- Trong lời giới thiệu Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam, NXB Phụ nữ, năm 2001, các cây bút nữ cuối thế kỉ XX được đánh giá “Trên những trang viết của họ ta tiếp nhận được một nữ tính phức
Trang 1Cuộc chiến đó nhanh chóng ảnh hưởng sang văn học với biểu hiện rõ nhất là sự ra
đời của chủ nghĩa nữ quyền (feminism) Tính trong vòng ba thập niên gần đây, học
thuyết nữ quyền là một trong những học thuyết có ảnh hưởng sâu sắc và rộng lớn nhất đến phê bình văn học, đã làm thay đổi lớn lao cách đọc văn bản, việc bình giảng văn chương, sự định giá kinh điển trong nhà trường, ảnh hưởng đến cảm thụ văn học của công chúng và chuyển đổi cả ngành xuất bản Ở phương Tây ảnh hưởng của văn chương phái nữ sâu rộng đến mức, phê bình văn học nữ quyền đã trở thành một bộ môn không thể thiếu trong các trường đại học
Ở Việt Nam, dưới ảnh hưởng của đạo Nho, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã có một gốc rễ sâu bền trong đời sống xã hội Trong văn chương trung đại, ngoại trừ một vài trường hợp tác giả nữ xuất sắc hiếm hoi như Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan…, vai trò sáng tác dường như phụ thuộc hẳn vào nam giới Cuộc đấu tranh đòi vị thế của nữ giới trong văn học Việt đã có những khởi sắc đáng kể sau cách mạng tháng tám Thế nhưng sự phát triển thực sự của văn học nữ phải lấy mốc từ thời kì đổi mới sau 1986 Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và những nỗ lực tạo nên sự bình đẳng về giới kể từ 1986 đến nay đã tạo nên những tiền đề cơ bản để giúp người đàn bà thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, khiến cho họ có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết số phận của mình Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ăn sâu vào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên một khuynh hướng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại với sự góp mặt của những cây bút thực tài như Phạm Thị
Trang 2Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bút này
đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn và các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng cuả họ
Những năm gần đây, ở Việt Nam, mặc dù ảnh hưởng của lý thuyết văn học nữ quyền không sâu rộng như ở nước ngoài nhưng số sinh viên chọn đề tài luận văn tốt nghiệp đại học và cao học liên quan đến văn chương nữ ngày càng nhiều, như khảo sát tiểu thuyết, truyện ngắn hay thơ của những tác giả nữ hoặc của một nhà văn nữ Dẫu vậy sự phát triển lực lượng nhà văn nữ trong gần một thế kỷ qua, nhất là ba thập niên gần đây và những thành tựu họ đạt được đã khẳng định sự tồn tại và khởi sắc của một nền văn học nữ Việt Nam đương đại; và thực tế này đòi hỏi những lý thuyết văn học tương thích để phân tích phê bình và đánh giá
Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu là những tác giả nữ tiêu biểu đã thể hiện ý thức về giới sâu sắc trong những tác phẩm của mình Đặt ba nhà văn nữ trên cạnh nhau, ta sẽ thấy được ý thức về giới qua mỗi cây bút riêng và từ đó phần nào hiểu rõ hơn về văn
học nữ ở Việt Nam Đó là lý do thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài: Vấn đề giới
trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Lý luận về giới trên thế giới
- Năm 1929, Virginia Woolf đã cho ra mắt tiểu luận Một căn phòng cho riêng
mình, đây được coi là sách vỡ lòng của phê bình nữ quyền
- Năm 1949, Simonde Beauvoir viết cuốn The second sex bàn về giới nữ như một
giới thứ hai Đây được coi là tuyên ngôn của chủ nghĩa nữ quyền
- Gill Plain và Susan sellers trong quyển Một lịch sử của phê bình văn học nữ
quyền (nxb Đại học Cambridge, 2007) đã tổng kết và xác lập ba giai đoạn phát triển lý
thuyết phê bình nữ quyền (dẫn theo 23)
Trang 32.2 Các bài nghiên cứu về văn học nữ trong nước
- Người có công đầu trong việc khởi xướng nghiên cứu văn học nữ trong nước phải
kể đến Phan Khôi Ngay từ những số báo đầu tiên, Phan Khôi đã khẳng định ý nghĩa, vai trò và tiềm năng của nền văn học nữ lưu Đóng góp lớn nhất của Phan Khôi đó là việc ông bênh vực mạnh mẽ quyền của phụ nữ, lên án những tội ác của lễ giáo phong kiến Đi xa hơn, trên một tư duy mang tính lý luận, Phan Khôi đã tạo tiền đề cho lý thuyết nữ quyền trong văn học Việt Nam, dẫu chỉ mới là những phác họa sơ lược Loạt
bài Về văn học của phụ nữ Việt Nam (Phụ nữ tân văn, số 1, 2/5/1929), Văn học với nữ
tánh (Phụ nữ tân văn, số 2, 9/5/1929), Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thạnh (Phụ nữ tân văn, số 3, 16/5/1929), Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta (Phụ nữ tân văn, từ số 5 đến số 18, năm 1929)… đã thể hiện tư
tưởng này của ông
- Trên Tạp chí văn học số 6 năm 1996 có bài tường thuật buổi tọa đàm Phụ nữ và
sáng tác văn chương, trong đó tập trung nhiều ý kiến của nhiều nhà phê bình, các nhà
thơ, các cây bút nữ Hầu hết các ý kiến đều khẳng định vai trò của các cây bút nữ, tiềm
năng to lớn mà các cây bút nữ có thể đạt được Vương Trí Nhàn đã nhận xét : “Hình
như do sự nhạy cảm riêng của mình, phụ nữ bắt mạch thời đại nhanh hơn nam giới”
Cũng có ý kiến chỉ ra hạn chế như Đặng Anh Đào cho rằng phụ nữ thường “không viết
được cái gì khác mình”, “lặp lại mình, đơn điệu trong các kiểu của mình”
- Trong lời giới thiệu Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam, NXB Phụ nữ, năm 2001, các cây bút nữ cuối thế kỉ XX được đánh giá “Trên những trang viết của họ ta tiếp
nhận được một nữ tính phức tạp hơn nhưng đồng thời cũng phong phú hơn những gì ta vẫn quan niệm trong quá khứ” [48]
- Nổi bật trong số các nhà phê bình nghiên cứu về văn học nữ là Bùi Việt Thắng và
Nguyễn Bích Thu qua các bài viết Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975
qua hệ thống mô típ chủ đề, Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975, Văn xuôi của phái đẹp, đã đánh giá cao sáng tác của các nữ nhà văn trẻ
Trang 4- Trong luận văn Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist criticism) nghiên cứu
một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay, viết năm
2008, Hồ Khánh Vân đã bước đầu giới thiệu một khuynh hướng phê bình và vận dụng
để khảo sát một bộ phận văn học nữ trong nước
- Trong bài Văn học của phái nữ và một vài xu hướng văn chương nữ quyền
Pháp thế kỉ XX, Nguyễn Giáng Hương đã chỉ ra những đặc điểm của văn học nữ và
một vài xu hướng văn chương nữ quyền ở nước ngoài
- PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp đã chỉ ra một vài đặc điểm của văn học nữ tính
trong bài Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương
đại
- Lý Lan trong Phê bình văn học nữ quyền đã chỉ ra những thực trạng của phê
bình văn học nữ ở nước ta (Báo Tia Sáng, ngày 15-3-2009)
- Ngoài ra đã có khá nhiều những luận văn thạc sĩ nghiên cứu về thế giới nhân vật
nữ trong sáng tác của các nhà văn đương đại như : Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ
Thị Hảo” của Trần Thị Bích Vân, Đại học Sư phạm Thái Nguyên, bước đầu đã chỉ ra
những đặc điểm của nhân vật nữ và âm hưởng của chủ nghĩa nữ quyền Hay luận văn
Nhân vật nữ trong sáng tác của ba nhà văn nữ : Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, của Trần Thị Hoa, Đại học Sư phạm Hà Nội đã cung cấp một cái nhìn khá
đầy đủ về các các dạng nhân vật nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ Ngoài ra còn có khá nhiều luận văn tốt nghiệp đại học tìm hiểu về người phụ nữ trong sáng tác của các nhà văn nữ
2.3 Các bài nghiên cứu về Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu
2.3.1 Y Ban
Y Ban xuất hiện nổi bật từ giải thưởng Tạp chí văn nghệ quân đội 1989 – 1990 với
truyện ngắn Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, đến nay Y Ban vẫn là cây bút tiêu biểu đặc biệt
trong lĩnh vực truyện ngắn Có thể kể đến một vài nhận xét dành cho Y Ban như :
Trang 5- Bùi Việt Thắng trong bài Một giọng nữ trầm trong văn chương, tạp chí Văn
hóa số 397/1997 đã nhận xét về sắc thái riêng của Y Ban thể hiện trong việc khai thác nhân vật điển hình
- Xuân Cang trong bài Y Ban và những thân phận đàn bà, báo Văn nghệ số 25
ngày 5/7/2003, đã nhận xét Y Ban là một phụ nữ viết văn “đầy nhạy cảm”, “chị cảm nhận được những biến thái tế vi trong tâm hồn con người, thậm chí chị còn cảm nhận
sự việc, sự vật bằng nhiều giác quan”
Nhìn chung các bài nghiên cứu về Y Ban chưa thật sự phong phú và chỉ mới dừng
ở mức độ nhận diện tác giả, chưa đi sâu vào việc nghiên cứu các bình diện tác phẩm
2.3.2 Lý Lan
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt về Lý Lan ngoài những bài giới thiệu thay cho lời tựa các tập truyện ngắn, những bài điểm sách, những bài phỏng vấn đăng rải rác trên các báo Cụ thể là:
- Trên báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 253, ra ngày 3-12-1982, Nguyễn
Thu Hương có bài Đọc “Bụi phấn” nghĩ về những nhà giáo trẻ Tác giả bài báo đã đề
cập một truyện ngắn của Lý Lan viết về đề tài nhà giáo
- Trên báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh, số 24, ra ngày 15- 06 -1985, Nguyễn
Thị Thanh Xuân có bài viết: Về những cây bút nữ thành phố Hồ Chí Minh Đặt Lý
Lan bên cạnh nhưng cây bút nữ trẻ của thành phố, Nguyễn Thị Thanh Xuân đã nhận
xét: “Lý Lan là cây bút sớm được dư luận chú ý Với cách viết giản dị mà linh hoạt,
đậm đà chất Nam Bộ, Lý Lan thể hiện phong cách của mình ngay từ tác phẩm đầu tay”
- Năm 1994, cũng trên báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh, ra ngày 18-08-1994,
Nguyễn Thị Thanh Xuân có bài phê bình Hai cây bút nữ một tập truyện, về tập truyện ngắn Cỏ hát ( in chung của Lý Lan, Trần Thùy Mai) Bên cạnh giới thiệu với độc giả
cây bút trẻ Lý Lan đầy tiềm năng, bài viết còn ghi nhận ba phương diện trong truyện ngắn Lý Lan : về cảm hứng nghệ thuật, nhân vật và phong cách
Trang 6- Năm 2001, Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội cho ra mắt độc giả quyển sách Một
góc phố Tàu do Vương Trí Nhàn tuyển chọn và viết phần giới thiệu Đây là bài viết
công phu, mang những nhận định tổng quát nhất về văn xuôi Lý Lan
2.3.3 Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hoàng Diệu từng gây xôn xao văn đàn Việt bởi tập truyện Bóng đè đầy ám
ảnh Trong lời giới thiệu tập truyện, nhà văn Nguyên Ngọc đã rất ưu ái khi nhận xét về nhân vật phụ nữ của Đỗ Hoàng Diệu và vấn đề mà Đỗ Hoàng Diệu đặt ra lớn hơn rất nhiều so với số phận đàn bà
