

3.2.2 Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Thùy Dương 77

3.2.2.1 Ngôn ngữ giàu chất hiện thực đời thường 77

3.2.2.2 Ngôn ngữ mang đậm chất trữ tình 78

3.2.2.3 Ngôn ngữ mới lạ, hiện đại 82

3.3 Các sắc thái giọng điệu trong tiểu thuyết của Thùy Dương 83

3.3.1 Khái niệm giọng điệu 83

Trang 7

3.2.2 Giọng điệu trong tiểu thuyết của Thùy Dương 85

3.2.2.1 Giọng mỉa mai, châm biếm 85

3.2.2.2 Giọng điệu đồng cảm, xót xa 86

3.2.2.3 Giọng điệu dí dỏm, hài hước 88

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử phát triển xã hội loài người từ thời công xã nguyên thủy đến xã hội hiện đại đã có sự phân chia về giới nam và nữ Vai trò của nữ giới bị coi

là vai trò lệ thuộc và bị chi phối bởi nam quyền Đặc biệt trong cái nhìn lịch

sử, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối Tuy nhiên cuộc chiến đấu giành lại vị thế đã mất của nữ giới vốn âm ỉ rất lâu trong lịch sử đã dần phát triển mạnh mẽ với tên gọi là nữ quyền luận (chủ nghĩa nữ quyền - feminism) Phong trào này xuất phát từ ý thức về bản thân mình của giới nữ, được manh nha vào thời kỳ khai sáng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XIX đến nay

Sự phát triển của chủ nghĩa nữ quyền đã nhanh chóng ảnh hưởng đến đời sống xã hội hiện đại nói chung và văn học nói riêng Với tư cách là một trường phái phê bình chính trị, xã hội đã phát triển hết sức mạnh mẽ, phê bình

nữ quyền (feministcritisism) được mở rộng, chia thành nhiều nhánh và mang nhiều sắc thái khác nhau Cùng với những thay đổi to lớn, âm hưởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học hiện đại và hậu hiện đại Đặc biệt ở Phương Tây ảnh hưởng của văn chương phái nữ rất mạnh mẽ, đến mức phê bình văn học nữ quyền đã trở thành một môn học trong các trường đại học

Ở các nước phương Đông (trong đó có Việt Nam) có thể nói, tôn ti trật

tự và thái độ trọng nam khinh nữ ảnh hưởng khá rõ trong đời sống xã hội cũng như nhiều hoạt động tinh thần khác Trong sáng tạo văn học thì công việc này được coi là đặc quyền của đàn ông Những buổi đàm đạo về văn chương cũng chỉ diễn ra giữa những người đàn ông với nhau chứ nó không có chỗ cho nữ giới Trong văn học Trung đại, về cơ bản người cầm bút vẫn thuộc

về đàn ông, song trong vòng cương tỏa của tư tưởng nam quyền đã bắt đầu xuất hiện những tài danh văn học là nữ giới như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện

Trang 9

Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương Bước sang xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao thì cán cân công bằng về giới bắt đầu được thực hiện Vai trò của phụ nữ được đề cao với sự ra đời của Hội Phụ nữ Việt Nam Tuy nhiên phải đến năm 1986, sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và những nỗ lực của các cấp ngành đã tạo nên sự bình đẳng giới Đây là những tiền đề cơ bản giúp người đàn bà thoát khỏi áp chế của người đàn ông, khiến cho họ có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết định số phận của mình Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào ý thức của đội ngũ người cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong văn học Sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam

là một bước phát triển thực sự của văn học theo khuynh hướng dân chủ hóa

Ở Việt Nam, những năm gần đây, ảnh hưởng của văn học nữ quyền ngày càng lớn trong sáng tác của các nhà văn nữ Hàng loạt các cây bút nữ xuất hiện đã khuấy động văn đàn từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước cho đến nay: Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Vi Thùy Linh, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Di Ly, Phong Điệp,

Bên cạnh các cây bút nữ kể trên là sự góp mặt của Thùy Dương với các

tiểu thuyết: Ngụ cư (2005), Thức giấc (2007), Nhân gian (2009) Các tác phẩm

của Thùy Dương ngay từ khi nhập tịch làng văn đã thu hút được sự chú ý của độc giả và giới nghiên cứu phê bình Có thể nói, Thùy Dương là một trong số ít các cây bút nữ mà cả ba tiểu thuyết của chị đều đoạt được những giải thưởng danh giá: Giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết do Hội Nhà văn tổ chức năm (2002-

2004) Ngụ cư, năm (2008-2010) Thức giấc và đỉnh cao là giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2011 với tiểu thuyết Nhân gian Nét đặc sắc trong tiểu thuyết

Thùy Dương nổi bật ở tính nữ, ở phận người được thể hiện bằng giọng văn trữ tình sâu lắng, vừa dịu dàng vừa trầm tư, hài hước, thấm đẫm thời cuộc nhân sinh cùng những trạng thái tâm linh hư ảo Không khó nhận ra những vấn đề về giới đậm đặc trong các trang tiểu thuyết của Thùy Dương Nhưng những khía cạnh

Trang 10

đó vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đặn trong một chuyên luận khoa học cụ thể Đó chính là lý do khiến chúng tôi tiếp cận và lựa chọn đề

tài: Vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Lý luận về giới trên thế giới

Ngay từ thế kỷ XIX, trên thế giới đã xuất hiện các công trình nghiên cứu về vấn đề giới, cụ thể như:

Năm 1929, Virginia Woolf đã cho ra mắt tiểu luận Một căn phòng cho

riêng mình, đây được coi là "sách vỡ lòng" của phê bình nữ quyền

Năm 1949, Simon de Beauvoir viết cuốn The second sex bàn về giới

nữ như một giới thứ hai Đây được coi là tuyên ngôn của chủ nghĩa nữ quyền Bản "tuyên ngôn nữ quyền" này đưa ra những lý luận triết học về phụ nữ, luận giải về những đặc tính của nữ giới và tiến đến giải phóng phụ nữ

Gill Plain và Susan sellers trong quyển Một lịch sử của phê bình văn

học nữ quyền (NXB Đại học Cambridge, 2007) đã tổng kết và xác lập ba giai

đoạn phát triển lý thuyết phê bình nữ quyền

2.2 Các bài nghiên cứu về văn học nữ trong nước

Đầu thế kỷ XX là một giai đoạn sôi nổi của tư tưởng nữ quyền Việt Nam trong đó, Phan Khôi là nhà lý luận phê bình đã có công khai mở Những khai mở của ông có giá trị rất lớn đối với nền phê bình, nghiên cứu theo khuynh hướng này Ngay từ số báo đầu tiên, Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm năng của nền văn học nữ lưu Ông cho rằng nguyên nhân gây nên tình trạng rỗng và lép của văn học nữ trong lịch sử văn chương Việt Nam quá khứ là họ không được hưởng một nền học vấn như nam giới Đây là thiệt thòi lớn nhất của nữ giới Vì vậy, Phan Khôi đã cổ vũ mạnh mẽ việc đào tạo học vấn cho người phụ nữ để họ thoát khỏi sự đói nghèo thi ca và tri thức, nghĩa là giải quyết triệt để cội rễ sinh ra sự bất bình đẳng của phụ nữ

Trang 11

trong đời sống nói chung và trong lĩnh vực văn hóa nói riêng Tuy nhiên đóng góp lớn lao và sâu sắc nhất trong tư tưởng của Phan Khôi đối với văn học nữ lưu là ông bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, lên án những tội ác của lễ giáo phong kiến Xét về phương diện lý luận, có thể thấy rằng Phan Khôi đã tạo tiền đề cho lý thuyết nữ quyền trong văn học Việt Nam, mặc dù đó chỉ là

những phác họa sơ lược Loạt bài Về văn học của phụ nữ Việt Nam (Phụ nữ

tân văn, số 1, 2/5/1929), Văn học với nữ tánh (Phụ nữ tân văn, số 2,

9/5/1929), Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thạnh (Phụ nữ tân

văn, số 3, 16/5/1929), Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ

nữ nước ta (Phụ nữ tân văn, từ số 5 đến số 18, năm 1929) đã thể hiện tầm

nhìn và tấm lòng của một bậc thức giả thông tuệ

Bên cạnh Phan Khôi, còn có nhiều cây bút nữ: Manh Manh nữ sĩ, Vân Hương nữ sĩ, Nguyễn Thị Hồng Đăng, Lệ Hương, Phan Thị Bạch Vân, Bùi Thị Út và các gương mặt nam giới khá quen thuộc: Trần Trọng Kim, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Bá, Phạm Quỳnh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Diệp Văn Kỳ Tất cả đều bộc lộ quan điểm và tìm tòi về các vấn đề nữ quyền nhằm trao đổi và tranh luận với nhau Có thể thấy rằng, phê bình nữ quyền Việt Nam thời kỳ này còn ở dạng sơ khai, phác thảo và có tính xã hội nhiều hơn

Trên Tạp chí văn học số 6 năm 1996 có bài tường thuật buổi tọa đàm

Phụ nữ và sáng tác văn chương, trong đó có nhiều ý kiến của nhiều nhà phê

bình, các nhà thơ, các cây bút nữ Hầu hết các ý kiến đều khẳng định vai trò của các cây bút nữ, tiềm năng to lớn mà các cây bút nữ có thể đạt được

Trong lời giới thiệu Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam, NXB Phụ nữ,

năm 2011, các cây bút nữ thế kỷ XX được đánh giá "Trên những trang viết

của họ ta tiếp nhận được một nữ tính phức tạp hơn nhưng đồng thời cũng phong phú hơn những gì ta vẫn quan niệm trong quá khứ" [32]

Trang 12

Nổi bật trong số các bài phê bình nghiên cứu về văn học nữ là các bài

viết của Bích Thu như Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975

qua hệ thống mô típ chủ đề (Tạp chí Văn học, số 4/1995), Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 (Tạp chí văn học, số 9/1996), Văn xuôi của phái đẹp (Tạp chí Sông Hương) đã đánh giá cao sáng tác của các nữ nhà văn trẻ

Bên cạnh đó là Bùi Việt Thắng với bài viết Tản mạn về truyện ngắn

của những cây bút nữ trẻ (Báo văn nghệ, số 43, ngày 23/10/1993) đã khẳng

định sự đóng góp không nhỏ của những cây bút nữ trên thi đàn văn học; đến bài

viết Một giọng nữ trầm trong văn chương, ông cũng cho rằng "văn chương Việt

Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI mang gương mặt phụ nữ" [34]

Năm 2008, Hồ Khánh Vân trong luận văn Từ lý thuyết phê bình nữ

quyền nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam

từ 1990 đến nay đã bước đầu giới thiệu một khuynh hướng phê bình và vận

dụng để khảo sát một bộ phận văn học nữ trong nước Cũng tác giả Hồ Khánh

Vân với bài viết Phê bình văn học nữ quyền cũng khẳng định "nghiên cứu

văn học từ cái nhìn của phê bình nữ quyền, hay rộng hơn là từ cái nhìn về giới đang dần thu hút sự quan tâm của những người làm công tác văn học ở Việt Nam" [46]

Nguyễn Giáng Hương trong bài Văn học của phái nữ và một vài xu

hướng văn chương nữ quyền Pháp thế kỷ XX đã chỉ ra những đặc điểm của

văn học nữ và một vài xu hướng văn chương nữ quyền ở nước ngoài [17]

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong bài Vấn đề phái tính và âm

hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại đã chỉ ra đặc điểm của

văn học nữ "sự hiện diện của văn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong

văn học Việt Nam có thể coi là một bước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hóa"[12]

Trang 13

Trong bài Phê bình văn học nữ quyền, nhà văn Lý Lan đã chỉ ra

những thực trạng của phê bình văn học nữ ở nước ta "học thuyết nữ quyền có

ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn nhất đến phê bình văn học, đã làm thay đổi lớn lao cách đọc văn bản, việc bình giảng văn chương, sự định giá kinh điển trong nhà trường, ảnh hưởng đến cảm thụ văn học của công chúng và chyển đổi cả ngành xuất bản" (Báo Tia Sáng, ngày 15-3-2009)

Cùng trong không khí ấy, nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của các nghiên cứu viên trẻ, nhận diện - lý giải một hiện tượng văn học nổi bật trong đời sống văn chương những năm gần đây, Viện văn học đã tổ

chức Tọa đàm Văn xuôi nữ trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại

(tháng 11 năm 2012) Đến với buổi tọa đàm, Ban tổ chức đã thu hút được gần

30 tham luận, tập trung bàn thảo một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn sáng tác

văn học nữ đương đại Các tham luận nhằm hướng tới nội dung như: Vấn đề

nữ quyền cần được đặt ra; Lý thuyết phê bình nữ quyền cần phải là lý thuyết lịch sử; Từ thập kỷ 90 trở đi, văn xuôi nữ đã thực sự chiếm ưu thế trên văn đàn; Truyện ngắn nữ đã dần có "thương hiệu"…(Báo Văn nghệ trẻ, số 48,

ngày 25/11/2012)

Ngoài những công trình kể trên còn có khá nhiều những luận văn thạc

sĩ nghiên cứu về thế giới nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn đương

đại như: Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo của Trần Thị Bích Vân,

Đại học Sư phạm Thái Nguyên, bước đầu đã chỉ ra những đặc điểm và âm

hưởng của chủ nghĩa nữ quyền Hay luận văn Nhân vật nữ trong sáng tác

của ba nhà văn nữ: Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, của Nguyễn

Thị Hoa, Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp một cái nhìn khá đầy đủ về

các dạng nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Rồi luận văn Vấn đề

giới trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu, của Bùi Thị Thùy,

Trang 14

Đại học Sư phạm Hà Nội 2; Luận văn Vấn đề nữ quyền trong sáng tác của Y

Ban của Trần Thu Hà, Đại học Sư phạm Thái Nguyên cũng chỉ rõ đặc sắc về

văn học nữ tính thời đương đại Đến luận văn Thiên tính nữ trong thơ Hồ

Xuân Hương của Trần Thị Lệ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, một lần nữa

khẳng định vai trò của giới nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Cùng với các luận văn trên còn có khá nhiều luận văn tốt nghiệp đại học cũng nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này

2.3 Đánh giá chung về sáng tác của Thùy Dương

Thùy Dương là một cây viết trẻ nhưng tên tuổi của chị được biết đến

nhiều nhất với ba tiểu thuyết Ngụ cư, Thức giấc và Nhân gian Đọc tiểu

thuyết của Thùy Dương, người đọc nhận ra một thế giới riêng, không thể trộn lẫn Đó là thế giới của cuộc đời thực phức tạp xen lẫn với thế giới tâm linh lẩn khuất, thế giới cõi âm chưa từng biết đến và thế giới của dòng ý thức, của sự đồng cảm Thế giới ấy được chị dày công tạo dựng từ đức tin, từ cảm hứng về

những con người, cuộc đời gần gũi quanh chị Nhận xét về Ngụ cư - tiểu

thuyết được giải B Hội nhà văn Việt Nam năm 2002 - 2005của Thùy Dương,

tác giả Cẩm Thúy cho rằng đây là "bước tiến mới của Thùy Dương" Tác giả khẳng định giọng văn của Thùy Dương "vẫn nhẹ nhàng, chải chuốt câu chữ,

vẫn bảng lảng tình quê" và nhận định "đã có một bước chuyển, một sự trải nghiệm già dặn trong cách nhìn và cảm nhận về cuộc đời, về con người của tác giả" [39] Nhà thơ Hữu Thỉnh trong báo cáo tổng kết cuộc thi tiểu thuyết

2002-2004 đã nhấn mạnh đến: “Một thành công khác là mảng tiểu thuyết tiếp

cận đời sống ngày nay với sự quan tâm chung về chủ đề đạo đức xã hội…"Ngụ cư" của Thùy Dương, "Tường thành" của Võ Thị Xuân Hà đề cập đến cuộc sống đô thị trong đó nhiều giá trị mới đang được hình thành nhưng cũng ngầm chứa biết bao nhiêu hiểm họa” (Báo Văn Nghệ số 37; 10-9-2005)

Là thành viên trong Ban Giám khảo cuộc thi tiểu thuyết nói trên, nhà phê bình

Trang 15

Phong Lê nhận thấy: “Trong "Ngụ cư", Thùy Dương đã làm rõ lên một mảng

sống đô thị, với dấu ấn đặc trưng của nó, khiến ai là dân cư đô thị hôm nay đọc vào cũng cứ thấy như là chuyện của mình và những người quanh mình” [21]

Theo nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên: “ "Thức giấc" đọc hấp dẫn và

xúc động như một lối kể linh hoạt mà điềm đạm, nhờ một giọng điệu văn chương gợi được xúc cảm và trầm tưởng, nhờ tính nữ và tính mẫu thấm đẫm bên trong Thức giấc sau một cơn mê ngủ Thức giấc sau một thời lầm lạc Thức giấc sau những dối lừa, giả trá Thức giấc sau những khổ đau Thức giấc sau những hạnh phúc Thức giấc để biết mình còn biết đau, buồn, giận

dữ và yêu thương Thức giấc để sống như một con người bình thường” [25]

Đó chính là thông điệp mà Thùy Dương muốn gửi đến người đọc trong cuốn tiểu thuyết thứ hai của chị

Theo Tô Hoàng - nhà văn TP HCM nhận xét: “Tình yêu non sông xứ sở,

tấm lòng nhân hậu, óc liên tưởng và trí tưởng mãnh liệt đã giúp cho ngòi bút Thùy Dương viết nên những trang sách chân thực, đầy sức truyền cảm mà đọc chúng, rất nhiều anh em cựu binh khi biết tôi quen với nữ nhà văn, đã nhờ tôi chuyển tới chị lòng biết ơn sâu sắc”! Đọc tiểu thuyết Nhân gian của

Thùy Dương, vẫn nhận ra "một thế mạnh rất riêng, một dòng cảm xúc không

phải người viết nào cũng khơi nguồn được, một điều gì như một mảng hiện thực đầy ám ảnh- dù ngổn ngang, bề bộn trăm điều phải quan tâm trong cuộc sống hôm nay - nữ nhà văn cũng không thể gạt bỏ sang một bên" [16]

Bên cạnh đó Nhà văn Lê Minh Khuê cũng đánh giá: "Trong khi lối viết

của Y Ban là kể nhiều hơn tả, tỷ lệ chênh lệch giữa động từ và tính từ trong tác phẩm của chị hẳn phải cao hơn nhiều so với bất cứ tác giả nào khác thì lối viết của Thùy Dương nghiêng về phía nhẹ nhàng, trữ tình, từ trong giọng

kể đến từng câu văn Tiểu thuyết "Nhân gian" của chị là câu chuyện đan xen giữa chiến tranh và thời bình; là những giọng kể luân phiên giữa người sống

Trang 16

và người chết, là những cảm xúc vừa giận hờn, trách móc vừa thông cảm đau xót với cuộc đi tìm mộ của người em sinh đôi đã hy sinh" [19]