- Ngoài ra có thể tìm thấy những bài viết về Đỗ Hoàng Diệu, những bài phỏng vấn trên các trang báo mạng chẳng hạn như trên Việt báo số ra ngày 25-9-2005 có đăng bài
Đỗ Hoàng Diệu và “Bóng đè” trong ngày giông bão, ghi lại buổi ra mắt sách Bóng đè
của Đỗ Hoàng Diệu và những ý kiến về cuốn sách Ở đó, hơn một lần Đỗ Hoàng Diệu
đã khẳng định : “Tôi không viết về tình dục Tôi viết về những điều khác và tôi mượn
tình dục để đề cập những vấn đề đó” Ngoài ra còn một số ít những bài phỏng vấn Đỗ
Hoàng Diệu đăng trên tập san Hợp Lưu, nhà văn có nói về những tác phẩm khác của
mình chưa được in trong Bóng đè như Tình chuột hay Những sợi tóc màu tang lễ
Nhìn chung những bài viết về Đỗ Hoàng Diệu còn khá ít ỏi, giới nghiên cứu phê
bình mới chỉ nhìn nhận Bóng đè ở phương diện một hiện tượng văn học đương thời mà
ít ai quan tâm đến những giá trị khác của tác phẩm
Từ điều trình bày ở trên có thể thấy rằng mặc dù ở Việt Nam, dòng văn học nữ đã được chú ý, khẳng định nhưng những công trình nghiên cứu, tiếp cận tác phẩm mới chỉ dừng lại ở những nhận định tổng quát nhằm nhận diện đặc điểm của văn học nữ, hoặc một phương diện về mặt nội dung hoặc nghệ thuật trong tác phẩm Những công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp cận tác phẩm từ ảnh hưởng của khoa học nghiên cứu về giới cũng như nhìn một cách toàn diện những phương diện biểu hiện ý thức giới trong tác phẩm của các nhà văn nữ vẫn là một khoảng đất trống Bởi vậy chúng tôi lựa chọn
Trang 7đề tài này với hi vọng có một cái nhìn thấu đáo hơn đối với ba nhà văn nói riêng và dòng văn học nữ tính ở Việt nam đương đại nói chung
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát những đặc điểm giới thể hiện trong các sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu, qua đó góp một cách tiếp cận đối với tác phẩm của ba tác giả nói trên, nhằm khẳng định những thành tựu độc đáo mà Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu đã đóng góp cho văn học nước nhà nói riêng và thành tựu của dòng văn học nữ tính nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Những vấn đề chung về giới, quá trình nghiên cứu về giới trong văn học trên thế giới và ở Việt Nam
- Những phương diện nội dung và nghệ thuật thể hiện vấn đề giới trong sáng tác của ba nhà văn Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Chúng tôi khảo sát các tác phẩm của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu :
+ Về Đỗ Hoàng Diệu, chúng tôi khảo sát tập truyện Bóng đè và một số truyện ngắn khác như Tình chuột, Những sợi tóc màu tang lễ
+ Về Lý Lan, chúng tôi tập trung khảo sát :
Cỏ hát (1983)
Chút lãng mạn trong mưa (1987)
Chiêm bao thấy núi (1991)
Truyện Lý Lan, Nguyễn Thị Minh Ngọc, Nguyễn Hải Chí (1992)
Đất khách (1995)
Dị mộng (1999)
Quá chén (2000)
Trang 8Một góc phố Tàu (2001)
Truyện ngắn bốn cây bút nữ (2002)
Người đàn bà kể chuyện (2006)
Hồi xuân (2009)
Và tiểu thuyết : Tiểu thuyết đàn bà (2008)
+ Về Y Ban, chúng tôi khảo sát các tập truyện :
I am đàn bà, nxb Hội Phụ nữ, năm 2006
Hành trình tờ tiền giả, nxb Hội nhà văn, năm 2009
Người đàn bà có ma lực, nxb Hà Nội, năm 1983
Người đàn bà sinh ra trong bóng đêm, nxb Hội Nhà văn, Hà Nội,1995
Tiểu thuyết Xuân Từ Chiều, 2009
Ngoài ra chúng tôi cũng khảo sát thêm các tác phẩm của một số cây bút nữ khác ở phương Tây, Trung Quốc và Việt Nam để có thêm cái nhìn so sánh và tổng quát
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống được vận dụng để xem xét các chi tiết, các vấn đề, các phương diện của tác phẩm văn học trong tính chỉnh thể của nó Vận dụng phương pháp này, người viết sẽ xem xét được sáng tác của ba nhà văn với những biểu hiện của vấn
đề giới một cách hệ thống chứ không phải là những vấn đề riêng biệt, lẻ tẻ Qua đây, người viết cũng thấy được sự vận động của từng ngòi bút trong sự vận động của văn học nữ trong và ngoài nước nói chung
5.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu
Phương pháp này giúp người viết thấy được những đặc điểm riêng biệt trong sáng tác của ba cây bút nữ trong tương quan với nhau và tương quan với các cây bút nữ Việt Nam đương đại khác Hơn thế qua đó, chúng tôi còn nhìn thấy những đặc điểm riêng biệt của vấn đề giới ở Việt Nam so với văn học khu vực và thế giới
Trang 95.3 Phương pháp liên ngành
Nhờ phương pháp này người viết có thể vận dụng các thành tựu của các môn khoa học khác như sinh học, tâm lý học, xã hội học,… để kiến giải một cách thuyết phục những biểu hiện, những ưu thế phái tính thể hiện trong sáng tác của các nhà văn nữ
6 Dự kiến đóng góp
Với đề tài này chúng tôi hi vọng góp phần làm rõ những độc đáo về thành tựu sáng tác của ba tác giả tiêu biểu nói trên về phương diện giới Qua đó khẳng định sức mạnh và những ưu thế riêng của dòng văn học nữ Việt Nam đương đại
Mặt khác với đề tài này, chúng tôi hi vọng nhìn nhận một cách thấu đáo những vấn
đề của văn học nữ đương đại trong quá trình hội nhập với văn học thế giới
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, chúng tôi dự kiến phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giới
Chương 2: Vấn đề giới trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu nhìn từ những biểu hiện nội dung
Chương 3: Vấn đề giới trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu nhìn từ phương diện nghệ thuật
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1 Những vấn đề chung về giới
1.1 Khái niệm giới
1.1.1 Giới là một vấn đề khoa học
1.1.1.1 Giới dưới cái nhìn sinh học
Dưới cái nhìn sinh học, giới tính là thuật ngữ dùng để phân biệt sự khác biệt về thể xác giữa hai mô hình cấu trúc : giới nam và giới nữ Sự khác biệt về hai giới có thể nhận thức được qua vóc dáng, hình thể một cách dễ dàng Bên cạnh đó, giới tính được phân biệt rõ ràng qua các đặc điểm sinh học bên trong như về nhiễm sắc thể, cơ quan sinh dục và cấu trúc não bộ
Những đặc điểm sinh học này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến việc phân công lao động xã hội, quy định cách nam, nữ tìm hiểu thế giới khách quan Trong đó, những đặc điểm về cấu trúc não bộ thường được đề cập đến như một nguyên nhân chủ yếu Theo các nhà khoa học, bộ não của nam giới lớn hơn bộ não của nữ giới đến 8%, tuy nhiên kích thước này không ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của hai giới Não của đàn ông lớn hơn tương ứng với vóc dáng to lớn của họ Nghiên cứu của các nhà khoa học cũng chi ra rằng ở nam giới não trái thường làm việc tích cực và phát triển hơn còn ở
nữ giới là não phải Do đó, khả năng phân tích, thiên về khái quát được coi là một trong những ưu điểm của nam giới Còn ở nữ giới thì với việc ghi nhớ những sự việc lẻ tẻ, chú trọng tiểu tiết, thiên về cảm xúc là những hoạt động mà não phải có chức năng đảm nhiệm Khi tiếp nhận tín hiệu từ một đối tượng, đại não nam giới chỉ bị tác động một mặt còn ở nữ giới là hai mặt Bởi vậy, nữ giới thường “đa năng” có thể làm nhiều việc một lúc còn nam giới thường làm việc tập trung hơn Chính những đặc điểm này khiến nam giới được đặt vào những vị trí cần sự khái quát, phân tích trong khi những vị trí
Trang 11cần sự tỉ mỉ, khéo léo là sự ưu tiên cho phụ nữ Trong sáng tác văn học, người ta cũng
dễ dàng liên tưởng đến những sáng tác thiên về lý trí, tổng hợp hiện thực khách quan của các nhà văn nam còn sáng tác của các nhà văn nữ thường có xu hướng tự truyện, thiên về cái chủ quan, giàu cảm xúc Lẽ tất nhiên, không thể coi đặc điểm đó là quy luật trong sáng tác văn học dẫu không thể phủ nhận ảnh hưởng của giới tính đến công việc sáng tạo văn chương
Những đặc điểm sinh học về giới đôi khi trở thành lý do diễn giải cho quyền lực của mỗi giới trong xã hội Không chỉ là lý do về mặt sức vóc, hình thể khiến nam giới chiếm ưu thế trong quá trình phân công lao động, mà đôi khi những đặc điểm sinh học còn mang tính nguyên nhân một cách võ đoán để thiết lập quyền lực cho nam giới Chẳng hạn như về cơ quan sinh dục, người ta dễ dàng liên tưởng sự cương lên của dương vật với động lực sống của sự phồng lên Trong ngôn ngữ, từ chỉ tinh dịch laâmara với yếu tố gốc là aâmara là làm đầy, hưng vượng,…gợi lên sự viên mãn, cái đầy sức sống và làm cho đầy sức sống Còn phụ nữ thường được liên hệ với sự ẩm ướt,
rỗng, thiếu sinh khí,…Sự võ đoán đó theo Pierre Bourdieu trong Sự thống trị của nam
giới cho rằng đã được vĩnh viễn hóa và trở thành một lý do cho quyền lực của nam
giới Các nhà nữ quyền luận do đó đã nhìn thấy những hạn chế mà thuật ngữ giới tính – sex, sexe đem lại, từ đó sáng lập ra thuật ngữ giới – gender, gende, nhằm khu biệt những đặc điểm của hai giới không mang tính sinh học mà về mặt tâm lý, kinh tế, xã hội,…để lý giải một cách thuyết phục vì sao phụ nữ bị áp đặt bởi một địa vị kém hơn hẳn đàn ông, từ đó tạo cơ sở cho công cuộc đấu tranh đòi bình đẳng giới Công cuộc đấu tranh đó được hỗ trợ đắc lực bởi khoa học nghiên cứu về giới trong các ngành tâm
lý học, xã hội học
1.1.1.2 Giới dưới cái nhìn của các ngành khoa học khác
Trong tâm lý học đã hình thành cả một chuyên ngành nghiên cứu về giới, đó là tâm
lý học giới Tâm lý học về giới khắc phục những quan điểm phiến diện cho sự thống trị của nam giới là do những điều kiện tự nhiên quyết định và chỉ ra nguồn gốc của sự
Trang 12khác biệt giới trong xã hội là do hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, điều kiện văn hóa, xã hội
Xã hội học cũng quan tâm đến vấn đề giới để từ đó chỉ ra các nhân tố xã hội đã tác động đến sự phân chia giới và sự bất bình đẳng giới Trong xã hội học, ta tìm thấy những đặc điểm khác biệt giữa nam và nữ về gia đình, xã hội, phân công lao động xã hội…những yếu tố tác động đến sự phân biệt giữa hai giới trong xã hội
Theo đó, nguồn gốc của bất bình đẳng giới bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội Trong lịch sử, dưới chế độ nguyên thủy, cuộc sống con người được tổ chức theo bầy đàn, quan hệ huyết thống giữ vai trò chi phối hoạt động của tổ chức xã hội này Do
đó người giữ vai trò nuôi dưỡng, duy trì quan hệ huyết thống trở thành người có địa vị cao nhất Trong cuộc sống quần hôn, địa vị đó thuộc về người phụ nữ cùng sự hình thành tổ chức xã hội mẫu quyền Tuy nhiên, khi lao động phát triển, đồng thời với những công việc cần sức vóc của đàn ông là chiến tranh, cướp bóc…, vai trò của người đàn ông được nâng cao đã chuyển chế độ xã hội trở thành xã hội phụ quyền Từ đó dưới sự ủng hộ của các quan niệm, phong tục tập quán, địa vị thống trị của người đàn ông được giữ nguyên cho tới xã hội hiện đại