Với Nhân gian cuốn tiểu thuyết thứ ba của Thùy Dương, cũng từ

Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, trong khi thẩm định những tiểu thuyết vào vòng chung khảo giải thưởng của Hội đã nhận ra trên

những trang viết của nữ tác giả xinh đẹp và tài hoa này: “Văn Thùy Dương

nhẹ nhàng nhưng không nhẹ nhõm, chị gây được cuốn hút cho người đọc qua

sự phối hợp ba giọng kể khéo léo, nghệ thuật Hòa điệu ba giọng kể là giọng tác giả - một giọng văn trữ tình chiều sâu” [25]

Những ý kiến, nhận định của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã phần nào giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về sáng tác của Thùy Dương Tuy nhiên, các ý kiến còn chung chung, chưa cụ thể và chưa thành hệ thống Các ý kiến ấy chưa được tìm hiểu và nghiên cứu cho xứng với những thành tựu đã đạt được của nhà văn Sáng tác của chị vẫn còn những khoảng trống để tiếp cận và khám phá Vì vậy, cần có những công trình nghiên cứu cụ thể, trọn vẹn, có hệ thống về giá trị nội dung cũng như đặc sắc nghệ thuật trong tiểu thuyết của nhà văn nhằm giúp bạn đọc có cơ hội tiếp cận, tìm hiểu và yêu mến cây bút này hơn

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát những đặc điểm về giới thể hiện trong tiểu thuyết của nhà văn Thùy Dương, qua đó giúp ta có một cách tiếp cận đối với dòng văn học nữ nói chung và yếu tố nữ trong sáng tác của Thùy Dương nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề sau:

- Những vấn đề chung về giới, quá trình nghiên cứu về giới trong văn học trên thế giới và ở Việt Nam

Trang 17

- Những phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là Vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương

- Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi khảo sát 3 cuốn tiểu thuyết đạt giải của nhà văn Thùy Dương và bước đầu tiếp cận cuốn tiểu thuyết sắp xuất bản, đó là:

Ngụ cư (2005), NXB Hội nhà văn

Thức giấc(2007), NXB Hội nhà văn

Nhân gian(2009), NXB Hội Nhà Văn và Công ty Hà Thế ấn hành

Phương pháp hệ thống được vận dụng để xem xét các chi tiết, các vấn

đề, các phương diện của tác phẩm văn học trong tính chỉnh thể của nó Vận dụng phương pháp này, người viết sẽ xem xét được sáng tác của Thùy Dương với những biểu hiện của vấn đề giới một cách hệ thống chứ không phải là những vấn đề riêng biệt, lẻ tẻ

5.2 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp này giúp người viết thấy được những đặc điểm riêng biệt trong sáng tác của Thùy Dương so với các cây bút nữ Việt Nam đương đại khác

5.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp này giúp chúng tôi tiếp cận và khảo sát trực tiếp văn bản, phân tích trực tiếp những tác phẩm của Thùy Dương, từ đó khái quát, tổng hợp những kết luận mang ý nghĩa khoa học

Trang 18

5.4 Phương pháp liên ngành

Nhờ phương pháp này, người viết có thể vận dụng các thành tựu của các môn khoa học khác như: sinh học, tâm lý học, xã hội học…để kiến giải một cách thuyết phục những biểu hiện, những ưu thế phái tính thể hiện trong sáng tác của Thùy Dương

6 Đóng góp của luận văn

Tìm hiểu vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật, trên cơ sở đó ghi nhận dấu ấn của Thùy Dương trong bức tranh chung của văn xuôi nữ giới nói riêng và của văn xuôi đương đại nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề về giới trong văn học nữ Việt Nam và hành

trình sáng tác của Thùy Dương

Chương 2: Vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương nhìn từ

phương diện nội dung

Chương 3: Vấn đề giới trong tiểu thuyết của Thùy Dương nhìn từ

phương diện nghệ thuật

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ GIỚI TRONG VĂN HỌC NỮ VIỆT NAM

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA THÙY DƯƠNG

1.1 Những vấn đề chung về giới

1.1.1 Khái niệm giới

Dưới góc nhìn sinh học, giới tính là thuật ngữ dùng để phân biệt sự

khác biệt về hình thể giữa hai mô hình cấu trúc: giới nam và giới nữ Giới tính

là bẩm sinh và đồng nhất (nam và nữ khắp nơi trên thế giới đều có chức năng,

cơ quan sinh sản giống nhau) và không thể thay đổi được (giữa nam và nữ),

do các yếu tố sinh học quyết định Chúng ta sinh ra là đàn ông hay đàn bà: chúng ta không thể lựa chọn và không dễ thay đổi được điều đó Tuy nhiên sự khác biệt về hai giới có thể nhận thấy qua vóc dáng, hình thể, đặc biệt qua các đặc điểm sinh học bên trong như về nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục và cấu trúc não bộ

Trong cuộc sống, nam và nữ đều tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội Tuy nhiên mức độ tham gia của nam và nữ trong các loại công việc là khác nhau do những quan niệm, các chuẩn mực xã hội quy định Căn

cứ vào đặc điểm về mặt sinh học thì cấu trúc não bộ thường được đề cập đến như một nguyên nhân chủ yếu Theo các nhà khoa học, não bộ của nam giới lớn hơn não bộ của nữ giới đến 8% Mặc dù cấu tạo như vậy song kích thước này không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của hai giới Não của nam giới lớn hơn tương ứng với vóc dáng to lớn của họ Đặc biệt ở nam giới não trái thường làm việc tích cực và phát triển hơn, còn ở nữ giới là não phải Vì vậy, khả năng phân tích, khái quát vấn đề được xem là điểm mạnh của nam giới Còn ở nữ giới với chức năng đảm nhiệm của não phải thì họ lại ghi nhớ được những việc lẻ tẻ, chi tiết và thiên về cảm xúc Khi tiếp nhận tín hiệu từ một

Trang 20

đối tượng, đại não nam giới thường chịu tác động một mặt còn nữ giới là hai mặt Chính những đặc điểm này khiến nữ giới có thể làm nhiều việc một lúc còn nam giới thì làm việc tập trung hơn Vì vậy nam giới thường làm việc ở những vị trí cần sự khái quát, phân tích, còn phụ nữ ưu tiên với những công việc tỉ mỉ và khéo léo Điều này cũng thấy rất rõ trong sáng tác văn học, với các nhà văn nam thường liên tưởng đến những sáng tác thiên về lý trí, tổng hợp hiện thực khách quan còn sáng tác của các nhà văn nữ thường có xu hướng tự truyện, thiên về cái chủ quan, giàu cảm xúc

Bên cạnh góc nhìn sinh học, giới còn được soi chiếu từ các ngành

khoa học khác Trong tâm lý học đã hình thành cả một chuyên ngành nghiên

cứu về giới, đó là tâm lý học giới Tâm lý học về giới khắc phục những quan điểm phiến diện cho sự thống trị của nam giới là do những điều kiện tự nhiên quyết định và chỉ ra nguồn gốc của sự khác biệt giới trong xã hội là do hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, điều kiện văn hóa, xã hội…

Xã hội học cũng quan tâm đến vấn về giới, từ đó chỉ ra các nhân tố xã hội đã tác động đến sự phân chia giới và sự bất bình đẳng giới Trong xã hội học, ta tìm thấy những đặc điểm khác biệt giữa nam và nữ về gia đình, xã hội, phân công lao động xã hội…những yếu tố tác động đến sự phân biệt giữa hai giới trong xã hội Từ đây, nguồn gốc của bất bình đẳng giới bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội Trong lịch sử, dưới chế độ nguyên thủy, cuộc sống của con người được tổ chức theo bầy đàn, quan hệ huyết thống giữ vai trò chi phối hoạt động của tổ chức xã hội này Do đó người giữ vai trò nuôi dưỡng, duy trì quan hệ huyết thống trở thành người có địa vị cao nhất Trong cuộc sống quần hôn, địa vị đó thuộc về người phụ nữ cùng sự hình thành tổ chức xã hội mẫu quyền Tuy nhiên, khi lao động phát triển cần đến sức vóc của đàn ông, lúc này vai trò của người đàn ông được nâng cao đã chuyển chế

độ xã hội trở thành xã hội phụ quyền Từ đây, địa vị thống trị của người đàn

Trang 21

ông được giữ nguyên cho tới xã hội hiện đại Việc giữ địa vị độc tôn đã dẫn đến sự bất bình đẳng trong phân công lao động xã hội Theo điều tra về thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam (dẫn theo Sổ tay tuyên truyền luật bình đẳng giới), tỷ lệ người phụ nữ đứng tên chủ hộ trong gia đình chỉ bằng 1/3, điều đó đồng nghĩa với việc phụ nữ có rất ít cơ hội để tham gia các hoạt động cộng đồng Trong phân công lao động gia đình có tới 65,5% ý kiến khẳng định, công việc nội trợ và chăm sóc con cái hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm Người đàn ông được dành thời gian để lo những việc chính, tham gia công tác xã hội…Sở dĩ có sự bất bình đẳng này là do việc nam giới luôn được ưu tiên cho việc học tập cũng như tham gia các hoạt động xã hội

Như vậy tâm lý học và xã hội học đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới có nguồn gốc từ những quan niệm, văn hóa, xã hội và môi trường sống Quan điểm này được các nhà nữ quyền luận hưởng ứng Simone de Beauvoir cho

rằng "Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà dưới ảnh

hưởng giáo dục phụ quyền chế" Bourdieu cho rằng điều đó cũng đúng cho

đàn ông "Người ta không sinh ra là đàn ông, người ta trở thành đàn ông" và

xuyên qua cả một nền giáo dục, người đàn ông đã đảm được chức năng chế ngự xã hội Chức năng chế ngự này còn được thể hiện ở trong lĩnh vực văn hóa tinh thần mà văn học là một hình thái ý thức xã hội tiêu biểu

Khi nói về giới trong sáng tác văn học là nói tới một khái niệm không

đồng nhất với văn học nữ quyền Văn học nữ quyền (chủ nghĩa nữ quyền) "là

suy nghĩ về sự bình đẳng của hai phái trong xã hội và sự phản đối có tổ chức đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái Chủ nghĩa nữ quyền không thừa nhận mẫu văn hóa chia khả năng của con người thành đặc điểm nam tính và nữ tính và tìm cách xóa bỏ sự bất lợi trong xã hội mà phái nữ thường gặp" Nói như vậy, văn học nữ quyền được hiểu như một dòng văn

học dấn thân, đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ và viết lên cũng vì phụ nữ

Trang 22

Còn khi nói về giới trong sáng tác văn học là đề cập đến một vấn đề rộng hơn vấn đề nữ quyền, đó là sự tương quan giữa giới nam và nữ trong sáng tác văn chương, những ưu thế của từng giới trong sáng tác Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, lịch sử đã ghi nhận sáng tác của nam giới, còn sáng tác của nữ giới chưa được xem xét, chưa được ghi nhận một cách thỏa đáng Bởi vậy, khi nói tới vấn đề giới trong văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là chủ yếu nói tới sáng tác của các cây bút nữ trong quá trình tự khẳng định mình, khẳng định bản sắc riêng của giới mình

1.1.2 Quá trình nghiên cứu, sáng tác về giới trên thế giới

Trong lịch sử loài người, đã có thời kỳ quyền lực trong xã hội thuộc về người phụ nữ, đó là thời kỳ xã hội mẫu quyền Sau đó, bằng sự thay đổi vai trò của mình trong sản xuất, nam giới đã khẳng định địa vị của mình trong tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và văn chương không nằm ngoài lĩnh vực

đó Vốn được coi là công việc cao quý, văn học đã sớm trở thành một đặc quyền của nam giới Trong lịch sử văn học, tác giả của những bộ sử thi vĩ đại thường gắn với huyền thoại về một tác giả nam nào đó Những tác gia văn học lớn trong thời kỳ văn học phục hưng, cổ điển…đa phần đều là các tác giả nam Các tác giả nữ khi muốn xuất hiện thì thường phải lấy bút danh giả mạo là nam Họ đã phải che dấu giới tính của mình để các tác phẩm được xuất hiện trước độc giả Như vậy, chỉ có một giới tính duy nhất tồn tại trong văn học, chỉ

có một cách nhìn nhận duy nhất về thế giới khách quan, đó là cái nhìn của nam giới Các tác giả nữ phải tự biến mình thành đàn ông, có cách suy nghĩ, nhìn nhận theo cách của đàn ông Bởi cái nhìn của nam giới được coi là chân lý

Dưới sự thống trị của nam giới, nữ giới đã đấu tranh giành lại vị thế đã mất của mình Cuộc đấu tranh này nhanh chóng trở thành cao trào dưới thời chủ nghĩa Khai sáng Tuy nhiên trong lịch sử, tư tưởng nữ quyền đã xuất hiện sớm hơn Đầu tiên là vào thế kỷ XV bằng tiếng nói phản kháng của Christine

Trang 23

de Pisan, một nữ khoa học gia người Pháp Bà đã cảnh báo tình trạng phân biệt đối xử nam và nữ trong xã hội Đến thế kỷ XVII, với chủ nghia Khai sáng,

tư tưởng nữ quyền đã phát triển thêm một bước Người được coi là tổ mẫu

của chủ nghĩa nữ quyền là Mary Wollstonecraft với tác phẩm A vindiccation

or the Right of Women (Một biện minh cho quyền của phụ nữ) ra đời năm

1972 Đây là một trong những công trình đầu tiên của triết học nữ quyền Trong đó, Wollstonecraft lập luận rằng phụ nữ nên có một nền giáo dục tương xứng với vị trí của họ trong xã hội Phụ nữ là rất cần thiết cho quốc gia bởi vì

họ giáo dục con của họ và họ có thể đồng hành cùng với chồng Như vậy, phụ

nữ xứng đáng được hưởng các quyền cơ bản như nam giới Tiếp đến là

Virgina Woolf (1882 - 1991) với tập bút ký Căn phòng riêng (A room of

one's own, 1929), bà được xem là cây bút đầu tiên chạm đến vấn đề nữ quyền

trong văn học Theo bà, một phụ nữ muốn sáng tác phải có một căn phòng cho riêng mình và không bị phụ thuộc vào nam giới

Với quyển sách vĩ đại Giới nữ còn được dịch là Giới thứ hai (The

second sex), xuất bản 1949, thì Simone de Beauvoir (1908 - 1986) đã tiến

hành một cuộc cách mạng lớn: đặt phụ nữ trong tất cả các phương diện: văn hóa, lịch sử, tôn giáo để phơi bày đời sống của phụ nữ đã bị uốn nắn sao cho phù hợp với khuôn mẫu mà xã hội nam quyền đặt ra Bà kết luận rằng vấn

đề bất bình đẳng nam nữ không do tự nhiên quyết định mà là một vấn đề văn

hóa: "Không phải với cơ thể sinh học, mà với cơ thể sinh học gắn chặt với

những điều cấm kị, những luật lệ mà chủ thể ý thức về bản thân và tự hoàn thiện: chính dựa trên những giá trị mà cá nhân nâng cao phẩm cách" Vì vậy

mà " Người ta sinh ra không phải là phụ nữ mà trở thành phụ nữ" [17]

Đến những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, văn học nữ quyền bắt đầu khẳng định vị thế của mình Từ giữa thập niên 1970, những công trình nghiên cứu mang tính lý luận về giới đã đem lại một định nghĩa cho thuật ngữ phê bình văn học Nữ quyền Trên thế giới xuất hiện hàng loạt các tên tuổi lớn của

Trang 24

phê bình văn học nữ quyền như: Mary Jacobus, Rosalind Coward của Anh, hay Hélène Cixous và Julia Kristéva của Pháp Lúc này đời sống văn chương thế giới cũng xôn xao hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các tác giả nữ Văn học nữ cũng nở rộ bằng tất cả sức sống mãnh liệt và sự sáng tạo của nó Điều đáng chú ý là ở giai đoạn này là cuốn sách đạt giải nobel văn học năm 2010

The golden notebook (Máy tính xách tay vàng) của Doris lessing, cuốn sách

được coi là kinh thánh của văn học nữ quyền Với cuốn sách này, tác giả đã góp phần vào việc chứng minh sức sáng tạo của phái nữ trong sáng tác văn chương

Ở các quốc gia phương Đông, văn học nữ quyền phát triển theo một hướng riêng biệt Do những đặc trưng về văn hóa, lịch sử…ý thức nữ quyền trong văn học ở đây chưa cao Tuy nhiên, sau Đại hội phụ nữ thế giới 1995 tổ chức ở Bắc Kinh thì văn học nữ ở phương Đông mới có bước chuyển mình mạnh mẽ Nhiều tác phẩm lý luận văn học nữ quyền ở phương Tây được dịch

và truyền bá rộng rãi Phong trào nghiên cứu văn học nữ ngày càng phát triển Đặc biệt ở Trung Quốc, vốn đã bị ảnh hưởng tư tưởng nam quyền từ rất lâu song văn học nữ của họ đã thể hiện sự thức tỉnh về giới tính, ý thức về giá trị của bản thân Vì vậy mới xuất hiện hàng loạt những cây bút trẻ như Vệ Tuệ, Sơn Táp, Cửu Đan, với những tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, với những điểm nhìn khai thác chỉ có ở phụ nữ Ở một số quốc gia khác như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, những năm gần đây văn học nữ đã đạt được nhiều thành tựu và là một vấn đề "nóng" được xã hội quan tâm

1.1.3 Nghiên cứu về giới trong văn học nữ Việt Nam

Là một quốc gia thuộc phương Đông, Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi tư tưởng văn hóa của đạo Nho, nơi mà tư tưởng trọng nam khinh nữ

đã ăn sâu vào gốc rễ và chi phối mọi mặt của đời sống xã hội Vì vậy, công cuộc giải phóng phụ nữ, đòi lại sự công bằng cho phụ nữ gặp muôn vàn khó khăn và phức tạp.Văn chương vốn là một thú vui tao nhã, nơi thể hiện trình

Trang 25

độ học vấn cũng như tài năng của bậc chính nhân quân tử chứ không phải là lĩnh vực dành cho phụ nữ Từ văn học dân gian đến văn học Trung đại, địa vị độc tôn trong sáng tác văn chương luôn là của nam giới Hình ảnh của những người phụ nữ dù có xinh đẹp, giỏi giang nhưng thân phận luôn bị phụ thuộc vào nam giới Thân phận người phụ nữ với số kiếp đáng thương được trở đi

trở lại trong ca dao, truyện cổ tích hay những tác phẩm lớn như Truyện Kiều,

Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc,…đã cho thấy thân phận bé nhỏ,

lệ thuộc của người phụ nữ trong xã hội Ở thời kỳ này, vấn đề giới chưa có cơ hội để xuất hiện dù đã tồn tại một hiện tượng hiếm hoi như Hồ Xuân Hương với

ý thức khẳng định tài năng, chống lại định kiến của xã hội Hồ Xuân Hương đã không ngần ngại khi chế giễu đàn ông rồi khẳng định tài năng của mình:

"Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?"