Những đặc điểm về văn hóa, lịch sử sẽ tạo nên một áp lực tâm lý khiến cho việc phân biệt giới tính trở nên rõ nét Tâm lý thích đẻ con trai hơn con gái, việc con trai được học hành, được khuyến khích tham gia các hoạt động xã hội là một nét tâm lý phổ biến Chính những điều kiện học hành này đã trở thành một yếu tố quan trọng củng
cố địa vị của nam giới trong đời sống xã hội Lấy ví dụ như ở Việt Nam chẳng hạn, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn có một gốc rễ sâu bền thể hiện ở việc coi trọng con trai, coi công việc nội trợ, chăm sóc con cái là công việc của phụ nữ, khi chia thừa kế thường chia cho con trai nhiều hơn, coi việc thực hiện các biện pháp tránh thai là việc của phụ nữ,…
Theo số liệu điều tra về thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam (dẫn theo Sổ tay tuyên truyền luật bình đẳng giới), tỷ lệ người phụ nữ đứng tên chủ hộ trong gia đình
Trang 13chỉ bằng 1/3, điều đó đồng nghĩa với việc phụ nữ có rất ít cơ hội để tham gia các hoạt động cộng đồng Trong phân công lao động gia đình có tới 65,5% ý kiến khẳng định công việc nội trợ và chăm sóc con cái hoàn toàn do phụ nữ đảm nhiệm Người đàn ông được dành thời gian để lo những việc chính, tham gia công tác xã hội, v.v Trong phân công lao động xã hội, bất bình dẳng giới thể hiện khá rõ: Hầu hết các vị trí công việc của cán bộ, công chức nữ đều là những công việc giản đơn, sự vụ đòi hỏi tính tỉ mỉ, cẩn thận nhiều hơn là sự năng động, sáng tạo như đánh máy, văn thư, đóng gói sản phẩm Nam giới ở nông thôn được đặt gánh nặng về thu nhập, nam giới trong các cơ quan, doanh nghiệp chiếm tỉ lệ tương đương với phụ nữ nhưng ở những vị trí công việc tốt hơn rất nhiều so với phụ nữ Sở dĩ có sự bất bình đẳng này là do việc nam giới luôn được ưu tiên cho việc học hành và tham gia các hoạt động xã hội Một người đàn ông
có thể lo phấn đấu cho sự nghiệp của mình và trở về nhà vào rất khuya, trong khi người phụ nữ được khuyến khích để đảm nhiệm công việc gia đình nhiều hơn
Như vậy tâm lý học và xã hội học đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới có nguồn gốc
từ những quan niệm, văn hóa, xã hội và môi trường sống Quan điểm này được các nhà
nữ quyền luận hưởng ứng Simone de Beauvoir cho rằng "Người ta không sinh ra là đàn bà, người ta trở thành đàn bà dưới ảnh hưởng giáo dục phụ quyền chế” Bourdieu cho rằng điều đó cũng đúng cho đàn ông "Người ta không sinh ra là đàn ông, người ta trở thành đàn ông” và xuyên qua cả một nền giáo dục, tạo nên bởi nghi thức hội nhập của chuẩn nam giới, mà căn cước đàn ông đã được đẽo thành hình, người đàn ông đã bảo đảm được chức năng chế ngự trong xã hội Chức năng chế ngự này còn được thể hiện ở trong những lĩnh vực văn hóa tinh thần mà văn học là một hình thái ý thức xã hội tiêu biểu
1.1.2 Giới trong sáng tác văn học
Sự phát triển của khoa học nghiên cứu về giới đã đem đến một cái nhìn thấu đáo hơn về vị trí, mối quan hệ của hai giới trong xã hội Đó là cơ sở lý thuyết của phong trào nữ quyền luận những năm 60, 70 của thế kỉ trước Lý thuyết về giới cũng có ảnh
Trang 14hưởng quan trọng tới sáng tác văn học mà tiêu biểu là sự xuất hiện của dòng văn học
nữ quyền trên thế giới Tuy nhiên, nói về giới trong sáng tác văn học là nói tới một khái niệm không đồng nhất với văn học nữ quyền Nếu như văn học nữ quyền viết dưới
ảnh hưởng của chủ nghĩa nữ quyền, được định nghĩa : “Chủ nghĩa nữ quyền là suy nghĩ
về sự bình đẳng của hai phái trong xã hội và sự phản đối có tổ chức đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái Chủ nghĩa nữ quyền không thừa nhận mẫu văn hóa chia khả năng của con người thành đặc điểm nam tính và nữ tính và tìm cách xóa
bỏ sự bất lợi trong xã hội mà phái nữ thường gặp ” [dẫn theo 43- 66] Văn học nữ
quyền từ đó được hiểu như một dòng văn học dấn thân, đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ, được viết bởi phụ nữ Còn nói tới vấn đề giới trong sáng tác văn học là đề cập đến một vấn đề rộng hơn vấn đề nữ quyền, đó là tương quan giữa hai giới trong sáng tác văn chương, những ưu thế riêng của từng giới trong sáng tác Lẽ tất nhiên vai trò sáng tác của nam giới đã được lịch sử công nhận nên nói tới vấn đề giới trong văn học, đặc biệt là văn học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là chủ yếu nói tới sáng tác của các cây bút nữ trong quá trình tự khẳng định mình, khẳng định bản sắc riêng của giới mình
Viết văn là một công việc khó, dù là nam hay nữ đã theo đuổi nghiệp văn chương đều phải đương đầu với rất nhiều khó khăn Tuy nhiên nói tới chủ thể trong sáng tác văn chương phải thừa nhận rằng khó khăn bao giờ cũng thuộc về các nhà văn nữ Văn chương vốn dĩ được coi là địa hạt của sự thanh tao, cao quý và người phụ nữ đi liền với bóng tối, sự thấp hèn dĩ nhiên không được khuyến khích để làm công việc này Bởi vậy vấn đề giới trong sáng tác văn học không được quan tâm trong lịch sử văn học thế giới cho tới khi phong trào nữ quyền nổ ra rầm rộ trên thế giới tràn sang cả lĩnh vực văn học Dưới thời chủ nghĩa Khai sáng, vấn đề giới được quan tâm nhiều hơn bao giờ hết Trước hết nó được thể hiện ở việc vươn lên khẳng định mình của các cây bút nữ Ở phương Tây, các nhà văn lớn như Virgina Woolf, Simone de Beauvoir đã đặt nền
Trang 15móng cho văn học nữ quyền Các tác giả nữ đã khẳng định mình có quyền ngang hàng với nam giới trong sáng tác văn học nói riêng và đời sống xã hội nói chung
Lẽ tất nhiên khi đặt cạnh một nhà văn nam với một nhà văn nữ, sẽ thấy rất nhiều khác biệt trong cách nhìn nhận, phản ánh Khác biệt về đặc điểm giới sẽ giải thích sự khác biệt trong cách nhà văn lý giải và phản ánh thế giới khách quan mà biểu hiện rõ nhất là viết về người phụ nữ Dưới cái nhìn nam quyền của các tác giả nam, phụ nữ chưa bao giờ được trả về đúng với vị trí của mình Dù có những trang viết thật đẹp về người phụ nữ thì cuối cùng vẫn chỉ dừng lại ở cái nhìn đầy thương hại hoặc là một cái nhìn chiêm ngưỡng từ xa Trong tác phẩm được viết bởi giới mình, người phụ nữ mới được khẳng định ý thức về giới tính, niềm tự hào giới và được đòi hỏi những quyền lợi
mà dưới hệ tư tưởng nam quyền chưa bao giờ có được Người phụ nữ ngày hôm nay tự tin bước vào văn học như thế
Nói về vấn đề giới trong sáng tác văn chương không thể không đề cập đến vấn đề tình dục Vốn được coi là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt giới tính đồng thời là mảnh đất riêng của đàn ông, nay tình dục đã trở thành một cánh cửa rộng
mở đón nhận các cây bút nữ Nơi đây, họ đã thể hiện những ưu thế, những suy ngẫm riêng của phái mình Công việc này đã được thực hiện bởi các nhà văn nữ Tây Âu nhiều thế kỉ trước và nay trở thành một đề tài nóng bỏng trong văn học các nước
phương Đông
Như vậy nói đến giới trong sáng tác văn học là nói đến sự vươn lên của chủ thể nữ trong sáng tác, ở những đặc điểm riêng biệt của văn học nữ tính so với văn học do nam giới sáng tác trong đó tiêu biểu là sự thay đổi về cách nhìn nhận hình tượng người phụ
nữ, về tính dục trong văn chương Chính những đặc điểm riêng biệt này đã khẳng định vai trò của các cây bút nữ, góp phần không nhỏ cho công cuộc đấu tranh bình đẳng giới trong xã hội
Trang 161.2 Quá trình nghiên cứu, sáng tác về giới trên thế giới
Kinh thánh, khi kể về nguồn gốc của loài người, đã nói rằng Adam được sinh ra đầu tiên và Eva được sinh ra từ chiếc sương sườn của Adam Hơn nữa, Eva đã mang trọng tội khi là người dụ dỗ Adam ăn trái cấm Thần thoại Hy Lạp lại viết Promete khi trao ngọn lửa cho loài người đã dặn con người không được nhận bất cứ vật phẩm gì của Dớt Còn Dớt đã tìm cách hủy hoại loài người bằng một vật phẩm vô cùng xinh đẹp đó
là người đàn bà Như vậy chữ loài người trong thần thoại chỉ bao gồm đàn ông còn phụ
nữ chỉ là vật phẩm Không những thế, người phụ nữ do bản tính tò mò đã trở thành mầm mống reo rắc những hạt giống của sự bất hạnh, chết chóc, khổ đau… cho loài người
Vậy là ngay từ những trang viết đầu tiên, người ta đã có sự phân biệt những đặc điểm của nam giới và nữ giới và ngay từ giờ phút đó, địa vị của người đàn ông đã được xác lập còn người phụ nữ mặc nhiên đeo trên mình gánh nặng tội đồ, đáng nhận địa vị thấp hèn và bị trừng phạt
Lẽ dĩ nhiên, trong lịch sử loài người đã có thời kì quyền lực trong xã hội thuộc về người phụ nữ Tuy nhiên, sau giai đoạn này, bằng sự thay đổi vai trò của mình trong sản xuất, nam giới đã khẳng định địa vị của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội và văn chương không nằm ngoài những lĩnh vực đó Vốn được coi là một công việc cao quý, văn học đã sớm trở thành một đặc quyền của nam giới Trong lịch sử văn học, tác giả của những bộ sử thi vĩ đại thường được gắn với huyền thoại về một tác giả nam nào đó, những tác gia văn học lớn trong các thời kì văn học phục hưng, cổ điển,…đa phần đều là các tác giả nam Các tác giả nữ khi muốn xuất hiện thì thường phải lấy bút danh giả mạo là nam Đó là : Emst Ahlgren (Victoria Benecdiction, Thụy Điển), George Eliot (Mary Anne Evans, Anh), George Sand (Aurore Dupin, Pháp) và Feman Caballero (Cecelia Bohl, Tây Ban Nha) Họ đã phải che giấu giới tính của mình
để những tác phẩm vượt qua được những thiên kiến và xuất hiện trước độc giả Vậy là chỉ có một giới tính duy nhất tồn tại trong văn học, chỉ có một cách nhìn nhận duy nhất
Trang 17về thế giới khách quan, đó là cái nhìn của nam giới Các tác giả nữ phải tự biến mình thành đàn ông, có cách suy nghĩ, nhìn nhận của đàn ông Bởi cái nhìn của nam giới được coi là chân lý
Dưới sự thống trị của nam giới, cuộc đấu tranh giành lại vị thế đã mất của nữ giới vẫn âm ỉ trong mọi lĩnh vực của đời sống Cuộc đấu tranh này nhanh chóng trở thành cao trào dưới thời chủ nghĩa Khai sáng nhưng lần giở lại lịch sử có thể thấy tư tưởng
nữ quyền đã xuất hiện sớm hơn, đầu tiên là vào thế kỉ XV bằng tiếng nói phản kháng của Christine de Pisan, một nữ khoa học gia người Pháp Bà đã cảnh báo tình trạng phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong xã hội Đến thế kỉ XVII, với chủ nghĩa Khai sáng, tư tưởng nữ quyền đã phát triển thêm một bước và người được coi là tổ mẫu của
chủ nghĩa nữ quyền là Mary Wollstonecraft với tác phẩm A vindication of the Right of
Women ( Một biện minh cho quyền của phụ nữ) ra đời năm 1792 Đây là một trong
những công trình đầu tiên của triết học nữ quyền Trong đó, Wollstonecraft lập luận rằng phụ nữ nên có một nền giáo dục tương xứng với vị trí của họ trong xã hội và dựa vào tiền thu được sau đó để xác định lại vị trí đó, tuyên bố rằng phụ nữ là rất cần thiết cho quốc gia bởi vì họ giáo dục con của nó và bởi vì họ có thể "đồng hành" với chồng Thay vì xem phụ nữ như đồ trang trí cho xã hội, tài sản được giao dịch trong hôn nhân, Wollstonecraft cho rằng họ là con người xứng đáng được hưởng các quyền cơ bản như nam giới
Sau Mary Wollstonecraft, Virgina Woolf (1882-1991) đã cống hiến cuộc đời mình cho văn học nói chung và văn chương nữ tính nói riêng, bà đã trở thành một trong
những tác giả lừng danh của tiểu thuyết hiện đại Với tập bút kí Căn phòng riêng (A
room of one’s own, 1929), bà được xem là một cây bút đầu tiên chạm đến vấn đề nữ
quyền trong văn học Virgina Woolf khẳng định rằng, một người phụ nữ muốn sáng tác phải có một căn phòng cho riêng mình thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của nam giới Tuy nhiên, người được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử văn học nữ quyền phải kể
đến Simone de Beauvoir (1908-1986) với quyển sách vĩ đại Giới nữ còn được dịch là
Trang 18Giới thứ hai (The second sex) ra đời năm 1949 Ở đây, Beauvoir đã tiến hành một
cuộc đại phẫu đặt phụ nữ trong tất cả các phương diện : văn hóa, lịch sử, tôn giáo…để phơi bày đời sống của người phụ nữ đã bị uốn nắn ra sao cho phù hợp với khuôn mẫu
mà xã hội nam quyền đã đặt ra Bà kết luận rằng vấn đề bất bình đẳng nam nữ không
do tự nhiên quyết định mà là một vấn đề về văn hoá : « Không phải với cơ thể sinh học,
mà với cơ thể sinh học gắn chặt với những điều cấm kị, những luật lệ mà chủ thể ý thức về bản thân và tự hoàn thiện : chính dựa trên những giá trị mà cá nhân nâng cao phẩm cách » vì vậy mà « Người ta sinh ra không phải là phụ nữ mà trở thành phụ
nữ » (câu nói này đã trở thành một tuyên ngôn bất hủ của bà đối với chủ nghĩa nữ
quyền luận Pháp) [dẫn theo 16]
Dưới sự mở đường của Virgina Woolf và Simone de Beauvoir, từ cuối những thập niên 60 đến đầu những năm 70 của thế kỉ XX, văn học nữ quyền bắt đầu khẳng định vị thế của mình Từ giữa những thập niên 1970, những công trình nghiên cứu mang tính
lý luận về giới đã đem lại một định nghĩa cho thuật ngữ phê bình văn học Nữ quyền Trên thế giới, hàng loạt những tên tuổi lớn của phê bình văn học nữ quyền xuất hiện như : Mary Jacobus, Rosalind Coward, của Anh hay Hélène Cixous và Julia Kristéva của Pháp Đời sống văn chương thế giới cũng xôn xao bởi sự xuất hiện của ngày càng nhiều các tác giả nữ như : Marguerite duras, Toni Morrison, Annie Ernaux… văn học
nữ lộ diện và nở rộ bằng tất cả sức sống mãnh liệt của sự sáng tạo Đáng chú ý trong
giai đoạn này là cuốn sách được giải nobel văn học năm 2010 The golden notebook (Máy tính xách tay vàng), cuốn sách được coi là kinh thánh của văn học nữ quyền, dù
Doris lessing không tự nhận mình viết riêng cho phái nữ nhưng với ảnh hưởng sâu rộng của cuốn sách, tác giả đã góp phần lớn vào việc chứng minh sức sáng tạo của phái
nữ trong sáng tác văn chương
Ở các quốc gia phương Đông, văn học nữ quyền phát triển theo một hướng riêng biệt Do những đặc trưng về văn hóa, lịch sử, ý thức nữ quyền trong văn học ở đây chưa cao Tuy nhiên, sau Đại hội phụ nữ thế giới 1995 tổ chức ở Bắc Kinh, văn học nữ
Trang 19ở phương Đông đã chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ Nhiều tác phẩm lý luận văn học nữ quyền ở phương Tây được dịch và truyền bá rộng rãi Phong trào nghiên cứu văn học nữ ngày càng phát triển Trung Quốc là quốc gia tiêu biểu cho lĩnh vực này Vượt qua thành trì của hệ tư tưởng phong kiến hàng vạn năm, các nhà văn Trung Quốc đã tiến hành một cuộc cách mạng đánh vào hệ tư tưởng nam quyền, khẳng định
vị thế và sức mạnh riêng của văn học nữ giới Từ những năm của thập kỉ 80 đến thập kỉ
90, văn học nữ Trung Quốc đã thể hiện sự thức tỉnh về giới tính, ý thức về giá trị của bản thân Nhưng từ những năm cuối thập kỉ 90 mới được coi là giai đoạn bùng nổ của văn học nữ Trung Quốc với sự xuất hiện của hàng loạt những cây bút nữ trẻ được coi là những “mỹ nữ viết văn” Đa phần các tác giả nữ thuộc dòng văn học “linglei” như Vệ Tuệ, Sơn Táp, Cửu Đan,… với những tác phẩm có sức ảnh hưởng mạnh mẽ, với những điểm nhìn khai thác chỉ có ở những cây bút nữ Ở các quốc gia khác như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, …những năm gần đây văn học nữ đã đạt được nhiều thành tựu
và trở thành một vấn đề nóng bỏng được xã hội quan tâm Trái lại ở các quốc gia phương Tây, văn học nữ quyền những năm gần đây không còn đề cao vấn đề đấu tranh bình đẳng giới mà đi vào những biểu hiện da dạng của giới nữ trong đời sống Đây không phải là sự phủ nhận của phong trào nữ quyền trước đây mà trái lại là một sự kế thừa, phát triển hợp lý, vì thừa nhận bình đẳng giới có nghĩa là không còn cuộc đấu tranh phân biệt giữa hai giới, phân biệt giữa hai dòng văn học nữ tính và nam tính 1.3 Nghiên cứu về giới trong văn học ở Việt Nam
Nếu ngự ở đỉnh cao của dãy Ôlempơ là thần Dớt thì ở phương Đông vị trí đó thuộc
về thần mặt trời, tức cũng là một vị thần Nam Không những thế ở các quốc gia phương Đông tư tưởng nam quyền còn có một gốc rễ sâu bền và vì vậy công cuộc giải phóng phụ nữ gặp vô vàn khó khăn Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó Là một quốc gia có nền văn hóa chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa đạo Nho, nơi mà tư tưởng trọng nam khinh nữ chi phối mọi mặt của đời sống xã hội Văn chương, một thú vui tao nhã, nơi thể hiện trình độ học vấn, tài năng của bậc chính nhân quân tử rõ ràng
Trang 20không phải là lĩnh vực dành cho phụ nữ Từ Văn học dân gian đến văn học Trung đại, địa vị độc tôn trong sáng tác văn chương luôn là của nam giới Hình ảnh của những người phụ nữ xinh đẹp, giỏi giang nhưng chỉ có một thân phận phụ thuộc, một số kiếp đáng thương trở đi trở lại trong ca dao, truyện cổ tích hay những tác phẩm lớn như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc,…đã phản ánh địa vị của người phụ nữ trong xã hội Vấn đề giới chưa có cơ hội để xuấ hiện dù đã tồn tại một hiện tượng hiếm hoi như Hồ Xuân Hương với ý thức khẳng định tài năng, chống lại định kiến của xã hội.Thế nhưng cả ngay khi chế giễu đàn ông rồi khẳng định tài năng của mình :
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu ?”
Thì đồng thời cũng là một lời chấp nhận đầy chua chát, chỉ có đàn ông mới có thể làm nên sự anh hùng
Ý thức về giới trong bộ phận sáng tác nữ chỉ thực sự được manh nha trong những năm đầu của thế kỉ XX dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học phương Tây mà điển hình là văn học Pháp Đây được đánh giá là giai đoạn nữ quyền Việt Nam phát triển tương đối sôi nổi mà Phan Khôi, Nguyễn Thị Kiêm là những cây bút có nhiều đóng góp cho phê bình văn học nữ thời kì này Sự xuất hiện của đông đảo những cây bút nữ, những năm
ba mươi của thế kỷ XX, đã đưa phong trào nữ quyền Việt Nam trỗi dậy không chỉ nằm im lìm dưới dạng tư tưởng, đã mang ý thức tự giác chứ không còn đơn thuần là sự tự phát Các cây bút nữ xuất hiện với nhiều dáng vẻ, nhiều giọng điệu Họ góp gương mặt mình trong cả lĩnh vực sáng tác thơ ca lẫn tiểu thuyết, nắm bắt nhịp phát triển mới mẻ, sôi nổi và tràn đầy sức
sống của thời đại Về lượng, theo thống kê của nhà nghiên cứu Bằng Giang, “tính đến năm
1930, văn học quốc ngữ Nam kỳ có non 20 tác giả nữ còn để lại tác phẩm in thành sách” Sự
góp mặt của những cây bút nữ trong lĩnh vực văn xuôi quốc ngữ có thể nhắc đến : Phan Thị Bạch Vân, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Trần Thị Như Mân, Huỳnh Anh Thị, Ái Lan… Bên cạnh đó, cánh cửa thi ca đầu thế kỷ XX cũng xôn xao những gương mặt: Nguyễn Thị Manh Manh,
Trang 21Đạm Phương Mộng Tuyết, Trần Kim Phụng (Đinh Hương Đặng Thị Hồi), Trần Ngọc Lầu, Anh Thơ, Ngân Giang, Vân Đài, Hằng Phương… Họ đã đứng cạnh những cây bút nam trong thời đại thơ Mới và vẽ thêm vào bức tranh của thời đại thi ca ấy giọng thơ riêng với sắc màu
nữ tính mềm mại, uyển chuyển: “Một Anh Thơ chân tình mộc mạc, một Mộng Tuyết trong
trẻo, hồn nhiên, một Ngân Giang tài hoa, cổ kính, một Hằng Phương đằm thắm, ngọt ngào, một Vân Đài duyên dáng dịu nhẹ… và bấy nhiêu thôi cũng đủ góp phần cho cung đàn thơ ca Việt Nam thêm đa dạng về âm sắc và giọng điệu” [dẫn theo 58]
Tuy vậy, những đóng góp của văn chương nữ lưu thời kỳ này chỉ khuôn trong các giá trị sàn, thuộc về mặt bằng chung chứ chưa thể tạo nên những đỉnh cao, những nhảy vọt tột bậc
Vì vậy, đây là một hệ giá trị phẳng Họ xuất hiện nhiều và ít nhiều có bản lĩnh, nhưng họ chưa
có bệ phóng và chưa đủ nội lực để làm nên một bộ phận thơ ca cho riêng giới của mình Tuy vậy, sự xuất hiện của những cây bút nữ đã góp phần phá vỡ thế độc tôn của văn học nam giới suốt nhiều thế kỉ, khẳng định tiếng nói của nữ giới trên văn đàn
Nhìn lại lịch sử văn học sẽ thấy cùng với thời gian con số phụ nữ viết văn, làm thơ
ngày càng tăng với ý thức nữ quyền sâu sắc Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt
Nam xuất bản năm 1942 đã giới thiệu bảy nhà thơ nữ trên tổng số 46 nhà thơ Sau
1945, ở miền Bắc, số lượng các cây bút nữ tăng lên nhiều Theo tác giả Châm Khanh
trong bài Phụ nữ và văn chương đăng tải trên trang báo điện tử tienve.org, trong cả
thảy hơn 750 hội viên chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam từ 1957 đến 1997 có hơn
70 tác giả nữ, chiếm tỉ lệ chưa tới 10% nhưng đã cao hơn trước Còn theo Võ Phiến
trong cuốn Văn học Miền Nam, tổng quan thì ở miền Nam từ 1954 đến 1975 trong số
khoảng 60 tác giả tương đối có tiếng tăm, các cây bút nữ chiếm tỉ lệ 17%
Song giai đoạn văn học thực sự chứng kiến sự lên ngôi của văn học nữ chính là những năm cuối thế kỉ XX Với sự xuất hiện của hàng loạt những cây bút thực tài như
Y Ban, Lý Lan, Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Ngọc Tư,… đã tạo nên một thời
kì âm thịnh dương suy trong văn học Sự xuất hiện đông đảo, tự tin ấy cũng kéo theo không ít sự chú ý của bạn đọc, giới phê bình Lần đầu tiên sáng tác của các cây bút nữ
Trang 22được tự tin lộ diện, họ không ngừng khẳng định “i am đàn bà”, tự hào về giới tính của mình Người phụ nữ trong tác phẩm văn học không còn hiện lên dưới cái nhìn của hệ
tư tưởng nam quyền mà là một chủ thể tự ý thức, tự khẳng định Các nhà văn nữ không ngần ngại đi sâu vào những lĩnh vực vốn chỉ dành cho nam giới như lịch sử, văn hóa, tính dục Vấn đề giới trong văn học bấy giờ mới được quan tâm một cách đầy đủ và sâu sắc