Câu thơ trên cho thấy tác giả khát vọng làm nên một sự nghiệp lớn, khát vọng muốn thay đổi thân phận, địa vị xã hội để thi thố tài năng, lập nên sự nghiệp anh hùng Hồ Xuân Hương đã ý thức được về quyền lợi và khả năng của nữ giới đặt ra trong sự tương quan so với nam giới Tác giả ý thức được vậy, song đây vẫn là một lời chấp nhận đầy chua chát: chỉ có đàn ông mới làm nên

Trang 26

sôi nổi và tràn đầy sức sống của thời đại Về lượng, theo thống kê của Bằng

Giang, " tính đến năm 1930, văn học quốc ngữ Nam kỳ có hơn 20 tác giả nữ

còn để lại tác phẩm in thành sách" Sự góp mặt của những cây bút nữ trong

lĩnh vực văn xuôi quốc ngữ có thể kể đến: Phan Thị Bạch Vân, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan… Bên cạnh đó, thi ca Việt Nam đầu thế kỷ

XX cũng nổi bật với các tác giả: Nguyễn Thị Manh Manh, Đạm Phương Mộng Tuyết, Trần Ngọc Lầu, Anh Thơ, Ngân Giang, Hằng Phương… Họ xuất hiện và đứng cạnh những cây bút nam trong thời đại thơ Mới và tô thêm vào bức tranh thời đại thi ca ấy giọng thơ riêng với sắc màu nữ tính mềm mại,

uyển chuyển: "Một Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong trẻo,

hồn nhiên, một Ngân Giang tài hoa, cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào, một Vân Đài duyên dáng, dịu nhẹ…và bấy nhiêu thôi cũng đủ góp phần cho cung đàn thơ ca Việt Nam thêm đa dạng về âm sắc và giọng điệu"

[47] Mặc dù vậy, những đóng góp của văn chương nữ lưu thời kỳ này mới chỉ là mặt bằng chung chứ chưa có những đỉnh cao Họ xuất hiện khá đông và

ít nhiều đã có bản lĩnh, song họ chưa thể đủ nội lực để làm nên một bộ phận thơ ca cho riêng giới của mình Tuy nhiên, sự xuất hiện của những cây bút nữ

đã góp phần phá vỡ thế độc tôn của văn học nam giới suốt nhiều thế kỷ, khẳng định tiếng nói của nữ giới trên văn đàn

Cùng với thời gian, những người phụ nữ viết văn, làm thơ ngày càng

đông với ý thức nữ quyền sâu sắc Trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942),

Hoài Thanh đã giới thiệu bảy nhà thơ nữ trên tổng số 46 nhà thơ Sau 1945, ở miền Bắc, số lượng các cây bút nữ tăng lên rất nhiều Tuy nhiên, giai đoạn văn học chứng kiến sự lên ngôi của văn học nữ chính là những năm cuối thế

kỷ XX, đó là sự xuất hiện của những cây bút như tài năng như: Y Ban, Lý Lan, Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư,… đã tạo nên một thời

kỳ âm thịnh dương suy trong văn học Sự xuất hiện đông đảo ấy chứng tỏ sáng tác của các cây bút nữ được tự tin lộ diện, họ tự hào khẳng định về giới

Trang 27

của mình Người phụ nữ trong tác phẩm văn học hiện lên như một chủ thể tự

ý thức, tự khẳng định chứ không hề bó hẹp trong cái nhìn của tư tưởng nam quyền nữa.Với sự ý thức sâu sắc ấy, các tác giả nữ đã không ngần ngại đi sâu vào những lĩnh vực vốn chỉ dành cho nam giới như lịch sử, văn hóa, tính dục Từ đây, vấn đề giới trong văn học mới được quan tâm một cách đầy đủ và sâu sắc

1.2 Hành trình sáng tác của Thùy Dương

1.2.1 Nhà văn Thùy Dương

Nhà văn Thùy Dương sinh năm 1960, quê Hải Dương Chị xuất thân trong một gia đình có ba anh chị em, cha là một kiến trúc sư, mẹ công tác trong ngành Y học Thùy Dương đã từng mơ ước được học ngành Y và được mặc những chiếc áo blu màu trắng để khám chữa bệnh cho mọi người Tốt nghiệp phổ thông năm 1977, Thùy Dương phải từ bỏ mơ ước làm bác sĩ của mình Chị thi đỗ và học khoa Văn Sử trường Cao đẳng Sư phạm Hải Dương với mong ước trở thành cô giáo Nhưng rồi mong ước ấy lại không đến với chị Năm 1989, Thùy Dương tiếp tục thi vào trường viết văn Nguyễn Du Đến năm 1992, tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa IV Từ đây, Thùy Dương đã đến với cuộc sống đích thực của mình "trở thành một nhà văn" để được viết, được chiêm nghiệm những điều kỳ diệu trong thế giới muôn vàn sắc màu này

Hiện tại, Thùy Dương là Phó Tổng biên tập Báo diễn đàn Doanh Nghiệp, kiêm Tổng biên tập Tạp chí Thương gia và là thành viên của Hội nhà văn Việt Nam (kết nạp năm 2001)

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác:

Thùy Dương có số lượng sáng tác khá dày dặn và phong phú Các sáng tác của chị bao gồm cả nguyện ngắn và tiểu thuyết: sáu tập truyện ngắn và bốn tiểu thuyết đã được xuất bản Truyện ngắn là những sáng tác đầu tay của

Thùy Dương Các tập truyện ngắn gồm: Trong hộp kẹo - 1987, Hạnh phúc

Trang 28

mong manh - 1994, Nước mắt chàng khổng lồ - 1994, Mưa thiếu nữ - 1997,

Những người đàn bà đang sống - 2000 và Truyện ngắn Thùy Dương - 2003

Khi đã đọc truyện ngắn, hẳn bạn đọc còn nhớ những truyện ngắn độc đáo, đặc sắc Thùy Dương viết về những chuyến ra đi để chấp nhận không bao giờ trở lại của người lính thời chống Mỹ, về hậu phương của anh em với sự chịu đựng, đức hy sinh không gì đong đo được của những bà mẹ, những người vợ trẻ, của những cô gái mãi mãi mang trong lòng nỗi ân hận vì nhiều

lẽ không dám dâng hiến cho người tình những giây phút đam mê Đó là các

truyện Cô tôi, Trinh nữ, Làng bên sông, Biển không chỉ có sóng… Vào những

năm chiến tranh, đã từng có rất nhiều truyện ngắn hay viết về người lính, về những vấn đề hậu phương của các anh như các tác phẩm của các cây bút Đỗ Chu, Lê Lựu, Triệu Bôn, Lê Minh Khuê… Truyện ngắn của Thùy Dương xuất hiện muộn hơn rất nhiều, sau đó đến hơn 20 năm Xuất hiện vào cái thời buổi dường như viết về đề tài này mà viết theo cảm hứng ngợi ca, ấm áp tình người, người viết hình như nơm nớp lo sợ bị quy chụp là không thoát khỏi vòng văn chương minh họa; là né tránh sự thật; là không đổi mới Với truyện ngắn, chị đã có nhiều giải thưởng cho thể loại này:

- Giải Ba cuộc thi truyện ngắn Báo phụ nữ TP HCM 1997

- Giải C cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ 1999 - 2001

- Giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Thiếu Niên Tiền Phong 2001 Nhưng với Thùy Dương, truyện ngắn chưa phải là cái đích cuối cùng Truyện ngắn chỉ là bước đệm để nhà văn đến với một thể loại khác là tiểu thuyết Tiểu thuyết mới là thể loại tạo nên "thương hiệu" Thùy Dương Với tiểu thuyết, không chỉ được bạn đọc ghi nhận mà bản thân nhà văn cũng tâm

huyết với thể loại này Các tiểu thuyết đã xuất bản, bao gồm: tiểu thuyết Tam

giác muôn đời - 1992, tiểu thuyết Ngụ cư - 2004, tiểu thuyết Thức giấc - 2007,

Trang 29

tiểu thuyết Nhân gian - 2009 và gần đây nhất chị ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết mới có tên là Chân trần- 2013

Tìm hiểu sâu hơn về nội dung của các tiểu thuyết, ta nhận thấy sự phong phú, đa dạng của cuộc sống được phản ánh rõ rệt qua mỗi tiểu thuyết

của chị Ngụ cư là cuộc sống ở ráp gianh giữa hai thế kỷ 20 và 21 - Một nữ

nhà báo trong một cái ngõ nhỏ chủ yếu là dân ngụ cư Cuộc sống của họ bươn chải, lặn ngụp, đầy âu lo, nhưng cũng đầy hy vọng của cái thời mở cửa Tác

giả Lê Thanh Nga trong bài Ngụ cư và thân phận người phụ nữ đã nhận xét

"những người phụ nữ ấy đều đã chọn lối sống vì mình, nhưng chưa hẳn là của

mình, vì thế họ gặp ngay những bi hài kịch - những tấn trò đời của cuộc đời họ" [24] Chọn phụ nữ là nhân vật chính trong tác phẩm của mình, Thùy