1.4 Lịch sử nghiên cứu về giới nhìn từ hai phía sáng tạo và tiếp nhận
Sáng tạo và tiếp nhận văn học là hai quá trình luôn tồn tại song song với nhau Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học là để truyền đạt những khái quát, cảm nhận về cuộc đời cho bạn đọc Ngay khi viết, bản thân tác giả đã là một người đọc Do đó, chỉ khi được người đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo kia mới hoàn tất Tiếp nhận văn học là một hoạt động mang tính khách quan chứ không phải một hoạt động chủ quan thuần túy, nó còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa đương thời Trong khâu tiếp nhận,
có hai loại bạn đọc chủ yếu : Thứ nhất là bạn đọc thông thường, thứ hai là các nhà nghiên cứu phê bình chuyên sâu mà ta thường gọi là các nhà phê bình Ngay khi trong văn học có sự phân chia ý thức về giới, đấu tranh cho bình đẳng giới thì hoạt động sáng tạo và tiếp nhận đã không ngừng trải qua những cuộc đấu tranh cho vấn đề này
Trong lịch sử, dưới hệ tư tưởng nam quyền, công việc sáng tác và đàm đạo văn chương vốn dĩ vẫn được ưu tiên cho nam giới Tuy nhiên, nhu cầu được tham gia sáng tác văn học là một nhu cầu tự thân luôn tồn tại trong giới nữ Khi những sáng tác này xuất hiện kéo theo những ý kiến khác nhau của giới phê bình mà xu hướng phổ biến lúc đầu đó là phê phán những tác phẩm được viết bởi nữ giới
Việc sáng tác của phụ nữ chỉ được cho là thứ văn chương đi tìm bản sắc, nghiên cứu tìm tòi về các điều kiện nữ giới, mang tính tự suy ngẫm như nhận định sau đây :
« Văn học nữ chủ yếu mang tính tự ngã (từ Louise Labé đến Simone de Beauvoir) và chỉ được diễn đạt dễ dãi trong thể loại hồi ký (từ Sei Shônagon đến Violette Leduc và Kathleen Raine [dẫn theo 16] Ở Pháp, những thế kỷ trước, văn học nữ bị đánh giá là
Trang 23sự suy đồi của cả một nền văn học vốn được coi là một nền văn học đồ sộ và tiêu biểu của châu Âu Người ta lo sợ rằng sự tham gia của người phụ nữ vào lĩnh vực văn chương sẽ làm mất đi giá trị chung của những người cầm bút và sự mất giá này rồi sẽ
lây lan đến những ngành khác Các nữ nhà văn bị ám chỉ bằng từ « bas-bleu » có nghĩa
là « nữ văn sĩ rởm » Phái nữ viết văn được xem như trái với quy luật, trái với tự nhiên
và là mầm mống của sự thoái hoá trong xã hội và trong văn đàn Baudelaire khi nói về
George Sand viết rằng : “Người đàn bà Sand là một kẻ trung thực vô đạo đức Bà ta
luôn luôn giáo huấn đạo đức Nhưng những điều bà ta làm trước kia toàn là phi đạo đức Hơn nữa bà ta chưa bao giờ là một người nghệ sĩ Bà ta có phong cách viết trôi chảy của giới tư sản Bà ta ngu ngốc, bà ta thô kệch, bà ta ba hoa ; bà ta « có đạo đức » trong những tư tưởng đạo đức, lý luận của bà sâu sắc và tình cảm của bà ta chỉ tinh tế như là một bà giữ cửa hay như những cô gái bao […] Nếu có một vài người đàn ông phải lòng cái hố tiêu này, thì đây đúng là một minh chứng cho sự xuống cấp của nam giới thế kỉ này”[dẫn theo 16]
Đàn ông được xem như độc quyền về tri thức, lý trí Khuynh hướng tình cảm bị chỉ trích là khuyết điểm lớn nhất trong các tác phẩm văn học nữ Người ta cho rằng nó ngăn cản mọi dụng ý về tư tưởng và nghệ thuật, khiến cho các tác phẩm của phụ nữ phần nhiều mang tính ngây thơ, tự phát Mặt khác, các nhà văn nữ thường không tránh khỏi chủ đề về tình dục, giới tính Họ dường như viết để quyến rũ chứ không phải vì bất kì một dự định văn học lớn lao nào Về luận điểm này, Barbey d’Aurevilly nhận
định : “một người phụ nữ có chỉ có thể có tài năng khi nghe theo những cảm xúc cá
nhân, có thể viết chúng ra nhưng rất hiếm khi có khả năng viết nên một cuốn sách vượt
ra ngoài những tình cảm ấy” [dẫn theo 16] Trong khi đó, những tác phẩm của các nhà
văn nam lại được coi là có giá trị chân lý vĩnh hằng
Dẫu có những ý kiến trái chiều như vậy, nhưng phái nữ viết văn vẫn có những ưu thế riêng của mình và được độc giả đón nhận, hoan nghênh Những sáng tác ấy được lý
thuyết phê bình văn học nữ quyền ủng hộ Tác phẩm The second sex vốn được coi là
Trang 24sách vỡ lòng của phê bình văn học nữ quyền Sau sự mở đầu đó là hàng loạt các tác phẩm nghiên cứu, tiếp nhận văn học của phái nữ dưới cái nhìn giới ra đời Song song với những hoạt động nghiên cứu này những cuốn tiểu thuyết mang đậm dấu ấn của
phái nữ lần lượt được tái bản Có thể kể đến tiểu thuyết Bừng tỉnh (The Awakening) xuất hiện từ năm 1899 của Kate Chopin, sau đó là tác phẩm Giấy dán tường màu vàng (The Yellow Wallpaper) của Charlotte Perkins Gilman,…Chính qua hoạt động của
những nhà lý thuyết văn học nữ quyền từ thập niên 60 – 70 của những năm thế kỉ XX
mà nhiều tác phẩm văn học nữ trong quá khứ bị chối bỏ, lãng quên nay được trả lại vị trí xứng đáng
Từ giữa những thập niên 70, những công trình nghiên cứu mang tính lý luận đầu tiên về giới ra đời đã đem lại một định nghĩa cho thuật ngữ phê bình nữ quyền Hàng
loạt những tác phẩm nghiên cứu văn học nữ quyền ra đời như : Sự tưởng tượng nữ
giới (The Female Imagination) của Patricia Meyer Spacks năm 1975, Văn chương nữ giới (Literary Women) xuất bản năm 1976, Nền văn chương của chính họ của cây đại
thụ phê bình Nữ quyền Mỹ Alaine Showalter (1979),…Có thể kể đến hàng loạt những tên tuổi phê bình văn học nữ quyền ở Mỹ như : Annett Kolodny, Adrienne Rich, Marge Piercy, Judy Chicago, Susan Griffin,…với những công trình khái quát sự phát triển của văn học nữ, thể hiện những nhận thức về mỹ học và văn hóa giới nữ ở Mỹ Ở Anh có
sự xuất hiện của những tên tuổi lớn như : Mary Jacobus, Rosalind Coward, Michele Barrett,…với phương pháp phê bình theo khuynh hướng Marxist Ở Pháp là các ngòi bút lý luận như Hélène Cixous và Julia Kristéva,…Những nhà phê bình này đã góp công lớn trong việc bảo vệ các tác phẩm của các nhà văn nữ, nhận diện giá trị của tác phẩm dưới ảnh hưởng của lý thuyết phê bình nữ quyền
Bên cạnh sự tiếp sức hùng hậu của giới phê bình văn học nữ quyền, văn chương nữ cũng tự tin lộ diện với nhiều tác giả tên tuổi như : Jane Austen, Mary Shelley, Charlotte Bronte, Marguerite Duras, Etel Lilian Voinich, Thomas Hardy, Annie Ernaux…Từ những năm 1980 trở lại đây, văn học nữ đã trở thành một hiện tượng mang tính toàn
Trang 25cầu Nhà văn nữ hiện nay không còn hiện lên như một bộ phận văn học mà là niềm
vinh quang của toàn dân tộc Những cái tên J.K Rowling với Harry Potter, Stephenie Meyer với Chạng vạng, đã trở nên vô cùng quen thuộc với độc giả thế giới cùng một
mức doanh thu khổng lồ của tác phẩm Các nhà văn nữ cũng xứng danh cùng các nhà văn nam khi ghi tên mình trong những giải thưởng văn chương quan trọng, đó là Toni Morrison (Nobel 1993), Elfriede Jelinek (Nobel 2004), Doris Lessing (Nobel 2007),…
Từ Phương Tây, văn học nữ nhân rộng ảnh hưởng của mình đến các quốc gia châu
Á, châu Phi Văn học châu Á có những nhà văn nữ nổi tiếng như Yoshimoto Banana, Yamada Amy, Kanehara Hitomi,…của Nhật, Tahmima Anam (Bangladesh), Cửu Đan, Thiết Ngưng, Vệ Tuệ,…của Trung Quốc, Thuận, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Lý Lan,…của Việt Nam Tuy không đề ra một hệ thống lý thuyết hay những phương pháp nghiên cứu riêng biệt về văn học nữ quyền như ở phương Tây, nhưng những công trình nghiên cứu về văn học nữ ngày càng nhiều Tại Trung Quốc, văn học nữ được đánh giá khá đa dạng, đã có đến ba hội thảo học thuật nhà văn nữ đương đại
Vậy là, dù có tồn tại sự phê phán văn học nữ có nhược điểm, ủy mị, tình cảm ướt
át, không nói được những gì lớn lao, văn học nữ vẫn cứ hấp dẫn những độc giả không chỉ nữ giới mà cả nam giới Và yêu cầu được đón nhận những sáng tác của các nhà văn
nữ xuất hiện không chỉ ở những bạn đọc phổ thông mà còn ở cả trong giới nghiên cứu phê bình Đó rõ ràng là minh chứng quan trọng nhất cho sự ảnh hưởng của văn học nữ giới Dần dần ở phương Tây, người ta không còn đề cập đến vấn đề nữ quyền, bởi giờ đây đã không còn có sự phân biệt giữa người viết nam và nữ mà vấn đề là ở tài năng Trong khi đó ở các quốc gia phương Đông tiêu biểu như Việt Nam và Trung Quốc, đây còn là một vấn đề khá nóng bỏng đang thu hút sự quan tâm của giới phê bìnhvà độc giả Các cây bút nữ đang thực sự chiếm một ưu thế lớn trên văn đàn để khẳng định bản sắc của giới mình trong từng trang viết để đi tới một sự tiến bộ mà ở đó không còn phân biệt đâu là nhà văn nam, đâu là nhà văn nữ, mà chỉ là những người nghệ sĩ chân chính của mọi thời đại
Trang 26Chương 2 Vấn đề giới trong sáng tác của Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu
nhìn từ những biểu hiện nội dung
2.1 Khát vọng bình đẳng giới
Trong tác phẩm văn học, người nghệ sĩ luôn thể hiện một xúc cảm khẳng định,
phủ định để nói lên khát vọng của chính mình Biêlinxki nói : “Tư tưởng thơ, đó không
phải là phép tam đoạn thức, không phải là giáo điều, không phải là quy tắc, mà là một ham mê sống động, đó là cảm hứng” [3- 268] Cảm hứng đó trong tác phẩm trước hết
là niềm đam mê khẳng định cái đẹp, chân lí, lí tưởng, phủ định sự giả dối, mong ước con người có một cuộc sống tốt đep hơn- mong ước muôn đời của người nghệ sĩ Trong lịch sử văn học dân tộc, những nghệ sĩ lớn luôn là những người biết gạt bỏ những thù hằn cá nhân, địa vị giai cấp để viết cho cộng đồng, nhân loại hướng đến những chân lí Các nhà văn nam bởi vậy dù được một đặc quyền trong sáng tạo nghệ thuật cũng luôn hướng đến bênh vực cho người phụ nữ, đấu tranh cho một xã hội tốt
đẹp hơn vì người phụ nữ Đó là trường hợp Nguyễn Du viết Truyện Kiều, Nguyễn Dữ viết Người con gái nam xương và tác giả của Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán
ngâm khúc,…Tuy nhiên, dưới cái nhìn nam quyền và yếu tố văn hóa xã hội, người phụ
nữ chưa thể được cởi trói, những tác phẩm văn học chỉ để họ ngậm ngùi, đau đớn, xót
xa, để tiếp tục sống với bổn phận và trách nhiệm chứ không có niềm tin thay đổi
Văn học Việt Nam sau năm 1975 thực sự chứng kiến bước chuyển mình mạnh mẽ
từ hệ thống đề tài cho đến thi pháp, thể loại Văn học hướng đến những vấn đề cá nhân,
số phận con người trong đời sống hiện đại cùng những cách tân nghệ thuật sâu sắc Trong đó vấn đề người phụ nữ hiện đại, công cuộc đấu tranh đòi bình đẳng giới diễn ra mạnh mẽ Trên văn đàn xuất hiện nhiều giọng nữ đấu tranh quyết liệt cho sự tồn tại của mình, của giới mình Các nhà văn nữ một mặt tự khẳng định mình có quyền sáng tác và
Trang 27có khả năng sáng tác ngang bằng với nam giới bằng hàng loạt những tác phẩm có tên tuổi và có giá trị; mặt khác, họ hiểu hơn ai hết sứ mệnh của mình, bằng những tác phẩm văn học là nguồn cổ vũ động viên cho nhiều chị em phụ nữ khác tự tin vào sức mạnh của giới mình, đứng lên đấu tranh, khẳng định sức mạnh của giới mình trong đời sống gia đình và ngoài xã hội.Sự khẳng định phái tính của mình còn thể hiện ở việc lý giải, cắt nghĩa thế giới bằng cái nhìn riêng của nữ giới Có thể nói khát vọng bình đẳng giới là khát vọng chủ đạo trong văn học nữ đương đại
2.1.1 Đề cao người phụ nữ
Sinh thời nhà văn Banzac từng cho nghệ sĩ phải là người mà “tâm hồn phải trở
thành tấm gương phản chiếu cả vũ trụ” Chính qua những tác phẩm văn học mà chúng
ta nhận thức rõ hơn về thời đại, cuộc sống của con người Văn xuôi Việt Nam sau 1975 ngập tràn những khuôn mặt phụ nữ Có thể nói chưa bao giờ người phụ nữ lại nhận được sự quan tâm lớn, đông đảo của người cầm bút như ngày hôm nay Vấn đề về người phụ nữ được cả các nhà văn nam và các nhà văn nữ quan tâm và được thể hiện
ngay ở cách đặt tên tác phẩm : Người đàn bà trên đảo (Hồ Anh Thái), Người đàn bà
trên bãi tắm (Dương Hướng), Người đàn bà đứng trước gương, Người đàn bà sinh
ra từ bóng đêm, Người đàn bà có ma lực, Người đàn bà và những giấc mơ, I am đàn
bà (Y Ban), Những người đàn bà trên sông (Thùy Dương), Mẹ già (Ma Văn Kháng), Người đàn bà tóc trắng (Nguyễn Quang Thiều), Hồn trinh nữ, Góa phụ đen (Võ Thị
Hảo), Phượng, Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan),…
Hiện tượng nhân vật nữ xuất hiện ngày càng nhiều là do sự gặp gỡ, cộng hưởng giữa nỗ lực đổi mới của nhà văn và hiện thực của cuộc sống đất nước sau chiến tranh Bởi nếu như nói “chiến tranh không mang khuôn mặt đàn bà” thì chốn của họ là nơi im tiếng súng Để cổ vũ cho sức mạnh dân tộc trong chiến tranh thì tốt nhất là nên nói về những đấng nam nhi, những trang hào kiệt Còn để nói những chuyện đời thường, chuyện thế sự đời tư thì còn cách nào hơn là nói chuyện đàn bà Rõ ràng đây không phải là lần đầu tiên người phụ nữ trở thành nhân vật trung tâm trong đời sống văn học,
Trang 28văn học trung đại đã chứng kiến cả một giai đoạn văn chương là nơi thể hiện nỗi đau của người phụ nữ Song nếu như trước đây, văn xuôi viết về phụ nữ thường theo hướng phê phán hay ngợi ca từ cái nhìn đạo đức, nhà văn sử dụng nhân vật nữ để chuyển tải một quan niệm đạo đức hay một tư tưởng đã được cộng đồng bảo vệ thì trong văn học đương đại, người phụ nữ đã có một vị thế hoàn toàn khác Không những họ trở thành một thế giới trung tâm mà còn là một chủ thể tự ý thức khẳng định mình Và nếu với các tác giả nam, phụ nữ còn là một vùng đất đầy bí ẩn, cần khám phá, thì đối với các tác giả nữ viết về người phụ nữ là viết về mảnh đất của riêng mình, là nơi để họ tôn vinh, khẳng định ý thức nữ quyền Người phụ nữ ngày hôm nay không còn là những cô
gái phải than khóc trước sự trớ trêu của số phận để mà : “Đau đớn thay phận đàn
bà…” hay không phải ước ao “đổi phận làm trai”, mà đó là người phụ nữ sinh ra để tự
hào, tự tin mình là người phụ nữ
Trong số những nhà văn nữ đương đại, Lý Lan là người có ý thức nữ quyền sâu sắc Người phụ nữ trong truyện của Lý Lan luôn hiện lên với vẻ tự chủ, tự quyết định
số phận của cuộc đời mình Nếu kinh thánh coi người phụ nữ là một chiếc xương sườn của người đàn ông, người phụ nữ luôn muốn thay đổi để trở thành đàn ông thì ngày hôm nay họ có quyền tự hào bởi vì họ sinh ra là phái nữ Trong truyện ngắn Lý Lan, người phụ nữ đi tìm bản thể giới tính là người phụ nữ tự ý thức về bản thân mình, về số phận, cuộc đời mình, sự tồn tại của mình Họ đòi hỏi được bộc lộ tự do cá nhân, được quyền tự khám phá mình như một chủ thể đích thực với ý thức, nhu cầu biểu hiện cá nhân con người nữ
Nhân vật cô gái (Cô con gái) trong hành trình tìm kiếm bản thân bắt đầu từ hành
trình tìm kiếm cội nguồn Sinh trưởng ở Mỹ, lớn lên trở thành “Mỹ Việt”, cô luôn trăn trở muốn biết văn hóa gốc của mình, muốn tìm ra người cha để biết mình làm con, để
không là“một người Mỹ không căn cước”
Bà già “Việt kiều” (Ba người đàn bà) đã đi “vòng vòng nước Mỹ” trong suốt hai
năm để gom đủ sáu đứa con do mình đứt ruột đẻ ra về một chỗ trước mặt người chồng
Trang 29bội bạc, chỉ mong người chồng đó xác nhận đó là con của họ để chúng đừng “mất
nguồn vong cội” Bà thực hiện chức năng của một người mẹ Việt thuần hậu, thương
con, đòi hỏi quyền lợi của một người vợ đã hy sinh tất cả cho chồng mà không nhận được sự đền bù thỏa đáng
Tho (Người đàn bà kể chuyện) là chân dung người phụ nữ đi tìm công lý cho cuộc
đời mình để gióng lên hồi chuông cảnh báo về tệ nạn xã hội đối với người phụ nữ Là
một nạn nhân của tệ nạn hiếp dâm khi 11 tuổi, Tho phải mang “nỗi khiếp sợ, uất ức
đến đờ đẫn” suốt đời Sau khi bị một thầy giáo huyện lẻ “ruồng rẫy” trong tình yêu,
Tho cầm như đã “ớn đàn ông đến suốt đời” Nhưng cuộc sống đã thay đổi, huyện lẻ
trở thành khu đô thị mới và Tho trở thành bà chủ quán cơm Tho một lần nữa mơ tưởng đến hạnh phúc với người thợ hồ Mong ước ấy xúi giục cô trả thù người đàn ông đã hại mình hoặc sẽ “thanh minh” được với người thợ hồ về quá khứ của mình Sự việc thất bại vì Tho nôn nóng và yếu thế nhưng Tho không bất lực, buông xuôi Tho đã nhận thức được kẻ hủy hoại cuộc đời mình, khát vọng hạnh phúc của mình không thể một
mình mình đơn độc trả thù Tho “đã mở cửa bước ra đường, đi tới phòng tiếp bạn đọc
các báo… để kể chuyện đời mình như một nhân chứng và nạn nhân…” Tho gác lại
chuyện tình yêu đầu đời, cơn đau nhói lòng nghĩ đến hạnh phúc muộn màng với người
thợ hồ, vì “Bây giờ Tho không trông mong chắt mót hạnh phúc với một người đàn ông
nữa Tho chỉ đòi công lý cho một người đàn bà” Hành động đi tìm công lý của Tho
chứng tỏ chị đã tìm ra câu trả lời cho bi kịch của cuộc đời mình Tho không đòi bình đẳng cho mình mà đòi xã hội phải có trách nhiệm đối với người phụ nữ, bảo vệ họ để
họ được sống tốt
Người phụ nữ trong truyện của Lý Lan là người phụ nữ có ý thức về bản thể của mình sâu sắc, đi tìm nguồn cội, đi tìm chính mình có lẽ là chủ đề được lặp đi, lặp lại
trong suốt các truyện của Lý Lan Chủ đề đó được thể hiện rõ hơn qua Tiểu thuyết đàn
bà Ngay từ tiêu đề, tác phẩm đã hiện lên một cách đầy thách thức khi khẳng định thế
giới của những người đàn bà, cho đến những người đàn bà tự khẳng định mình trong
Trang 30tác phẩm Từ một cô gái mang tên Không Bé đang ngày ngày khẳng định mình trên đất
Mỹ cho đến một nhà văn Thoa luôn băn khoăn đi tìm nguồn gốc của mình, luôn đấu tranh cho những người phụ nữ xung quanh phải chịu áp bức bất công và xa hơn nữa là hình ảnh Bà Tổ Mọi, người đàn bà đã bồng con đi theo chồng để cuối cùng trở lại nuôi con một mình Trong tính cách của người đàn bà được nhìn từ khoảng cách thế hệ ấy
đã có một ý chí sắt đá, một sự tự chủ khi chủ động “quyến rũ” người đàn ông, khi chủ động đi theo và chủ động tạo dựng cuộc sống cho mình Nhìn lại nguồn cội đó để nhà văn Thoa nhận ra bản sắc riêng của người phụ nữ, họ có thể và có khả năng tự làm chủ cuộc đời mình
Nếu những người phụ nữ trong truyện ngắn của Lý Lan được đề cao ở sự tự chủ, độc lập trong cuộc sống thì người phụ nữ trong truyện của Y Ban cũng là những người phụ nữ có khả năng quyết định cuộc đời mình Tuy nhiên nếu người phụ nữ của Lý Lan luôn trăn trở khẳng định sự tồn tại, nguồn gốc của bản thân thì người phụ nữ của Y Ban lại tự khẳng định mình ở một phương diện khác Đó là người phụ nữ hiện đại, không chấp nhận những ràng buộc của lễ giáo, họ đòi hỏi được yêu, được tôn trọng, họ
ý thức sâu sắc hơn ai hết về tài năng và sức mạnh của mình Trong Người đàn bà có
ma lực, nhân vật người phụ nữ tự có ý thức về sức mạnh “ma lực” của mình, hiểu rằng
mình không xinh đẹp nhưng đủ thông minh và hơn thế nữa có thể hiểu được đàn ông
và khiến mình trở nên đáng yêu trong mắt họ Có thể mượn lời của cô gái xem tay
trong Người đàn bà có ma lực để thấy được ý thức sâu sắc về sức mạnh của bản thân mình của người phụ nữ hiện đại : “Bây giờ là thời đại mới thời đại của chúng ta
Chúng ta làm chủ tình thế chứ đâu như thời phong kiến mà đàn bà chỉ biết đứng e lệ một chỗ như những bông hoa trong luống hoa ấy, mặc cho người ta khen, người ta chê” [48;170]Những người đàn bà trong Người đàn bà đứng trước gương”,Tự, Sau chớp là giông bão, Gà ấp bóng,…v.v đều là những người phụ nữ tài ba và có ý thức
về tài năng của mình
Trang 31Không những khẳng định mình bằng tài năng, sự thành đạt trong công việc, người
phụ nữ của Y Ban còn lớn tiếng nói : “ I am đàn bà” Đây có lẽ là câu nói chủ đề xuyên
suốt toàn tập truyện, thể hiện ý thức về giới sâu sắc của Y Ban Lý Lan đã từng có một
lời nhận xét đối với truyện I am đàn bà của Y Ban : “Phụ nữ viết văn rất khác nam
giới Nhưng là giới nào viết văn đi nữa thì cũng đều muốn tác phẩm của mình đạt đến chữ Người nói chung Vì vậy, tôi luôn tự hỏi, tại sao khi một nhà văn nam viết một tác phẩm về người đàn ông thì mọi người có thể hình dung, khái quát lên thành thân phận con người Nhưng thường khi người phụ nữ viết về một người phụ nữ, người ta chỉ nghĩ “à, đó là một nhân vật nữ”… “Khi tôi đọc truyện ngắn I am đàn bà của nhà văn
Y Ban tôi rất thích Chị ấy là một nhà văn rất có tài, có tâm Nhưng đến cái đoạn gần kết, khi người đàn bà trong truyện đứng trước toà nói “I am đàn bà” đề biện hộ cho hành vi của mình tôi thấy hẫng Nếu là tôi, tôi sẽ nói: I’m Người” “I am đàn bà” mang lại cảm giác kêu gọi lòng thương hại hay van xin Mà việc gì phải thế! Nếu một người đàn ông rơi vào hoàn cảnh trong truyện thì anh ta cũng hành xử như người đàn
bà kia thôi” [44] Điều mà Lý Lan muốn nói đến đó là yêu cầu sự không phân biệt phái
tính trong văn chương, phụ nữ cũng được coi là ngang hàng với đàn ông, không cần van xin, thương hại Điều đó hiển nhiên là đúng Tuy nhiên, nếu nhìn ở một phương diện khác thì “I am đàn bà” không phải là một tiếng kêu đòi quyền thương hại kiểu như “đau đớn thay phận đàn bà”, mà đó là lời khẳng định, một sự tự ý thức về phái tính của mình I am đàn bà, là đàn bà có những tâm tư tình cảm riêng, là đàn bà nên có cảm xúc mãnh liệt và chính cảm xúc ấy, tình cảm yêu thương, đồng cảm với một số phận bất hạnh khác đã là phương thuốc kì diệu để cứu rỗi mầm sống nhỏ nhoi trong anh ta
Và vì thế người đàn bà chẳng đáng được tôn vinh, đáng được tự hào như là một nửa của nhân loại sao ?