Dương kể tiếp cuộc đời của những người đàn bà Việt Nam từng chịu nhiều thiệt thòi trong chiến tranh cũng như trong cuộc sống thời bình Vẫn tiếp tục

viết về người phụ nữ, Thức giấc cũng vẫn là chuyện đời, chuyện nhân thế từ

thời bao cấp đến thời kinh tế thị trường qua hai hình ảnh người bà và người cháu gái Cái khí chất mạnh mẽ, can trường của những người đàn bà Việt Nam - những người gìn giữ ngọn lửa để trao truyền cho các thế hệ sau Tiểu

thuyết Thức giấc được Thạch Thảo nhận xét là "một cuốn sách nóng về thời

gian và dịu dàng tâm cảm", "Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết khá rộng dài về không gian và thời gian, từ một làng quê Bắc Bộ đến Hà Nội và những thành phố lớn, từ trước ngày giải phóng miền Bắc năm 1954 đầy không khí mơ màng của lễ nghi và bổn phận, đến hôm nay với sự sôi động của thị trường chứng khoán…" [33] Còn với Nhân gian là cuộc sống ở cõi trần, cõi âm và

ranh giới giữa hai cõi ấy - là những số phận được soi chiếu suốt một khoảng dài thời gian và đôi khi bị chi phối bởi những ràng buộc định mệnh Ba nhân vật của ba thế hệ với những hạnh phúc và cả những bi kịch của mỗi thời: con người không thể vứt bỏ quá khứ cũng như không thể từ chối tương lai Tiểu

Trang 30

thuyết mới nhất của Thùy Dương: Chân trần (2013) - Kể về câu chuyện của

một gia đình sống trong xã hội phong kiến, người chồng làm bác sĩ có những năm bà vợ Thế nhưng chỉ có người vợ thứ ba (cụ Ca) là người nhìn nhận được phải trái, đúng sai; là người sống biết trước biết sau và có trách nhiệm với gia đình của mình Mọi suy nghĩ, cách nhìn nhận của cụ Ca như một người từng trải và cũng giống lời của một tiên tri Hình ảnh của cụ và cô cháu

gái có sự phân thân trong cách cảm, cách nghĩ Qua Chân trần, bạn đọc sẽ

nhận thấy một xã hội từ thời phong kiến với những hủ tục lạc hậu đến xã hội thời hiện đại với những đổi thay chóng mặt Tất cả hiện lên một cuộc sống phong phú, sinh động và đầy cám dỗ

Có thể thấy, tiểu thuyết của Thùy Dương đã ghi một dấu ấn đặc biệt trên văn đàn Văn học Việt Nam đương đại Với thể loại này đã đem đến cho chị thành công xuất sắc, đạt được nhiều giải thưởng do Hội Nhà văn Việt

Nam trao tặng: Giải B cho “Ngụ cư”- cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2001 - 2004, Giải C cho Tiểu thuyết “Thức giấc”- Cuộc thi tiểu thuyết

Hội Nhà văn Việt Nam 2007 - 2010, Giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội 2010

cho Tiểu thuyết “Nhân gian”

Trang 31

Chương 2 VẤN ĐỀ GIỚI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA THÙY DƯƠNG

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Vấn đề giới được thể hiện qua bi kịch của người phụ nữ

2.1.1 Bi kịch chiến tranh

Chiến tranh bao giờ cũng mang lại nỗi đau cho con người trong và sau

khi nó diễn ra Nhà văn Thùy Dương sinh ra và lớn lên trong thời chiến, "trải

qua cả tuổi thơ ở nơi sơ tán" với cảnh chạy loạn, cảnh nhà tan tác chia ly,

người còn người mất… Những ký ức đau thương ấy được chị biến thành nguồn tư liệu quý giá cho những trang viết của mình Trước chị, đã có nhiều

nhà văn viết về chiến tranh như Chu Lai với Ăn mày dĩ vãng, Trung Trung Đỉnh với Lính trận, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh…Họ viết về chiến

tranh bằng cảm xúc của người trong cuộc - những người lính đã đi qua cuộc chiến tranh Bởi thế, các trang viết của họ tái hiện rất chân thực bộ mặt tàn khốc của chiến tranh Khác với những nhà văn cầm súng kể trên, Thùy Dương không mặc áo lính ra trận, nhưng cũng như bao người khác, chị sống trong không khí của người hậu phương, chứng kiến những gian khó và khổ đau của những người ở phía sau cuộc chiến, ở hậu phương thời chiến Vì vậy, những trang viết về chiến tranh của chị chiếm số lượng không nhiều nhưng lại mang một sức gợi ghê gớm về sự hy sinh và mất mát

Viết về chiến tranh, Thùy Dương đã viết bằng cảm hứng của một thế hệ

nhà văn mang tinh thần "không thể viết như cũ được nữa" (Lê Lựu) Trong

Ngụ cư, nhân vật bác tổ trưởng khi nhớ lại ký ức chiến tranh không phải với

cảm giác tự hào mà là cảm giác ghê sợ " Chỉ một phát đạn Chiến tranh - tất

cả đều có thể Chiến tranh cho phép con người thả buông thú tính" [6, 129]

Còn ở Thức giấc, tình yêu của một cô thôn nữ với một cán bộ cách mạng đã

có gia đình được nảy nở trong hoàn cảnh "…giặc giã như thế, biết sống chết

Trang 32

thế nào Con người cũng có phút thả lòng mình" [7, 172] Phần tối của chiến

tranh hiếm khi được nhắc tới trong văn học sử thi, bây giờ đây hiển hiện trong tiểu thuyết của Thùy Dương và một số cây bút khác như một lời cảnh tỉnh về nhân cách của con người trong bom đạn Chiến tranh cho phép con người coi thường mạng sống của đối phương, cho phép con người vượt qua giới hạn của đạo đức? Bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của người phụ nữ, Thùy Dương không nhìn cuộc chiến từ những tấm huy chương mà từ phía đau thương với

"những cái chết nhìn thấy mà không cứu được" [6,130] Chị còn nhìn thấy một sự thật "…chiến tranh có kiêng nể gì ai Người ra tiền tuyến có khi trở về

mà người ở hậu phương lại dính bom bi bom miếng" [8, 19] Dù ở thời đại

nào, chiến tranh cũng có sức tàn phá khủng khiếp đối với đời sống vật chất lẫn tinh thần con người ở tiền phương hay hậu phương

Trong tiểu thuyết của Thùy Dương, chiến tranh hiện ra chỉ qua một vài phác họa tưởng như sơ sài, nhưng lại có sức ảm ảnh ghê gớm với người đọc

Trong Ngụ cư, hình ảnh của cuộc tấn công vào nước Mỹ ngày 11 tháng 9 năm

2001 hiện ra thật kinh hoàng "Từng đoàn người nháo nhào tháo chạy Già trẻ,

nam nữ, tơi tả, tan tác, tóc tai rũ rượi, máu me bê bết trong khói lửa cuồn cuộn Những gương mặt khiếp đảm, hoảng loạn Khóc lóc, kêu gào…Thảm cảnh chiến tranh hiện ra rõ mồn một, bằng xương bằng thịt" [6,130], nhân vật tôi sống lại ký ức của những ngày sơ tán "…hàng phở chỉ còn là một cái hố sâu hoắm Chiếc nồi quân dụng mà nhà hàng vẫn ninh nước dùng bị quăng lên bờ méo xèo xẹo Không tìm được ai nguyên vẹn Xương trâu xương bò lẫn với những mảnh thi thể người…"[6,133] Không chỉ nhìn cuộc chiến tranh

như đã từng thấy, Thùy Dương còn mang vào trong những trang viết về chiến tranh những nỗi đau không thể nguôi ngoai

Chiến tranh không chỉ thấy nơi tiền tuyến mà còn hiện hữu nơi hậu phương Đó là bi kịch của các gia đình vì chiến tranh mà ly tán: mẹ xa con, vợ

Trang 33

xa chồng, con không biết mặt bố… Biết bao cặp vợ chồng mới cưới, sống với nhau chỉ được vài ngày là chồng đã phải ra mặt trận, để lại hậu phương những người vợ mòn mỏi đợi chờ Trong thời chiến, có một bài vè về tình yêu rất phổ biến:

Cây tre xanh không bao giờ héo ngọn Thời buổi này kén chọn làm chi

Hòa ơi cứ lấy Cầm đi Bao giờ Cầm đẻ Hòa về bế con Chúc anh Hòa lên đường mạnh khỏe Chúc chị Cầm ở nhà đẻ đứa con giai…

[6, 58]

Có thể bắt gặp ở bất kỳ đâu kiểu gia đình mà cả mẹ chồng và con dâu (nhân vật chị Thỏa và Thúy trong câu chuyện của bác tổ trưởng) đều có chồng

ra trận Những mong ước đơn sơ nhất của cuộc sống vợ chồng cũng không thể

có được "đàn bà đang tuổi xuân sắc…mà vắng chồng đến bốn năm năm"

[6,56] Khi không còn chịu đựng nổi cuộc sống vò võ chờ đợi, người phụ nữ (chị Thỏa) phải vùng ra khỏi khuôn phép, đi tìm hạnh phúc cho mình Cô con

dâu (Thúy) viết thư cho anh chiến sĩ đã từng ở trọ nhà mình thổn thức "Mẹ bỏ

đi rồi Chỉ còn mỗi mình em ở nhà chờ bố và chồng em Bao giờ mới hết chiến tranh hả anh?" [6, 56] Người ta còn thấy "các bà các chị xa chồng đêm đêm cứ lượn lờ, có người ra cả cánh đồng Họ cứ đi như thế mà vẫn cứ ngủ, người nọ gặp người kia mà chẳng nhận ra nhau…" [6, 61] Trong chiến tranh,

người phụ nữ là người can trường nhất và cũng chịu nhiều đau khổ nhất Thùy Dương đã đồng cảm với số phận nhân vật nữ của mình Và ngay cả khi họ