Bên cạnh những người phụ nữ tài năng, độc lập, tự chủ, trong truyện của Y Ban còn đề cập không ít tới những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam truyền
thống Đó là truyện Ước mơ cô bán hàng rong với một người phụ nữ tần tảo nuôi
Trang 32chồng, nuôi cả gia đình chồng, hay hình ảnh người mẹ gầy yếu, nhỏ bé mà ý chí vững
vàng, khỏe khoắn trong truyện Chú Ngoẹo, cả đời sống vì đứa con tật nguyền
Đáng chú ý hơn cả là tiểu thuyết Xuân Từ Chiều của Y Ban Tác phẩm như chính
tên gọi của mình lấy ba nhân vật phụ nữ, ba số phận khác nhau của tạo hóa làm nhân vật trung tâm Xuân vốn là cô nuôi dạy trẻ, con gái nhà quê, lấy chồng ra phố rồi phấn đấu trở thành trưởng khoa của một trường đại học Nhân vật thứ hai - Chiều - là người đàn bà trực bình, trực bình là nước ở hồ tiên, là lẫm là kho chứa bạc tiền, gái giỏi tề gia ích phu tử… Chị giỏi Toán, vẫn thường giải toán giúp chồng, để anh từng bước hoàn thành việc học hành, leo dần lên những nấc thang danh vọng Từ tốt nghiệp đại học, năng lực có thừa, nhưng cuộc sống xô đẩy, cô trở thành kẻ ra đường bán xôi chim Mệt mỏi xoay xở với cơm áo, chật vật giằng co níu giữ tình yêu và gia đình nhỏ bé, Từ va chạm với mọi sóng gió đời thường của người phụ nữ…Mỗi người một số phận, một hoàn cảnh nhưng đều toát lên cái vẻ nhẫn nại, chịu thương chịu khó, hi sinh cho hạnh phúc gia đình, những vẻ đẹp muôn đời của người phụ nữ Việt Nam Trong số ba nhân vật nữ, Từ là nơi tác giả gửi gắm nhiều ước vọng hơn cả, đó phần nào là hiện thân của
Y Ban Ở Từ, không những thấu hiểu về tài năng của mình mà còn cả một khát vọng lớn lao đối với cuộc sống gia đình, đối với xã hội Cô sinh viên y khoa đã từ chối con đường bằng phẳng dành cho mình để đến với văn chương vì cô hiểu chỉ có văn học mới có thể chữa được căn bệnh tinh thần cho con người, căn bệnh mà cả y học tiên tiến cũng phải bó tay Cô đã dũng cảm yêu và dũng cảm hi sinh mọi ước mơ sự nghiệp để bảo vệ cho tình yêu, cho gia đình của mình Ở Từ còn là một sự khao khát được quan tâm, chia sẻ, thấu hiểu trong cuộc sống gia đình của một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm Với người phụ nữ của Đỗ Hoàng Diệu thì thông minh và đa cảm đã trở thành một
bản năng Từ Bóng đè đến Vu quy, Dòng sông hủi, Huyền thoại về một lời
hứa,…nhân vật nữ nào cũng xuất hiện trong một vẻ đẹp có phần hư ảo, khi mà vẻ
thông minh, xinh đẹp toát lên cùng với mặc cảm quá khứ, ám ảnh tội đồ đè nặng lên tâm trí họ Khác với Y Ban và Lý Lan, nhân vật của Đỗ Hoàng Diệu không bước ra từ
Trang 33cuộc đời thực hàng ngày mà có dáng dấp của những cô gái trong quá khứ, trong những giấc mơ Ở Đỗ Hoàng Diệu bên cạnh việc xây dựng sự cuốn hút của những nhân vật một cách “ma mị”, là việc nhấn mạnh ý thức đấu tranh, khát vọng sống, chống lại số
phận của những người phụ nữ Hành trình đi tìm người đàn ông lý tưởng trong Vu quy, Hành động vượt thoát khỏi sức mạnh và quyền uy của người chồng trong Dòng sông
hủi, và cả sự phản kháng trước “bóng ma” đeo đuổi của cô gái trong Bóng đè,…là
minh chứng cho sức phản kháng đó Ngay cả khi cuối cùng, nhân vật trong Bóng đè bất lực, khoanh tay trước số phận thì cô vẫn còn giữ lại trong mình một niềm tin, một
niềm khao khát sống không bao giờ lụi tắt: “Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ
mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt Tôi đưa tay mình ra sáng Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao lạ thường Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hạn hán, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn còn nguyên vẹn[70;38] Niềm tin ấy đã cứu rỗi
cuộc sống của cô gái, là sức mạnh trong tâm hồn không thể bị mất đi
Có thể thấy thế giới phụ nữ của Đỗ Hoàng Diệu hướng tới những khao khát, vượt thoát khỏi số phận một cách mạnh mẽ Cũng chính vì việc trao cho nhân vật của mình một sứ mệnh khá lớn lao như vậy mà đôi khi nhân vật nữ trong Bóng đè được phóng đại hơi quá, nhân vật thiếu đi vẻ sinh thực Xét từ khía cạnh giới, nhân vật của Đỗ Hoàng Diệu xuất hiện với ý thức vượt thoát, phản kháng, đến Y Ban và Lý Lan mới được nâng lên là tiếng nói khẳng định ý thức được là mình, được là chủ thể của cuộc sống, có khả năng điều khiển cuộc đời mình Đó là cả một khoảng cách giữa những trang văn ra mắt độc giả năm 2005 cho đến những trang văn sau này Càng ngày, ý thức về giới càng trở nên mạnh mẽ, quyết liệt hơn trong sáng tác của các nhà văn nữ Không chỉ viết về giới mình, người đàn ông cũng xuất hiện trong tác phẩm của các nhà văn nữ Thế nhưng nếu thế giới phụ nữ đầy tự tin, độc lập tự chủ thì thế giới đàn ông bị chìm lấp hẳn cùng những vụn vặt, ích kỷ, nhỏ nhen, tầm thường Họ không những không là một bờ vai vững chắc mà còn nguyên nhân gây nên những đau khổ của người phụ nữ
Trang 34Thế giới đàn ông trong tác phẩm của Đỗ Hoàng Diệu hiện lên thật méo mó, thảm hại Đó là người chồng sẵn sàng để mặc vợ mình bị hiếp để làm tròn trách nhiệm với tổ
tông Đây là những âm thanh mà tác giả miêu tả về Thụ khi khấn vái : “tôi cố giỏng tai
xem chồng mình đang khấn những gì Nhưng chỉ là ập è âm thanh xin xít nơi đầu lưỡi Thụ không nói mà cũng không hát Tựa tiếng kêu của loài bò sát.”[70;7] Ngôn ngữ hào
sảng, đầy uy quyền của người đàn ông được thay bằng tiếng kêu của loài bò sát, cái ngẩng cao đầu được thay bằng sự cúi đầu phục tùng cho những nghi lễ, những phong tục cúng giỗ của một làng quê Chính Thụ là người phục tùng cho những cổ hủ, định kiến, là người chồng bất lực không đủ sức che chở cho người vợ đa cảm của mình
Người phụ nữ trong Vu quy đã phải trải qua năm lần kiếm tìm người yêu để cuối cùng bên cô vẫn là một xác ướp Nhân vật Công trong Dòng sông hủi lại hiện lên như một
kẻ bệnh hoạn, reo rắc mọi đau khổ đến với người phụ nữ của anh ta và cả những người xung quanh anh ta Công luôn dò xét, xăm xoi cuộc sống của vợ nhưng vẫn không thể giữ nổi cô bằng tính cách bệnh hoạn của mình Người phụ nữ phải đi tìm một bóng hình đàn ông khác, một người biết nâng niu, chiều chuộng, yêu thương cô Thế nhưng người đàn ông ấy cũng không thể chống lại căn bệnh “hủi” mà Công mang đến :
“không còn nghi ngờ gì, chồng tôi, người chồng làm cái nghề kì cục đã gieo rắc vi
trùng cho Trí Tôi nhìn thấy chúng ngo ngoe trong cái đầu cúi gằm của Trí, trong ánh mắt len lét, trong làn da bỗng dưng nhăn nhúm.” [70;124]Và người đàn bà chỉ còn biết
buông một tiếng thở dài bất lực khi không thể tìm được một người đàn ông chân chính, một chỗ dựa vững vàng
Trong truyện ngắn của Y Ban, nhân vật nữ thường có xu hướng ngoại tình Với đạo đức truyền thống việc phụ nữ ngoại tình là điều rất khó chấp nhận đáng bị cả xã hội ruồng bỏ Với người phụ nữ hiện đại thì ngoại tình lại có thể cho là một cách khẳng định mình, thể hiện ở khả năng chinh phục người khác giới Hơn thế nữa, người phụ nữ trong truyện của Y Ban ngoại tình là bởi người đàn ông bên cạnh không đủ khả năng
níu giữ người phụ nữ của mình Trong Tự, người phụ nữ trước sự ra đi vì căn bệnh bất
Trang 35lực của chồng đã tìm cho mình giải pháp ngoại tình Điều đó hợp lý với một phó bà tiến sĩ xã hội học như nàng Thế nhưng những tưởng tượng về một tình yêu lãng mạn với bó hoa và chiếc nhẫn cưới lại được thay bằng hai bịch sữa mà người đàn ông thứ hai của nàng mang về từ tiệc chiêu đãi Người đàn ông số ba tưởng chừng vô cùng phù hợp vì là một giáo sư văn hóa nhưng văn hóa tình dục bỗng hiện nguyên vẻ thô tục của mình với chiếc khăn lau bàn dùng trong mọi lúc, với những dòng tin nhắn mang hai chữ “thủ dâm” Giải pháp cuối cùng mà người phụ nữ tự chọn cho mình là cái chim giả, tự mình thỏa mãn nhu cầu của chính mình chính là một gáo nước lạnh dội vào lòng
tự tin của các quý ông Giải pháp đó giúp ta nhớ tới hình ảnh của cô con gái trong
truyện Cô con gái của Lý Lan, khi cô ủng hộ việc đàn bà có quyền tự thỏa mãn mình,
tự khiến mình sung sướng bởi họ sinh ra và cần hiểu được rằng họ nên yêu chính bản thân họ, họ cần phục vụ cho mình chứ không phải cho những người đàn ông
Có rất nhiều kiểu đàn ông được đề cập đến trong truyện của các tác giả nữ, khi thì bội bạc, tham lam, tàn nhẫn gây nên cho người phụ nữ bao khổ đau bất hạnh Đó là
những người đàn ông ta gặp trong Vu quy, Huyền thoại về một lời hứa, Dòng sông
hủi của Đỗ Hoàng Diệu ; Người đàn ông trong Nhân tình, Hai bảy bước chân là lên thiên đường,… của Y Ban; hay người đàn ông đã bỏ mặc vợ con như trong Ba người đàn bà của Lý Lan Ngoài ra còn một kiểu đàn ông nữa tưởng như vô hại bằng vẻ đời
thường, chu đáo, cẩn thận nhưng đó lại là một thế giới thảm hại không kém Những người đàn ông đó không hiểu rằng, sự chắc chắn bằng phẳng, dễ dãi của họ cũng đem lại bất hạnh không kém cho những người phụ nữ đa cảm, luôn khao khát được yêu
thương mãnh liệt Đó là trường hợp của người đàn ông trong Người đàn bà đứng
trước gương của Y Ban, Tai nạn của Lý Lan Đây cũng là kiểu đàn ông được đề cập
đến nhiều trong truyện ngắn các tác giả nữ như Một nửa cuộc đời của Nguyễn Thị Thu Huệ hay Chỉ còn một ngày của Võ Thị Hảo
Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan đem đến cho độc giả là nam giới một cảm giác khó
chịu, khi mà thế giới của người đàn ông bỗng nhiên chìm lấp trong thế giới của người
Trang 36đàn bà Trong thế giới mà Tiểu thuyết đàn bà đem lại, chỉ có những người phụ nữ “đi
tìm nhau và đi tìm chính mình” Bóng dáng của người đàn ông chỉ khiến cho cuộc sống
của thêm bất hạnh Một người đàn ông tên Năm nào đó vô tình lọt vào trong nhà cô bé Thoa để đẩy cô vào chốn tù đày trong hàng chục năm trời, một người chồng của Liễu nghe lời mẹ để xỉ vả ruồng rẫy cô, một người anh họ của Thoa chỉ chăm chăm lo lắng cho danh dự, cho quyền lợi mặc cho bố vừa mất Lần giở lại hình ảnh của quá khứ thì một ông tổ chợt nhỏ bé bao nhiêu trước sức vóc và ý chí của Bà tổ Mọi Rõ ràng trong quá khứ, ông tổ đại diện cho một chiến tướng anh hùng, còn bà tổ đại diện cho những
gì mông muội, hoang sơ Điều này khiến ta liên tưởng đến nguồn gốc của tình dục giữa
hai phái mà Bourdie viết trong Sự thống trị của nam giới Tình dục bắt nguồn từ sự
quyến rũ của người phụ nữ nơi bờ suối, kết thúc bằng sự chủ động của người đàn ông tại nhà Bourdie lý giải, dòng suối- người đàn bà đại diện cho sự hoang sơ, mông muội
; ngôi nhà-người đàn ông là của sự văn minh Ông Tổ trong cuộc gặp gỡ cũng là đại diện cho nền văn minh bấy giờ, nền văn minh ấy đã từ chối “con đàn bà” hoang sơ lần một Nhưng cuối cùng, người chiến thắng vẫn cứ là “con đàn bà”, người đàn ông đã bị khuất phục Nhìn lại thế hệ sau thì bắt gặp hình ảnh của người chồng Ted vô tâm trước nỗi đau và tình cảm của vợ Mỗi người đàn ông là một thế giới của sự ích kỉ dù Lý Lan không nói một cách trực tiếp hay gay gắt
Trong tiểu thuyết Xuân Từ Chiều của Y Ban, số phận của ba nhân vật nữ chính
gắn chặt với những người đàn ông đi bên cạnh cuộc đời họ Đó là anh chàng Tuấn không bỏ vợ với vỏ bọc đạo đức tình yêu, tình nghĩa vợ chồng nhưng bên trong lại là
sự ích kỷ, nhỏ nhen không dám thừa nhận sự bất lực của bản thân mà đẩy vợ sống cuộc sống cô đơn, hứng chịu búa rìu, áp lực từ gia đình chồng Chồng của cô Chiều leo lên đỉnh cao của danh vọng từ những bài toán vợ giải nhưng cuối cùng trả cho vợ một cuộc sống heo hắt, cô đơn Nếu như chồng của Từ là anh chàng nghệ sĩ lãng mạn, có nhiều điều để đáng ước mơ hơn hẳn khiến trái tim của cô sinh viên khoa Văn rung động thì cuối cùng lại chưa từng là chỗ dựa cho gia đình Trong lúc khó khăn lại chỉ có vợ anh
Trang 37là người phải từ bỏ sự nghiệp, học hành để nuôi sống gia đình Thấp thoáng đâu đó trong bức tranh của thế giới đàn ông này còn có sự xuất hiện của người đàn ông vì dục vọng đã đang tâm lợi dụng cả một người đàn bà điên để bà ta ba lần phải mang thai và
ba lần đứa bé đều phải đem đi chôn Có thể nói dù không mang cái tên “Tiểu thuyết
đàn bà” nhưng thế giới mà Xuân Từ Chiều đem lại cũng là câu chuyện về những
người đàn bà bên cạnh một thế giới đàn ông méo mó, tội lỗi
Như vậy Y Ban, Lý Lan, Đỗ Hoàng Diệu, mỗi người một cách riêng đã xây dựng thành công những hình ảnh người phụ nữ độc lập, dám khẳng định mình bên cạnh một thế giới đàn ông thiếu sức sống Khát vọng của họ không nằm ở hai chữ “đổi phận”,
mà ở sự chứng minh phụ nữ với tài năng và sức mạnh của mình có thể đứng ngang hàng cùng đàn ông
2.1.2 Lý giải, cắt nghĩa thế giới bằng cái nhìn của nữ giới
Nhà phê bình Nga Sécnưsepxki nói : “Ngoài việc tái hiện đời sống, nghệ thuật còn
có chức năng khác là thuyết minh cuộc sống”.[3;265-266] Mỗi nhà văn qua tác phẩm
của mình thể hiện khát khao chiếm lĩnh, trải nghiệm thế giới Chính qua cách lý giải thế giới này mà ta phát hiện ra chiều sâu tư tưởng của tác phẩm, quan điểm, lập trường, thái độ của nhà văn trước các hiện tượng của đời sống xã hội Nghiên cứu về mặt sinh học cho thấy nam giới thường thiên về khám phá cái chủ quan Do đó từ xưa đến nay, người đàn ông viết văn luôn được coi là một sự khám phá quan trọng còn người phụ nữ chỉ được coi là sáng tác những điều vặt vãnh, chỉ nói chuyện bản thân chứ không thể nói chuyện về thế giới Bởi vậy mà một lý do hiển nhiên khi người ta cho rằng viết về người đàn ông là viết về cả nhân loại còn phụ nữ chỉ là một phần bé mọn của loài người Nay nhà văn nữ cho thấy rằng cách nhìn nhận, khám phá thế giới của họ cũng đem đến những lý giải quan trọng không kém gì các tác phẩm của nam giới Họ không cần phải hướng theo cái nhìn của nam giới thiên về đại cục tổng quát mà cứ đi theo mạch suy nghĩ của nữ giới hàng ngày để khái quát, lý giải cuộc sống
Trang 38Ý thức khẳng định cái nhìn của nữ giới thể hiện đầu tiên ở việc các nhà văn nữ đi sâu vào những mảng đề tài rộng lớn, nơi mà sự khám phá thường ưu tiên cho phái nam như chiến tranh, văn hóa,…v.v Ở đó họ đã thể hiện cách nhìn nhận, khám phá riêng của giới mình
Trong Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan điều này được thể hiện khá rõ Về nội dung,
tiểu thuyết này viết về chiến tranh và số phận con người Nhà văn đã khơi dậy một đề tài cũ nhưng luôn được văn học thế giới và Việt Nam khai thác vẫn không cùng Quyển sách này viết về hành trình của những người đàn bà đi tìm chính mình, của những người đàn bà thất lạc nhau trên cái nền là đất nước Việt Nam từ chiến tranh sang hòa bình và đổi mới Lý Lan rất chú ý đến việc khai thác ý thức nữ quyền trong văn học từ
tên tác phẩm nhại đầy thách thức Tiểu thuyết đàn bà cho đến quan điểm viết từ góc
nhìn của phụ nữ Chẳng hạn, cuộc chiến tranh được nhìn nhận, đánh giá từ cái nhìn của người phụ nữ Nhân vật nhà văn Thoa liên tục tìm hiểu và không ngừng viết một tập sách về lịch sử dòng họ mình bằng sự từng trải của bản thân, sự so sánh những chìm nổi bể dâu của đại gia đình mình, là một thách thức lớn trong việc khẳng định người
phụ nữ muốn vượt thoát số phận của đàn bà: “Quyển sách Thoa đang viết là một nỗ
lực nữa, một tham vọng khác,một trải nghiệm mới,một thách thức đồng thời một trắc nghiệm bản thân Chị biết mình chưa đi tới nơi,và cái hành trình mà chị vạch ra từ đầu
sẽ thay đổi theo mỗi chặng đường chị qua Đêm đêm ngồi đối diện màn hình máy tính,Thoa nhìn những dòng chữ hiện ra rồi biến mất rồi hiện ra, những dòng chữ thay đổi vị trí các từ và mẫu tự trong mỗi câu,có khi chị nghi ngờ những dòng chữ chị viết
ra có tồn tại hay không, nhưng chị không một mảy may nghi ngờ điều chị đang viết có đáng viết ra chăng.Viết ra như thế nào mới là vấn đề,chứ điều gì,bất cứ điều gì,dù trong hiện thực hay trong trí tưởng tượng,Thoa tin là đều đáng viết ra,nếu không nói là
có quyền được viết ra” [84; 35]
Viết về cuộc chiến tranh từ cái nhìn hậu chiến là điều mà nhiều tác giả đã thực
hiện, trong đó tiêu biểu phải kể đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Cũng là thủ
Trang 39pháp dòng ý thức với một lối kết cấu truyện lồng trong truyện như Tiểu thuyết đàn bà của Lý Lan Có thể nói Nỗi buồn chiến tranh đã mang lại một thành công vang dội,
được xếp vào hàng những tác phẩm viết về chiến tranh hay nhất Những trang văn của Bảo Ninh về sự chết chóc, khốc liệt của chiến tranh hiện lên đầy ám ảnh với cả đàn
ông, cả đàn bà Cũng nói về chiến tranh Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo
lại đem đến sự xót xa nhiều hơn cho những người phụ nữ Phương của Nỗi buồn chiến tranh đau khổ, mất mát vì chiến tranh là thế nhưng Phương vẫn thật đẹp, vẫn hiện lên với dáng hình của cô nữ sinh Hà thành sau bao vùi dập của cuộc đời Còn những cô gái của rừng cười họ đã mất hết nhan sắc, tuổi trẻ, quyền được yêu thương, hạnh phúc, người trở về tưởng là người sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn hóa ra lại là người bất hạnh nhất khi nhận ra mình đã thay đổi, đã không thể trở về như trước được nữa
Người lính trong truyện đã phải thốt lên rằng : “Ôi ! Thế là sau chín năm ở chiến
trường, nay tôi đã thấy ở Rừng Cười cái cười méo mó, man dại của chiến tranh Việc chiến tranh lôi những người phụ nữ vào cuộc chiến thật khủng khiếp Tôi sẵn sàng chết hai lần để cho họ đừng rơi vào hoàn cảnh ấy.”[49;119] Chiến tranh của Võ Thị Hảo
được nhìn nhận ở sự khốc liệt dành cho người phụ nữ, những nỗi đau mà chỉ những người phụ nữ mới nhìn thấy được
Lý Lan cũng viết về chiến tranh nhưng nỗi ám ảnh trong Tiểu thuyết đàn bà không
dữ dội như những trang văn của Bảo Ninh Bởi lẽ nhân vật Thoa chỉ biết đến chiến tranh trong một lần vô tình được giao nhiệm vụ giết một người bị coi là đã phản bội, chiến tranh còn lại được nhìn qua tấm song sắt nhà tù, qua sự tra tấn, qua niềm tin từ bài hát mà người đồng đội mang lại Không có cảnh chết chóc, dịch bệnh, như trong
Nỗi buồn chiến tranh Sự đau khổ của Thoa cũng không giống với sự đau khổ của
Thảo trong Người sót lại của rừng cười Bởi ở Thoa, niềm tin yêu cuộc sống chưa bao giờ tắt, ý thức đấu tranh, tìm hiểu cội nguồn, bản thân luôn thôi thúc cô sáng tác mỗi ngày Có thể nói không nhìn chiến tranh từ đôi mắt khốc liệt như của Bảo Ninh, từ nỗi đau đớn thảm sầu như của Võ Thị Hảo, Lý Lan nhìn cuộc chiến bằng đôi mắt bình
Trang 40thản, bỏ lại sau lưng tất cả mọi đớn đau dù cái dư vị xót xa của cuộc chiến vẫn cứ đeo đuổi mãi số phận của những người đàn bà như Thoa, chị Đen
Rõ ràng cùng nói về cuộc chiến, nhưng cách tiếp cận, lý giải cuộc sống chiến tranh của những nhà văn nam và nhà văn nữ đã có sự khác nhau Dịu dàng, đằm thắm các nhà văn nữ đã nhìn thấy những cay đắng, xót xa mà chỉ những người phụ nữ trong chiến tranh mới phải gánh chịu Cách lý giải ấy đem đến một bộ mặt của chiến tranh không dữ dội nhưng đầy khắc khoải, đớn đau Lý Lan đã góp một tiếng nói mới cho văn học Việt Nam viết về đề tài chiến tranh Bởi lẽ, bà nhìn cuộc chiến từ lăng kính của người phụ nữ trải nghiệm chính cuộc đời mình và viết về nó từ quan điểm của người phụ nữ Chiến tranh vốn là nỗi đau thật sự thấm thía của con người nhưng với cái nhìn này, chiến tranh hiện lên và được lý giải đau đớn hơn, dữ dội hơn Qua đó, Lý Lan khẳng định người phụ nữ là con người, viết về họ hay chính họ viết về lịch sử dòng họ mình thì cũng chính là viết về nhân loại
Trong Tiểu thuyết đàn bà cũng như trong một vài truyện ngắn khác như Ba người
đàn bà, Cô con gái, Lý Lan còn nói đến một vấn đề dường như theo tác giả suốt những
năm tháng viết văn Đó là vấn đề hội nhập giữa các nền văn hóa Nhà văn hướng đến chiều sâu văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Con người không chỉ sống bó buộc trong một nền văn hóa nào, con người phá vỡ những quy củ của một cộng đồng
để hướng tới một xã hội chung Do đó, sự thay đổi trong mỗi con người không đơn thuần là sự lạc lõng bơ vơ mà còn là sự thất lạc, sự đi tìm chính mình trong thế giới nhiều biến đổi Cuộc hôn nhân với người nước ngoài của nhân vật Không Bé là một minh chứng Đó không phải là việc nhà văn mô tả một cô gái Việt lấy chồng ngoại kiều
vì cuộc mưu sinh thoát nghèo mà là một cuộc hôn nhân tự nguyện, vượt qua các dị biệt văn hóa âm thầm, mãnh liệt của một cô gái trẻ hiện đại, có học thức và bề sâu văn hóa cội nguồn Lý Lan đã khẳng định người đàn bà trong mối quan hệ tình yêu, hôn nhân này chính là nguyên nhân gắn kết các cộng đồng văn hóa khác nhau gần lại để chia sẻ, hàn gắn và cảm thông hơn Chủ đề của cuốn tiểu thuyết về đàn bà do đó không xa lạ gì