"sống cho mình", Thùy Dương cũng nhất quyết bênh vực cho họ Không chỉ

vậy, bi kịch nơi hậu phương còn dành cho nhiều bà mẹ có con hy sinh "đêm

đêm về sáng bà mới khóc thầm, ruột như đứt ra từng khúc" hay những con

Trang 34

người phải chứng kiến nỗi đau chiến tranh như ông chủ tịch xã "Đây là lần

thứ năm mươi mốt ông phải đọc giấy báo tử thế này Ông gần như đã thuộc lòng Ông sẽ còn phải đọc thêm ba mươi mốt lần như thế cho đến khi tóc ông bạc trắng hẳn Sau đó vào năm 1979, ông còn đọc thêm chín tờ giấy như vậy nữa Cả xã chỉ có ba thôn lớn và một ấp nhỏ, tổng cộng có hơn một ngàn nhân khẩu thì có gần một trăm liệt sĩ" [8, 33].Trong cảm xúc của mình, Thùy

Dương như muốn nhân lên: sự hy sinh ngoài mặt trận càng nhiều thì sự đau đớn âm thầm của những con người nơi hậu phương càng lớn hơn

Chiến tranh đã kết thúc, nhưng nỗi đau mà nó để lại vẫn còn âm ỉ cho tới tận hôm nay Nhà văn Thùy Dương đã phơi bày vấn đề ấy trong tác phẩm

của mình: Đó là nỗi đau của bà mẹ liệt sỹ "gần hai mươi năm qua, vào lúc

đêm về sáng, lúc bà nghẹn ngào thầm hời tôi…" Đó là lời bộc bạch của hồn

ma nhân vật trung đội trưởng Thành khi nhập vào Thảo "Mấy chục năm trôi

qua rồi Người ta đã quên hết rồi, cả chúng tôi cũng bị lãng quên rồi…Còn có những người mà chúng tôi nằm xuống xanh cỏ để cho họ đỏ ngực, đủ danh lợi thì có nghĩ gì đến chúng tôi đâu Nếu họ nghĩ ngay đến chúng tôi sau khi hòa bình vừa lập lại thì…đâu phải ngậm ngùi nơi rừng xanh lạnh lẽo thế này"

[8, 175-176] chứa đựng nỗi xót xa khi sự cống hiến của những người "xương

thịt trộn với đất rừng" ghi công cho một ai đó bị chìm vào trong quên lãng

Thùy Dương còn thấy thân phận con người trôi dạt sau chiến tranh ở cả phe ta

và phe "địch" Anh lính ngụy "bị ép đi lính, mẹ già con nhỏ khóc hết nước

mắt Vợ tóc xổ tung chạy theo chiếc xe chân trần lầm bụi cát…có lần trốn về thăm nhà bị bắt lại bị nhốt trong hầm bỏ đói" [8,191], anh lính "ta" "chỉ muốn

ở quê cưới một cô gái làng khỏe mạnh, đẻ liền tù tì bốn năm đứa nhóc"

[8,191] nào có khác gì nhau; nhưng chiến tranh làm con người trở nên tàn nhẫn, lạnh lùng và đáng sợ Chiến tranh không phân biệt người tốt kẻ xấu, súng đạn không ngoại trừ ta - địch, chỉ có người sống và kẻ chết Trưởng

Trang 35

thành trong thời hậu chiến, Thùy Dương cũng như nhiều nhà văn khác đã nhìn nhận lại cuộc chiến tranh một cách khách quan trên tinh thần nhân văn chủ

nghĩa, bởi "không phải chỉ có một sự thật, mà có nhiều sự thật, về chiến tranh

Việt Nam và về bất cứ sự kiện nào xảy ra trong cuộc chiến ấy" [45]

Cảm hứng bi kịch về chiến tranh trong tiểu thuyết của Thùy Dương được tiếp nối từ cảm xúc trong truyện ngắn của chị Nhiều truyện ngắn của

chị về chiến tranh như Cô tôi, Trinh nữ, phận đàn bà, Họ có ba người, Hai

người đàn bà, Bóng chiều sắp qua, Đường trần…thẫm đẫm khổ đau của con

người trải qua bom đạn Họ quay về mang theo vết thương hậu chiến, hoặc là hòa nhập vào cuộc sống rồi quên đi ký ức đau buồn, hoặc là sống mãi với

hoài niệm về tình người trong chiến tranh Sẽ còn mãi hình ảnh "chín cô gái

thanh niên xung phong bị sức ép của bom chết mà trên người không còn mảnh vải Áo quần cũng bị xé nát…Bố bế trên tay từng cô trắng, mềm và thầm khấn nếu còn sống về với vợ con xin đẻ toàn con gái để các cô có chốn

mà trở về dương gian" [10, 395] Đọc những trang viết về chiến tranh của

Thùy Dương, trái tim người đọc cứ trĩu xuống, thổn thức theo nỗi đau của

nhân vật và liên tưởng tới Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Ký ức trong

Nỗi buồn chiến tranh lần lượt hiện về trong tâm hồn nhân vật Kiên suốt cuộc

hành trình trở lại chiến trường xưa Ký ức đau thương ở truông Gọi Hồn cứ ẩn hiện cào xé như nhức nhối trong Kiên Rồi lần lượt từng số phận gắn với những cái chết kinh hoàng của đồng đội hiện lên trong Kiên như một thước phim quay chậm ở mọi góc cạnh Cảm giác của Kiên cũng như của những nhân vật trong tiểu thuyết của Thùy Dương về chiến tranh đều thật hãi hùng

Bi kịch của họ là bi kịch của con người bước qua chiến tranh; nếu hy sinh thì đau đớn vì cống hiến của mình bị lãng quên, nếu may mắn sống sót thì hoặc mang thương tật về thể xác hoặc bị chấn động về tinh thần không thể hòa nhập được với cuộc sống Chiến tranh xuất hiện trong tiểu thuyết của Thùy

Trang 36

Dương tuy không nhiều nhưng thật ám ảnh Đằng sau đó, nhà văn muốn gửi gắm một thông điệp về tình người, giống như sự cứu rỗi cho tâm hồn con người khi nhìn về tương lai bằng lăng kính quá khứ

2.1.2 Bi kịch đời thường

2.1.2.1 Bi kịch trong cuộc sống

Sau năm 1975, đất nước được thống nhất, một giai đoạn lịch sử mới của dân tộc được mở ra: nhân dân bước vào xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc Bi kịch đã xuất hiện từ cuộc sống mới này Thùy Dương nhận

thấy "Bước ra từ một cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại, dường như chúng ta

rơi vào cái bẫy của chính mình mà không biết Sự ngổn ngang rạn vỡ bày ra trên nhiều phương diện Nỗi bất an thường trực trong cuộc sống và tính người đang đứng trước sự thách thức cũng như những cám dỗ chết người" [5]

Chị quan tâm tới số phận con người trong thời kinh tế thị trường, đến tình yêu

- hôn nhân khi bị chi phối bởi đồng tiền, tham vọng…và chị đã thể hiện chúng trong tiểu thuyết theo cách rất riêng mà chị cảm nhận

Trước hết, Thùy Dương đề cập tới bi kịch trong cuộc sống thời mở cửa

"Mở cửa" là từ người ta quen dùng khi nói về cuộc sống thời kinh tế thị

trường với những cái mới từ bên ngoài vào Nhưng cái mới vào quá nhanh, quá ồ ạt, cái cũ vẫn sừng sững thì sự tồn tại đồng thời ắt dẫn đến sự va đập (tích cực hoặc tiêu cực) Sự va đập mang tới kết quả tiêu cực là bi kịch mà chính con người trong thời đại ấy, xã hội ấy phải chịu Ở thời kỳ này, tiểu

thuyết đã "thể hiện sự nhạy bén về tư duy nghệ thuật trong việc nhận thức tối

đa thực trạng suy thoái, băng hoại về mặt đạo đức, nhân cách của con người"

[29] Thùy Dương đã tái hiện một cách chân thực bi kịch cuộc sống thời mở

cửa và gióng lên hồi chuông về sự "tan rữa ra" (chữ dùng của Thùy Dương)

trong các mối quan hệ của con người - tất thảy đều chịu sự chi phối của quyền lực, tiền bạc và dục vọng

Trang 37

Trong cuộc sống của mỗi gia đình, nhà văn đề cập tới sự rạn nứt mối quan hệ cha mẹ - con cái khi tất cả đều lao vào vòng xoáy tham vọng Đây là

bi kịch gia đình nhưng là tiền đề cho bi kịch lớn của xã hội Hơn một lần chị

xót xa cho bi kịch gia đình Con trai của ông T có "quyền nghiêng thành phố"

bị nghiện hút, được đưa về quê cai nghiện, không chịu nổi phải tự vẫn Đến

lúc ấy, người mẹ mới bừng tỉnh, hối hận thì đã muộn "Mẹ không biết mẹ để

tuột con từ lúc nào Từ khi bố con lên chức? Từ khi tiền cứ chảy vào nhà mình theo nhiều hướng? Từ khi mẹ còn bận rộn sắm sửa, toan tính?" [7,349]

Người mẹ ấy khóc thương con, trách mình rồi tự hỏi "Cái gì đã khiến con đi

lạc đường? Cái gì đã đẩy con đến nông nỗi này?" Điều khiến cậu bé lạc

đường là thiếu sự chăm sóc của người mẹ và sự dạy dỗ của người cha - những người luôn bận toan tính Cậu bé non nớt được thả ra giữa xã hội đầy cạm bẫy; nghiện hút, tệ nạn xã hội chẳng sớm thì muộn sẽ tìm tới cậu Những đứa trẻ ấy không chỉ hủy hoại bản thân mà còn hủy hoại luôn cả người thân của chúng trong những phút giây nông nổi Người đọc bị ám ảnh bởi nhân vật

thằng bé mê chơi điện tử "…về nhà cạy tủ lấy tiền, ông bố đi vào mắng chửi

té tát Ông vừa quay lưng nó vung dao chém ngang, chém dọc Ông bố đổ xuống, nó kéo vào một góc buồng phủ tạm tấm chăn lên Hai giờ suy tính, nó đạp xe mua về ba chiếc thùng xốp, lôi chiếc cưa sau nhà mà bố nó hay dùng cưa củi, đóng kín cửa, vặn nhạc Rap to lên và cưa ông bố xấu số ra làm ba khúc Lèn vào ba chiếc hộp xốp dán băng dính cẩn thận, chằng buộc sau xe đạp đưa ra sông thảy xuống đúng ba lần" [8, 292] Chính gia đình ấy, chính

ông bố xấu số ấy đã đẩy đứa con trai tội nghiệp vào con đường phạm tội Cuộc sống gia đình không làm cho nó hạnh phúc, khiến nó phải đi tìm niềm

vui trong một thế giới ảo "hành hiệp giang hồ so tài cao thấp, chém giết nhau

như rắn với ngóe…một thế giới không thật mà có sức cuốn hút hơn cả thật"

[8, 291] Khi hết tiền để chìm đắm trong thế giới ấy, nó quay về nhà cạy tủ lấy

Trang 38

tiền Người cha bắt gặp hành động của con, không cần quan tâm sao con mình

lại làm thế, chỉ "mắng chửi té tát" Và cậu bé trong lúc nóng giận, không phân

biệt được thế giới thực - ảo, chỉ thấy rằng mình bị xúc phạm nên đã hành

động như một "anh hùng hành tẩu trên giang hồ" Đến khi bị công an bắt, nó

vẫn không ý thức được hết về hành động của mình Tất cả những lỗi lầm ấy

là do thiếu sự chăm lo, dạy dỗ của người lớn Cuối cùng, đứa con dứt ruột đẻ

ra của họ phải chịu bi kịch mà do chính họ gây ra

Cũng chính vì sự ích kỷ cá nhân của những người làm cha làm mẹ đã khiến cho cháu nội, ngoại của mình không thể ra đời Nhân vật cô gái trẻ

trong Nhân gian đã gào lên trong tuyệt vọng "Mẹ nỡ giết con của con, cháu

của mẹ sao?" [8,248] và "Sao mẹ không lo cho con mà chỉ lo cho thanh danh thế?" [8, 241] khi cô gái có thai với người yêu là bác sỹ tình nguyện người

Mỹ Gia đình cô gái không chấp nhận tình yêu của cô và tìm cách phá bỏ cái thai - đứa cháu ngoại của mình Tất cả việc làm ấy chỉ vì bố cô là Phó chủ tịch tỉnh và sắp được đề bạt lên Chủ tịch Bi kịch lên tới đỉnh điểm khi cô quyết

định "…bố chưa về hưu, con hứa sẽ không có tờ giấy kết hôn nào hết, sẽ

chẳng có đứa cháu ngoại nào của ông bà có mặt trên đời!" [8, 296] để được

sống với người mình yêu Nhân vật Yên Thao trong Thức giấc cũng từng đau đớn khi nghe mẹ của người yêu mình nói "Nếu cháu có chuyện gì, cứ đến đây

tìm bác Bạn bác là bác sĩ sản khoa viện C Bác hứa sẽ lo cho cháu Kín đáo Bác phải có trách nhiệm" [7, 115] Tất cả đều tàn nhẫn, bỉ ổi dưới sức nóng

của địa vị, của tiền bạc Con người quên mất tình cảm gia đình và những giá trị đạo đức Kết quả là chính họ, con cái họ phải nhận bi kịch không thể giải quyết được

Bên cạnh bi kịch gia đình, Thùy Dương còn nhìn thấy bi kịch xã hội cũng xuất phát từ tiền bạc và dục vọng của con người Đó là sự "xuống cấp"

về nhân cách con người, về đạo đức nghề nghiệp; đó là sự đánh mất bản sắc

Trang 39

văn hóa truyền thống của dân tộc; đó là bảo thủ, lạc hậu, trì trệ của một lối mòn trong xã hội và trên hết là sự đảo điên của xã hội đồng tiền

Nói về sự "xuống cấp" của nhân cách, đạo đức nghề nghiệp, nhà văn đã thể hiện theo muôn hình vạn trạng: mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không phân biệt kẻ có học hay không…Ai làm nghề gì thì "ăn" nghề ấy Ngay cả vị lãnh đạo đứng đầu đất nước cũng không tránh khỏi sa ngã thường tình Thật buồn

khi thấy tình trạng "…cũng vị lãnh đạo ấy về địa phương nào thì cũng là bài

ca quen thuộc phải suy nghĩ, suy nghĩ thật thấu đáo để xác định rõ chúng ta phải trồng cây gì, nuôi con gì…Cái bọn doanh nghiệp mới nổi, nhân dịp đục nước béo cò…thì xúm vào các quan chức "trồng cây gì nuôi con gì" để kiếm chút lộc thừa chính trị" [7, 182-183] Chẳng thế mà nhà văn đã tổng kết "Giờ đây chúng ta chỉ có các nhà lãnh đạo mà không có lãnh tụ" [7, 282] Đến

những người có học hàm học vị như Giáo sư Tiến sĩ khi liên quan đến tiền

bạc thì cũng ngã giá như ai "Tôi muốn biết thù lao cho mỗi bài báo như thế là

bao nhiêu - trả cho Giáo sư Tiến sĩ là phải khác với bình thường đấy chứ?" [6,

6] Rồi đến tầng lớp trí thức như nhà báo, giáo viên, bác sỹ, cán bộ hành chính…cũng "trượt dài" trên con đường tha hóa nhân cách Nhà báo - người

đại diện cho công lý cũng buông xuôi trước thực tế cuộc sống "em thấy tởm

cả mình khi ngửa tay nhận những cái phong bì như thế…Tặc lưỡi cho qua Nhủ thầm ai ai cũng thế cả Ít nhất mình không cướp của ai" [6, 126] Đúng

là họ không "cướp của ai" nhưng tự họ đã cướp đi nhân cách, đạo đức nghề nghiệp của mình Giáo viên - người kỹ sư tâm hồn, người đào tạo ra các thế

hệ tương lai cho đất nước thì mắc bệnh thành tích "…sợ thằng bé kéo thành

tích của lớp cô chủ nhiệm đi xuống Mà cô thì hơn chục năm nay luôn vào ở tốp giáo viên dạy giỏi của quận…Cô có vẻ không quan tâm, cũng chẳng biết

gì về những thay đổi của nó" [6, 110-111] và thực dụng "cô giáo không thích tặng hoa rác nhà Cô cười tươi lắm khi được nhận quà và phong bì" [7, 256]

Trang 40

Ngay cả đứa trẻ cũng nhận ra điều ấy thì không biết chúng có còn coi trọng lời dạy bảo của thầy cô mình nữa không Đến thầy thuốc - bác sỹ cũng không tránh được vòng xoáy của cơ chế thị trường Sự tận tâm của các "lương y như

từ mẫu" được đo đếm bằng giá trị đồng tiền họ nhận được Vì thế mà bệnh

nhân người trước rỉ tai cho người sau biết đường mà bồi dưỡng "những người

đến trước mách em…bác sỹ thăm bệnh, y tá tiêm, truyền em đều bồi dưỡng"

[6, 138] Nhất là các cán bộ hành chính - người nắm quyền sinh quyền sát

trong tay, họ hiện ra thật chân thực và sinh động "…bà con muốn làm nhanh

xin đổ tí dầu bôi trơn là máy chạy phăng phăng…Máy đây là bộ máy hành chính ấy chứ…Chị đứng chính chủ tòa nhà hàng tỉ bạc, cho thằng em xin viên gạch sứt…" [6, 119] Có thời nào như cái thời này khi người ta nói chuyện ăn

hối lộ, gợi ý hối lộ một cách thẳng thắn và trơ trẽn đến vậy Đối với nhân dân thì hạch sách, còn đối với cấp trên thì những cán bộ này ra sức bợ đỡ Khả

năng bợ đỡ "sếp" của các vị này được gọi với cái tên thật ấn tượng "năng lực

nô tài" - "thứ năng lực mới được phát hiện của cán bộ ta" [8, 59] và "đang được trọng dụng" [8, 109] Nhà văn nêu ra dẫn chứng cụ thể về một ông tổng

giám đốc "Anh ta đã từng khom lưng nặn mụn ở mông cho ông tổng kia thời

ông ta mới còn là Phó Còn việc xách nước cho ông ấy tắm thì là cơm bữa…Thế rồi ông Phó lên Tổng, anh ta được cất nhắc theo Giờ lên chức khi quan thầy về hưu, anh ta quan cách khệnh khạng hơn cả thầy khi trước" [8,

90-91] Vì địa vị, tiền bạc người ta có thể hạ mình, thậm chí bản rẻ nhân cách Điều này còn đúng với một bộ phận thanh niên hiện nay chỉ muốn hưởng thụ

mà không phải lao động vất vả Đó là "cậu phóng viên trẻ trong thời gian thử

việc ở đâu chạy về, mặt xám ngoét, giọng hổn hển đầy kích động: Em có bài đinh đây rồi Một em bé chưa đầy hai tuổi bị chính thằng chú họ hiếp dâm

Em phỏng vấn được bố mẹ cháu ở bệnh viện Chụp được cả ảnh nữa" [6, 80];

khi được yêu cầu đưa ảnh lên báo, cậu ta "vênh mặt": "không có tấm ảnh thì

Ngày đăng: 24/03/2021, 19:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN